⏯️ (tiếp theo)
💥 GIẢI
Đại Huệ ngoài việc thưa hỏi về ly tứ cú, còn riêng hỏi thêm về cảnh giới sở hành của bậc Thánh trí, tức cho là thật có tứ cú để lìa, thật có Thánh trí để được.
Ý của Phật đáp là vốn không có tứ cú để lìa, cũng không Thánh trí để được. Vì sao? Vì trong đệ nhất nghĩa chân vọng đều dứt. Tứ cú là do phàm phu ngu si, không hiểu được cảnh giới như mộng chỉ do tâm hiện, vọng chấp tất cả các pháp trong và ngoài thật có tự tánh, cho nên vọng sanh những kiến chấp phân biệt một khác…
Đó là tập khí hí luận làm nhân, vọng sanh chấp trước, chẳng phải thật có tứ cú. Bởi vì tâm cảnh như hư không chẳng có chỗ nương gá, cảnh giới bị phân biệt đã không thì vọng tâm phân biệt làm sao có.
Nếu một tâm chẳng sanh thì muôn pháp tự vắng lặng, há thật có tứ cú để lìa. Chỉ dứt hết tình phàm không có thêm thánh giải, nếu sanh thánh giải liền rơi vào tình phàm, nên cũng không thánh trí để đắc. Bản Đường kết thúc rằng: Nên đối với pháp sở chứng của thánh trí, lìa tất cả phân biệt về sanh trụ diệt một khác… Đến cảnh giới này không còn suy nghĩ nói năng, mới là cùng tột.
Vì vậy Tăng hỏi Mã đại sư: “Lìa tứ cú tuyệt bách phi xin Thầy chỉ thẳng ý Tây lai”. Sư bảo: “Hôm nay ta nhức đầu, không thể nói cho ông được”. Văn-thù hỏi cư sĩ Duy-ma về pháp môn bất nhị, cư sĩ nín thinh.
Sau đây Thế Tôn đáp, chỉ mượn mười hai thí dụ để phát minh. 7 thí dụ trước dụ cho cảnh giới vốn không, chỉ vì người nghe vọng sanh phân biệt, hiển bày vọng tưởng chẳng thật có, để nói rõ chỗ vốn chẳng có tứ cú để lìa. 5 thí dụ sau, dụ cho Phật thuyết pháp tùy cơ lập bày, vốn vì phá chấp, như đem chốt tháo chốt, vốn chẳng có pháp thật cho người.
Nên kệ nói rằng: Ngôn giáo chỉ giả danh, nó cũng không có tướng để biết cũng không thánh trí có thể được. Song thí dụ của chương này dường như rõ ràng dễ thấy, kỳ thật hàm ý sâu xa khó tỏ tường! Người xem cần phải khéo hội mới khế hợp Phật tâm. Đó gọi là nương ngôn ngữ cần hội tông chỉ, chẳng nên tự lập khuôn mẫu. Người trí nên xét kỹ.
💥 GIẢI
Thí dụ này làm sáng tỏ ý cảnh vốn vô sanh, nhân tâm phân biệt mà có chấp giữ.
Nắng lóa không phải là nước, do bầy nai bị cơn khát thúc bách mà tưởng là nước, vọng sanh rong ruổi, không biết vốn chẳng phải nước. Để dụ cho tất cả cảnh giới vốn tự vô sanh, cũng không thể tham muốn. Bởi tập khí chủng tử tham ái từ vô thủy của người ngu, bên trong huân ba độc, ngoài phát hiện hành, bị khát ái bức bách, đối với tất cả cảnh sắc khởi lên tham cầu ưa muốn. Thế là trong cái vô sanh vọng thấy sanh diệt, chấp giữ thân căn thế giới các pháp trong ngoài, vọng khởi lên kiến chấp về một khác, thường vô thường… tứ cú, mà chẳng biết vốn tự vô sanh. Đây là bị vọng tưởng chi phối, chẳng phải chánh kiến.
💥 GIẢI
Thí dụ này chuyển tiếp giải thích ý đoạn trên.
Nghĩa là hàng ngu phu sở dĩ đối với chỗ không thể ham muốn vọng sanh tham đắm mà tạo nên tứ cú phân biệt ấy, vì không biết tất cả cảnh giới chỉ do tâm hiện. Đó là “Tự tâm chấp tự tâm, pháp phi huyễn thành huyễn”.
💥 GIẢI
Thí dụ này giải thích chung ý trên.
Nghĩa là ngoại đạo không biết cảnh giới như mộng do tự tâm hiện, vọng sanh chấp giữ, tham đắm theo đuổi. Đối với đây khởi lên những kiến chấp phân biệt một khác…, đó là ngu si ác kiến, chẳng phải trí huệ.
💥 GIẢI
Thí dụ này nói về ngoại đạo tà kiến kiêu mạn cố chấp vào ác kiến, trở lại phỉ báng chánh pháp, bác không nhân quả, tha thiết khuyên người tu hành nên dứt tuyệt.
