NHẤT THIẾT PHẬT NGỮ TÂM
⏯️ (tiếp theo)
💥 GIẢI
Đây nói Như Lai ứng cơ nói pháp cho nên giáo lý thiết lập có bí mật, có bất định.
Thuyết pháp không hợp cơ, rốt cuộc thành lợi suông. Nếu y người tâm không thật mà nói pháp thật, ắt sẽ trở lại nghi ngờ không tin, để họ biến thành thuộc độc. Cho nên bài kệ sau nói: Nói không có ứng hợp, đối với họ không nói. Do không kham nói, chẳng phải tiếc rẻ mà không nói. Song pháp được nói vốn không có phần ra trước giả sau thật, tức là khi nói về sáu thức, cũng đã nói gồm luôn thức thứ 8. Chỉ vì lời nói không thể trình bày cùng một lúc, cho nên phải có trước có sau khác biệt. Vì sao? Bởi do tâm cảnh đồng thời hiện một lúc, như là sóng biển, bóng trong gương, việc trong mộng, chẳng phải thứ lớp sanh, vốn không có sự sai khác giữa tâm thức. Chỉ vì cảnh giới không đủ, nên có nghiệp theo thứ lớp sanh khởi.
Nhân đó mà nói phân biệt pháp trần là Lục thức; chấp tự nội ngã là Thất thức; đối hiện nam trần là Ngũ thức. Cho nên nói: Thức đó thức sở thức, ý đó ý vị nhiên, năm thức đó hiển hiện. Kỳ thật vốn không có thứ lớp nhất định, do tùy căn cơ mà thi thiết. Như họa sĩ vẽ hình, học trò đồ theo đường nét, hình trước, màu sau, cốt yếu không ra ngoài hình vẽ. Ta nói pháp cũng như thế mà thôi. Bởi pháp vốn không nói, nên như màu sắc vốn không nói năng chi tiết, văn tự đều là nên chẳng phải bút chẳng phải vải trơn; chỉ vì ứng cơ lợi vật, lời nói hình tượng bên đấy lên. Nên vì vui chúng sanh, lựa màu vẽ thành hình.
💥 GIẢI
Pháp vốn ly ngôn, lời sanh thì lý mất. (Cho nên bản Nguy dịch: “Ngôn thuyết lìa chân thật, chân thật lìa văn tự.”) Không nói mà chỉ bày, là phương tiện phân biệt để hợp với người sơ cơ. Nếu người tu hành như thật thì có thể vì họ nói chân thật.
Chân thật là cảnh giới tự chứng, tất cả phân biệt năng sở đều lìa. Chẳng phải bậc thượng căn lợi trí thì không thể vào, nên vì Phật tử nói.
Nếu với hạng phàm phu mà không phân biệt rộng thì họ không thể biết, tức chỗ thuyết pháp hoặc quyền hoặc thật, các thứ pháp môn thảy đều như huyễn, vốn không có thật pháp trao cho người. Cho nên nói Tùy hiện không chân thật, nói các thứ như thế, tùy cơ riêng lập bày, đều là phương tiện tam chỉ bày. Sở dĩ thuyết pháp phải dùng phương tiện, là vì nếu nói không hợp cơ thì đối với họ cũng như không nói. Cho nên bất đắc dĩ mà lập bày phương tiện khéo, chẳng phải là bổn hoài của Phật. 21 ngày tư duy (dưới cội Bồ-đề sau ngày thành đạo) ý ở chỗ đó.
💥 GIẢI
Chúng sanh có các món dục, các thứ tư tưởng phân biệt, chỉ có Như Lai thấy như thật. Vì thế mới mỗi ứng lượng thuyết pháp, khiến thoát khổ được vui. Đây là cảnh giới tự giác của Như Lai, chẳng phải phàm phu ngoại đạo, Nhị thừa có thể biết. Cho nên nói: Chẳng phải cảnh giới vọng, Thanh văn cũng không phần.
💥 GIẢI
Đây là dạy khiến như chánh pháp mà tu hành.
Kinh Niết-bàn nói: “Như người đem của báu cho kẻ khác, tự mình không có được nửa tiền, đối với pháp không tu, đã văn cũng như thế”, cho nên nghe pháp quỹ ở sự tư duy và tu tập. Ý Thế Tôn rằng: Đã nói tắt cả cảnh giới vọng tưởng năng thủ sở thủ, đều là tự tâm hiện.
Nếu muốn liễu tri cảnh giới duy tâm, nên xa lìa các ác giác quán, hôn trầm, tán loạn. Như thật tu hành, phương tiện quán sát, lâu dần sẽ tự thông đạt liễu ngộ. Đây là khuyên tu, sau đây là chỉ phương tiện tu.
Nói rõ tướng bát thức xong. Kế nói rõ tướng 3 trí.
E₂. Tướng ba trí
💥 GIẢI
Trước nói tướng của thức có 8, đây nói tướng của trí có 3, và dạy phương tiện tu hành như thật.
Liễu đạt được hiện lượng của tự tâm, chẳng phải là cảnh giới vọng tưởng của Nhị thừa, ngoại đạo như trên đã nói. Vì thế nói lập 7 tướng trí huệ. Đã trụ đầy rồi, nếu muốn thật chứng, nên siêng năng tu tập 3 tướng thánh trí tối thượng. Ba tướng này là cảnh giới tự giác thánh trí nên nói thánh trí tối thượng, giản biệt chẳng phải loại tam-muội yếu kém của Nhị thừa ngoại đạo.
E₂. Tướng ba trí
💥 GIẢI
Đây nêu tên của 3 tướng.
Theo chú giải xưa nói rằng, Thất địa quán sát sanh tử trong ba cõi, tâm bất định gọi là tâm trí huệ lừa quê, vì không thể hành động, do chưa được vô công dụng đạo, cho nên đắm chìm trong đó.
Sau đây giải thích tướng.
Đại Huệ! Tướng Vô sở hữu là tướng của Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo tu tập sanh. (Ngụy dịch: Quán tướng Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo. Đường dịch: Vì quen tu tập tướng của tất cả Nhị thừa, ngoại đạo cho nên sanh khởi).
Đại Huệ! Tướng Tự nguyện là chỗ của các Phật trước tự nguyện tu sanh. Đại Huệ! Tướng Tự giác thánh trí cứu cánh là tướng không chấp trước tất cả pháp tướng, được thân như huyễn tam-muội, tiến đến địa vị chư Phật tu hành mà sanh.
Đây giải thích tướng của ba tướng tức tương đương với nghĩa tam quán.
Phật quán ba cõi chẳng thật chẳng giả, chẳng như chẳng khác, vì quán các pháp không thật nên nói Tướng vô sở hữu. Và lại nói tu tập theo Nhị thừa, ngoại đạo mà sanh.
Triệu Công nói: “Ba thừa đều quán tánh không mà đắc đạo”, nhưng tầm có dài tiêu nên thành sai khác.
Do Nhị thừa, ngoại đạo không thấu đạt tánh không nên vọng sanh kiến chấp đoạn diệt. Bồ tát đã hiểu duy tự tâm hiện, vốn không chỗ có (vô sở hữu), chỗ giác ngộ kia tuy đồng mà chỗ chứng có khác. Và lại, vì khiến cho biết chẳng phải cứu cánh để không thủ chứng, cho nên chê đè chuyện ác kiến của họ, nói là tướng quán của Nhị thừa, ngoại đạo, đây là nghĩa Không quán.
Tướng Tự nguyện, là chỗ các đức Phật trước tự nguyện tu tập sanh, do quán các pháp chẳng phải giả, ắt là pháp pháp thường trụ, tướng thế gian thường trụ. Đã là tướng thế gian thường trụ, thời không một pháp nào mà chẳng chân thường, không một loài nào không là chỗ tự nguyện. Cho nên chư Phật vì muốn chánh pháp cứu trụ, Phật chứng không bị diệt đoạn, nên không bỏ sự nghiệp độ sanh. Kinh nói: “Ta vốn lập thệ nguyện, vì muốn tất cả chúng sanh được như ta không khác”.
(Bản Nguy dịch: “Chư Phật vốn tự khởi nguyên giữ gìn các pháp”) Đây là nghĩa Giá quán.
Tướng Tự giác thánh trí cứu cánh, không chấp trước tất cả pháp tướng, được như huyễn tam-muội… nghĩa là quán 3 cõi chẳng phải như chẳng phải khác, không chấp giữ tướng pháp tướng phi pháp, được tam-muội như huyễn, hướng đến trí Phật địa. Đây là tướng dương nghĩa Trung đạo quán.
