⏯️ (tiếp theo)
💥 GIẢI
Từ đây đến hết bộ kinh là đứng về phương diện tâm sanh diệt để hiển bày vạn pháp duy thức. Song, đầu tiên dùng pháp để hiển chân duy thức lượng.
❓❓❓ Hỏi: Bồ-tát Đại Huệ nhân Phật đáp 108 câu tất cả đều phi, bèn khởi lên hỏi các thức có mấy thứ sanh trụ diệt đó là sao?
📣📣📣 Đáp: Căn cứ ngài Mã Minh, lấy yếu chỉ kinh này tạo Luận Khởi Tín, nương một pháp tâm lập ra 2 phương diện, là phương diện tâm chân như và phương diện tâm sanh diệt. Y cứ vào phương diện thứ 2 lại có nghĩa giác và bất giác; y cứ vào nghĩa bất giác khởi lên ba tế sáu thô… gồm nhiếp hết pháp thế và xuất thế, chỉ thẳng nhất tâm là cội nguồn của mê ngộ. Cho nên kinh này nói 5 pháp ba tự tánh đều không, tám thức 2 vô ngã đều trừ. 5 pháp là danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như; 3 tự tánh là vọng tưởng, duyên khởi, viên thành. Vì y cứ nhất tâm mà có sự sai khác giữa mê ngộ, cho nên có 8 thức. Do mê nhất tâm mà chuyển chánh trí, như như thành danh, tướng, vọng tưởng, thế là tất cả pháp đều là vọng tưởng duyên khởi. Ngộ nhất tâm mà chuyển danh, tướng, vọng tưởng làm Chánh Trí, Như Như, gọi là Viên Thành. 1
Phẩm này tên là “Phật ngự tâm” nghĩa là tịch diệt nhất tâm gọi là chân như.
Luận² nói:
Tâm chân như ấy tức là nhất pháp giới đại tổng tướng pháp môn thể, nghĩa là tâm tánh bất sanh bất diệt, tất cả các pháp chỉ nương vọng niệm có sai biệt, nếu lìa tâm niệm thì không có tất cả tướng cảnh giới
Thế mới biết từ trước các câu hỏi của Đại Huệ là căn cứ trên việc trong cảnh giới danh, tướng, vọng tưởng… cho nên mới có các thứ pháp thế và xuất thế, thành 108 kiến chấp. Mà Thế Tôn chỉ thẳng nguồn chân nhất tâm, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, nên lập lại lời hỏi rồi bác bỏ rằng “Tất cả đều phi”. Thế là tất cả các lời kinh ở đoạn trước chính là đứng về phương diện nhất tâm chân như. Nếu đứng về phương diện chân như, ắt là lìa tướng ngôn thuyết, ba cõi duy tâm.
Chỗ hiện lượng chứng thì không cho có nói năng. Chỗ có lời nói đó, đều là việc của vọng tưởng duyên khởi trong phương diện sanh diệt, hễ rơi vào nói năng tức thuộc tỷ lượng. Cho nên từ đây về sau, đều đứng về phương diện sanh diệt để chỉ bày rằng các pháp duyên khởi sai biệt đều là duy thức hiện, nên nói vạn pháp duy thức.
Song thức như huyễn mộng, chỉ là nhất tâm. Tâm tịch mà tri, chân vọng đều lìa, tức gọi là tự giác thánh trí. Do đây thành lập lượng chân duy thức.
Đại Huệ đã lãnh hội yếu chỉ nhất tâm ly ngôn, kế đó mới hỏi các thức có mấy thứ sanh trụ diệt. Bởi do bất sanh diệt cùng với sanh diệt hòa hợp thành thức A-lại-da (thức thứ 8). Cho nên trong môn sanh diệt trước hỏi các thức có mấy thứ sanh trụ diệt. Phật đáp có 2 thứ sanh trụ diệt. Vì sanh tức vô sanh, trụ vốn vô trụ, diệt mà bất diệt, cho nên nói: Chẳng phải suy nghĩ có thể biết.
Các thức có 2 thứ sanh: Lưu chú sanh và tướng sanh. Có 2 thứ trụ: Lưu chú trụ và Tướng trụ. Có 2 thứ diệt: Lưu chú diệt và Tướng diệt.
Đây là chỉ chung tám thức đều có 4 tướng¹ thuộc 2 món thô tế.
Có người giải thích rằng lưu chú sanh trụ diệt thuộc riêng về A-lại-da. Tướng sanh trụ diệt thuộc bảy thức trước.
Nay xét rõ ý kinh về chữ “chư thức”, đó là trong 8 thức đều có bốn tướng thô tế. Do 8 thức đều có dụng tự lượng và liễu biệt, tùy theo vừa thấy liền phân biệt nếu hành tướng phân biệt này hiện lộ rõ ràng, thì gọi rằng tướng sanh trụ diệt. Còn cứu xét tận cùng nguồn gốc của sự phân biệt này đều là nghiệp dụng tịnh duyên của thức đệ bát, tới chỗ này thì ba tướng ẩn kín một cách vi tế chỉ còn một thứ tiếp nối nên gọi là lưu chú. Tuy có phân chia ra vi trí 8 thức mà kỳ thật gồm lại đều là một loại vị tế lưu chú, ở thức vị hiện hành, cùng xen nhau huân và phát, sâu xa vi tế, không thể tư nghị. Cho nên kinh nói: “Thức đã-na vi tế, tập khí thanh bộc lưu”, vì vậy nói “Các thức có 2 thứ sanh trụ diệt”.
Kinh Mật Nghiêm nói:
“8 thứ tâm lưu chú, tuy không có nhiều thứ, hoặc tùy duyên chóng khởi, hoặc lúc khởi dần dần, như sóng mỗi nương nước”, sóng mỗi là dụ về tướng, nước là dụ cho lưu chú, không lìa nhau. Cho nên văn sau nói: “Phi nhất phi dị”.
💥 GIẢI
Đây là giải thích thế tướng của 8 thức, để nói rõ y cứ môn sanh diệt có 2 nghĩa Giác và Bất giác. Chân tướng tức bổn giác chân tâm; Chuyển tướng, Nghiệp tướng tức là Vô minh bất giác.
❓❓❓ Hỏi: Luận đưa ra Tam tế, là Nghiệp tướng, Chuyển tướng và Hiện tướng. Kinh đây nói 3 tướng, đưa Chuyển làm đầu, kế là Nghiệp, rốt sau mới là Chân. Vả nói các thức đều có ba thứ tướng, đó là sao?
📣📣📣 Đáp: Đây nói trong tám thức đều đủ 3 tướng, không giống như luận nói Tam tế thuộc riêng phần Đệ bát thức. Vì sao? Luận nói:
- Một là Vô minh nghiệp tướng, do y bất giác nên tâm động, gọi là nghiệp. Đây là chỉ riêng vô minh.
- Hai là Năng kiến tướng do nương nơi động nên năng kiến tức gọi chuyển tướng.
- Ba là Cảnh giới tướng do nương nơi năng kiến nên cảnh giới vọng hiện, nghĩa là hay hiện tất cả cảnh giới, như gương hiện hình tượng gọi là hiện tướng.
Ý của luận như vậy, mà kinh này không đồng ý với luận, đưa Chuyển tướng đặt trước, Chuyển tướng này không phải là Chuyển tướng trong Tam tế, là để giải thích nghĩa câu trước:
Các thức mỗi thức đều có 2 thứ sanh trụ diệt. Nghĩa là căn cứ vào nghĩa sanh diệt sát-na sát-na niệm niệm lưu chuyển thì Chuyển tướng nói ở đây tức là lưu chú sanh diệt đã nói ở trước. Tam tế của luận Khởi Tín gồm đủ trong chuyển tướng ấy. Còn Nghiệp tướng là nghiệp của nghiệp tạo tác, tức là tướng sanh trụ diệt trước, sau tướng thô (của luận) gồm đủ trong nghiệp tướng này. Người không biết niệm niệm sanh diệt, khởi hoặc tạo nghiệp đều là chấp tâm, nên trước đưa ra Chuyển, Nghiệp, về sau mới nói Chân tướng cốt yếu ở chỗ trừ vọng rõ chân.
Chính là trong luận nói: “Y môn sanh diệt có giác bất giác vậy”.
Văn sau nói:
Các thứ sóng thức áo at mà chuyển sanh, cũng như sóng biển cả, đây ắt không sai khác. Các thứ tâm như thế. Khác cũng chẳng thể được
Lại nói: “Tạng thức như biển cả, nghiệp tướng cũng như sóng”.
(Bản Đường dịch: “Chuyển thức giống như sóng”. Cho nên biết Chuyển, Nghiệp là giải thích nghĩa của 2 thức Sanh - Diệt.)
Nếu đứng về mặt tam tánh mà giải thích thì Chuyển tướng là y tha khởi, như sóng nổi y nơi nước biển khởi lên. Nghiệp tướng là biến kế chấp, như chỉ thấy sóng mòi dấy động không biết là nước. Chân tướng tức là viên thành thật, chỉ một nước biển thôi. Chân tướng này tức bổn giác chân như tuỳ duyên bất biến.
❓❓❓ Hỏi: Ngài Mã Minh y kinh Lăng-già… tạo luận Khởi Tín mà tam tế là cương yếu của sự sanh khởi trong luận, vì sao nói không giống ư?
📣📣📣 Đáp: Vì ở đây nói chung tướng của tám thức, do kinh nói các thức có ba thứ tướng, nếu là tam tế lục thô, sau đây chỗ bất tư nghì huân biến, tự có văn đề rõ.
💥 GIẢI
Đây giải thích tên các thức ở trước.
Trước nói các thức, chẳng biết thức có mấy thứ, cho nên đây giải thích rằng: Sơ lược có 3:
(Ngụy dịch: Lược nói có 2, là Liễu biệt thức và Phân biệt sự thức. Đường dịch: Lược ắt chỉ có 2, là Hiện thức và Phân biệt sự thức. Cả hai đều thiếu Chân thức).
Nói đầy đủ có 8.
Chân thức trong đoạn này tức là Như Lai tạng Chân tâm bất sanh diệt, cũng tức là Chân như. Chân như cũng nói là thức, vì có cái dụng chiếu cảnh.
Còn Hiện thức tức là thức thứ 8, cho nên luận nói:
“Do ý thức A-lai-da nói có vô minh, bất giác mà khởi, năng kiến năng hiện, năng thủ cảnh giới, cũng gọi là trí thức”.
Trong đây Phân biệt sự thức là tiền thất thức¹. Nếu đứng về mặt thí dụ gương và tượng, thì 8 thức một thể không hai không khác.
Cho nên luận nói:
“Hiện thức là hay hiện tất cả cảnh giới, cũng như gương sáng hiện các sắc tượng. Hiện thức cũng vậy, tuỳ ngũ trần đối diện tới liền hiện, không có trước sau, vì tất cả thời hỗn nhiên mà khởi, thường ở hiện tiền”.
Từ đây mà nhìn thì 3 thứ thức của kinh này là chân vọng thành lập có tính cách đối đãi, cốt yếu hiển bày thức tướng chân như. Cho nên văn sau nói “Như Lai tạng tên là thức tạng”. Hai bản Đường và Ngụy, chỉ đưa ra Liễu biệt và Hiện thức, là nói chung chân vọng.
Sở dĩ nói chung lại vì sanh diệt và bất sanh diệt hòa hợp thành thức A-lại-da. Cho nên kinh nói: “Phật nói Như Lai tạng tức là A-lại-da”. Tông Cảnh nói: “Kinh đây chỉ thẳng tám thức là chân, không thể so sánh với kinh khác riêng lập chín thức”, gọi là chân vọng nói chung.
💥 GIẢI
Đây giải thích tướng sanh khởi của 8 thức để hiển bày vốn không 2 thể.
Lần lượt làm nhân cho nhau là tiền thất chuyển thức cùng đệ bát thức xen nhau làm nhân; do hiện hành của tiền thất huân thành chủng tử, rồi chủng tử của đệ bát lại huân khởi ra hiện hành (của tiền thất).