“Tâm như người thợ vẽ, vẽ ra các hình ảnh”. Tất cả các pháp chỉ do tâm hiện, đương thể vắng lặng, vô sanh, không có cao thấp, mà ngoại đạo kia tự ý thị vào ác kiến sanh diệt, kiêu ngạo tự cho mình là hơn, đối với luận vô sanh lìa có không của Phật pháp trở lại phỉ báng nói là không. Đây là phỉ báng nhân quả, nhổ gốc lành, hoại nhân thanh tịnh.
Nên biết người như thế rơi vào vọng tưởng tự tha, có không, lạc vào hai kiến chấp đoạn thường. Do ác kiến ấy, sẽ rớt xuống địa ngục. Nên răn người tu hành muốn cầu pháp thù thắng, phải gấp xa lìa.
💥 GIẢI
Thí dụ này giải thích nghĩa tự hoại, hoại người ở trên.
Nghĩa là ngoại đạo kia tự ý vào tà kiến, chuyển dạy người khác giống mình, cũng như người nhặm mắt tự thấy trên không có vòng tròn, rồi trở lại trách người khác không thấy giống mình. Vòng tròn trên không, chỉ có người bệnh mắt mới thấy, người mắt tốt không thấy, để nói rằng loại tứ cú một khác, có không, chỉ có tà kiến chấp, chánh kiến ắt lìa xa.
Hơn nữa ngoại đạo kia ngang bướng chấp chặt, tự cho mình đúng người khác sai, phỉ báng chánh pháp, tiếp tục dạy người, gọi là Từ trước đến nay thành sự tiếp nối huân tập giáo hóa thành hành, tự hãm hại, hãm hại người, là cái hại lớn của Phật pháp! Cho nên tha thiết răn nhắc người tu hành nên gấp xa lìa, ý rằng không những không thân cận hạng người như thế, mà còn ngăn đừng cho rằng thật có kiến chấp tứ cú. Vì vậy dùng thí dụ tóc rủ để so sánh.
💥 GIẢI
Thí dụ này giải thích nghĩa vốn không có tứ cú.
Lửa quay nhanh chẳng phải vòng, nhưng người ngu vọng khởi tưởng có vòng, để dụ cho pháp vốn không có tứ cú, chỉ vì ngoại đạo tà chấp, vọng khởi lên bốn thứ so đo, cho nên nói tất cả tánh sanh. Vĩnh Gia nói: Tất cả số câu chẳng phải số câu, cùng với linh giác ta nào giao thiệp.
💥 GIẢI
Thí dụ này nói ngoại đạo vọng chấp nhân quả của tứ cú chẳng chân thật.
Bọt nước giống hạt châu, thật chẳng phải châu, mà người ngu và trẻ nít vô trí chấp giữ cho đó là thật. Người trí biết rõ nên không chấp giữ. Để dụ cho tứ cú của ngoại đạo, giống như một, giống như thường, thật chẳng phải đạo chân thường. Do họ vô trí chấp vọng cho là chân, nếu người biết duy tâm hiện lượng thì không chấp giữ, nên nói vì giữ và chẳng giữ.
Bởi họ bị huân bởi vọng tập bền ở trong vô sanh vọng thấy có sanh, nên nói đối với chỗ không sanh nói có sanh. Nơi pháp duyên sanh lại chấp đoạn diệt, phá hoại nhân duyên, nên nói duyên nơi có nói rằng diệt mất.
Do đây vọng tạo tác hí luận về tứ cú. Nhân quả chẳng phải chân nhân, quả chẳng phải chân quả, vọng chấp cái bọt nước tưởng là hạt châu thật, cho nên dụ như trẻ nít nhận bọt nước tưởng là hạt châu. Tứ cú ấy chỉ là vọng tưởng, nếu biết vọng tưởng vô tánh, thì tứ cú thế không có gì để lìa. Vì vậy bảy thí dụ trên là gồm nói rõ không tứ cú để lìa.
💥 GIẢI
Sau đây nói rõ cũng không thánh trí để được.
Đường dịch “Lập ba lượng rồi, đối với pháp thánh trí nội chứng lìa hai tự tánh mà khởi phân biệt có tánh”. Ngụy dịch “Mà nói thế này, thật có pháp nội chứng của bậc thánh, lìa hai tự tánh, hư vọng phân biệt”.
Ý Thế Tôn trách Đại Huệ rằng, ta đã vì các ông lập ba thứ lượng, năm phần luận, xác định phải trái khiến cho bỏ tà chấp. Tại sao đến đây lại ở trong pháp thánh trí tự chứng lìa hai tự tánh, mà khởi lên kiến chấp cho rằng thật có thánh trí có thể được? Nếu thánh trí thật có tự tánh có thể được, cũng là vọng kiến. Vì vậy, luận Tam Thập Tụng nói, “Hiện tiền lập chút vật, cho là Tánh duy thức, vì có chỗ sở đắc, chẳng thật trụ duy thức”. Nghĩa là nếu còn mảy may kiến chấp chưa quên, cũng là việc bên mé sanh tử. Chừng nào vô trí vô đắc mới là cứu cánh.
3 lượng là: Hiện lượng, tỷ lượng, thánh giáo lượng.