Đoạn trước có nói đến phương tiện tu tâm thường tự giác ngộ, nên tuyên bố ba tướng thánh trí như thế, muốn khiến dùng ba tướng ấy mà tu, nếu bỏ ba tướng ấy tức là tà trí vậy.
[tự gõ TRANG 132, 133, 216, 242, 294, 300, 303, 304, 308, 342, 343, 344, 366]
…giới huyễn (Đường dịch: Vào cảnh như huyễn), lên tất cả cõi Phật, từ cõi trời Đâu-suất, cho đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, bèn được pháp thân Như Lai thường trụ (Đường dịch: Trụ tất cả cõi cung trời Đâu-suất-đà, trời Sắc Cứu Cánh, thành thân Như Lai).
Lý do ý hỏi này vì trước đó Bồ tát Đại Huệ hỏi chung về các diệu pháp môn tâm, ý, ý thức, nằm pháp, ba tự tánh, mà Thế Tôn chỉ đáp tướng sanh khởi của tâm thức. Kỳ dư còn chưa mong được mở mối khai thị, nên không biết thế nào là danh, tướng, vọng tưởng, thế nào là chánh trí, như như? Đây là pháp môn “Thánh trí phân biệt tự tánh”.
Đại Huệ biết tâm niệm của chúng hội, cho nên đặc biệt thưa thỉnh lại Cúi xin vì nói pháp môn thánh trí sự tự tánh là chỗ ý cầu 108 câu trên vậy.
Các chúng Bồ tát do không biết pháp môn thánh trí tự tánh này nên rơi vào tự tướng cộng tưởng, vọng chấp sai biệt. Nếu biết đây rồi thì có thể tu tập đúng như pháp trừ sạch hai vô ngã, liễu đạt duy tâm, soi sáng các địa, thời có thể vượt qua Nhi thừa ngoại đạo, được chứng cảnh giới Như Lai bất tư nghì, rốt ráo xa lìa 5 pháp, được tự giác thánh trí cứu cánh, thành tựu quả Phật vô thượng. Vì thế đức Thế Tôn sau đây bèn một phen khai thị.
Trước giảng rõ năm pháp, kế đó nói rõ ba tự tánh, sau mới nói hai vô ngã. Tự tướng cộng tưởng là tất cả các pháp đều có tự tướng cộng tưởng. Tự tánh chân như là tự tướng, tùy duyên thành việc là cộng tưởng.
Các pháp 5 uẩn đều có tự thể là tự tướng, hòa hợp thành thân người là cộng tướng. Do ngoại đạo, Nhị thừa không thấu đạt các pháp duy tâm sở hiện nên vọng chấp trước cho rằng thật có tự tướng cộng tướng như thế, vì thế nói rơi vào tự cộng tướng. Do đó nên chấp các pháp tự sanh, tha sanh, cộng sanh, vô nhân sanh. Đây đều căn cứ nơi tự tánh vọng tưởng, chẳng phải là việc tự giác thánh trí. Thế Tôn tuy phá hai kiến chấp Hữu Vô, mà ý hiển bày tất cả pháp bất sanh. Người thấy rõ các pháp bất sanh mới gọi là bậc tự giác thánh trí.
💥 GIẢI
Đây trình bày nguyên nhân lối chấp thỏ trâu có sừng không sừng của ngoại đạo, đối với các pháp khởi lên hai kiến chấp Đoạn Thường, để phá danh tướng do vọng tưởng khởi trong 5 pháp.
Bởi các pháp duy tâm hiện vốn tự như như, không cho khởi chấp. Song ngoại đạo kia không rõ duy tâm, vọng sanh chấp trước, nhân thấy các pháp theo nhân mà chấm dứt bên tướng như “thỏ không sừng” khởi lên kiến chấp “Vô”.
Một hạng ngoại đạo khác nhân thấy Đại chủng, Câu-na, Trần… các vật có hình tướng, trọng lượng, phần vị sai biệt; do cái chấp “thỏ không sừng” của ngoại đạo trước, đối lại bên sanh kiến chấp “trâu có sừng”, khởi lên chấp “Hữu”. Song, các pháp vốn như, không thuộc hữu vô, danh tướng “hữu vô” đều do vọng tưởng phân biệt mà khởi.
Chúng, tức tứ đại chủng, Câu-na, Vi trần, Đà-la-phiếu đều là trần. Vô cớ mà khởi nên gọi là hoành pháp.
- Trên trình bày chấp, sau đây phá đó.
💥 GIẢI
Đây là hỗ tương phá kiến chấp Không.
(Đường dịch: Thế nào là sừng thỏ lìa có không? Vì các nguyên nhân (của kiến chấp) đều hỗ tương đối đãi. Ý rằng các pháp vốn không, không nên lại khởi tưởng Không)
Như sừng thỏ vốn không mà lại khởi tưởng Không, đó gọi là tà kiến vọng tưởng. Và lại kiến chấp thỏ không sừng vì nhân trâu có sừng mà khởi lên, cho nên nói các nhân hỗ tương nhau đối đãi. Do không rõ sừng trâu cũng bất khả đắc, nên văn sau nói:
💥 GIẢI
Đây là hỗ tương phá kiến chấp Có.
Đường dịch: Phân tích sừng trâu cho đến thành vi trần, tìm cầu thể tướng của nó rốt cuộc không thể được. Nghĩa là ngoại đạo kia chấp thỏ không sừng do vì thấy sừng trâu có thật, cho nên chấp sừng thỏ là không. Nên nếu phân tích cho khéo biết sừng trâu cũng hư không. Nếu phân tích sừng thỏ cho đến vi trần cực nhỏ, rốt cuộc trở về hư không, thế là tự tánh chắc chắn không thể được. Các pháp cũng vậy.
💥 GIẢI
Đây nói thánh trí thấy rõ các pháp vốn không, cho nên phải xa lìa hai kiến. Ý rằng chỉ cần đối với các pháp không khởi hai kiến chấp Có Không, mới có thể thân cận tùy thuận tự giác thánh trí. Có Không tức danh tướng, hai kiến tức vọng tưởng.
💥 GIẢI
Đây đưa ra chuyển chấp, sắp hiển bày tâm cảnh đều lìa.
Đại Huệ nghe nói chấp thỏ không sừng là nhân trâu có sừng, nếu phân tích sừng trâu đến chỗ bất khả đắc thì sừng trâu cũng không, vì thế không nên khởi vọng tưởng. Nhân đó bèn chuyển chấp. Ý rằng: Sở dĩ người không sanh vọng tưởng đâu chẳng nhân nơi quán sát sừng trâu chẳng có mà biết sừng thỏ vốn không, do chỗ không sanh vọng tưởng này mà nói là không chăng? Đường dịch: “Há không do vọng kiến khởi tưởng sừng ư?”, quả thật đối đãi rồi vọng chấp nói không sừng. Đây là quy biết sừng trâu có thật, nếu rốt cuộc chấp sừng thỏ là không, thì lại là kiến chấp “không”. Bỏ bên “có” kẹt bên “không” là bệnh chung của ngoại đạo.
Trước phá nhân “có” mà chấp “không”, ở đây phá nhân “không” mà chấp “không”. Người xưa nói: “Thà khởi chấp có như núi Tu-di, không nên chấp không như hạt cải”. Vì thế cần phải phá hết, muốn tâm cảnh đều lìa mới dẹp trừ hai kiến chấp Có - Không.
💥 GIẢI
Đây chỉ thẳng nghĩa vô sanh.
Nghĩa là tâm cảnh dứt tuyệt đối đãi, vốn tự vô sanh không cho khởi niệm nên nói Chẳng phải vì quán sát chẳng sanh vọng tưởng mà nói không. Vì sao? Nói vọng tưởng ấy là vì nhân cảnh giới mà sanh; do tâm cảnh đối đãi mới sanh phân biệt, chính là “Nếu pháp nhân đối đãi mà thành, pháp ấy cũng trở thành đối đãi”. Trước nói: Nhân sừng trâu có mà chấp sừng thỏ không, đó là vọng tưởng, nên nói Nương sừng kia mà sanh vọng tưởng. Nay nếu chấp sừng thỏ không, cũng giống như sừng trâu vốn không, cũng là vọng tưởng, vì giàu có sừng mà sanh phân biệt, nên nói: Nương nơi sừng sanh vọng tưởng. Rốt cuộc vọng tưởng đều nhân có không sừng mà sanh, chứ tự tánh lừa sừng, cho nên lần lượt đều vọng; vì thế nói Lìa khác chẳng khác. Vì lại sừng thỏ tự nhiên vốn không, chẳng cần phân biệt, há nhân quán sát sừng trâu là không rồi sau mới biết sừng thỏ không ư? Vì thế nói Chẳng phải quán sát chẳng sanh vọng tưởng mà nói không sừng.