Cho nên Thức Luận nói: “Các pháp ở tàng thức, thức ở nơi pháp cũng vậy, lại xen nhau làm tánh nhân, cũng thường làm tánh quả”.
Song có thể hoại là Vọng thức; không thể hoại là Chân thức
(Ngụy dịch: Hai thứ thức ấy không sai biệt, lần lượt chung làm nhân. Đường dịch: Hai thức này tướng không khác nhau, xen nhau làm nhân).
💥 GIẢI
Đây đặc biệt nói rõ nhân sanh khởi của thức thứ tám để làm sáng tỏ nghĩa lưu chú sanh trong 2 thứ sanh ở đoạn trước, hiển bày tướng của Tam tế.
Bất tư nghì huân biến là nhân của Hiện thức, là vô minh huân chân như làm nhân của thức thứ tám, gọi là lưu chú sanh.
Luận nói: Do y pháp chân như nên có vô minh làm nhân cho các nhiễm ô, đây là Nghiệp tướng. Do có vô minh làm nhân nhiễm pháp, tức huân tập lại Chân như. Do vì huân tập ắt có vọng tâm, do có vọng tâm tức huân tập vô minh, đây là Chuyển tướng. Vì không rõ pháp chân như nên bất giác khởi niệm, hiện ra vọng cảnh giới, đây là Hiện tướng. Thế là nhân nơi sức vô minh huân tập nên khiến chân như biến làm Hiện thức, đây chính là vô minh bất giác sanh Tam tế vậy.
Nói bất tư nghì huân biến ấy, nghĩa là chân như vốn bất khả huân mà huân cho nên gọi là bất tư nghì huân. Thể của chân như vốn tự bất biến mà nay tùy duyên vô minh thành một thành pháp, cho nên nói bất tư nghì biến
(Bản Ngụy dịch: Liễu biệt thức, bất khả tư nghì huân biến làm nhân. Bản Đường: Hiện thức dùng bất khả tư nghì huân biến làm nhân).
Chỉ vì ba tướng ẩn mật vi diệu, nên dùng bất tư nghì huân biến để giải thích cho lưu chú sanh vậy.
💥 GIẢI
Đây nói rõ nhân sanh khởi của tiền thất thức, để làm sáng tỏ tướng sanh, hiển bày tướng Lục thô.
Luận viết: “Do vì duyên nhiễm pháp, vọng cảnh liền huân tập vọng tâm, khiến niệm kia đắm trước tạo các nghiệp, chịu tất cả khổ về thân tâm”.
Đây chính là tướng Lục thô. Chấp giữ các món trần và vọng tưởng vô thủy huân ấy là chủng tử tập khí vọng tưởng. Đó là chủng tử chứa trong thức thứ tám, nhân đó huân khởi ra căn cảnh hiện hành của tiền thất, lại chấp đó làm thật ngã thật pháp.
Cho nên nói: “Chấp giữ các món trần và vọng tưởng vô thủy huân”. Đây là thức thứ tám làm nhân cho tiền thất, gọi rằng Tướng sanh. Song vọng tưởng huân, lại là Lưu chú sanh trong tướng.
Cho nên luận nói: “Nghĩa vô minh huân tập có 2 thứ: Một là Căn bổn huân tập, vì hay thành tựu nghĩa nghiệp thức. Hai là Sở khởi kiến ái huân tập, vì hay thành tựu nghĩa Phân biệt sự thức”. Bất tư nghì huân ở đoạn trước là căn bổn huân, ở đoạn này là Kiến ái huân.
💥 GIẢI
Đây giải thích tướng diệt trong hai món diệt ở đoạn trước.
Phục là trở lại, tức ngược dòng trở về một, thuận khế hợp chân như, ắt tất cả trần cấu ngay đó tiêu vong, mà căn trần thức tâm đồng thời rơi mất. Đây gọi là tướng diệt (Bản Đường: Các thứ tập khí phân biệt hư vọng trong A-lại-da thức diệt, tức là tất cả căn thức diệt, gọi là tướng diệt). Bởi sanh thì từ tế đến thô nên nói lưu chú sanh trước, nay diệt thì từ thô đến tế cho nên nói tướng diệt trước.
Đại Huệ, tương tục diệt ấy, bởi sở nhân của tương tục diệt nên tương tục diệt. Sở từng diệt và sở duyên diệt, ắt tương tục diệt.
💥 GIẢI
Đây giải thích lưu chú diệt trong hai thứ diệt ở trước.
Tương tục tức là nghĩa lưu chú. Thức thứ tám lặng lẽ sâu kín vốn không sanh diệt, chỉ nhân gió tiền thất thức thổi động tập khí thành chủng tử cho nên mới có (sanh diệt) vậy. Song cái sanh diệt này đã nhân nơi tiền thất chuyển thức mà sanh, nay cái nhân (tiền thất) đã diệt, thì cái lưu chú tương tục tự diệt, cho nên nói nhân của tương tục diệt thì tương tục diệt. Đây là giải thích lưu chú diệt trong phần lưu chú sanh diệt vậy.
Sở từng diệt và sở duyên diệt thì tương tục diệt ấy, là giải thích lưu chú diệt trong phần tướng sanh diệt. Nghĩa là đệ thất chuyển thức vốn không sanh diệt, chỉ vì theo tập khí vô minh căn bản vô thủy huân bên trong, bên ngoài có gió cảnh giới lục trần thổi động biến tướng, trong ngoài giao nhau cho nên khởi lên sóng tiền thất.
Nay bên trong vô minh sở từng đã diệt, gió cảnh giới bên ngoài dừng, tâm thể lặng lẽ, sóng mồi tự dứt, thế là tiền thất ngay đó vô sanh. Nay sở từng sở duyên đã diệt thì tương tục ắt diệt, vì tất cả động tướng đều y nơi vô minh mà khởi, nên giải thích rằng “là chỗ y của kia”. Chỗ y đó là vọng tưởng huân tập từ vô thủy. Vọng tưởng vô thủy là căn bản vô minh, tức nay gọi là “Thất thức kết sanh tương tục”. Nhân bị vọng tưởng vô thủy này huân mà tám thức kia không được thành trí, thường ở trong triền phược.
Duyên đó là tự tâm thấy… cảnh thức vọng tưởng, ấy là căn thân khí giới, vốn là tướng phần sở biến của tám thức rồi trở lại làm cảnh bị duyên của kiến phần tám thức. Đây chính là chỗ Thức Luận nói rõ nhân duyên y. Nay nơi chỗ nhân tương tục diệt thì sanh diệt tinh tịnh vong; sở duyên diệt thời cảnh trần tự biến mất. Như thế thì vô minh sở tác thức rõ ràng là chánh trí bất sanh bất diệt như như tịch diệt. Cho nên luận nói: “Chỉ có tứ thức diệt nên tâm tương theo đó diệt.” Trước sanh thì lẫn nhau sanh, nay diệt cùng lẫn nhau diệt.
Trên dùng pháp để hiển bày chân Duy thức lượng xong.
Sau đây dùng thí dụ để phá nhị kiến.
G₂ - Dụ phá nhị kiến
💥 GIẢI
Đây là dùng thí dụ để thành lập chân Duy thức lượng ở trước, sắp gián tiếp phá kiến chấp về nhất dị, đoạn thường của ngoại đạo vậy.
Thí như đất và vi trần, chính là chỉ bất sanh bất diệt cùng sanh diệt hòa hợp thành thức thứ tám A-lại-da, để hiển chân vọng chẳng một chẳng khác, để chỉ tướng thánh phàm cũng như thế. Cho nên lại đưa ra thí dụ vàng và các đồ trang sức. Vì phía ngoại đạo thành lập riêng dị nhân¹, sắp phá kiến chấp của họ nên dùng thí dụ này chỉ dạy.
💥 GIẢI
Đây chính là giải thích mặt chẳng khác (bất dị), để phá vọng chấp của ngoại đạo cho rằng riêng có một pháp sanh làm sanh nhân².
Ý rằng nếu tiền thất thức cũng để bát thức khác nhau, ắt đệ bát không làm nhân sanh khởi cho tiền thất, nay đã làm nhân cho kia, thì biết là không khác. Vì chân tướng của tiền thất nguyên là thể tịnh minh của đệ bát, chân tướng của đệ bát nguyên là chân như. Nên hai bản dịch Ngụy Đường chỉ có Chuyển thức, Tạng thức, không có hai chữ chân tướng. Bên kia chỉ đứng về mặt không khác của thức đệ bát, mà bản dịch này thêm 2 chữ chân tướng, cốt yếu nói rõ chân vọng không khác, sắp sửa bày tỏ vấn đề, vọng tức là chân, nghĩa này tự đủ. Chân tướng là tự thể của đệ bát thức, là 4 giác chân như. Nay nói tạng thức làm nhân đó, nghĩa là Như Lai tạng không những là nhân của sanh tử mà cũng là nhân của Niết-bàn. Văn sau nói: Như Lai tạng là nhân thiện và bất thiện, có thể tạo khắp tất cả nẻo sanh.
💥 GIẢI
Nghĩa là nếu 8 thức là một thì khi tiền thất diệt, đệ bát tạng thức lẽ ra cũng diệt. Tạng thức nếu diệt thì ai chứng vô sanh, cho nên đệ bát chỉ diệt tập khí hí luận hư vọng, gọi là diệt vậy, kỳ thật tự thể bản giác chân như của đệ bát không diệt. Cho nên nói Chẳng phải tự chân tướng thức diệt.
Luận nói rằng: “Nói diệt đó, chỉ có tâm tướng diệt, chẳng phải tâm thể diệt”. Lại nói: “Chỉ có sở diệt nên tâm tướng tùy diệt, chẳng phải trí diệt”.
Nghiệp tướng đây tức Nghiệp tướng trong ba tướng ở đoạn trước, chỉ chung cho vô minh hoặc nghiệp tên là Nghiệp tướng. Ý nói rằng chỗ có thể diệt được đó chỉ là hoặc nghiệp tập khí hư vọng thôi, còn chân tướng há có thể diệt ư.
Cho nên kinh nói Tự chân tướng nếu diệt, tạng thức ắt diệt. Tạng thức nếu diệt thì điều đó không khác luận nghị đoạn kiến của ngoại đạo
(Đường dịch: Chân tướng của thức không diệt, chỉ có nghiệp tướng diệt. Nếu chân tướng diệt, tạng thức phải diệt, tạng thức nếu diệt tức không khác luận đoạn diệt của ngoại đạo).
Trên gián tiếp phá nhị kiến xong.
Kế chánh thức gián biện tông tà.
G₃ - Biện tà tông
💥 GIẢI
Đây đưa ra luận đoạn diệt của ngoại đạo để gián biện tà tông.
(Bản Đường dịch: Phía ngoại đạo lập thuyết như vậy “Thức tương tục chấp thủ cảnh giới diệt, ắt là thức tương tục vô thủy diệt.”)
Thức tương tục chấp giữ cảnh giới tức tiền lục thức và tương thô của thức thứ bảy. Lưu chú là tự thể của đệ bát và tướng tế của thức thứ bảy. Ngoại đạo chỉ thấy tiền lục thức và thô tướng của thức thứ bảy diệt liền cho rằng đệ bát cũng diệt. Đây là lý do dứt mất chúng tánh Phật, cho nên Phật phải lập luận này mà nói: Nếu thức lưu chú diệt thì lưu chú tú vô thủy phải đoạn diệt.
Đây chính là làm sáng tỏ trở lại đoạn văn trước nói về Nghiệp tướng diệt, Chân tướng không diệt. Cái bất diệt này, Bảo Cảnh gọi rằng Chân thường lưu chú.
Ngoại đạo nói 8 thức diệt một lần, vì không biết đệ bát A-lại-da là sanh nhân, lại đưa ra riêng có một pháp làm sanh nhân. Nên sau đây Phật chỉ ra cái chấp lầm ấy.