- Hiện lượng: Hiện tức là hiện tiền, là biết rõ ràng cảnh trước mặt, không kẹt vào danh ngôn, không có tâm so đo, đích thân được pháp thể, lìa phân biệt hư vọng mà không lầm lẫn, nên gọi là hiện lượng.
- Tỷ lượng: Tỷ tức là so sánh loại suy, dùng nguyên nhân lý do thí dụ để so sánh phân loại suy lường mà biết.
- Tỷ lượng có 3 chi. Thánh ngôn lượng: Dùng thánh giáo của Phật làm tiêu chuẩn.
5 phần luận là: tông, nhân, dụ ba chi, với hợp, kết là năm phần đã ghi đầy đủ trong Nhân minh luận.
Nói rằng đã lập 3 lượng 5 phần luận, tức chỉ cho những điều đã nói trong quyển một, thảy đều không ra ngoài 3 lượng 5 phần luận. Như nói tự tâm hiện tự giác thánh trí… đó là hiện lượng. Nói như huyễn, trăng dưới nước, bóng nắng, hoa trong không và vi trần, cục đất, binh… dùng thí dụ để phát minh, đều là tỷ lượng.
Nói tất cả các đức Phật Như Lai đều trước dùng phương tiện tạm sau mới nói thật, và Pháp thân Phật, Báo thân Phật, Hóa thân Phật nói pháp… đều là thánh ngôn lượng. Đây đều dựng lập ba lượng rồi. Còn nói, ta dùng Như Lai tạng đệ nhất nghĩa làm tông, ngoại đạo dùng thần ngã, thắng tánh… làm tông. Đó là tông.
“Ta dùng đệ nhất nghĩa tự giác thánh trí… làm nhân, ngoại đạo kia dùng chủng tử tập khí hư vọng từ vô thỉ làm nhân” và “tạo tác không tạo tác, vô sanh, thường, vô thường…”. Đó đều là nhân. Như hư không, xương Phật, mâm cháy, bình bể… là dụ.
Ba chi này tự có văn hợp, kết. Gồm lại là năm phần luận, nên nói dựng lập xong. Phật thuyết pháp không ra ngoài ba lượng năm phần luận lấy đó làm nghi thức.
💥 GIẢI
Đây là trách Đại Huệ không nên ở trong pháp tự chứng thánh trí mà khởi lên kiến chấp hữu vô, để nói rõ vốn không thánh trí để được [^8].
Nghĩa là những người tu hành đã chuyển tâm, ý, thức, lìa năng sở thủ, an trụ cảnh giới Như Lai tự chứng, há có thể lại ở trong tự giác thánh trí kia mà khởi lên tưởng hữu vô ư? Nếu ở trong ấy khởi lên chấp trước hữu vô, đó là bị kẹt vào kiến chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng. Đó là còn ngã giác ngã nêu là chướng ngại. Chính như Viên Giác đã trình bày rõ về bốn tướng vi tế, vì do còn thấy có chứng ngộ, năng sở chưa quên.
Từ câu Nếu nói về tánh tự tánh trở xuống là để ngừa nạn vấn chuyển tiếp. Nghĩa là tiếp theo đó gạn hỏi rằng: “Chân như, tự tánh, Niết-bàn, chứng đắc, Phật chủng, duyên khởi… đều là lời Phật nói, tại sao bây giờ lại nói không có trí để được”.
Thế Tôn đáp rằng: “Nếu nói trong pháp tự chứng thánh trí kia, thật có tự tánh để đợi duyên sanh, đó là lời của Hóa thân Phật nói không phải Pháp thân Phật nói”. Song Hóa thân Phật nói như vậy, cũng chẳng phải là bổn hoài, chỉ vì chúng sanh ngu si trông mong có chỗ chứng đắc, lấy đó làm kết quả mới chịu thâu hướng.
Nếu nói vô ngã, vô trí, vô đắc thì đâm ra e sợ, nên bất đắc dĩ tùy thuận hợp với căn cơ, phương tiện tạm nói như vậy, vốn chẳng có pháp thật. Cho nên nói: Thảy đều do kiến chấp hy vọng của người ngu mà sanh khởi, chẳng phải để phân biệt chỉ dạy cho hạng người căn cơ tối thượng hướng đến chỗ pháp tự tánh, tu hành như thật được tự giác thánh trí, trụ vào tam-muội lạc.
Ý rằng, nay pháp Đại thừa đốn giáo này, đặc biệt vì người căn cơ tối thượng chỉ thẳng cảnh giới tự giác thánh trí lìa tâm ý ý thức, là pháp chân thật do Pháp thân Phật nói, đâu được chấp vào lời dạy phương tiện mà hy vọng chứng đắc.
❓❓❓ Hỏi: Chân như pháp tánh vì sao cũng nói là tự tướng cộng tướng?