💥 GIẢI
Đây giải thích câu Lìa khác chẳng khác ở trên, để hiển bày vọng tưởng vô tánh, để rõ tâm vốn không.
Nếu nói tâm cảnh quyết định là khác nhau, thì vọng tưởng (tâm) riêng có tự tánh, ắt không nhân sừng (cảnh) sanh. Nay đã nhân sừng sanh thì không khác. Nếu nói tâm cảnh quyết định là một, thì khi nêu tâm ắt là không có cảnh, cái gì bị phân biệt? Nếu cảnh thì không có tâm, ai là người phân biệt? Thế là chẳng phải một. Không một không khác, đủ thấy vọng tưởng không tánh.
💥 GIẢI
Trên nói tâm không tự tánh, đây nói cảnh không tự tánh để rõ cảnh vốn không.
Ở đoạn này dùng chữ “cũng” để gián trạch sừng thỏ vốn không, không cố nhiên đã không tự tánh. Song sừng trâu tuy có, nếu phân tích ra vi trần, suy xét tìm cầu cũng không thể được, cũng không khác sừng thỏ. Đây thời là có cũng không tự tánh, nên nói Sừng cũng phi tánh. Và lại sừng kia có hay không, cả hai đều vô tánh thì cảnh vốn “không”. Tâm cảnh đều không, lại có pháp gì để xứng tánh, cớ gì chấp khác với có mà nói không ư? Vì thế Đường dịch: Khác với có sừng mà nói không sừng ấy, như thế phân biệt quyết định là phi lý, cả hai đều chẳng có, cái gì đối đãi với cái gì?
💥 GIẢI
Đây nói tuyệt đối đãi để hiển chân tâm.
(Đường dịch: Đối đãi với có cho nên nói thỏ không sừng, không nên phân biệt. Nghĩa là có không đều lìa thời không thể phân biệt.) Cho nên nói Nếu không, nên không sừng, không cùng thời không đối đãi. Đối đãi đã không mà nói nhân quán sát sừng trâu có mà nói sừng thỏ không, đều là tà kiến, không nên khởi phân biệt này vậy.
💥 GIẢI
Ngoại đạo không rõ các pháp vốn tự vô sanh, mà vọng chấp có không làm sanh nhân, chẳng phải là chánh nhân. Nhân địa không chánh nên kết quả tà vạy. Vì thế nói Chẳng phải chánh nhân mà nói có không, cả hai đều chẳng thành.
Trên dẹp hai chấp Có Không, ý ở chỗ đối vọng như, ý ở chỗ đổi danh tướng tức là như như. Đoạn trước phá “vô kiến”, sau phá “hữu kiến”.
💥 GIẢI
Đây trình bày lối chấp.
Đường dịch: “Lại có ngoại đạo, thấy hình trạng của sắc, ngăn mé của hư không, mà sanh chấp trước, nói sắc khác hư không, khởi lên phân biệt”.
💥 GIẢI
Đây nói rõ sắc không là một.
(Ngụy dịch: “Do căn cứ vào sắc mà phân biệt có hư không, căn cứ vào hư không mà phân biệt có sắc”. Đường dịch: “Phân biệt về giới hạn phần vị của sắc - không, nên biết như thế”. )
Kinh nói: Thí dụ như hư không bao trùm khắp tất cả chỗ sắc và phi sắc. Hư không ấy tùy nhập vào trong sắc chúng. Không này tức sắc, chẳng có hư không ngoài sắc, do sắc tức là không, vì kiến lập tánh năng tri sở tri. Tánh của sắc này tự không, chẳng phải sắc diệt mới có không.
💥 GIẢI
Đây nói rõ tánh sắc tức không, để phá ngoại đạo chấp tứ đại chúng cho là sanh nhân.
Đây là chấp trước hình sắc hoành pháp, nhân không có sừng thỏ mà sanh “hữu kiến” sừng trâu, nói gồm nêu đoạt.¹ Do ngoại đạo kia chấp tứ đại chúng mỗi đại có tự tướng hay sanh các pháp, cùng hư không vô can. Cho nên nói Khi tứ đại chúng sanh, tự tướng mỗi đại riêng khác. Nêu rằng: Cũng chẳng trụ hư không lại đoạt rằng Chẳng phải kia không có hư không. Do họ không biết tánh sắc tức không, nên vọng chấp sắc chất là sanh nhân. Nay tánh sắc đã không, lìa sắc vốn Không. Tứ đại tạo sắc vốn Không mà chấp làm sanh nhân, đó là vô nhân vậy. Lấy vô nhân làm sanh nhân, há chẳng phải là vọng chấp sao? Ngoại đạo ở Tây-vức có nhiều phái, song chỗ chấp không ra khỏi hai kiến chấp đoạn thường, hữu vô. Bởi do không đạt tự tâm hiện lượng, nên không rõ chánh nhân, tuy chấp “Có” trọn quy về “Vô nhân”. Thế Tôn dùng nhiều cách để phá, một bề hiển bày chánh nhân để phá vô nhân của họ vậy.
💥 GIẢI
Đây gồm hết cả 2 không trong có và không ở trên, để nêu ra lối quán các pháp mà phát sinh chánh trí, hợp với như như.
Vả lại họ chấp Không, là nhân sừng trâu có mà chấp sừng thỏ không. Nay nếu đem sừng trâu chia chẻ làm vi trần cũng trọn không thể được. Song sừng trâu làm nhân đã không, thì lấy gì mà so sánh quán sát để nói sừng thỏ không? Các pháp vốn không, nhân vọng thấy có. Chỉ một niệm không sanh, đoạn dứt hai kiến, chân trí riêng chiếu, tâm cảnh như như. Khởi quán như vậy, mới gọi là chánh quán, nếu quán khác gọi là tà quán. Cho nên nói: Quán các vật khác, pháp của nó cũng thế. Đoạn sau kết luận khuyên rằng: “Nên lìa vọng tưởng dị kiến, tư duy tự tâm hiện vọng tưởng”.
💥 GIẢI
Đây nói vọng cảnh lục trần và vọng tâm phân biệt xưa nay chẳng có, chỉ vì chẳng hiểu cảnh duy tâm, vọng sanh phân biệt, cho nên nói sắc thấy nuôi lớn tâm.
💥 GIẢI
Thân thọ dụng: Nghĩa là thân thể, tài sản, chỗ ở, tất cả cảnh là ảnh tượng do tạng thức hiện ra, nên nói: Tạng thức hiện chúng sanh. Vì không rõ nên vọng sanh chấp trước.
💥 GIẢI
Đây nói ý của Như Lai thuyết pháp quyền thật đều hiển bày.
Bởi, các pháp môn như tâm, ý và ý thức, năm pháp, ba tự tánh, hai vô ngã… là vì người chẳng hiểu rõ duy tâm bất đắc dĩ mà kiến lập để phá vọng chấp của họ thôi. Kỳ thật năm pháp ba tự tánh đều không, tám thức hai vô ngã đều đẹp. Chỉ nêu bày nhất tâm lại không có pháp khác. Đây là nghi thức thuyết pháp của Như Lai, nên nói Bậc giảng rộng đã nói.
💥 GIẢI
Tất cả pháp hữu vi thế gian không ra ngoài việc ngắn dài cũng tiêu biểu, có không cũng sanh nhau xen lần lượt đối đãi phân biệt mà có. Đến như phân tích vi trần thành tánh không, ở nơi cảnh sắc chất liệu đạt duy tâm, không khởi phân biệt. Pháp môn vi diệu như thế thì người ác kiến không ưa nghe, lại chẳng phải cảnh giới của Nhị thừa ngoại đạo. Đó là cảnh giới tự giác của Như Lai đã nói.
- Phần trên đứng về có không, hữu vô, một khác, để phá danh tướng vọng tưởng trong năm pháp.