💥 GIẢI
Đây nêu vọng chấp “sanh nhân” của ngoại đạo.
Bản Đường: Các ngoại đạo kia nói thức tương tục từ ức tác giả sanh. Họ không nói nhân thức y sắc, ánh sáng ấy duyên… hòa hợp mà sanh, nơi đó trái với tắc giả là sanh nhân. Tắc giả là gì? Họ chấp Thắng tánh, Trượng phu, Tự tại, Thời và Vi trần là tác giả năng tạo.
Đây chính là ngoại đạo không biết Duy thức là nhân sanh khởi các pháp, bên ngoài lập riêng thành Thắng tánh… làm nhân sanh khởi. Đó là dị nhân vậy. Ngoại đạo Ấn Độ chấp tuy nhiều thứ, tóm lại không ra ngoài hai kiến chấp đoạn, thường. Căn cứ vào chỗ bác phá của Thức Luận có 7 lỗi chấp, mà trong đây Thế Tôn chỉ đưa ra 5 lỗi chấp.
7 lỗi chấp trong luận là:
-
Số luận sư chấp 25 Minh đế. Nghĩa là từ Thần ngã làm Minh sở chủ tể, từ Minh sanh Giác, từ Giác sanh Ngã tâm, từ Ngã tâm sanh Ngũ trần, từ Ngũ trần sanh Ngũ đại, từ Ngũ đại sanh 11 căn, cộng lại 25 pháp, dùng Thần ngã làm Thắng tánh. Chữ Thắng diệu trong đây tức là Thần ngã của họ.
-
Thắng luận sư chấp Lục cú làm nhân sanh, nghĩa là Thật, Đức, Nghiệp, Đại hữu, Hòa hợp, Đồng dị. Vọng chấp 6 thứ này đều có thật tánh, rồi tất cả pháp đều từ Lục cú này sanh. Lại từ trong Thật chấp có 9 pháp là địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương… hòa hợp. Lại chấp Cực vi (nguyên tử) lập thành cõi thế gian, cho nên chấp Cực vi thường trụ bất diệt. Chữ Thời cùng Vi trần trong đoạn này tức là kiến chấp của phái Thắng luận.
-
Có ngoại đạo chấp trời Đại tự tại, thể thật, trùm khắp, thường, hay sanh ra các pháp. Chữ Tự tại trong đoạn này tức là chỗ chấp của phái ngoại đạo ấy.
-
Có 7 giáo phái ngoại đạo chấp Đại phạm, Thời, Phương, Bản tế, Tự nhiên, Hư không, Ngã… 7 pháp như vậy thường trụ thật hữu, đầy đủ các công năng, sanh tất cả pháp. Chữ Trượng phu trong đoạn này tức Đại phạm kia, nghĩa là Đại phạm thiên hay sanh tất cả. Chữ Thời trong đây cũng là Thời trong chín pháp của Thật cú.
-
& 6. Có hai Thanh luận sư chấp âm thanh là thường, có thể làm định lượng, trình bày biểu hiện cho các pháp. Một, Đợi duyên sanh; hai, Đợi duyên hiện. Nghĩa là âm thanh là thường, nhờ định có thể tiêu biểu tất cả các pháp.
-
Thuận thế ngoại đạo chấp Tứ đại là thật, là thường hay sanh hữu tình. Nghĩa là Cực vi là có thật, là thường trụ, có thể sanh các vật chất lớn. Chữ Vi trần trong đoạn này cũng là chấp Cực vi.
Chuẩn theo 7 phái này mà Thế Tôn chỉ đưa ra năm phái còn thiếu hai phái Thanh luận sư. Phần sau sẽ thêm vào ở đoạn nói về nhân duyên hai tự tánh. Song các phẩm loại của ngoại đạo tuy nhiều lối chấp về pháp “Có” không qua 4 thứ: Quyết định là một như Số luận…; quyết định là khác như Thắng luận; cũng một cũng khác như Vô tâm ngoại đạo…; chẳng một chẳng khác như Tà mạng ngoại đạo…
Đây đều không đạt được đạo lý Duy thức chánh vọng chẳng khác chẳng một mà vọng chấp nhất định một nhất định khác, rồi tạo thành những nghị luận rối ren, ngang ngạnh khởi lên nhị kiến chấp Đoạn, Thường.
Trong đây nêu riêng hai tà kiến nhất định một, khác mà Phật đã dụ trù dùng thí dụ khối đất và vi trần chẳng một chẳng khác để phá dẹp. Vì hai thứ này đều là Đoạn kiến. Tại sao? Nếu bảo quyết định là một, ắt khi bày thức diệt thì thức thứ tám cũng diệt theo, thế là rơi vào Đoạn kiến.
Nếu bảo quyết định là khác, thì đã lập tương tục diệt riêng còn dị nhân (nhân khác), đã lập nhân khác át là tám thức vô nhân, cũng là Đoạn kiến. Song Thế Tôn đã chỉ như Thắng tánh… năm thứ, ở đây cho là Đoạn kiến, ở trong luận đều cho là Thường kiến.
Vì sao? Bên kia chấp thường, tức trong đây là đoạn. Vì sao? Vì ngoại đạo không biết đạo lý duy thức chân thường, bên cho tám thức đều là đoạn diệt, rồi riêng chấp có dị pháp sẽ làm chân thường.
Như thế, phía họ đã chấp dị pháp là thường, thì thức tánh chân thường bốn hữu trở lại là đoạn diệt. Đó là lý do ở chỗ họ chấp thường mà ở đây lại rơi vào đoạn diệt. Chính là dùng vô thường làm thường, đem thường làm vô thường, thật là kiến chấp điên đảo. Nghĩa này sâu huyền ít người biết.
💥 GIẢI
Đoạn này đưa ra các luận chấp hư vọng mà ngoại đạo dùng làm tôn chỉ.
Bản Ngụy nói: Ngoại đạo chấp có 7 loại tự tánh. Xét trong bản ấy có hai chữ ngoại đạo, thế là do đoạn trước nói: “Ngoại đạo cho rằng các pháp không từ Thức sanh, mà từ nguyên nhân khác, nên họ vọng lập Thắng diệu… hết thảy 5 nguyên nhân. Các nguyên nhân này có thật, thường trụ, từ đó phát sanh các pháp”. Xem như vậy thì 5 Nguyên Nhân Đầu Tiên ở đoạn trước là chỉ cho pháp được công nhận, còn 7 loại tự tánh này là đưa ra 7 giáo nghĩa để thành lập 5 pháp trên. Nhưng 7 thứ này đều là vọng chấp, vì đứng ngoài thức mà riêng có tự tánh.
Theo bộ Thức Luận giải nghĩa:
-
Tập tánh tự tánh: Tập là nhóm hợp chung lại, chỉ cho phái Số luận lập nên 25 pháp. Thức luận nói: Bởi vì pháp Đại… là do ba việc hợp thành. Lại nói thêm: Các pháp như Đại… do nhiều việc hợp thành, như quân lính, rừng cây… Phái ấy chấp Năm đại, Mười một căn là do ba yếu tố: Mình sở, Giác tâm và Năm trần, hợp lại để sanh khởi, nên nói Tập tánh tự tánh.
-
Tánh tự tánh: Luận chấp này lập Thắng tánh làm tự tánh.
-
Tướng tánh tự tánh: Tướng là sắc chất ngăn ngại. Chỉ cho phái Thắng luận lập nên Lục cú. Phái này cho rằng sáu yếu tố là Thật, Đức, Nghiệp, Đại hữu, Hòa hợp, Đồng dị và các sắc chất Cực vi của tự thể là nguyên nhân đầu tiên sanh khởi vạn vật.
-
Đại chúng tánh tự tánh: Chỉ cho phái Thuận thế thành lập Tứ đại là Thường trụ, hay sanh khởi vạn vật. Tức là đoạn trên nói “Vi trần sanh khởi sắc thọ”.
-
và 6. Nhân tánh tự tánh và Duyên tánh tự tánh là hai lập thuyết của phái Thanh luận sư. Một thuyết nói: “Đợi duyên sanh”, cho âm thanh là nguyên nhân sanh pháp, chỉ dùng một mình âm thanh làm nhân, nên gọi là Nhân tánh làm tự tánh. Thuyết thứ hai nói: “Đợi duyên hiển”, cho Duyên (điều kiện) phát ra âm thanh là nguyên nhân sanh pháp, nên gọi là Duyên tánh làm tự tánh.
-
Thành tánh tự tánh: Chỉ cho lối chấp “Hòa hợp cú” trong Lục cú, chấp các pháp hòa hợp mà thành, nên gọi là Thành tánh tự tánh.
7 loại tự tánh này trọn không ra ngoài Tứ cú, cho các pháp là Tự sanh, Tha sanh, Cộng sanh, Vô nhân sanh. Bởi vì nếu chấp Nhân tánh làm tự tánh là chấp Tự sanh; chấp Đại chúng tánh làm tự tánh, Duyên tánh làm tự tánh là chấp Tha sanh; chấp Tập tánh làm tự tánh, Tướng tánh làm tự tánh, Thành tánh làm tự tánh là chấp Cộng sanh; chấp Tánh làm tự tánh là chấp Vô nhân sanh.
Tóm lại không ngoài hai kiến chấp Đoạn và Thường, đều là vọng tưởng tà chấp, chẳng phải là Đệ nhất nghĩa của ta. Cho nên đoạn văn tiếp theo đây nói: “Ta có bảy loại Đệ nhất nghĩa”.
Phần trên trình bày về các tôn chỉ tà chấp đã xong.
Phần tiếp sau đây nêu lên 7 loại thánh nghĩa để phân biệt với tà kiến, có 2 phần. Phần đầu: Nêu chánh nghĩa.
E₂ - Nêu bảy thứ thánh nghĩa để biện biệt tà kiến, có 2
G₁ - Nêu chánh nghĩa
💥 GIẢI
Đoạn này đưa ra chánh giáo lượng của Như Lai, dùng Đệ nhất nghĩa làm tông, khác với luận chấp ác kiến của ngoại đạo.
(Bản Ngụy dịch: Ta có 7 loại Đệ nhất nghĩa… 7 loại cảnh giới ta nêu lên đây, là cảnh giới Đệ nhất nghĩa Tâm làm Tự tánh, mà chư Phật Ứng cúng Đẳng chánh giác trong 3 đời, dùng Tự tánh đệ nhất nghĩa Tâm này mà thành tựu pháp thế gian, pháp xuất thế tối thượng của Như Lai. Đó cũng chính là chỗ kiến lập Như của các Thánh huệ nhân, đã chứng Tự tướng Cộng tướng.)
Chữ Như nghĩa là xứng hợp. Nghĩa là chỗ kiến lập của ta là kiến lập xứng tánh, khác với luận ác kiến của ngoại đạo. Chữ Nhập nghĩa là chứng. Tự tướng là Nhất tâm chân như. Cộng tướng là Nhân duyên của tám thức. Nghĩa là ta đã chứng nhập Duy tâm Duy thức, dùng đây kiến lập nên pháp môn tối thượng của thế gian và xuất thế gian. Không thể so sánh ta với các ngoại đạo vọng lập các Nguyên nhân khác làm căn nguyên sanh các pháp, nên nói khác với lập luận ác kiến của ngoại đạo.
G₂. Trách lỗi ngoại đạo
💥 GIẢI
Đoạn này giải thích lại vì sao trên kia nói là ngoại đạo ác kiến.
Phật dạy: Bảy thứ cảnh giới Đệ nhất nghĩa của ta, là do sức quán sát của bậc Thánh huệ nhân, do sức trí kiến chân thật. Còn ác kiến của ngoại đạo kia, là cái thấy tùy thuộc vào cảnh giới vọng tưởng của họ, do không hiểu giới hạn của vọng tưởng tự tâm hiện, nên tạo ra bảy loại tà chấp đoan biên cho đó là nhất định Một, nhất định Khác, mà chẳng thông suốt.