📣📣📣 Đáp: Tự thể của chư pháp chỉ có bậc trí chứng biết, nói năng chẳng đến kịp, đương thể như như, đó là tự tướng. Nếu thể tánh của pháp dùng nội năng mà hiểu, tạm mượn trí để vịn vào, không đạt được tự tướng, đó là cộng tướng. Nay trong tông Đại thừa đốn giáo này, thẳng vì chỉ dạy đệ nhất nghĩa tâm, lìa tướng ngôn thuyết, chỉ có thể tự chứng, đều không có thể cộng tướng. Tự tướng chỉ hiện lượng chứng được, nên nói giác trụ tam-muội lạc mà phân biệt chỉ bày.
❓❓❓ Hỏi: Hóa Phật dạy về tự tướng cộng tướng, là những gì?
📣📣📣 Đáp: Hóa Phật nói chân như tự tánh lặng yên bất biến là tự tướng, theo duyên nhiễm tịnh thành tất cả pháp thể xuất thế, là cộng tướng. Nay Đại Huệ cho là thật có thánh trí để được, chính là chấp về duyên nhân Phật tánh, đợi duyên mới hiện vì có chứng đắc vậy.
💥 GIẢI
Đây dụ Phật hiện thân như hình ảnh trong nước, nước dụ cho tâm chúng sanh, cây dụ cho Pháp thân Phật, thân Bồ-đề, thân nguyện. Bởi Pháp thân chẳng phải thân, nương nguyện lực mà hiện, cho nên “Nước tâm chúng sanh trong sạch, bóng Bồ-đề hiện trong ấy” [^9].
Nói là Pháp thân hiện, thật ra chúng sanh vốn không thể nghĩ bàn, chỉ là nhất tâm, nên bóng và cây đều chẳng phải. Ngoại đạo không hiểu duy tâm sở hiện cho nên vọng chấp một khác…
💥 GIẢI
Đây thí dụ Phật vô tâm mà cảm ứng theo căn cơ, tùy duyên thành việc, theo căn cơ sai khác, như gương hiện hình tượng. Ngụy dịch: Vì có duyên thấy được, vô duyên không thấy.
💥 GIẢI
Đây thí dụ Phật thuyết pháp, là duyên của âm thanh phát ra, như gió nước hòa hợp rồi sau có tiếng, cho nên tất cả ngôn âm dạy dỗ vốn không là thật pháp. Người ngu vọng cho là thật. Bản Đường dịch: Thí như tiếng vang trong hang.
💥 GIẢI
Đây thí dụ từ gốc vô trụ lập tất cả pháp, nên như đất đai nơi không cây cỏ, do sức nắng nóng thấy như nước tràn, sóng dậy, mây dồn. Bởi pháp tánh vô sanh, nơi pháp vô sanh vọng thấy sanh diệt. Bản Đường dịch: Trong môn pháp tánh thánh trí tự chứng thấy sanh trụ diệt, một khác, chung chẳng chung…
💥 GIẢI
Đây thí dụ Pháp thân chẳng phải thân, chỉ dùng sức vô tác nhiệm mầu mà thành tựu cho chúng sanh, vốn không có tướng xuất hiện, nhập diệt, đến hoặc đi, phàm ngu không hiểu vọng cho là thật.
💥 GIẢI
Đây là kết luận khuyên người tu hành, nên xa lìa vọng tưởng ác kiến tứ cú một khác… như trên; tự nhiên được vào Tự giác Thánh trí.
Bởi chúng sanh như, Phật như. Chỉ có một như không có hai như. Nếu quán ba cõi, năm uẩn không thật, đương thể như như tức là tự giác thánh trí. Nếu ở trong môn tự chứng thánh trí pháp tánh, khởi lên kiến chấp về Phật, về pháp, phân biệt là một là khác… tức là rơi vào tà kiến của ngoại đạo.
Bởi đối với cảnh giới sở hiện của nhất tâm tịch diệt mà khởi lên kiến chấp tứ cú, chỉ là vọng tưởng thôi, chẳng phải thật pháp. Thế nên vốn không tứ cú để lìa, nếu một niệm chẳng sanh, tình quên chấp rớt, vốn tự như như. Đó là chỉ hết phàm tình, không thêm thánh giải, nên cũng không thánh trí để được. Đến đây tình phàm và thánh giải một lúc đều dứt sạch, mới là việc rốt ráo của tự giác thánh trí. Nếu còn một mảy may chỗ thấy chưa quên, tức rơi vào ác kiến của ngoại đạo.
Song ngoại đạo có ba hạng. Một là hạng ngoại đạo ngoài Phật pháp, hai là hạng ngoại đạo dựa vào Phật pháp, ba là hạng học Phật pháp thành ngoại đạo. Một, hạng ngoại đạo ngoài Phật pháp, vốn có 3 phái:
- Một là Ca-tỳ-la, Trung Hoa dịch là Hoàng Đầu, chấp trong nhân có quả.
- Hai là Âu-lâu-tăng-khu, Trung Hoa dịch là Hưu Đầu, chấp trong nhân không quả.
- Ba là Lặc-sa-bà, Trung Hoa dịch Khổ Hạnh, chấp trong nhân cũng có quả cũng không quả.
Luận Nhập Đại Thừa nói:
- Ca-tỳ-la có lỗi chấp một, là tác và tác giả là một, tướng và tướng giả là một, như thế gọi là chấp một.