- Phần sau đây hiển bày chánh trí như như. Trước hiển bày chánh trí.
K₂. Hiển chánh trí như như
L₁. Hiển chánh trí
💥 GIẢI
Đây đứng về việc trừ sạch tâm tập khí hiện lưu của chúng sanh, để rõ nghĩa chánh trí trong năm pháp.
Bởi tâm tập khí hiện lưu của tất cả chúng sanh sự dụng hàng ngày, vốn là trí huệ của pháp thân Như Lai. Do bất giác theo dòng vô minh, tùy sự chuyển biến của tâm, ý, thức, vì thế tự giác thánh trí ẩn mà không hiện. Như Lai thuyết pháp, nhân cái trí huệ sẵn có ấy mà khai mở dẫn đạo chỉ khiến tự ngộ “bản hữu”. Cho nên nói “tịnh trừ” mà chẳng có pháp thật để tăng thêm cho chúng sanh.
Kinh Đại Niết Bàn nói: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh có đầy đủ trí huệ đức tướng của Như Lai, chỉ do vọng tưởng điên đảo chấp trước mà không chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng điên đảo chấp trước, thời Nhất thiết trí, vô sư trí liền hiện tiền”.
Đây là tịnh trừ hiện lưu để rõ chánh trí vậy.
(Chú giải của bản Đường: Tịnh là tự giác thánh trí, sở tịnh là tự tâm hiện lưu. Ý cho rằng thánh trí thuộc về Phật, hiện lưu thuộc riêng về chúng sanh. E rằng không phải ý chỉ bốn kinh.)
💥 GIẢI
Trên nói 4 thứ tiệm, dưới nói 4 thứ đốn.
💥 GIẢI
Đây ước về pháp giáo hóa có đốn tiệm, để tỏ rõ ý nghĩa lý căn đốn ngộ, sự căn tiệm trừ.
Theo cựu chú cho là đốn tiệm đều chỉ cho Phật, song xét kỹ trong thí dụ thì tiệm là nghĩa thành thục, đốn là nghĩa hiển hiện chiếu dụng, như vậy đốn để nói về Phật, tiệm nói riêng chúng sanh. Bởi Như Lai viên mãn tự giác thánh trí, an trụ nơi Hải Ấn tam-muội, chiếu rõ pháp giới hiển hiện bình đẳng. Giống như gương sáng hiện tướng, không sót một vật nhỏ. Xem căn cơ thuyết pháp, như mặt trời mặt trăng lên cao, mây mưa thấm nhuần khắp. Chỉ vì núi có cao thấp cho nên chỗ được roi sáng có trước sau; căn cơ có đại tiểu nên thành thục có mau chậm. Đó là pháp vốn không khác, khác là tự căn cơ vậy.
Nên Như Lai thuyết pháp như sư tử đùa với con, tuỳ ngộ, vươn mình, đều dốc hết toàn lực. Đây là lý do pháp giáo hóa của Phật có nghĩa bí mật bất định vậy.
Ở đây đứng về Phật để nói đốn tiệm, do y cứ ba thân thuyết pháp. Đốn tiệm có bốn nghĩa: đốn đốn, đốn tiệm, tiệm tiệm, tiệm đốn. Bởi do chúng sanh mới mối tự tâm vốn là tự giác thánh trí, chỉ vì vô minh huân tập biến thành hiện nghiệp lưu thức. Nay chuyển thức thành trí, nhân vô minh có dầy mỏng, cho nên pháp có đốn tiệm chẳng đồng. Nếu có chúng sanh một niệm đốn ngộ “bản hữu pháp thân trí huệ”, soi rõ tự tâm, vốn không có tướng thế giới thân tâm, xa lìa phan duyên, tất cả tướng căn lượng diệt, một niệm đốn chứng tự giác thánh trí. Gọi là Pháp thân Phật nói đốn pháp, chóng trừ sạch tự tâm hiện lưu của chúng sanh. Đây là đốn đốn.
Nếu có chúng sanh, nhân sức huân tập từ sự giáo dưỡng của thầy, tuy có thể liễu ngộ tự tâm, do sức tập khí vô minh, không thể chóng lìa cảnh giới vọng tưởng của tâm, ý, ý thức. Chỉ quán sát tất cả pháp duyên sanh vô tánh, tất cả thân tâm thế giới như huyễn chẳng thật, chỉ là tự tâm hiện; dần dần đoạn vô minh chứng tự giác thánh trí. Trước hiểu, kế đến tu hành, sau mới chứng ngộ. Đây là Báo thân Phật nói pháp đốn tiệm, trừ sạch hiện lưu của chúng sanh. Đây là đốn tiệm, tiệm đốn vậy.
Nếu các chúng sanh tuy gặp ngoại duyên không thể đốn ngộ tự tâm, chỉ nương quyển giáo của Như Lai, các kinh Đại thừa dạy Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ quán sát thứ lớp, dẫn dần xa lìa tâm cảnh, được chánh tri kiến. Đây là Hóa thân Phật nói pháp tiệm tiệm, trừ sạch dần dần hiện lưu của chúng sanh. Đây là tiệm tiệm.
Do đây thấy, nơi Phật tuy tiệm mà cũng đốn vì hiển hiện bình đẳng, nên nói “đốn” là đúng riêng về Phật. Nơi căn cơ thì cũng đốn cũng tiệm, vì nhân nhiều đời tích chứa thiện căn thành thục, nay bận đâu một niệm đến “ngộ”, do đốn nhưng cũng là nhân nơi tiệm. Vì thế sau đây tùy theo đó đưa ra nghi thức nói pháp của ba thân Phật, giải thích thành nghĩa đốn tiệm. Song Hóa Phật tuy nói pháp tiệm, do ba thân một thể nên tuy tiệm cũng là đốn. Kinh nói: “Bèn dùng phương tiện khác, để giúp hiển bày nghĩa đệ nhất”.
Trên hiển chánh trí.
Dưới hiển như như.
L₂ - Hiển như như
💥 GIẢI
Đây nói Báo thân Phật nói pháp duyên sanh vô tánh, thành nghĩa đốn tiệm, tiệm đốn ở trên, để hiển như như.
Từ Pháp thân có Báo thân, nên nói Y Pháp thân Phật. Chân như không giữ tự tánh tùy duyên thành tất cả pháp, nên nói vào tự tướng cộng tướng. Vì mình làm nhân sanh tam tế nên nói tự tâm hiện tập khí làm nhân. Cảnh giới làm duyên tăng trưởng lực thọ nên nói nhân tự tánh chấp trước vọng tưởng tiếp nối. Nghĩa là nhất tâm chân như, tùy duyên thành tất cả pháp. Do tất cả pháp duyên sanh vô tánh nên các thứ không thật sanh, như huyễn. Vọng tưởng vốn không, theo duyên mà sanh, sanh cũng không thành nên không thể được. Vì vậy Hoa Nghiêm dùng pháp giới duyên khởi làm tông. Sau đây đứng nơi Báo thân Phật nói pháp duyên sanh. Sau đây dùng dụ để hiển bày.
💥 GIẢI
Đây dùng thí dụ để giải thích thành nghĩa duyên sanh vô tánh.
Hỏi về tự tánh vọng tưởng nên kết đáp do chấp trước tánh duyên khởi.
Tự tánh vọng tưởng do nương tự tánh duyên khởi mà dấy lên, nên nói: Chấp trước tự tánh duyên khởi sanh ra tướng tự tánh vọng tưởng. Nhà huyễn thuật dụ cho tâm, cỏ cây ngói đá dụ cho vô minh làm duyên; bao nhiêu hình tượng dụ cho tất cả pháp; người trông thấy bèn phân biệt các thứ, dụ cho chúng sanh không rõ duy tâm, đấy lên các thứ vọng chấp, thấy đều như huyễn không thật. Thế thì không phải chỉ riêng vọng cảnh vốn không, mà vọng tâm cũng vốn chẳng có. Đây là duyên sanh nên như huyễn.
💥 GIẢI
Đây dùng pháp hợp dụ.
(Đường dịch: “Đây cũng như thế, do sức tập khí chấp trước cảnh giới nên ở trong tánh duyên khởi có tánh vọng chấp, các thứ tưởng hiện gọi là tánh vọng chấp sanh. Đại Huệ! Đó gọi là pháp tướng do Phật sở lưu từ pháp tánh nói ra”.)