💥 GIẢI
Đây tổng kết thành ngoại đạo ác kiến, ở trong đệ nhất nghĩa làm luận nhị kiến.
(Ngụy dịch: Các phàm phu ngu si dùng cái không thật thế cho đó là Đệ nhất nghĩa, làm luận nhị kiến. Nghĩa là do không thấu đạt các pháp vô tánh mà vọng lập tự tánh, theo vọng kiến điên đảo ngu si, nên ở trong Đệ nhất nghĩa làm luận nhị kiến.)
Đoạn trước từ câu “Các ngoại đạo làm luận như thế”, đến đoạn này là nêu chung nhị kiến về một khác đoạn thường không chân thật để lập chánh Duy thức lượng đã xong.
Sau đây quy trách lỗi chấp nhị kiến của ngoại đạo, cả nhân lẫn quả đều “không chân thật. Do họ không biết duy tâm sở hiện nên vọng chấp là có là không, thành lỗi hí luận đoạn diệt.
Sau đó chỉ dạy đầy đủ về Duy tâm quán môn, muốn người tu y cứ tâm bất sanh diệt, thấu rõ cảnh giới duy tâm như huyễn mà tu quán, ắt sẽ được hai quả chuyển y thường trụ.
-
Phần trên nêu ra bảy loại thánh nghĩa để phân biệt với tà kiến xong.
-
Phần dưới trình bày nhân tà để nêu nhân chánh, chia hai phần.
E₃ - Chánh thức trình bày nhân tà để nêu nhân chánh, có 2
G₁ - Trình bày nhân tà
💥 GIẢI
Đây tiếp theo đoạn trên nói ngoại đạo không thấu đạt cảnh giới duy tâm như huyễn, vọng tạo nhị kiến nên đối với khổ trong ba cõi không thể diệt trừ. Nay sắp chỉ cho người tu hành về pháp môn duy tâm như huyễn để làm đường tu chánh, nên nêu lên việc này trước tiên.
(Đường dịch: Nếu biết rõ cảnh như huyễn tự tâm hiện thì diệt trừ vọng tưởng khổ của ba cõi và vô tri ái nghiệp duyên diệt.)
Khổ ba cõi tức quả khổ trong ba cõi. Các quả khổ này đều từ vọng tưởng mà có cho nên nói vọng tưởng quả khổ ba cõi. Vô tri tức căn bản vô minh, là động cơ phát nghiệp. Ái tức tham ái, là nuôi lớn vô minh. Hai cái này là nghiệp nhân của ba cõi 25 loài, gọi là Hoặc. Nghiệp duyên tức là từ hai vọng hoặc Vô tri và Ái mà kết nghiệp sanh tử, ràng buộc không thể xuất ly, nên nói Nghiệp duyên. Bởi vì nghiệp nhân khổ quả này chẳng thể tiêu diệt, đều do không thấu đạt tất cả cảnh giới duy tâm sở hiện, chỉ theo vọng kiến lưu chuyển.
Ngoại đạo tuy có tâm xuất khổ, mà không biết bí yếu xuất khổ, và chỗ tu hành chỉ nương hai kiến chấp đoạn thường mà thôi, duy tâm chiếu kiến làm tâm nương tựa lộn xộn. Họ căn cứ vào các kiến chấp này, chấp sau pháp hư vọng, vì nhân địa đó không chân thật nên kết quả lầm lạc, uổng công tu cực khổ mà không thật chứng.
Ý Phật nói rằng nếu người tu hành hiểu được cảnh như huyễn duy tâm hiện, thì nhân quả trong ba cõi ngay đó tiêu diệt. Cho nên từ đây về sau đến câu Dời xưng lời của bậc Nhất thế trí, là trách chung nhị kiến ngoại đạo không chân thật. Từ Nếu các Sa-môn khác về sau đến Tự tất-đàn là thiện căn nên học chỉ chung về duy tâm quán môn.
💥 GIẢI
[tự gõ TRANG 91]
như chiếc bình bể không dùng được, cũng như hạt giống cháy không thể nảy mầm.
Đây là trách chung hàng ngoại đạo nhân địa chẳng chân cho nên kết quả thành hư hoại.
Kia tức chỉ hai hạng ngoại đạo nơi ngoại nói trên. Nghĩa là ngoại đạo kia do nương hai kiến chấp có - không, không đạt duy tâm, cho nên thiết lập nhân quả đều thành đoạn diệt.
Tṅg t c nghĩa là sanh tử tương tục, do họ không biết kết sanh tương tục, bèn vọng chấp Minh sơ và Tứ đại làm sanh nhân. Như ở Trung Hoa, cho hai khí âm dương, ngũ hành sanh ra người.
Hoặc Sự, hoặc Sanh, hoặc Hữu (Đường dịch: Hoặc tác dụng, hoặc sanh diệt, hoặc sanh tử; hoặc tác dụng là chỗ tạo tác; hoặc sanh diệt, tức sanh tử; hoặc các hữu tức chỉ các pháp trong ba cõi).
Do ngoại đạo kia chấp rằng sanh có dị nhân, chết trở về đoạn diệt, các pháp hữu vi rốt ráo vô thường.
Hoặc Niết-bàn, họ chấp Ngũ hiện¹ là Niết-bàn.
Hoặc Đạo, do các ngoại đạo hành khổ hạnh như nằm gai, bới tro, để râu tóc, giữ giới như chó như trâu… cho đó là sự xuất khổ.
Hoặc Nghiệp là nghiệp nhân, họ vọng chấp viên thường… làm nghiệp nhân.
Hoặc Quả, họ vọng dùng đoạn diệt… làm chân quả.
Hoặc Đế, họ vọng chỉ Minh sơ làm chủ đế.
Những kiến chấp tương tự như thế, đều không hiểu duy thức, đều thành luận đoạn diệt hư hoại. Vì sao là đoạn diệt? Vì những điều này đối với lý do tâm tạo tác chẳng chân thật, và đối với Kiến Thủy không có phần¹ (Đường dịch: Hoặc tác dụng, hoặc sanh diệt, hoặc các hữu).
Nghĩa là vì đối với đạo lý duy tâm duy thức chân thật căn bổn, họ không được dự phần nên tạo tác những thứ hư luận như vậy, rốt cuộc không có lợi ích. Cũng như bình bể không thể chứa đựng, lại như mầm cháy giống hư không thể nảy mầm. Bình bể dụ cho không quả, mầm cháy dụ cho không nhân, sự nghiệp ngoại đạo cũng như thế.
💥 GIẢI
Đây hợp chung 2 thí dụ bình bể và giống hư ở trên để chứng tỏ thuyết của ngoại đạo là không nhân, không quả.
Nghĩa là ngoại đạo nói pháp ấm giới nhập này không sanh khởi từ hành nghiệp tạo ra ở đời trước, mà sanh khởi từ nguyên nhân khác, như thế là phủ định đời trước.
Lại lập thuyết rằng đời này đang chịu báo, nếu chết đi, không chịu quả báo tiếp sau, thế là hiện tại cũng thành phủ định. Nếu phủ định hiện tại thì vị lai sau cũng phủ định. Các kiến chấp tương tự đều là những hiểu biết theo vọng tưởng, vọng lập nên các nguyên nhân khác ngoài tâm. Tất cả là Vô nhân. Đã vô nhân thì vô quả nên không thể sanh khởi theo thứ lớp.
💥 GIẢI
Đây giải thích ngoại đạo thay đổi lối chấp.
Ý Phật so ngoại đạo nghe Phật nói lý duy thức nên lại chuyển sang chấp khác. Họ nói: “Uẩn, xứ, giới theo hữu chúng, vô chúng, thức ba duyên hòa hợp sanh, há lại là Vô nhân?” Song ngoại đạo tuy nói thức, rốt ráo là vọng chấp nhị kiến Có - Không và chấp thân ngã làm chủ.
Cho nên Phật lập lại một thí dụ để cho rõ, nói: Nếu lại lập luận rằng Có, Không và Thức là ba duyên hòa hợp sanh các pháp, thì rùa phải có lông, cát ép ra dầu. Điều này cũng vô lý. Rùa vốn không lông, là vô nhân. Cát vốn không có dầu, là vô quả.
Nếu lập luận như vậy, tông chỉ của các ông sẽ hoại, vì rõ ràng là vô nhân vô quả, đều thành đoạn diệt, trái với đạo lý đại thừa quyết định chân thật của ta. Bèn bác bỏ: Nhị kiến hữu vô có lỗi đoạn diệt như vậy, đã không căn cứ thì sự nghiệp xây dựng công lường rỗng vô nghĩa (Đường dịch: Đều không vô ích). Sự nghiệp tạo tác là chỉ những giáo pháp khổ hạnh của ngoại đạo… Không là luống uổng. Trách họ theo tà kiến mà tu, uổng thọ quả khổ, rốt cuộc không lợi ích.
💥 GIẢI
Đây ý giải thích đoạn trên nói sự nghiệp tạo tác đều luống không vô ích.
Phương tiện (Bản Nguỵ nói: A-hàm. Đường dịch: Giáo lý, là giáo lý ngoại đạo vậy). Nghĩa là ngoại đạo vọng chấp ba duyên, dựng vô nhân làm sanh nhân. Phàm sự nghiệp gây dựng ra như giáo pháp, như nhân quả tự tướng, như sanh tướng, uẩn giới xứ, ba đời… Những sự nghiệp này đều thành hí luận đoạn diệt, thảy đều rỗng không vô ích.
Và lại, những tà kiến, tà giáo, tà nhân, tà quả như vậy đời đời nối tiếp nhau, lú mù cùng dắt nhau, cho đến xa vời. Cho nên nói Ngũ hiện: Ngũ căn. Từ xưa đến nay thành hệ thống truyền thừa. ‘Thành’ là làm, ‘thừa’ là truyền tập. Nghĩa là sự nghiệp tạo tác của họ, lấy đó làm giáo lý truyền thừa, chẳng phải tri kiến chân thật, chỉ là theo sự xoay chuyển của vọng tưởng bản thân.
Giác là vọng kiến. Căn cứ vào lối lầm huân tập tà kiến của mình làm luận thuyết như vậy, những sự nghiệp tạo tác này đều luống rỗng vô ích. Bởi khởi nguyên của ngoại đạo Ấn Độ, đầu tiên có đạo sĩ Ca-tỳ-la¹, chấp trong nhân có quả. Kế đến là ông Âu-lâu-tằng-khư², chấp trong nhân không quả. Ba là ông Lặc-sa-bà³, chấp trong nhân cũng có quả cũng không quả. Từ đó các phái ngoại đạo truyền nhau, đến khi Phật xuất thế có sáu bậc thầy nổi danh, cho nên nói: Từ xưa đến nay thành hệ thống truyền thừa.
💥 GIẢI
Đây là kết luận thấy tà, giáo lý tà không những vô ích mà trở lại thành hại.
Bởi tà sự ấy đều là phàm phu ngu si không có chánh tri kiến, bên bị tà kiến làm hại, tà khúc mê say, hỗn muội trong đó không thể tự giác. Ngoại đạo Ấn Độ, mỗi thầy đều được ba pháp, 1 là pháp Nhất Thiết Trí, 2 là pháp Thần thông, 3 là pháp Vi-đà. Pháp Nhất Thiết Trí là mỗi người theo lối chấp của mình phát sanh một trí thức, tâm hiểu lanh lợi, đem trí thức này hiểu trùm tất cả pháp, cho nên gọi là ngoại đạo Nhất Thiết Trí.
Kỳ thật là vô trí mà đối tự xưng lời nói Nhất Thiết Trí. “Từ xưa đến nay thành hệ thống truyền thừa” đó là một người mù dẫn nhóm người mù, cùng lôi nhau vào hầm lửa. Chính là chỗ thống thiết răn nhắc. Cho nên văn sau nói: Người tu hành chân chánh chớ nên gần gũi ngoại đạo ác kiến hí luận.