- Âu-lâu-tăng-khu chấp khác.
- Ca-lâu-ưu-đà chấp cũng một cũng khác.
- Nhược-đề-tử chấp chẳng một chẳng khác.
Tất cả những dị chấp của ngoại đạo, đều không ra khỏi 4 cái này. Từ các phái đó xuất phát ra chi nhánh, đến thời đức Phật có 6 đại sư:
- Một là Phú-lan-na Ca-diếp (Purana Kassapa): chấp bất sanh bất diệt, là Thường kiến.
- Hai là Mạt-già-lê Câu-xá-lê-tử (Makkhali Gosala): chấp khổ vui của chúng sanh không có nhân duyên, tự nhiên như vậy, là Đoạn kiến.
- Ba là Na-xà-dạ Tỳ-la-chi-tử (Sanjaya Belatthiputta): chấp chúng sanh đến thời tiết thuần thục thì đắc đạo, dùng số 9 là cùng cực.
- Bốn là A-xà-đa Xi-xá-khâm-bà-la (Ajita Kesakambali): chấp cái khổ của tội báo có thể chun vào chuồng ngựa, hoặc nhổ tóc để thay thế.
- Năm là Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên (Pakudha Kaccayana): chấp cũng có cũng không.
- Sáu là Ni-kiền-đà Nhược-đề-tử (Nigantha Nathaputta): chấp rằng nghiệp được tạo tác là có định không thể sửa. Tóm lại, những lối chấp ấy không ra ngoài hai lối có không, đoạn thường, đây chính là hàng ngoại đạo ngoài Phật pháp.
Hai, hàng ngoại đạo dựa vào Phật pháp, khởi lên từ Độc Tử Phương Quảng, tự chính ông đem sự thông minh xem các kinh sách Phật rồi phát sanh một thứ kiến giải riêng, dựa vào Phật pháp mà có ra, nên gọi tên như thế. Độc Tử đọc bộ Xá Lợi Phất Tỳ Đàm, tự lập thành nghĩa riêng, nói có ngã ở ngoài tứ cú, trong bát khả thuyết tạng. Thế nào là tứ cú? Ngoại đạo chấp tức sắc là ngã, lìa sắc là ngã, trong sắc có ngã, trong ngã có sắc, 4 ấm kia cũng như vậy. Gồm lại có hai mươi kiến chấp về thân. Đại luận nói “Phá hai mươi kiến chấp về thân thành Tu-đà-hoàn”, tức là nghĩa này. Nay phái Độc Tử chấp ngã khác với lục sư ngoại đạo, cũng không phải Phật pháp, các luận đều bài xích không chấp nhận, bèn trở thành người tà pháp tà dựa vào Phật pháp.
Ba, học Phật pháp thành ngoại đạo, nghĩa là chấp vào lời dạy của Phật mà sanh phiền não, không nhập được lý.
Đại luận nói: Nếu không được phương tiện Bát-nhã, nhập vào A-tỳ-đàm, tức rơi trong hữu; nhập vào không tức rơi trong vô, nhập vào Tỷ-lặc thì rơi trong cũng có cũng không.
Trung Luận nói: Chấp chẳng có chẳng không, gọi là luận ngu si, chấp ngược chánh pháp trở thành người tà. Cho nên học bốn môn Đại thừa nếu không đạt được ý Bát-nhã liền rơi vào bốn lối phỉ báng bị đốt bởi lửa tà, trở thành người tà pháp tà. Tiểu thừa chấp thật giả hai bên, Đại thừa chấp không hữu hai bên. Tiểu thừa bác bỏ ngoài tâm có pháp là kẹt hữu, Đại thừa bác bỏ Bồ-đề Niết-bàn thảy đều vô là kẹt không. Thế nên là hạng học Phật pháp mà thành kiến chấp ngoại đạo. Thảy đều do không hiểu được cảnh giới duy tâm hiện lượng nên vọng khởi chấp trước như thế.
Kinh này tối tả hiển chánh, tất cả đều phá.
- 7 thí dụ trước là phá 4 chấp của ngoại đạo bên ngoài và ngoại đạo dựa vào Phật pháp, để hiển tự giác thánh trí vốn không tứ cú để lìa.
- 5 dụ sau phá hạng học Phật pháp thành ngoại đạo, để chứng tịch diệt nhất tâm, nên nói không thánh trí để được. Nếu các kiến chấp tiêu vong thì nhất tâm tự hiển, người đọc nên biết điều này, chớ chán vì sự rắc rối.
💥 GIẢI
Đây dùng chung các thí dụ để trước tiên tụng rằng vốn không tứ cú để lìa.
Hai bản dịch Ngụy Đường đều trước tiên nêu năm uẩn, sau nêu ba cõi không thật như bóng, như huyễn… Bởi vì chúng sanh đối với thân tâm năm uẩn, không biết là như bóng ảnh, như huyễn, vọng chấp cho là thật, cho nên không thể giải thoát khỏi sanh tử ba cõi. Song 5 uẩn và các pháp vốn tự vô sanh, nay ở trong vô sanh vọng thấy có sanh diệt, nên thí dụ như nai khát nước, ở chỗ không có nước vọng khởi tưởng có nước.