💥 GIẢI
Đây nói về Pháp thân Phật thuyết pháp thành lập nghĩa đơn đốn ở trên.
Phàm lìa tâm ý ý thức để hiện cảnh giới tự giác thánh trí, đều là pháp tướng do Pháp thân Phật nói.
Kinh này thuận đốn, nghĩa ấy thể hiện nơi đây. Cho nên phần đầu chương Năm Pháp ở trước, Đại Huệ đã thỉnh “Cúi xin vì nói pháp do Pháp thân Như Lai thuyết giảng”.
💥 GIẢI
Đây nói về Hóa Phật nói pháp tướng, thành nghĩa tiệm tiệm ở trên. Ngoại đạo vọng thấy cõi trời Vô sắc là cứu cánh nên nói kiến chấp vô sắc.
💥 GIẢI
Đoạn trước trình bày ba thân Phật nói pháp tướng, sau lại đưa ra Pháp thân Phật để kết khuyến. Ý rằng cớ tâm phan duyên nên vọng thấy cảnh giới, phân biệt chấp trước tức là vọng tưởng, lìa phan duyên này tức là tự giác thánh trí vậy.
Và lại trong ba tướng ở trước nói tướng Tự giác thánh trí cứu cánh, đây nói tướng cứu cánh sai biệt. Ý hiển bày ba thân Phật một thể, mà pháp nói ra chính là quyền tức thật, tiệm tức đốn, sai biệt tức cứu cánh, thẳng muốn người tu chuyển nương nơi đốn đốn mà tu.
Trên hiển chánh trí như như xong.
Sau đây phá hai thứ tà nhân, đứng về tà nhân nhị thừa để nêu chánh nhân.
K₃. Phá hai thứ tà nhân, có 2
L₁. Đứng về tà nhân nhị thừa để nêu chánh nhân
💥 GIẢI
Đây do đoạn trước, Pháp thân Phật thuyết pháp là Tự giác thánh trí, chẳng phải cảnh giới của phàm phu nhị thừa ngoại đạo, nên theo đó nói về tướng của Thanh văn và ngoại đạo, để nêu ra ý sở dĩ chẳng phải thánh trí.
Hàng nhị thừa theo lời Phật dạy mà tu, do không rõ quyền tức thật nên chỉ nhận được Thánh trí sai biệt, không nhận được tướng sai biệt tức cứu cánh của thánh trí, thành ra kẹt lâu trong hóa thành, chưa đến bảo sở. Ngoại đạo vọng lập thân ngã tự trái với chân thường, nên chấp sâu tà kiến. Muốn người tu lìa cái quyền tà này mới được tướng Tự giác thánh trí cứu cánh kiến lập sai biệt.
Thế nào là Thanh văn được Tướng tự giác thánh trí sai biệt? Nghĩa là cảnh giới vô thường, khổ, không, vô ngã, chân đế lìa dục vắng lặng. Dứt ấm giới nhập tự cộng tướng. Biết như thật ngoại tướng bất hoại, tâm được định lặng. Tâm dừng lặng rồi, thiền định giải thoát tam-muội đạo quả chánh thọ giải thoát. Không lìa tập khí bất tư nghì biến dịch tử. Thanh văn được tự giác thánh lạc trụ, đây gọi là Thanh văn được Tướng tự giác thánh sai biệt.
Đây lựa ra tà nhân của nhị thừa.
Thanh văn có hai bậc, một là hàng lợi căn tu theo tứ đế, quán Không mà ngộ nhập; hai là hàng độn căn, tu theo quyền giáo quán Bát bội xả, phân tích sắc mà giữ thiền không. Đây nói về hàng lợi căn Thanh văn.
Đường dịch: “Thế nào là tướng tự chứng thánh trí thù thắng, nghĩa là thấy rõ các đế lý cảnh giới khổ, không, vô thường, vô ngã. Lìa dục vắng lặng, đối với tự tướng cộng tướng của uẩn xứ giới rõ biết như thật, tướng chẳng hoại bên ngoài. Cho nên tâm trụ một cảnh, trụ ở một cảnh rồi, lại do thiền định giải thoát tam-muội đạo quả mà được xuất ly, trụ nơi cảnh giới tự chứng thánh trí lạc, chưa lìa tập khí bất tư nghì biến dịch tử. Đây gọi là tướng Thanh văn trụ cảnh giới tự chứng thánh trí.” Bởi Thanh văn thấy rõ cảnh giới vô thường vô ngã là đồng quán tánh Không mà được đạo¹; chỉ vì tham cái vui tam-muội không khởi tâm độ sanh, vì thế nói trụ nơi cảnh giới vui tự chứng thánh trí.
Do chưa lìa chủng tử tập khí vô minh cho nên không qua khỏi biến dịch sanh tử. Sanh tử có hai thứ. Thức Luận nói: Một là Phần đoạn sanh tử, nghĩa là các nghiệp hữu lậu thiện và bất thiện do thế lực trợ duyên của phiền não chướng, chiêu cảm quả dị thục thọ trong ba cõi, mạng sống dài ngắn, tùy sức nhân duyên có giới hạn nhất định, cho nên gọi là Phần đoạn. Hai là Bất tư nghì biến dịch sanh tử. Do sức trợ duyên của sở tri chướng, chiêu cảm quả dị thục thù thắng vi tế. Do sức bi nguyện mà biến chuyển thân mạng, không giới hạn nhất định cho nên nói là biến dị. Chính nhờ trợ giúp chiêu cảm của định và nguyện vô lậu, diệu dụng khó lường gọi là bất tư nghì.
💥 GIẢI
Đây là đề phòng ganh hỏi, để hiển bày chỗ quán của Thanh văn Bồ tát tuy đồng, mà chỗ chứng thì khác, để rõ tâm có đại tiểu thành sai khác.
Hỏi: Bồ tát cũng được cảnh giới tự giác thánh trí này, vì sao không giống với Thanh văn?
Bản Đường dịch: Bồ tát tuy cũng được cảnh giới thánh trí này, vì thương xót chúng sanh và sức gìn giữ bổn nguyện, nên không chứng tịch diệt môn và tam-muội lạc. Do quán không mà không thủ chứng. Đây là lý do Bồ tát khác Thanh văn. Cho nên khuyên: Đại Bồ tát, đối với cái vui trong tự chứng thánh trí đó, không nên tu học.
💥 GIẢI
Đây nói về hàng Thanh văn độn căn.
Nghĩa là các Thanh văn này không biết quán không, chỉ nương vào quyền thừa của bậc thánh chỉ dạy tu quán môn Bất bội xả. Quán các pháp tứ đại… thật có tự tướng cộng tướng. Tuy không giống với ngoại đạo chấp trước có tác giả sanh, song cũng chấp các pháp ấy thật có tự tánh, cũng là không lìa vọng tưởng.
Cho nên Đường dịch: “Thế nào là tướng phân biệt chấp trước tự tánh? Nghĩa là biết các pháp cứng, ướt, nóng, động, xanh, vàng, đỏ, trắng, chẳng có tác giả sanh, song nương theo giáo lý thấy có tự tướng cộng tướng, phân biệt chấp trước”. Ngụy dịch: “Phân biệt có vật, chấp vào tướng hư vọng, nghĩa là đối với pháp ấy chấp trước hư vọng cho là thật có”.
Bồ tát Ma-ha-tát, đối với những việc này nên biết nên xả, tùy nhập vào tướng pháp vô ngã, diệt kiến chấp nhân vô ngã, lần lượt dựng lập các địa tiếp nối.
Đây kết luận khuyên lìa lỗi.
Thanh văn đã được nhân vô ngã, chưa được pháp vô ngã. Vì nhân vô ngã tức là pháp chấp, cho nên diệt tướng kiến chấp nhân vô ngã, tức là vào tướng pháp vô ngã.
Đây gọi là các bậc chứng tánh Thanh văn, tướng vọng tưởng tự tánh chấp trước.
Đây là kết danh. Nghĩa là lìa kiến chấp của hai hạng Thanh văn ấy tức gọi là chánh trí, cho nên khuyên phải bỏ.
Trên, ngay tà nhân nhị thừa để chỉ chánh nhân xong.
Kế, dùng chánh nhân thánh trí để phá tà nhân ngoại đạo.
L₂ – Đem chánh trí chánh nhân để phá ngoại đạo tà nhân
💥 GIẢI
Trước nói về lìa kiến chấp nhị thừa, đây nói về lìa kiến chấp ngoại đạo.