Chương trước tổng quát nói: “Vọng tưởng ba cõi khổ diệt, tự tâm hiện huyễn cảnh tùy kiến, nay sẽ nói”, từ đây về trước gồm phá ngoại đạo tà kiến vô nhân, đều là vọng tưởng làm nhân khổ của ba cõi, cùng vô tri ái nghiệp làm duyên. Ý Phật răn các người tu, biết tà nhân kia không rơi vào tà kiến, biết rõ các pháp duy tâm sở hiện cảnh giới như huyễn, mới được hiện chứng tự giác thành trí. Cho nên phần sau, chỉ dạy rộng về phương pháp tu tập pháp môn như huyễn, khiến người tu hành y đó mà tu, diệt nhân khổ ba cõi, được hai quả chuyển y.
Từ câu Nếu lại có đến cuối chương, câu Tự tát-đàn thiện nên tu học, ước có hơn 350 lời, gồm hiển bày sự liễu đạt pháp môn duy tâm như huyễn, nếu theo văn thì khó giải, đem bản Đường dịch để đối chiếu từng chi tiết, nghĩa ấy mới rõ.
Phần trên 8 tiết chánh thức giản trạch nhân tà đã xong.
Chương sau đặc biệt nêu nhân chánh.
G₂ - Nêu nhân chánh
💥 GIẢI
Đây là loại ra 2 hạng ngoại đạo nội và ngoại ở trước, nêu riêng 2 hạng tu hành chân chánh nên để câu Nếu lại có các… khác
💥 GIẢI
Đây là phương pháp quán tâm của chánh giáo.
(Đường dịch: Quán tất cả pháp đều lìa tự tánh như mây trong không, như vòng lửa, như thành Càn-thát-bà, như huyễn, như sóng nắng, như trăng dưới nước, như việc trong mộng.)
Các pháp này không lìa tự tâm, do kiến chấp hư vọng từ vô thủy cho đó là ở ngoài. Song trong đoạn văn này có hai chữ vô sanh, đó là quán tất cả pháp không tánh như phù vân… quán tất cả pháp vô sở hữu như huyễn… quán tất cả pháp duy tâm hiện như việc trong mộng. Nội ngoại tâm: Nội tâm là chỉ cho chủng tử tập khí hư nguỵ hàm chứa trong thức thứ 8 từ vô thủy đến nay, huân khởi lục thức biến ra giống như ngoại cảnh, thật chẳng phải ngoại cảnh, nên nói Nội ngoại tâm hiện. Vọng tưởng hư nguỵ từ vô thủy làm nhân duyên biến hiện như việc xảy ra trong mộng, thật không lìa tự tâm. Nên dùng chữ Vả để giản biệt với các thí dụ trên. Muốn người tu quán thẳng tất cả cảnh giới như mộng, chỉ do tâm hiện.
Vọng tưởng nhân duyên diệt hết, lìa vọng tưởng năng thuyết sở thuyết (Đường dịch: Quán sát như thế rồi dứt duyên phân biệt, cũng lìa chấp danh nghĩa của vọng tâm). Quán sát về thân và cảnh do tạng thức biến hiện (Quán sở quán thọ dụng kiến lập thân chỉ tạng thức).
Đây chỉ thẳng quán cảnh.
Vọng tưởng năng thuyết là ý, lời nói, tâm phân biệt; sở thuyết là cảnh bị phân biệt. Thọ dụng kiến lập là khí thế giới bên ngoài, tức cảnh lục trần; thân tức căn thân. Nghĩa là căn thân thế giới này là y nơi Tướng phân biệt biến chuyển của Bát thức. Người không rõ duy tâm nên như trong mộng, mà trở lại chấp cho là cảnh giới của ngã sở. Nay quán thẳng tự tánh thanh tịnh của tâm thức, vốn không có thế giới thân tâm, chỉ do thức hiện.
Khi khởi quán sát này, thói tát cả nhân duyên vọng tưởng tự nhiên tiêu diệt. Tánh của danh tự là không, thời căn trần thức tạm ngay đó tiêu mất, cho nên đều nói là lý. Đây là lìa tâm ý ý thức tham cứu, lìa cảnh giới vọng tưởng tìm cầu. Quán tức người năng quán, tạng thức tức đối tượng bị quán.
Cho nên nói Quán sở quán kiến lập thân chỉ tạng thức, đây là Y chủ thích².
Luận rằng: Khi Bồ tát phát tâm, tức quán sát thể duyên khởi nhân quả tự tánh của bốn thức. Nếu muốn nhập duy thức quán, mà thức tánh vô thể, lại còn quán chỗ nào? Chỉ là duyên nơi ý, lời nói, phân biệt làm cảnh bị quán. Vì tất cả cảnh giới, chỉ dùng danh ngôn làm thể, nếu lìa ý, lời nói, phân biệt thì trước đó không có gì, cho nên văn sau chỉ thẳng bổn thể.
Đối với cảnh giới thức nhiếp thọ (tâm chấp giữ) và nhiếp thọ (cảnh bị chấp giữ) không tương ưng.
Đây là chỉ thẳng tâm thể, tuy có năng và sở mà chẳng (cái nào) tương ưng (với cái nào).
Tướng nhị thủ là ngã và ngã sở. Vì hai tướng này đứng riêng nên chẳng tương ưng. Nghĩa là ở nơi cảnh giới thức hiện mặc dầu nó không có không tương ưng, liền thấy tự tâm. Cho nên Cổ đức nói: “Quên năng sở, diệt ảnh tượng, đây là một đức của thiền”. Vì vừa chớm tác ý liền chấp tương ưng.
Cảnh giới vô sở hữu, lìa sanh trụ diệt (cảnh không tánh tịch). Tự tâm khởi tùy vào phân biệt (Đường dịch: Không năng sở thủ, và sanh trụ diệt. Tư duy như thế, thường trụ không xả bỏ (Ngụy dịch: Tư duy như thế, quán sát tự tâm cho đó là sanh).
Song tâm cảnh đã không, mà lại khởi tùy nhập phân biệt, lại nói thường trụ, nói sanh ấy, chính là “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.
Trên chỉ về quán tâm thành tựu.
Sau đây chỉ về quán thành đắc quả.
💥 GIẢI
Từ đây đến câu Được thân Như Lai, chỉ chung khi tu quán thành tựu được tướng quả nhị chuyển y.
Nhị quả là chuyển nhiễm thành tịnh, sanh tử tức Niết-bàn; chuyển mê khiến ngộ, phiền não tức Bồ-đề. Nghĩa là Bồ-tát tu hành chân chánh, nếu pháp quán duy tâm thành tựu, không lâu sẽ được nhiễm tịnh bình đẳng. Lúc ấy dùng phương tiện đại bi vô công dụng hạnh độ các chúng sanh. Quán chúng sanh như huyễn, độ mà không có tướng độ.
Theo duyên mà không khởi, cho nên nói không cần nhân duyên. Tâm cảnh nhất như, cho nên nói xa lìa cảnh giới trong ngoài. Chỉ một chân tâm, trừ ngoài tâm đây không một mảy may sự việc có thể được. Trí cùng chân như bình đẳng, vì đều lìa tướng năng thủ sở thủ, cho nên nói ngoài tâm không chỗ thấy.
Pháp quán này thuần tịnh, thì được trí vô phân biệt, được chứng Sơ địa, lần lần tăng lên từ Nhị địa, Tam địa cho đến Bát địa, cho nên nói thứ lớp vào chỗ vô tưởng, lần lên các địa, trụ cảnh giới tam-muội vậy.
Biết ba cõi như huyễn, phân biệt quán sát sẽ được nhau huyễn tam muội, vượt qua trí tâm hiện vô sở hữu, được trí Bát-nhã Ba-la-mật.
Đây là từ Bát địa đến Thập địa ra khỏi chướng nhập vào giả.
Nghĩa là: ở Bát địa vô công dụng hạnh, đoạn câu sanh ngã chấp xong, chứng vô ngã không, cho nên nói tâm hiện vô sở hữu.
Song còn rơi vào ngã không mê mờ nơi pháp không, cho nên nơi pháp không chấp pháp, cho nên pháp không chưa thể vượt qua. Vì thế Hoa Nghiêm thiết lập Tam gia thất khuyến để phá trừ kiến chấp ấy. Đây Tam gia thất khuyến là Đại thừa.
Đây là bảy lời khuyến, đại Bồ-tát đều đã phá trừ phân biệt, quán sát ba độ chúng sanh như huyễn, cho nên nói được Như huyễn tam muội.
Nên biết Cửu địa mới có thể thuyết pháp độ sanh. Thập địa mới có thể phá mười phương chư Phật, vì vậy nói “phá nơi thuyết pháp, vượt qua vô sở hữu, được Bát-nhã Ba-la-mật” đoạn câu sanh pháp chấp. Nếu không thể vượt qua vô sở hữu, tông môn gọi đó là pháp chấp đáo địa. Chính là Tam trọng chấp của người ngộ.
Tuy là được chăng chấp vậy, nhưng phá là đúng. Đâu sao hoàn tướng cảnh vượt khỏi hiện thể giới thiện toàn thân;
Cho nên nói: Vượt qua trí tâm hiện vô sở hữu, trụ Bát-nhã Ba-la-mật.
Xa lìa Sanh kia chỗ tạo tác phương tiện Kim Cang Tam muội, thể tủy nhiếp thâu Như Lai; Như Lai nhiếp thâu thành thọ; phi sở hữu thường, tịch tĩnh, bí tạng thân thông, tê tai bí pháp tạng. Đây là chỗ chư Phật truyền thần thông tri kiến, đồng vào các cõi Phật, vào chỗ ngoại đạo.
Đây là hàng Bồ-tát Đẳng giác, dùng sức định như Kim Cang sắc bén đoạn dứt sanh tưởng vô minh, tột lý soi tột nhập Diệu giác.
Sanh kia tức sanh tưởng vô minh; luận nói: “Bồ-tát đã tận, ba phương tiện đầy đủ một niệm tương ưng biết sợ khỏi của tam tâm mà không có tướng ban đầu của mình, thấy pháp thân vốn sanh tức là cùng chân như biến khắp tất cả chỗ.”
- Ở đây kinh nói: Tùy nhập thọ thân Như Lai, tùy nhập hóa thân Như Lai. Đến chỗ này các vị tự nhiên mà do các thứ nghiệp dụng bất tư nghì, nên khỏi nói nhập thọ thân Như Lai. Tùy liên lập trực tiếp vô minh.
Do có trí đại phương tiện, Như Lai thọ thân, tứ diệu vô ngại, ở nơi pháp không chủ thể, trừ diệt vô minh, thấy pháp thân vốn sẵn đủ cung chân như.
Thân Phật vô biên, như lai tạng hải tánh, nghiệp thân tức không tướng vọng niệm thành tựu Kim Cang tam muội, hốt nhiên siêu việt thế xuất thế gian, liền được trên hợp mười phương chư Phật đồng một tri lực, dưới
cùng lục đạo chúng sanh đồng một bề nương, nên kinh nói Đồng vào tất cả cõi Phật, vào chỗ ngoại đạo.
Lìa tâm, ý, ý thức, Bồ-tát này lần lượt chuyển thân, được thân Như Lai.
Đây là kết thúc phần Quán hạnh.
Nghĩa là Bồ-tát tu hành chân chánh, quán duy tâm duy thức bèn lìa cảnh giới tâm ý ý thức. Ngay nơi đây bèn là Bồ-tát dần chuyển thân sanh tử, được chứng Như Lai pháp thân, phương tiện của Nhị quả chuyển y. Cho nên nói:
Dùng chánh định như huyễn
Vượt vô học nhanh chóng
Mười phương các Như Lai
Một con đường Niết-bàn
(Kinh Lăng Nghiêm)
Song pháp môn đốn chứng này quán thẳng duy thức đốn ngộ tự tâm, mà ở đây lại nói lần lượt, đó nghĩa là lý cẩn đốn ngộ, nương ngộ cùng tiêu; sự cần tiệm trừ, nhân thứ lớp hết. Ngài Quy Sơn nói: “Nếu người nhất niệm đốn ngộ tự tâm, vẫn còn hiện nghiệp lưu thức tích chứa từ vô thủy, lần lượt tịnh trừ”, đó gọi là tiệm tu. Chỗ nơi lưu thức ấy là lưu chú sanh diệt, chính là Câu sanh chủng tử tập khí của hai chướng.