Chúng sanh cũng thế, đều do tập khí chủng tử nghiệp thức huân phát nên phàm phu vọng thấy sanh tử, ngoại đạo Nhị thừa vọng thấy Niết-bàn, vì thế nói: thấy cảnh giới động tĩnh. Đây đều do vọng tưởng của người ngu sanh ra, cũng như mắt nhặm vọng thấy hoa đốm. Vì vậy nói nơi vô thủy sanh tử vọng tính toán chấp trước cho rằng thật có tự tánh rồi khởi lên các ác kiến tứ cú về một khác, có không, đoạn thường…
Thế Tôn thương đám người mê, nói pháp lìa tứ cú, phá tâm tham trước của họ, như ngược chốt tháo chốt nên khiến xả bỏ tham chấp giữ, chẳng phải thật có tứ cú để lìa. Bởi các pháp ấy vốn không có tạo tác, cũng chẳng phải là việc thật nên chỉ như huyễn, chú thuật máy phát động, mây nổi, chiêm bao, điện chớp, nắng lòa mà thôi.
Đó là “Sanh tử Niết-bàn như giấc mộng đêm qua”, nếu có thể quan sát như vậy thì các pháp đương thể vắng lặng, rõ được không tướng sanh từ Niết-bàn. Nên kệ nói Biết các pháp như thế, tức là không chỗ biết. Do không chỗ biết nên các kiến chấp tự tiêu vong, tứ cú chóng trừ, tức gọi là tự giác thánh trí.
💥 GIẢI
Bài tụng này nói cũng không thánh trí để được.
Đường dịch: “Các uẩn như búi cỏ, trong đó vọng phân biệt, chỉ giả danh lập bày, tìm tướng vốn không thể được”. Nghĩa là năm uẩn, các pháp vốn không có, hư dối chẳng thật như huyễn, chiêm bao… Do người ngu không thấu hiểu duy tâm, vọng khởi phân biệt nên khởi lên bốn lối chấp. Nếu biết rõ các pháp chỉ do tâm hiện, như gương sáng, nước lắng trong, mắt sáng, châu ma-ni, tuy hiện các vật mà vốn tự vô sanh, đương thể tròn sáng, tức là tự giác thánh trí, ngoài ra lại không có thánh trí để được.
- Trên phá chung hai kiến để hiển bày Viên thành thật xong.
- Sau đây kết luận hiển bày lìa lỗi dứt quấy.
I₄ - Hiển bày lìa lỗi dứt quấy
💥 GIẢI
Đây là kết đáp lại ý hỏi, để hiển bày lìa lỗi dứt quấy.
Do Đại Huệ thưa hỏi về lìa tứ cú một khác, có không… là sở hành của tự giác thánh trí, các ngoại đạo không thể làm được. Phật đáp chỉ đối với năm ấm, các pháp, thấu rõ duy tâm, không khởi phân biệt thì ngay đó như như, vốn không tứ cú để lìa, cũng không thánh trí để được. Thế nên đây kết luận rằng: Sở dĩ Như Lai nói pháp lìa tứ cú như thế, vì căn cứ vào thật tế nhân duyên tịch diệt giải thoát mà nói, không thể so sánh với ngoại đạo vọng chỉ các tà nhân Tánh, Tự tại… mà nói pháp, cho nên hằng lìa các lỗi.
💥 GIẢI
Đây là ngừa nạn vấn.
Gạn rằng: Như Lai thuyết pháp đã lìa tứ cú thời không có pháp để nói, vì sao lại thứ lớp dựng lập trăm lẻ tám câu và phân biệt tướng các thừa, các địa?
Thế nên đây giải thích: Vì muốn dẹp sạch hai thứ chướng phiền não và sở tri của chúng sanh, như thương chủ vì dẫn đường cho mọi người đến chỗ châu báu, mới lập các phương tiện.
Như Lai thuyết pháp cũng như thế, chẳng phải thật có việc để nói. Nên kinh nói: Biết pháp không nơi lời, khéo vào mé vô ngôn, nhưng hay nêu ngôn thuyết, như tiếng vang khắp thế gian. Cũng chẳng phải là nín thinh không nói. Bảo Cảnh nói: “Tuy chẳng có lời, chẳng phải không lời”. Đoạn trước nói trăm lẻ tám câu căn cứ vào tứ cú tà chánh của ba cõi hai mươi lăm loài mà dựng lập, nghĩa này thấy rõ ở đây.
-
Về trước trong phần nói về hạnh, ban đầu nêu chung về phương tiện chánh hạnh đã xong.
-
Tiếp theo đây, nói lược về tướng nhân quả tà chánh, chia làm bốn. Phần đầu chỉ dạy tóm lược hai nhân. Trước tiên chỉ dạy về lỗi thiên tà nhân của Nhị thừa và ngoại đạo.