Do ngoại đạo chấp thần ngã làm sanh nhân chẳng phải chánh nhân, cho vô thường là thường chẳng phải chánh thường, thấy đều là tà kiến. Lìa đó tức gọi là chánh trí, cho nên phát khởi câu hỏi này. Ý rằng Phật nói tự giác thánh trí và đệ nhất nghĩa là chơn thường bất tư nghị, mà ngoại đạo cũng nói Thường bất tư nghị. Thế Tôn nói đâu không giống với ngoại đạo nói ư?
Sau đây Phật đáp lại, đưa ra nhân tướng bất đồng không thể so sánh với thuyết của ngoại đạo.
💥 GIẢI
Đây giải thích đưa ra lý do chẳng đồng.
Nghĩa là Thường bất tư nghị của họ, là vọng lập thần ngã, không nhân nơi tướng tự giác thánh trí đệ nhất nghĩa mà thành. Cho nên nói Không nhân nơi tự tướng mà thành.
💥 GIẢI
Đây chính là hiển bày họ không phải chơn thường.
Thường bất tư nghị phải nhờ chánh nhân, nếu không phải chánh nhân, làm sao có thể hiện hiện nghĩa Thường bất tư nghị ư?
💥 GIẢI
Đây là tùng đoạn để phòng bị chuyển chấp.
Sợ họ nghe Phật nói chơn thường nhân tự tướng thành, bèn chuyển chấp rằng: “Ta nói Thường bất tư nghị cũng nhân tự tướng thành, sao lại không giống với Phật nói”.
Cho nên nêu rằng: Bất tư nghị của ngoại đạo kia nếu quả nhiên nhân tự tướng thành, thì kia lẽ ra cũng là chơn thường. Bởi do họ chấp tác giả làm nhân, nhưng tác giả chẳng phải chơn nhân. Nhân đã chẳng chơn làm sao được quả thường, nên Thường bất tư nghị chẳng thành.
Sau đây hiển chánh nhân.
💥 GIẢI
Đây nói Phật dạy về nhân và tướng đều chơn, để hiển chơn thường bất tư nghị.
Phật dạy: Ta nói Thường bất tư nghị là căn cứ vào đệ nhất nghĩa để làm nhân tướng mà thành lập, lìa nhị kiến hữu vô, do đạt được tướng tự giác thánh trí nên có thật tướng; được đệ nhất nghĩa trí làm nhân, nên là chơn nhân. Tất cả hí luận có không đều lìa, dương thế vắng lặng. Thí như ba pháp Vô vi¹, hằng lìa các lỗi, cho nên là chơn thường. Đây là lý do không giống với luận tà kiến Thường bất tư nghị của ngoại đạo.
💥 GIẢI
Đây kết luận chỉ chơn thường, khuyên nên tu học.
💥 GIẢI
Đây nói rõ lý do ngoại đạo không đồng với Thường bất tư nghị của Phật nói.
Sở dĩ không đồng là do họ thành lập ngoại pháp hữu vi riêng có tác giả làm sanh nhân, cho nên là dị nhân. Phật dùng tự giác thánh trí làm nhân cho nên là chơn nhân. Đây là lý do không đồng.
Đường dịch: “Thường bất tư nghị của ngoại đạo dùng tướng khác của vô thường làm nhân mà cho là thường, chẳng phải sức của tự tướng làm nhân mà thường”. Nghĩa là họ dùng dị nhân nên chẳng phải chơn thường. Ta dùng tự giác thánh trí làm sức nhân tướng, chẳng phải dùng tự tướng tác giả làm sức nhân tướng cho nên là chơn thường.
💥 GIẢI
Đây đứng trên chỗ thành lập của ngoại đạo để hiển chơn năng phá.
Ngoại đạo nhân khi thấy các pháp có rồi không, vọng chấp riêng có Tác giả là thường còn, mà Như Lai cũng thấy các pháp có rồi không, nói là vô thường.
(Đường dịch: “Ngoại đạo nói Thường bất tư nghị, do đã thấy các pháp được tạo tác có rồi không, thấy vô thường rồi so sánh cho kia là Thường. Ta cũng thấy pháp được tạo tác có rồi không, thấy vô thường rồi không nhân nơi đó mà nói Thường”.)
Nếu kết hợp với 3 chi tỷ lượng, thì Thường bất tư nghị là “hữu pháp”; Tông: “Quyết định Thường”; Nhân: “Vì là tánh sở tác”; Dụ: Như bình… Bình, các pháp sở tác… là pháp vô thường. Nhân, dụ không chuyển tải được nên không thành tông “Thường”. Vô thường là hữu pháp; Tông: “Quyết định chẳng phải Thường”; Nhân: “Vì là tánh sở tác”. Dụ: như bình… Các pháp được tạo thành như bình… là pháp vô thường. Ngay chỗ lập tông của họ đổi thành chỗ bị phá. Bởi họ dùng vọng chấp so sánh để biết, ta dùng hiện lượng tự giác thánh trí, nên chỗ ta nói không phải chỗ luận của họ.
💥 GIẢI
Đây nói về chỗ ngoại đạo chấp tác giả là đem vô nhân làm nhân, rốt cuộc thành đoạn diệt đồng với sừng thỏ. Cho nên chỗ thành lập của họ dùng vô thường làm Thường, chỉ có ngôn thuyết, không có thật nghĩa.
(Đường dịch: “Ngoại đạo dùng nhân tướng như thế lập thành Thường bất tư nghị. Nhân tướng này không có, giống như sừng thỏ, cho nên Thường bất tư nghị chỉ là phân biệt, chỉ có ngôn thuyết”. Cớ sao nhân của họ đồng với sừng thỏ? Vì không có tự nhân tướng, chẳng phải dùng đệ nhất nghĩa tự giác thánh trí làm nhân tướng, cho nên nói tự nhân tướng chẳng có phần.)
💥 GIẢI
Đây nói Như Lai dùng tự giác thánh trí làm nhân, kết thành không đồng với luận thuyết của ngoại đạo.
Bởi vì ngoại đạo đối với tất cả pháp, khởi lên hai kiến chấp có-không, nên đối với vô thường vọng chấp là thường. Do họ không biết tự nhân tướng, nên cách xa tướng cảnh giới tự giác thánh trí. Như Lai thuyết pháp lìa những lỗi này, vì thế không thể nói là đồng với luận thuyết của họ.
Trên nói rõ nhị thừa thiên chấp, ngoại đạo tà kiến đều chẳng phải chánh trí. Ý hiển bày lìa bỏ lỗi này tức chứng tự giác thánh trí.
Hai chương sau dùng về bất diệt bất sanh để rõ chánh trí tức như như.
Trên phá hai thứ tà nhân xong.
Dưới nêu quả để nghiệm nhân.
K₄ – Cử quả nghiệm nhân, có 2
L₁ – Phá kiến chấp về diệt của nhị thừa
💥 GIẢI
Đây nói các pháp vốn tự vắng lặng, không cho phép lại có cái “diệt” khác, để chỉ nhân của chân thường bất tư nghì, để rõ ngay vọng tưởng chứng chánh trí, ngay chánh trí hiện như như, để phá kiến chấp về “diệt” của nhị thừa.
Bởi cảnh giới sanh tử xưa nay chẳng có, chỉ do tâm hiện tạng thức chuyển biến, căn cứ nơi vọng tưởng phân biệt mà có. Nếu rõ vọng tưởng vô tánh tức chuyển thức thành trí. Nếu đem chánh trí chiếu khắp, thời vạn pháp đều như dương thế vắng lặng, há lại có cái diệt nào khác. Nhị thừa ngu mê không thể rõ điều này, vọng chấp “không thọ thân sau” cho là diệt độ, há chẳng rất lầm. Nghĩa là chỉ hết sanh tử gọi là giải thoát, kỳ thật chưa được tất cả giải thoát, cho nên thường ở sanh tử luân chuyển không dứt. Do không đạt duy tâm hiện lượng, vọng khởi các thứ phân biệt.
- Trên nói bất diệt, dưới nói bất sanh.
L₂ – Phá kiến chấp về sanh của ngoại đạo
💥 GIẢI
Đây nói các pháp vốn tự chẳng sanh để chỉ nhân của chân thường bất tư nghì, để hiển như như chánh trí, để phá kiến chấp sanh của ngoại đạo.