Cho nên đoạn văn này nói Lìa tâm ý ý thức bèn ngộ tự tâm, lần lượt được thân Như Lai chính là tịnh trừ hiện nghiệp lưu thức. Đoạn văn trước, câu Lìa vọng tưởng thuyết sở thuyết và sanh diệt… tức là cảnh giới lìa tâm ý ý thức.
Câu Từ địa đến địa đến Xa lìa sanh kia… là tiệm tu, chẳng phải lia đây lại riêng có pháp tu nào khác. Nên Tông môn dạy người: “Chỉ cần lìa tâm ý ý thức tham, lìa cảnh giới vọng tưởng cầu”. Chính là đây vậy.
Cho nên này Đại Huệ! Muốn được vào thân Như Lai, nên xa lìa ấm giới nhập¹ phương tiện tạo tác của tâm nhân duyên, vọng tưởng sanh trụ diệt hư nguỵ².
Thẳng tiến duy tâm, quán sát lỗi lầm hư nguỵ từ vô thủy³, vọng tưởng tập khí làm nhân⁴, tư duy ba cõi vô sở hữu⁵. Phật địa vô sanh đến tự giác thánh trí⁶ tự tâm tự tại đến hạnh vô khai phát.
Đây là tổng kết văn trước, chỉ thẳng phương tiện duy tâm.
Lìa hai chấp thủ thì tâm tự tại không cần khởi phương tiện. Đường dịch là vô công dụng hạnh, tức vô sư trí, tự nhiên trí.
- Kinh nói: Lạ thay! Tất cả chúng sanh sẵn đủ đức tướng trí tuệ của Như Lai, chỉ do vọng tưởng chấp trước mà không chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng chấp trước, thì vô sư trí, tự nhiên trí ngay đó hiện tiền, cho nên đều nói là “đến”.
Như hạt châu Ma-ni tùy các màu, tùy vào tâm vi tế của chúng sanh, mà dựng hóa thân tùy tâm độ lượng¹. Thứ lớp lần lượt các địa, tiếp nối kiến lập². Cho nên này Đại Huệ, Tự tất-đàn là thiện, cần tu học.
Đoạn này thuật lại một lần nữa, những lợi ích của quán hạnh, khuyên tu tập giữ gìn.
Nghĩa là Bồ-tát tu hành chân chánh, muốn mau được Pháp thân Như Lai, chứng tự giác thánh trí, nên quán thẳng nhất tâm bổn lai thanh tịnh, vốn tự vô sanh, trừ nhất tâm ra không có một chút việc gì khả đắc. Khi quán như thế, lần lần thuần thục, liền một niệm đốn chứng, không từ bên ngoài mà được, thì công đức tự lợi lợi tha đầy đủ nơi đây. Cho nên trước dạy môn quán duy tâm, đến đây lặp lại chung mà đinh ninh răn nhắc, tha thiết khuyên tu trì, nói rằng Pháp thì của ta rất thiện, cần phải tu học.
Kinh nêu lên chỗ Phật nói Tâm làm tông, chính là Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh tâm. Tâm này tất cả chúng sanh vốn tự đầy đủ, chỉ vì ngày nay mê tâm này, tùy theo duyên nhiễm nên tưởng phiền não sanh tử của 3 cõi theo đó mà sanh. Nếu ngộ tâm này, theo duyên tịnh thì hai quả chuyển y Bồ-đề Niết-bàn theo đó mà dựng lập. Thế thì phiền não Bồ-đề, sanh tử Niết-bàn đều y nơi tưởng mê ngộ nhiễm tịnh mà chuyển biến.
Các thứ đó đều là tưởng hoa đốm nhọc mệt cuồng loạn, trong Như Lai tạng “vốn không” có các việc này. Cho nên nói: Tìm kiếm sanh tử mê ngộ ở quá khứ vị lai trọn chẳng thể được. Bởi vậy nếu chúng ta có thể đạt chỗ “vốn không”, nếu cảnh giới hằng ngày hiện tiền rõ ràng chẳng thể được, có thể gọi rằng tức đến tự giác thánh trí. Đây là Phật Tổ từ trước truyền tâm ấn.
Chỗ bí mật dạy bảo về công phu tự được, ghi đủ ở chương này, chỗ thật khẩn yếu chỉ ở một lời Lìa cảnh giới vọng tưởng, lìa tâm ý ý thức mà thôi. Cho nên Thế Tôn dần tới dần lui như vậy. Người giác ngộ biết chỗ này có thể nói rằng không cô phụ “bổn hữu”, không phụ ân Phật vậy.
-
Trên đặc biệt chỉ dạy chánh nhân đã xong. Phần trình bày sơ lược về duy thức để phân biệt nhân chánh, nhân tà xong.
-
Sau đây nói rộng về tám thức để chỉ dạy tướng thức trí.
D₂ - Nói rộng 8 thức để chỉ tướng thức trí, có 2: E₁ - Tướng 8 thức & E₂ - Tướng 3 trí
E₁ - Tướng 8 thức
Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn nói tướng của tự tánh, năm pháp, tâm, ý, ý thức. (Đường dịch: Cúi xin vì con nói các pháp môn vi diệu, tướng tự tánh, năm pháp). Việc làm của tất cả chư Phật Bồ tát, cảnh giới sở duyên của tự tâm kiến chẳng hòa hợp, hiển bày tất cả thuyết (Ngụy dịch: Chỗ tu hành của chư Phật Bồ tát, xa lìa cảnh hòa hợp của tự tâm kiến, vì hay phá tất cả thể tướng ngôn ngữ thí dụ.
Đường dịch: Đây là tất cả chư Phật Bồ tát vào cảnh giới tự tâm lìa tướng sở hành) thành tướng chân thật tất cả Phật nói tâm (Đường dịch: Xứng với nghĩa chân thật chư Phật dạy về tâm).
Vì các Đại Bồ tát ở trong biển núi Lăng-già nước Ma-la-da nói chỗ Như Lai tán thán về cảnh giới pháp thân sóng biển tạng thức. (Ngụy dịch: Nói về quán sát cảnh giới thức A-lê-da sóng biển lớn, vì đó là pháp của pháp thân Như Lai nói ra. Đường dịch: Cúi xin vì các Bồ-tát trong núi này, và tùy thuận chư Phật quá khứ mà nói về cảnh giới pháp thân sóng biển tạng thức).
Đây hỏi cho rõ nhất tâm chuyển biến, để giải thích câu nói rộng về các thức có tạm tướng.
❓❓❓ Hỏi:
Trước Đại Huệ hỏi các thức có mấy thứ sanh trụ diệt, đức Thế Tôn đã đáp đầy đủ và chỉ thẳng quán duy tâm thức, cùng công năng chuyển phàm thành thánh đã xong. Đến đây Đại Huệ lại thưa thỉnh về tâm ý ý thức, năm pháp, ba tự tánh. Vì sao?
📣📣📣 Đáp:
Kinh này chỉ thẳng Nhất tâm tịch diệt. Song nhất tâm này vốn không mê ngộ, không thuộc thánh phàm, nên nói 5 pháp, 3 tự tánh đều không, 8 thức, 2 vô ngã đều trừ. Do tùy theo phần mê ngộ mà có sự khác biệt giữa chân vọng. Đến như tướng chuyển biến cũng không ra ngoài 4 pháp này mà thôi. Vì thế Đại Huệ trước dùng 108 câu để hỏi, Thế Tôn đáp rằng tất cả đều phi đó, bởi đứng về phương diện chân như không cho gan hỏi tận cùng.
Đại Huệ hỏi về các thức có mấy thứ sanh trụ diệt, là ở trong phương diện sanh diệt cho phép có nói năng thôi. Trước Thế Tôn tuy nêu pháp quán duy tâm thức là nói lược về môn tu chứng, chưa đạt đến chỗ diệu của Nhất tâm chuyển biến. Và lại Đại Huệ không biết các thức nhân đâu mà sanh, cho nên lời thỉnh này muốn Phật nói về các pháp môn vi diệu 5 pháp, 3 tự tánh, vì muốn hiển 7 nghĩa ngay sanh diệt mà đến chứng chân như.
(Đường dịch: “Cúi xin vì nói cảnh giới pháp thân sóng biển tạng thức”.)
Bởi câu hỏi về tâm ý ý thức tức là câu Nói sơ lược có 3 thứ thức ở đoạn trước, nay nói rộng có tám tướng.
- 5 pháp là: Danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như.
- 3 tự tánh: Vọng tưởng, duyên khởi, viên thành.
- 2 vô ngã tức là nhân, pháp.
Nay nói: “Chỗ diệu của chuyển biến”, do nhất tâm chân như lìa danh lìa tướng, chân trí độc chiếu, vốn tự viên thành, nhân pháp đều quên, thánh phàm đều dứt. Bởi mê nhất tâm mà thành tám thức, nên chân như tùy duyên biến thành cảnh của danh tướng; chánh trí có đối đãi bên đối thành tâm vọng tưởng. Tâm cảnh đối lập tướng duyên khởi phát sanh, nhân pháp đều hiện bày, thánh phàm cách xa. Ngộ nhất tâm mà thành tạng tánh, chuyển 8 thức thành bốn trí, danh tướng tức là như như. Duyên khởi vô tánh vốn tự viên thành, nhân pháp đều không, thánh phàm cùng dứt, ngay nơi sanh diệt mà chứng chân thường, cho nên nơi sóng biển tạng thức tức là cảnh giới pháp thân.
Đó là lý do thành tướng chân thật tất cả Phật nói tâm, đây chính là cảnh giới sở duyên của tự giác thánh trí. Do lìa tâm tướng tự tánh là cảnh giới pháp thân, (nên bản Ngụy dịch: “Vì là pháp thân Như Lai thuyết pháp”) Song sự đặc thù của chuyển biến chỉ ở chỗ sanh và vô sanh; nếu đạt được sanh vốn vô sanh ấy pháp thân bỗn hữu tự hiện.
Vì thế, sau đây Thế Tôn nói thẳng về lý do thức sanh, chỉ thú của toàn kinh không ngoài việc này. Đến như mỗi tiết mục lần lượt chiết phục nan vấn để phá kiến chấp ngoại đạo, do họ không đạt tự tâm hiện lượng, nên vọng sanh kiến chấp ngang bướng, vì thế nói:
Chưa đạt cảnh duy tâm,
Khởi nhiều thứ phân biệt,
Đạt cảnh duy tâm rồi,
Phân biệt liền chẳng sanh
Cần hội vô tánh duyên sanh, duyên sanh vô tánh, thì ý chỉ vô sanh rõ ràng nơi tâm mắt, tất cả ngôn thuyết đều là lời thừa. Xin thỉnh bậc trí xét kỹ vậy.
💥 GIẢI
Đây nói lý do sanh khởi của thất thức, chính là hiển bày nghĩa duyên sanh vô tánh.
4 nhân duyên đó, Đường dịch:
- Vì bất giác tự tâm hiện mà chấp giữ.
- Vì tập khí hư vọng chấp trước nơi sắc từ vô thủy đến nay.
- Vì bổn tánh của thức như thế.
- Vì ưa thấy các thứ sắc tướng.
Bởi tâm vốn vô sanh nhân cảnh mà có, do 4 nhân duyên này, nên vốn chẳng sanh mà sanh. Cảnh có nghiệp dụng lỗi lầm, do chẳng biết các hiện tượng chỉ là tâm, vọng sanh chấp giữ nên bất giác tâm sanh.