H₂ - Lược chỉ nhân quả tà chánh. Có 4
I₁ - Sơ lược hai thứ nhân tà và chánh. Có 2
K₁ - Chỉ tà nhân ngoại đạo và Nhị thừa
💥 GIẢI
Đây nói sơ lược về 2 thứ nhân tà và chánh, ban đầu chỉ tả nhân của ngoại đạo Nhị thừa.
Sở dĩ Như Lai nói pháp không giống ngoại đạo, vì nhân hạnh không giống. Đây đặc biệt nói về 4 thứ thiền để lựa riêng hai nhân chánh và tà, muốn khiến người tu hành biết mà lựa chọn. Phương tiện nhập lý của nhà thiền chỉ là nhân hạnh mà thôi.
Nhị thừa ngoại đạo không thấu đạt lý tự tâm hiện lượng chọn vô ngã, tuy quán ngã không, mà vì chỗ chấp trước chưa quên, càng tăng thêm ngã kiến, nên tướng chẳng trừ diệt. Vì nhân địa không chân nên kết quả không thật, đó là lý do Niết-bàn của hạng này cũng chẳng chân thật. Đây gọi là Ngu phu sở hành thiền.
K₂ - Chánh nhân của tam thừa
💥 GIẢI
Đây gọi là phương tiện tu hành của Bồ tát, để chỉ ra nhân chánh.
Từ hàng Tam hiền cho đến Thất địa, hành tướng đều nêu ở đây. Đó gọi là, hai chướng về phân biệt ngã và pháp đến Bát địa không còn. Còn chướng về câu sanh pháp chấp thì ở mỗi địa mỗi địa lần lượt trừ. Nên nói Quán pháp vô ngã, nghĩa tướng các địa kia lần lượt tăng tiến.
Thế nào là Phan duyên như thiền? (Ngụy dịch: Quán chân như thiền. Đường dịch: Duyên chân như thiền). Nghĩa là vọng tưởng về 2 vô ngã chỉ là vọng tưởng, chỗ như thật chẳng sanh vọng tưởng. Đây gọi là Phan duyên như thiền.
Đây giải thích về hành tướng của Bát địa trở lên đến giải thoát đạo.
Đường dịch: “Nếu phân biệt rằng vô ngã có 2, đó là ý niệm hư vọng, nếu biết như thật thì ý niệm này không khởi”. Nghĩa là nếu Bồ tát phân biệt thật có lý 2 vô ngã, thì cũng là vọng tưởng, nên nói Vọng tưởng về 2 vô ngã cũng chỉ là vọng tưởng.
Nếu xứng thật mà quán thì nhân pháp vốn không, nay làm gì có không hai, bình đẳng như như, phân biệt chẳng khởi. Bản Ngụy dịch: “Không ở trong tâm phân biệt, được cảnh giới tịch tĩnh, đó gọi là Quán chân như thiền”.
Trên đây là hành tướng của 3 thừa.
Thế nào là Như Lai thiền? Nghĩa là vào địa vị Như Lai, được tướng tự giác thánh trí, 3 thứ lạc trụ, thành tựu việc bất khả tư nghị cho chúng sanh. Đây là Như Lai thiền.
Đây là hành tướng nhất thừa tối thượng. Nói là Như Lai thiền, chẳng phải là Như Lai sở hành thiền, mà là dùng quả giác ngộ của Như Lai làm tâm bốn nhân. Nghĩa là dùng tâm bất sanh diệt làm nhân gốc để tu, nên nói “Phương tiện rộng lớn của bậc tu hành”.
Hai thứ thiền trước tuy là hạnh chân chánh, cũng còn thuộc tiệm tu. Đây thì đốn ngộ nhứt tâm, đón chứng địa vị Phật, ba đức bí tạng liền được trong một niệm.
Tức liền có thể thành tựu chúng sanh bất khả tư nghì, nên gọi là Như Lai thanh tịnh thiền. Đây chính thiền tông của Đạt-ma truyền, ba đời chư Phật, tâm ấn lịch đại Tổ sư, chỉ thủ của kinh này ý nằm trong ấy.
Há cho phép tả thiền của ngoại đạo Nhị thừa và loại vọng tưởng phan duyên chúng đắc, có thể so sánh ư? Thế nên muốn người tu hành thảy đều lấy đây làm chân nhân, mới được quả vô thượng đại Niết-bàn của Như Lai, vì nhân chân thì quả chánh. Đây là lý do Như Lai nói pháp không giống như ác kiến của ngoại đạo.
💥 GIẢI
Đây là tụng chung về tướng bốn thứ thiền, sau sẽ lựa riêng về tả chánh.
Đây tụng về hành tướng tà thiền của ngoại đạo Nhị thừa, răn nhắc khiến người tu hành đừng lầm rơi vào đó.
Nghĩa là ngoại đạo chấp thần ngã, nên khi nhập định thấy hình ảnh như mặt trời, mặt trăng, sáng suốt trong trẻo rõ ràng, hoặc thấy như hoa sen hồng ở trong biển (bát-đầu-ma: hoa sen hồng), lấy đây làm chân.
Nhị thừa vọng chấp năm ấm thật có tự tướng cộng tướng nên khởi quán vô thường, khổ, không… dập tắt tâm, tiêu diệt trí đồng với hư không, như củi hết lửa tắt, cho là Niết-bàn.