Bởi do các pháp vô sanh, đây là chỗ truyền tâm ấn của ba đời chư Phật, chỉ chứng mới tương ưng, do duy tâm hiện duyên sanh vô tánh, lìa hai kiến chấp có – không, như sừng thỏ ngựa, chẳng phải trước sanh mà sau mới không, vì sanh vốn không vậy. Do phàm ngu không thông đạt nên vọng chấp là có. Song lý thứ vô sanh này là chỗ sở hành của tự chứng thánh trí, chẳng phải cảnh giới phân biệt nhị kiến của phàm ngu.
Tự tánh của thân tại thiết lập tướng tự tánh. Đại Huệ, khi tướng tạng thức nhiếp sở nhiếp chuyển, người ngu rơi vào hai kiến chấp sanh trụ diệt, hy vọng tất cả tánh sanh rồi phát sanh vọng tưởng có và không, chẳng phải là thánh hiền. Đại Huệ, đối với pháp này nên tu học.
Đây kết luận hai chương trên, để nói rõ tướng sanh diệt đều vọng kiến.
(Đường dịch: “Thân và những vật chất thế gian giúp thân sống… tất cả đều là ảnh tượng của tạng thức, hai thứ tướng năng thủ và sở thủ hiện hữu. Hạng ngu phu kia rơi vào trong hai vọng kiến sanh trụ diệt, cho nên ở trong đó vọng khởi phân biệt về có không”.)
Đây thời là căn thân khí giới vốn tự vô sanh, chỉ là sự ảnh hiện của thức thứ tám, thức thứ bảy vọng khởi chấp thủ phân biệt, cho là thật ngã thật pháp. Đây là người ngu ở trong vô sanh vọng thấy có sanh, chẳng phải thánh hiền vậy. Ý muốn tức ngay nơi sanh diệt mà chứng chân thường, nên nói đối với pháp này nên tu học. Nếu thấu đạt sanh diệt tức thường thì vọng tưởng liền thành chánh trí, danh tướng vốn tự như như, tức Nhị thừa ngoại đạo kia có thể khởi lên chủng tánh Như Lai. Cho nên văn sau nói rõ năm chủng tánh vô gián.
K₅ – Xét quả biệt nhân
💥 GIẢI
Đây nói 5 tánh bất đồng, để thuyết minh chúng sanh vốn đủ pháp tánh, chúng sanh đồng một, chỉ do duyên bên ngoài mà thành khác, để thành lập tướng tự giác thánh trí cứu cánh sai biệt.
Bởi tâm, Phật, chúng sanh cả ba không sai biệt. Ban sơ không một mảy may chia cách, vốn không có sự khác biệt giữa 3 thừa 5 tánh, bởi do duyên bên ngoài huân tập không đồng, nên có 5 tánh chẳng đồng. Đây thời là căn cơ vốn không khác, khác tại ở thầy, cho nên ở trước khích lệ hành giả tu như thật, cần phải thân cận bậc tri thức tối thượng. Vì thế, văn sau đây nói: “Nên chuyển ác kiến kia, thì Nhị thừa ngoại đạo sẽ được pháp thân của Như Lai, xiển-đề cũng có nhân duyên được độ”. Dẫn quyển vào thật, nghĩa thấy nơi đây.
Nói chủng tánh đó, tướng giống là chủng, thể đồng là tánh. Lại chủng là nghĩa “nhân”, nghĩa “loại”, nghĩa là chúng sanh xưa nay là một Phật tánh. Bởi xưa do nghe giáo pháp huân tập thành chủng, mỗi có tự loại chủng tử, nên nói chủng tánh.
Nghĩa chủng tánh này, Thức Luận thuyết minh có hai loại: Một là “bản hữu” nghĩa là “cựu huân”. Hai là “thủy khởi” nghĩa là “tân huân”. Bản hữu là từ vô thỉ đến nay pháp có sẵn như vậy trong dị thục thức, nhiều kiếp huân tập chủng tử nhiễm tịnh, đây tức gọi là “bản tánh trụ chủng”. Như đức Thích-ca nói kinh Pháp Hoa ở thời của đức Đại Thông Trí Thắng, những người nghe pháp thuở đó cho đến bây giờ trở lại đều nhờ Phật hóa độ, mới được thành thục. Đây là tinh pháp huân tập mà làm “bản tánh trụ chủng”. Như A-nan cùng Ma-đăng-già, nhiều kiếp ân ái, cho đến đời này còn là nhân duyên chướng đạo. Đây là nhiễm pháp huân tập mà thành “bản tánh trụ chủng”. Vì do nhiều kiếp không dứt nên gọi tên “Bản tánh trụ chủng”. Hai là “thủy khởi”, nghĩa là vô thỉ đến nay nhiều phen hiện hành huân tập thành chủng, cho đến đời nay, đối với pháp nhiễm tịnh thấy nghe huân tập, lại làm thành chủng tử nhiễm tịnh đời sau. Đây thời tên là “Tập sở thành chủng”.
Do hai chủng tử này làm nhân, nếu một phen gặp duyên ngoài nhờ lời thầy dạy huân pháp, cho nên thành thục. Sự sai biệt của 5 tánh này, lý do từ đó, cho nên theo thầy chọn bạn, không thể không cẩn thận. Do đó mà thấy rằng năm chủng tánh này, trong đó chủng tánh của tam thừa, là do trước nghe 3 thân Phật nói pháp mà thành thục. Do chấp vào Hóa Phật nói quyền pháp thì thành chủng tánh Thanh văn. Do chấp vào Báo Phật nói pháp duyên sanh thì thành chủng tánh Duyên giác. Do ngộ Pháp thân Phật nói pháp lìa phân duyên thì thành chủng tánh Như Lai. Nếu nghe 3 pháp này mà nửa tin nửa ngờ thì thành chủng tánh bất định. Nếu nghe pháp của 3 thân Phật nói mà chẳng khởi lòng tin, ngược lại sanh ra nhị kiến hủy báng thì thành hạng không chủng tánh. Nên đoạn kinh sau đây nói: “Bồ tát cả thiện căn, nghĩa là hủy báng Bồ tát tạng”.
Song 3 thân Phật 1 thể, pháp đều là pháp chân thật, đều vì chỉ rõ con đường về tự giác thánh trí, mà người nghe chẳng đạt tới, theo chỗ tiếp thu của mình, chấp giữ thành chủng tánh riêng. Đây lại là “pháp vốn chẳng khác, khác tự nơi căn cơ” nên nói chủng tánh. Đây là tướng sai biệt của tự giác thánh trí cứu cánh vậy.
💥 GIẢI
Đây nói chủng tánh Thanh văn thừa vô gián. Câu Nếu khi nghe nói… đủ nêu lý do thấy dạy huân phát, gọi là “tập tánh thành chủng”. Đoạn trừ thời cựu chú: là khi trừ khổ đoạn tập chứng diệt tu đạo. Câu thích tu tưởng trị: tưởng tức là tưởng thiền không, trị tức là trị ngã không, là chỗ ưa tu của Thanh văn. Đến như duyên khởi phát ngộ lý vô sanh thật tướng chẳng phải chỗ ưa thích của hạng Thanh văn kia, nên nói chẳng tu. Nhân xưa có tập khí tiểu thừa cạn hẹp, nay một phen nghe dạy, huân phát hiện hành nên vui mừng toàn thân chân lông dựng đứng.
💥 GIẢI
Đây nói rõ hạng Thanh văn đoạn tập chứng quả chưa rốt ráo, tự sanh ý tưởng đã diệt độ đầy đủ.
Bởi hạng Thanh văn y Tứ đế tu, chỉ đoạn kiến, tu phiền não của ba cõi, còn trần sa, vô minh tế hoặc chưa hết, vẫn chìm trong biển dịch sanh tử, chỉ được nhân không chưa được pháp không, mà lại tự sanh ý tưởng rốt ráo. Bèn ở trong cõi trời, người, ma, ngoại đạo, rống tiếng sư tử xướng nói như thế này: “Ta sanh đã tận, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân sau”, bèn cho đời này được nhập Niết-bàn. Đây là được ít cho là đủ.
Đến địa bất địa, là hạng Bồ tát bất địa ở kinh Hoa Nghiêm, chứng ngã không chân như, thích trụ ở tam-muội, không ra khỏi diệt định. Chư Phật nhân đó mà khuyên rằng: “Thức dậy! Thiện nam tử, đừng thích trụ trong tam-muội, tam-muội của các ông, Nhị thừa cũng được”. Nên đây nói Đến địa bất địa. Hiện hành là khởi phiền não. Chủng tử tập khí là tập phiền não. Do Nhị thừa chỉ đoạn phiền não chướng, chưa dứt sở tri chướng.