Do từ quá khứ vô thuỷ đến nay, mỗi mỗi đều có chúng tử riêng, nay tâm cảnh tiếp giáp nhau, ắt theo tập khí huân từ bên trong bèn vọng sanh phân biệt, nên vốn chẳng sanh mà sanh. Do tâm có công năng biết rõ cảnh, cảnh duyên một phen đến thì tâm sanh như thế. Do yêu mến A-lại-da, ưa thức A-lại-da cho làm chủ tể, sẵn sàng ưa thấy cảnh giới các trần, nên tự nhiên tâm sanh.
Đây là nói chung 7 thức, mỗi thức đều nhân nơi tự cảnh mà có tướng sanh khởi. Nếu một thức để đại diện các thức khác, nên riêng nói sắc trần và mắt làm duyên sanh ra nhãn thức. Kỳ thật vô minh là nhân, cảnh giới là duyên, tâm thức hiện tướng lướt lên nhau. Vì thế kết luận rằng: Chỗ dòng nước tạng thức sanh khởi sóng mồi chuyển thức. Vấn sau lại nói Như nhãn thức…
❓❓❓ Hỏi: Duy thức nói Nhãn thức có 5 duyên sanh, nhĩ thức có 8, tỵ thiệt thân có 7, 3 thức sau* có 5 duyên, 3 duyên, 4 duyên. Vì sao đây nói 7 thức trước đều đủ 4 duyên ư?
📣📣📣 Đáp: Duy thức nói đủ duyên của tám thức, mỗi thức có nhiều hay ít duyên. Đây nói về tướng trạng sanh khởi của bảy thức. Cho nên nói Chỗ dòng nước tạng thức sanh khởi sóng chuyển thức.
💥 GIẢI
Đây nói các thức sanh khởi mau chậm, để chỉ trước sau bất đồng.
(Đường dịch: “Như nhãn thức, mấy thức kia cũng lại như thế, các chuyển thức ở nơi tất cả các căn, vị trần, lỗ chân lông, nhân thức…, hoặc chậm sanh như gương sáng hiện các sắc tướng, hoặc thứ lớp sanh như gió mạnh thổi nước biển lớn”.)
Các căn, lỗ chân lông là căn; vị trần là trần, căn trần hòa hợp sanh ra thức. Nói là chậm hay thứ lớp, bởi Năm thức hiện lượng cùng ý thức đồng thời, mỗi mỗi căn bình đẳng chiếu biến pháp giới, gọi là Viên thành. 1 Vì thế khi mắt vừa thấy sắc, tối sổ chưa khỏi phân biệt, chỉ như trong gương không phân biệt chia chi, mà mắt sắc trần biến hiện các căn. Một trần đã vậy thì mỗi mỗi căn đều như vậy. Nên nói: chậm sanh như gương hiện hình tượng.
Kịp đến niệm thứ hai thức chuyển sang ý thức khởi phân biệt, thời năm căn cách chia, các trần tùy theo căn không đồng trước sau cũng khác. Nên nói thứ lớp sanh như gió thổi nước biển. Người tu nếu rõ được chỗ chậm sanh thời đạt tự tâm hiện lượng, (lúc bấy giờ) yếu chỉ vô sanh như xem trái cây trên tay.
💥 GIẢI
Đây nói tám thức lại hỗ tương làm nhân sanh khởi tướng.
Nghĩa là biển tâm lặng sâu, do gió ngoại cảnh thổi dạt không dừng nên sóng thất thức nối tiếp nhau không dứt.
Ở đây trình bày chung tám thức vốn tự chẳng sanh, do cảnh lôi tâm cho nên các thức cùng sanh, để hiển bày vô minh của tám thức nhân trần cảnh mà khởi lên.
Nhân và tướng sở tác khác cũng chẳng khác là tâm cảnh nhất như, để thành tựu nghĩa vốn chẳng sanh. Câu này trình bày chung về tám cảnh đều có tướng khác và chẳng khác.
Tâm khác và chẳng khác đó là (do các điều kiện sau): Nhân là tứ chủng nhân của bát thức, sở tác tướng là kiến phần, vì tiền thất chuyển thức đều thuộc về kiến phần.
Nay tám thức mỗi mỗi đều biết rõ về cảnh (đối tượng) riêng của nó, cho nên tám thức khác nhau. Nhưng tám thức chỉ một tính chân nên chẳng khác.
Cảnh khác và chẳng khác đó là: Nhân tức là vô minh nghiệp tướng, sở tác tướng là tướng phần bị chuyển biến, vì lục trần từ đại đều thuộc về tướng phần, nay mỗi mỗi cảnh đều đối với các căn riêng khác nhau.
Cảnh trần vốn chỉ một thể nên chẳng khác. Trình bày chung về tâm cảnh khác chẳng khác đó là: Nhân tức Như Lai tạng tâm, sở tác tướng tức vọng tâm vọng cảnh.
Tâm cảnh lập riêng cho nên khác. Cảnh chỉ do tâm hiện, vốn nhất chân tâm nên chẳng khác.
Hợp nghiệp sanh tướng… (Đường dịch: “Nghiệp cũng với sanh tướng”. Nghĩa là ngoại cảnh kia vốn duy tâm hiện, do vô minh bất giác không hiểu duy tâm nên sanh chấp trước sâu nặng, chấp đó giữ đó cho là thật ngã thật pháp. Thế là thất thức nhân vô minh mà có.)
Do cái chấp cùng ngã ái này, không thể biết rõ sắc… như huyễn không thật, mà vọng sanh tham ái, cho nên mắt thấy được chỗ đó là sắc, tai nghe được chỗ đó là tiếng… Vì thế nói “Không thể liễu tri tự tánh của sắc… cho nên Năm thức tham chuyển”. Đây là Năm thức nhân thức thứ bảy mà có.
Khi 5 thức duyên cảnh, một niệm tối sơ được tự tánh của cảnh, không kẹt trong danh ngôn, không có tâm trù tính, cho nên thuộc về hiện lượng. Lúc ý thức đồng thời khởi chung với năm thức, hoặc nhân phân biệt cảnh giới sai khác từng phần bên cõi thức thứ sáu sanh khởi, cho nên nói: Ngay khi cùng khởi với Năm thức thân, nhân biệt tướng sai biệt phân đoan, nên biết đó là nhân của ý thức. Đây chính là đệ lục thức nhân nơi tiền ngũ thức mà sanh.
Đó gọi là các thức lần lượt làm nhân cho nhau mà sanh vậy.
Bởi tiền thất chuyển thức đều thuộc về cái dụng liễu biệt của kiến phần đệ bát, song khi tiền ngũ thức đối diện với năm trần, thật ra khi ấy thức thứ sáu đồng thời khởi, nhưng trong một niệm tối sơ chưa khỏi phân biệt thì gọi là Tiền ngũ thức cũng gọi là Minh liễu ý thức.
Bước qua sát-na niệm thứ hai có phân biệt những tướng sai biệt như tốt, xấu… liền có tên là đệ lục Phân biệt ý thức. Đây là giảng rõ về chỗ thân sơ của các thức Ngũ, Lục, Thất, Bát vậy.
💥 GIẢI
Đây nói chung tám thức duyên sanh vô tánh, thâm chí nghĩa sanh vốn vô sanh, để thành tựu nghĩa khác chẳng khác ở trên.
Ý nói rằng các thức vốn tự chẳng sanh, vốn không có tưởng khác. Nhưng đứng về phương diện mỗi thức “liễu cảnh” mà sanh, nên nói khác.
Bản Đường: “Song các thức kia không khởi niệm này, chúng ta đồng thời lần lượt làm nhân. Mà nơi cảnh giới tự tâm hiện, phân biệt chấp trước cùng một lúc khởi lên vì không sai biệt”. Mỗi thức liễu tự cảnh, do duyên sanh vô tánh nên không khởi niệm mà lần lượt làm nhân cho nhau. Do vô tánh duyên sanh cho nên mỗi thức liễu tự cảnh mà vốn không sai biệt. Nếu biết liễu cảnh không sai biệt, thì lý vô sanh tự khế hợp.
Kinh Đại Niết-bàn nói:
Thí như nước dòng sông
Đua nhau tuôn chảy mạnh
Các pháp không biệt nhau
Mỗi mỗi cũng như thế
Mỗi thức liệu tự cảnh: Lục trần là cảnh của tiền lục thức; Kiến phần đệ bát là cảnh của đệ thất thức. Căn thân, chúng tử, khí thế giới là cảnh của đệ bát thức.
💥 GIẢI
Hai đoạn sau đây, nói về sanh diệt vi tế của đệ bát thức chẳng phải hàng tam-muội yếu biết được.
Hàng Nhị thừa nhập thiền, tuy cho rằng thức diệt, song chỗ diệt ấy là vì lục thức không chấp thủ cảnh giới mà cho là thức diệt. Tập khí chúng tử của tạng thức là tập chất chưa diệt.
(Đường dịch: “Các nhà tu hành vào tam-muội do sức huân tập khởi rất vi tế mà không biết, bèn khởi niệm: Ta diệt các thức mà vào tam-muội”. )
Thật ra chẳng phải thức diệt mà vào tam-muội, vì các vị ấy chưa diệt chúng tử tập khí. Vì không chấp thủ các cảnh mà gọi là thức diệt.
💥 GIẢI
Hàng Nhị thừa và ngoại đạo do không biết đệ bát thức là căn bản sanh tử, cho nên tu tập lầm. Nhị thừa được ít cho là đủ, ngoại đạo sanh tà kiến ngang bướng, bởi dùng tâm sanh diệt làm cội gốc tu nhân, nhân đã không chơn nên quả phải hư vọng. Nay muốn bỏ vọng về chơn, chuyển thức thành trí cần phải đốn ngộ tự tâm hiện lượng, biết cảnh giới hư vọng một cách như thật, thấy rõ sự lưu chú vi tế của tự tâm, mới có thể vượt sanh tử chứng chân thường. Văn sau nói rõ.
💥 GIẢI
Sau đây chính thức chỉ ra bậc hành giả từ tâm như thật mới có thể nhập pháp môn này.
(Bản Đường dịch: “Chỉ có bậc hành giả tu hành như thật, dùng sức trí huệ biết rõ tướng các địa, khéo đạt cú nghĩa, ở vô biên cõi Phật, tu tập nhiều căn lành, không vọng tưởng phân biệt, hay thấu biết chỗ thấy tự tâm”. )
Kinh Kim Cang nói: “Hay tin được pháp này, không phải chỉ trồng căn lành ở chỗ một đức Phật, hai đức Phật, ba bốn năm đức Phật, mà đã trồng căn lành ở vô lượng ngàn vạn đức Phật”. Vì thế nói người thành tựu vô biên thiện căn mới có thể vào pháp môn này, chẳng phải hạng căn cơ cạn sức hiểu kém, mà có thể tin được.
💥 GIẢI
Đây nói rõ hiệu quả mau chóng của sự tu hành như thật.
Bậc chân tu an tọa rừng núi, tu tập về quán môn duy tâm, có thể thấy được sức lưu chú vi tế của tự tâm. Một niệm liền chứng vô sanh, át được trăm ngàn tam-muội thần thông, được mười phương chư Phật đồng thời quán đảnh. Hằng tứ nhị tu quán, ý thức cảnh giới vọng tưởng nghiệp ái vô minh, ngay đó chóng thoát. Cho nên nói Những nhân như thế đều đã vượt qua. Đây gọi là bậc trí thức tối thắng.
💥 GIẢI
Phật pháp có nhân có duyên. Bên trong dùng chân như vốn tự sẵn đủ huấn phát làm nhân, bên ngoài có thầy bạn trí thức tối thắng trợ phát làm duyên. Từ trước chư Phật Tổ chưa từng không do thiện tri thức mà có thể thành Bồ-đề. Cho nên Thế Tôn kết luận khuyên khích hành giả tu hành như thật, cần nên gần gũi bậc trí thức tối thắng.
💥 GIẢI
Đây tùng chung về gió ngoại cảnh thổi động biển tâm, sóng thức không dừng.
💥 GIẢI
Đây tùng về “Nhân và tướng sở tác khác chẳng khác” để nói rõ thứ lớp sanh.