Nên răn nhắc rằng: Người tu hành quán sát, nếu thấy những cảnh tướng như vậy, quyết định không thể lầm rơi trong ấy.
💥 GIẢI
Bài tụng này hiển chánh hạnh.
Ý muốn người tu hành không những bỏ các tà thiền của ngoại đạo Nhị thừa, cũng đừng thân cận tập tành. Nếu y theo Phật môn, rõ thấu duy tâm hiện lượng, thì hai thứ thiền Quán sát, Duyên như cũng chẳng cần phải thân cận tập tành.
Vì thế kệ nói: Xa lìa những thứ ấy, tức là vô sở hữu. Do nương vào “vô sở hữu” mà quán thì có thể đốn nhập chơn như, đó gọi là Như Lai thanh tịnh vô tướng thiền. Hành giả y theo đây mới gọi là chánh hạnh, ắt có thể chóng khế hợp Phật tâm, nên liền cảm được mười phương chư Phật, dùng tay bất tư nghì đồng một lúc xoa đầu.
-
Trên nói lược về nhân hạnh tà chánh không giống nhau.
-
Sau đây lược nói về quả tướng tà chánh không giống.
I₂ - Lược nói về quả tướng của tà chánh không giống
💥 GIẢI
Trên nói nhân hạnh chẳng giống, đây nói quả tướng cũng khác.
Đại Huệ nghe nói nhân hạnh không giống, bèn hỏi Thế Tôn, đã dùng Như Lai thanh tịnh thiền làm nhân, chẳng biết dùng những pháp gì làm quả tướng. Thế nên ở đây thưa hỏi về Niết-bàn để hiển bày quả đức không giống.
💥 GIẢI
Đây nói về chuyển sanh tử thành Niết-bàn để hiển chân quả của Như Lai.
Đường dịch: “Tất cả thức tự tánh, tập khí và tạng thức, ý thức, kiến lập chuyển, ta và chư Phật nói đó là Niết-bàn, tức là cảnh giới các pháp tánh không”. Nghĩa là thức tự tánh, tập khí, và tâm, ý, ý thức kiến lập vô minh, đều là nhân sanh tử.
Ý rằng: Nếu biết những thứ ấy tánh không, tức ngay nơi sanh tử chuyển làm Niết-bàn, tức là cảnh giới các pháp tánh không. Không phải như hàng Nhị thừa và ngoại đạo vọng cho có chứng đắc, chấp làm Niết-bàn. Do nhân địa của họ không chân, nên Niết-bàn của họ cũng chẳng phải cứu cánh, vì không lìa được nhân sanh tử vậy.
💥 GIẢI
Đây chỉ ra tướng Niết-bàn.
Vì Niết-bàn là cảnh giới tự giác thánh trí, chẳng phải là cảnh giới vọng tưởng của Nhị thừa ngoại đạo, vì lìa sự phân biệt về đoạn thường, hữu vô. Vì lìa cái ngã giả dối của phàm phu và thần ngã của ngoại đạo nên chẳng phải thường. Bởi lìa trống rỗng của ngoại đạo và đoạn diệt của Nhị thừa cho nên không phải đoạn.
Vì chẳng hoại nên chẳng diệt. Vì chẳng chết nên chẳng sanh. Vì chẳng diệt nên đó là đất linh của chư thánh. Vì chẳng sanh nên là ngôi nhà an ổn của chúng sanh.
Thế nên nói: “Tất cả chư thánh ba đời đều được tự giác, chỗ quy y của người tu hành”. Trong đây, phàm phu vọng nhận năm uẩn giả ngã làm tự tướng, ngoại đạo vọng lập thần ngã chủ tể làm cộng tướng.
💥 GIẢI
Đây kết luận chỉ ra nghĩa chính của Niết-bàn.
Bởi hàng Tam thừa vọng thấy thủ xả, ngoại đạo vọng chấp đoạn thường một khác, thảy đều thuộc vọng kiến phân biệt. Tướng đại Niết-bàn Như Lai tự tánh thanh tịnh lìa các lỗi này, tất cả đều chẳng phải. Nên Lục tổ nói: “Đại Niết-bàn vô thượng, tròn sáng thường tịch chiếu. Phàm ngu cho là chết, ngoại đạo chấp là đoạn. Những người cầu Nhị thừa, gọi đó là vô tác. Đều thuộc về tình chấp, gốc sáu mươi hai kiến. Vọng lập danh hư dối. Không có gì chân thật. Chỉ có người siêu xuất. Thông đạt không thủ xả. Vì biết pháp ngũ uẩn. Và cùng ngã trong uẩn.
Các sắc tượng hiện ngoài, mỗi mỗi tướng âm thanh, bình đẳng như huyễn mộng, không khởi thấy thánh phàm, không khởi hiểu Niết-bàn. Dứt hai bên ba mé. Thường ứng các căn dụng, không khởi tưởng tác dụng. Phân biệt tất cả pháp, không khởi tưởng phân biệt. Kiếp lửa thiêu tột biển,
⏯️