Xanh đỏ là sắc trần, kha bối (tiếng đàn) là thanh trần, sữa là hương trần, đường phèn vị lạt là vị trần, hoa quả cựu chú là pháp trần.
Dẫn chứng Tông Cảnh nói: Hiện tại là hoa, vị lai là quả, các thức pháp trần tùy theo đó làm cảnh giới sở duyên cho thức.
Đây gọi là gió ngoại cảnh thổi dạt biển tâm khiến sóng mồi thất thức nối tiếp không dứt. Ánh sáng trời, trăng dụ cho tướng khác cũng chẳng khác của tâm và cảnh; do không đạt được cảnh duy tâm, vọng sanh phân biệt cho nên bị lay động.
💥 GIẢI
Đây tùng chỗ dòng nước tạng thức là chỗ sóng chuyển thức sanh, để nói rõ chỗ chóng sanh.
Nghĩa là Thất thức kia toàn là sóng mồi bị biến chuyển của đệ bát thức, vốn không thật thể chỉ là nhất tâm, lại không có trước sau, nên văn sau nói tướng chẳng khác.
💥 GIẢI
Đây tùng vì vò sai biệt cho nên mỗi mỗi thức đều liễu tự cảnh.
Do mỗi mỗi liễu tự cảnh cho nên nói Là do ý thức kia, suy nghĩ nghĩa các tướng. Do vốn không sai biệt nên nói Tướng chẳng hoại có tánh, vô tướng cũng vô tướng.
(Bản Đường dịch: “Tâm, ý, và thức là tướng nên nói tâm thức không tướng riêng, không năng tướng sở tướng”. ) Câu Tướng chẳng hoại có tánh, văn xuôi nói: Mỗi mỗi tướng hoại cũng chuyển. Đây nói tướng chẳng hoại có tánh, là do trong chương Sanh diệt ở trước nói: “Hiện thức và Phân biệt sự thức, 2 tướng hoại và chẳng hoại này lần lượt làm nhân”.
Bởi, hoại là bảy chuyển thức là tâm sanh diệt; không hoại là tự thể của tám thức là tâm bất sanh diệt. Vì chẳng hoại mà hoại nên vô tánh duyên sanh, vốn chẳng sanh mà sanh. Do hoại mà chẳng hoại nên duyên sanh vô tánh, tuy sanh mà chẳng sanh. Văn xuôi và văn tùng phát minh lẫn nhau để hiển ý chân thật vô sanh.
Tông Cảnh nói: “Bất thức như thế, từ vô thủy đến nay, tam tế không đồng, bốn tướng không dời, chân thật thường trụ, tự tánh thanh tịnh. Tướng bất hoại đây đủ viên mãn không kém thiếu, có tất cả công đức như vậy vi đồng pháp giới, cũng là vô tướng”. Vì đều là vô tướng, cho nên nói Tướng chẳng hoại có tâm, vô tướng cũng vô tướng.
💥 GIẢI
Đoạn này dùng thí dụ để hiển bày nghĩa vô sai biệt. (Sóng và biển đồng một thể nước, các thức và tâm cũng đồng một thể giác, nên không thể nói là khác nhau)
💥 GIẢI
Đoạn này tụng lý do tên gọi của tám thức.
Đệ bát thức tên Tâm vì thọ huân trữ chủng là chất tệ của sanh tử, cho nên nói gom góp nghiệp. Đệ thất thức tên Ý, do thiên chấp ngã pháp, hằng thẩm tư lường, tương đương với bốn hoặc; tiến lục thức tạo nghiệp ý đây làm căn, nên nói rộng gom góp. Tiền lục thức gọi chung là thức, nhưng khi đối hiện ngũ trần thì gọi là Ngũ thức, khi phân biệt ngũ trần quá khứ thì tên là Ý thức, vì thế nói Các thức, thức sở thức, đối hiện cảnh có 5.
💥 GIẢI
Đại Huệ nghe đoạn trước đức Thế Tôn nói tướng chẳng hoại có tánh, vô tướng cũng vô tướng, tâm cảnh đều không. Nay nghe Tâm tên gom góp nghiệp… nên nghi Thế Tôn tự mâu thuẫn. Bèn dùng câu “tâm cảnh đều có” để nạn vấn. Ý rằng các màu xanh đỏ là giác lục trần cảnh giới, khởi lên sóng mồi thạt thức, là cảnh thật có. Lại nói: “Tâm tên gom góp nghiệp, y tên gom góp, các thức, thức sở thức, đối hiện cảnh có năm”. Đây là tâm thật có. Song tâm cảnh đã là thật có, mà lại sai biệt chằng đồng, tại sao Thế Tôn nói: “Vô tướng cũng vô tướng, khác cũng chẳng thể được?”
💥 GIẢI
Biển vốn yên lặng nhân gió dậy sóng, vậy là cảnh vốn không. Tâm vốn trạm nhiên, do duyên kích động phát sanh thức, là tâm vốn không. Tâm cảnh vốn không mà nói cảnh từ tâm khởi, Tâm tên gom góp… ấy, chỉ vì khai ngộ kẻ phàm phu, tuỳ theo ngôn ngữ của họ mà thôi. (Vì thế Đường dịch: “Các sắc màu xanh đỏ, như sóng, chẳng thể được, nói tâm khởi các tướng, khai ngộ các phàm phu”.)
💥 GIẢI
Đây giải thích tâm cảnh đều không.
Nghiệp kia trọn chẳng có, thì tâm vốn không sanh. Lìa tự tâm sở nhiếp, sở nhiếp là cảnh, lìa thì chắc chắn là cảnh vốn không có. Thế là năng sở đều vắng lặng, tâm cảnh đều không, như sóng biển kia, tánh của sóng chẳng động. (Đường dịch: “Mà kia vốn chẳng khởi, lìa tự tâm sở nhiếp, năng thủ và sở thủ, cùng sóng mồi kia đồng.”)
💥 GIẢI
Đây giải thích tâm cảnh chẳng khác.
Thân thọ dụng kiến lập. (Đường dịch: “Thân tự tại an trụ”, nghĩa là cảnh lục trần là vật giúp thêm sự thọ dụng của chúng sanh, giữ đó mà được trụ thì thế. Nhưng cảnh lục trần đều là duy tâm sở hiện, nên nơi lìa biên này do tâm hiện mà giữ đó chấp đó, cho là thật ngã thật pháp, nương đó tạo nghiệp, chiêu cảm khổ sanh tử, cho nên nói Nơi kia hiện các nghiệp. Bởi do “Tự tâm giữ tự tâm, pháp phi huyễn thành pháp huyễn” cho nên tâm cảnh dường như có. Nếu “Chẳng thủ thì không có pháp phi huyễn, phi huyễn đã chẳng sanh, huyễn pháp làm sao lập”. Đây là tâm cảnh vốn không, như sóng trên nước, tuy có mà chẳng có. Vì có mà chẳng có nên nói vô tướng, vô sai biệt, khác cũng không thể được.)
💥 GIẢI
Đây dùng về thí dụ để gạn pháp. Ý rằng nghiệp tướng như sóng mồi, vì sao sóng mồi dễ thấy mà nghiệp tướng không thể thấy.
💥 GIẢI
Do tạng thức nhỏ nhiệm khó biết, phàm phu vô trí, cho nên dùng biển và sóng làm thí dụ, khiến họ nghe mà hiểu, chẳng phải nói nghiệp thức có tướng mạo để thấy.
💥 GIẢI
Đây nhân nơi pháp mà nạn vấn về thí dụ.
Thế Tôn đối với chúng sanh trí hiểu kém, chỉ nói sáu thức, ba độc để lập ra căn bản nhiễm tịnh, mà chưa nói đến thức đệ bát. Nên Đại Huệ nghĩ rằng: Như Lai soi sáng thế gian như mặt trời lên cao, cho pháp đều ứng hợp, đáng lẽ thuyết pháp bình đẳng, vì sao đã phân loại các pháp, mà không nói chân thật này. Há không tránh khỏi lỗi bất bình đẳng ư?
Văn kệ nói: “Thức A-đà-na rất sâu nhiệm. Tập khí chúng từ thành bộc lưu, ta không nói cho phàm phu, sợ họ phân biệt chấp làm ngã.” Cho nên sau đây đáp rằng: Chẳng phải ta không nói chân thật, nhưng vì tâm họ không chân thật.
⏯️
NGUỒN
GHI CHÚ
Chú thích:
¹ Cảnh bị chấp là chỉ cho 10 cõi thánh phàm, mỗi cõi có đủ 10; 10×10 = 100.
¹ Bản Đường: Đây và nghĩa các câu khác.
¹ Bản Ngụy: Ly tự tánh kiến, chẳng ly tự tánh kiến. Không kiến, bất không kiến. Bản Đường: Câu tự tánh, câu phi tự tánh.
¹ Bản Đường dịch: Câu sanh câu bất sanh. ² Bản Ngụy dịch: Sanh kiến bất sanh kiến, thường kiến vô thường kiến, tướng kiến vô tướng kiến.
¹ Bản Ngụy nói: Ly tự tánh kiến, chẳng ly tự tánh kiến. ² Bản Đường: Câu thiện xảo, câu phi thiện xảo.
Bản Đường: Câu chi phần.
Bản Đường không có câu này.
Bản Đường: Câu chúng tộc.
Bản Ngụy: Câu tiêu tướng, câu phi tiêu tướng.
Bản Đường: Câu hữu câu phi hữu. Câu vô câu phi vô.
Bản Đường dịch: Câu tự chứng thánh trí, câu phi tự chứng thánh trí.
Bản Đường: Câu phi trần.
Bản Đường: Câu đại chúng, câu phi đại chúng.
Bản Đường: Câu toán số, câu phi toán số.
Bản Đường: Câu thần thông, câu phi thần thông.
Bản Ngụy: Tịch tịnh kiến phi tịch tịnh kiến.
Bản Đường dịch: Câu thể tánh, câu phi thể tánh.
Bản Đường dịch: Câu sơ trí, câu phi sơ trí.
2 bản dịch đều nói: Câu đường diệm.
Bản Đường dịch: Câu hòa luân, câu phi hòa luân.
Bản Đường: Câu diệt, câu phi diệt. Câu khởi, câu phi khởi.
Bản Đường: Câu y phương câu tướng, câu phi tướng.
¹ Từ phần đầu kinh đến câu kết luận này là ở trong phạm vi nhất tâm chân như, vì thế Phật không giải thích, chỉ đáp “Phi”. Cần lưu ý!
² Chữ Luận trong hầu hết bản này là chỉ cho Luận Đại Thừa Khởi Tín.
¹ Bốn tướng: Sanh, trụ, diệt, lưu chú.
¹ Ba thức: 1 - Chân thức: Chân như, Chân tâm. 2 - Hiện thức: Thức thứ tám (A-lại-da). 3 - Phân biệt sự thức: Tiền thất thức.
¹ Dị nhân: Nhân khác - Các phái ngoại đạo cho rằng có nguyên nhân ngoài tâm để tạo ra chúng sanh thế giới. ² Sanh nhân: Nguyên nhân sanh ra chúng sanh, thế giới.
¹ Ngũ hiện: Ngũ căn.
¹ Trung Hoa dịch là Hoàng Đầu. ² Trung Hoa dịch là Hưu Đầu. ³ Trung Hoa dịch là Khổ Hạnh.
¹ Đây là lặp lại lìa cảnh giới vọng tưởng. ² Đây lặp lại lìa tâm ý ý thức. ³ Đây chỉ căn bản vô minh vô thủy. ⁴ Chỉ chúng tử hai chướng trong thức thứ tám làm nhân. ⁵ Quán ba cõi vốn không. ⁶ Quán thẳng vô sanh có thể đến tự giác thánh trí.
¹ Dụ Ma-ni này là lặp lại tùy vào thân Như Lai ở trên. ² Đây dạy dụng nghi thức độ sanh.
Ý thức có năm duyên. Mạt-na thức có ba duyên. A-lại-da thức có bốn duyên.