💥 GIẢI
Đây là nói rõ chủng tánh ngoại đạo.
Đường dịch: “Lại có chúng sanh cầu chứng Niết-bàn, nói giác tri ngã nhân chúng sanh, người trưởng dưỡng, người chấp giữ. Đây là Niết-bàn”. Đây là ngoại đạo vọng kiến tất cả chúng sanh từ ngã lưu xuất. Ngã hay trưởng dưỡng tất cả chúng sanh, bèn lập thần ngã cho là Niết-bàn. Người nghe nhận đó mà thờ làm thầy bèn thành tà chúng. Hoặc ở trong Phật giáo nghe nói có Niết-bàn, bèn chấp vào kiến giải làm mà khởi tà kiến.
💥 GIẢI
Đây là ngoại đạo chấp Thật, Đức, Nghiệp và Tứ đại, Thời, Phương, Thắng, Tự tại… cho là sanh nhân, nên xưng là tác giả. Vọng chấp những pháp đó là Niết-bàn.
💥 GIẢI
Đây là kết luận ngoại đạo tà kiến không thể giải thoát.
Nói pháp vô ngã kiến không có phần nghĩa là các ngoại đạo đối với chỗ pháp vô ngã Phật nói, không sanh ưa thích. Hoặc sanh phỉ báng, chưa được thọ huân thành chủng, cho nên nói “phi phần”. Hoặc đối với Niết-bàn của Phật nói, tức khởi hy vọng, tưởng có chỗ chứng chỗ đắc. Hoặc nương giáo lý tu hành có chỗ khai ngộ, mà chấp chỗ ngộ cho là ngã, tức rơi vào tà kiến. Như Viên Giác nói “tư tưởng chưa quên”, đều là đối với pháp vô ngã kiến không có phần. Song ngoại những hạng ngoại đạo bị phiền não trói này, còn có hạng ngoại đạo bên trong (đệ tử Phật) bị pháp trói, nên nói họ không giải thoát.
💥 GIẢI
Đây tổng kết hai chủng tánh Thanh văn và ngoại đạo. Bởi vì Thanh văn vọng chấp Niết-bàn, ngoại đạo vọng chấp thần ngã, đều là ở trong chỗ chưa xuất ly khởi tưởng xuất ly. Đây đều nhờ tà sư tà giáo mà huân tập làm. Vì muốn chuyển đổi các ác kiến ấy, nên khuyên phải tu học.
Phần tướng vô sở hữu trong ba tướng thánh trí ở đoạn trước, nói rằng quán tướng tập khí của nhị thừa ngoại đạo nghĩa đó thấy ở đây. Ý rằng khiến họ lìa bỏ ác kiến và chỗ thấy sai lệch liền gọi là chánh trí, có thể nhập vào chủng tánh Như Lai. Thế nên những hạng người này tuy thấy lệch và tà kiến mà tánh thật vô gián.
💥 GIẢI
Đây nói rõ chủng tánh Duyên giác thừa vô gián.
Nhân duyên các biệt tức mười hai nhân duyên, nhân quả ba đời nên nói các biệt, do duyên sanh vô tánh tức là vô sanh, nên nói vô gián. Đây có hai bậc: Ra đời gặp Phật, y giáo mà tu, quán duyên ngộ đạo, gọi là Duyên giác. Ra đời không gặp Phật, quán những sự biến hóa biết là không, gọi là Độc giác. Nay nói về ngoại huân thành chủng, cho nên chỉ nói Duyên giác.
💥 GIẢI
Đây nói rõ chủng tánh Như Lai thừa vô gián. Song 4 bậc đây, Đường dịch: “Có ba bậc là Tự tánh vô tự tánh pháp, Nội thân tự chứng thánh trí pháp, Ngoại chư Phật sát quang đại pháp”. Đây là đứng về ba đức bí tạng¹, để nói rõ Pháp thân Báo thân đồng thể. Tự tánh tức pháp thân, ly tự tánh tức giải thoát, thánh trí tức Bát-nhã. Bởi do pháp thân vô trước tức giải thoát, giải thoát bất mê tức Bát-nhã, Bát-nhã ly tướng tức pháp thân. Ba đức bí tạng đây, gọi chung pháp thân. Ngoại sát thủ thắng tức Báo thân. Pháp Báo thầm hợp một, nên bất tư nghì.
💥 GIẢI
Đây kết thành chủng tánh Như Lai thừa.
Trước vì hàng chúng sanh độn căn, lập tức vì họ khai thị cảnh giới bất tư nghì tối thượng. Một hạng chúng sanh này có nghe nói pháp thân trí huệ Phật và cảnh giới tự thọ dụng bất tư nghì cũng không kinh sợ, nên biết là hạng lợi căn tối thượng, là chủng tánh Như Lai thừa vô gián, đây gọi là hạng thiện căn thành thục.
Kinh Bát Nhã nói: Nếu có chúng sanh nghe nói Bát-nhã ba-la-mật không kinh không sợ, không e ngại. Nên biết người này, không phải ở một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật mà trồng căn lành, đã từng ở nơi vô lượng ngàn vạn Phật mà trồng căn lành.
Chỉ có Bát-nhã vô thượng này nếu chẳng phải nhiều kiếp nghe huân thành chủng, mới không sợ sệt. Đây là lý do người hay tin được pháp này, người này rất ít có vậy.
💥 GIẢI
Đây nói về chủng tánh bất định. Người bất định này, tùy theo lời nói mà tin nhập, thuận theo học tập mà thành, có thể là Đại thừa, có thể là Tiểu thừa, cho nên nói bất định. Đây có hai hạng, một là cựu huân đã văn, đối với trong ba thừa chưa thành thục; hai là tân huân sơ cơ; căn tánh rất lanh, chỉ tùy thầy dạy, trong tam thừa đều có thể vào. Ba chủng tánh tức là pháp của ba thừa, trừ ngoại đạo vô tánh nên không nêu ở đây.
💥 GIẢI
Đây kết thúc ý nghĩa lý do kiến lập ba thừa.
Bởi tất cả chúng sanh, pháp tánh là một, nghĩa là phàm phu thánh hiền bình đẳng không cao thấp, vốn không có tướng sai biệt. Chỉ do văn huân thành chủng mà thành căn tánh bất đồng. Song tuy y giáo tu hành, mà chưa đến địa vị Như Lai, đều thuộc về tướng Thánh trí sai biệt, chẳng phải cứu cánh. Nay sắp sửa chỉ ra pháp môn đốn giáo, muốn khiến ba thừa đồng quy về nhất Phật thừa, nắm tánh đồng trở về một Phật tánh, nên tạo nên kiến lập này, chẳng phải là thật có giới hạn.
Vì vậy sau đây nói: “Thanh văn ưa vắng lặng sẽ được thân tối thắng của Như Lai. Hàng xiển đề vô tánh, có khi thiện căn sanh liền chứng Niết-bàn”, không giống với thuyết định tánh của giáo phái khác.
Bản Ngụy dịch: “Nói 3 thừa ấy, vì phát khởi chỗ tu hành. Các tánh sai biệt chẳng phải cứu cánh, nên vì muốn kiến lập chỗ cứu cánh vắng lặng rốt ráo”.
Cưu-chú cho đoạn này thuộc bất định tánh, e rằng chẳng phải 4 ý.
💥 GIẢI
Đây kết tam thừa đồng quy về một tánh, để nêu lên ý dẫn quyền về thật, để rõ tướng kiến lập sai biệt về Như Lai tự giác thánh trí cứu cánh.
Ngụy dịch: “Ba hạng người này vì lìa huân tập phiền não chướng, được thanh tịnh thấy pháp vô ngã, được tam-muội lạc hạnh; nên Thanh văn, Duyên giác rốt ráo chứng được pháp thân Như Lai.”
Đường dịch: “Hàng Thanh văn trụ tam-muội lạc, nếu hay chứng biết về thức tạng, thấy pháp vô ngã, tập khí phiền não sạch, rốt ráo sẽ được thân Như Lai”.
Trước nói nhị thừa chỉ được tướng sai biệt của tự giác thánh trí, chưa được tướng cứu cánh sai biệt. Nay nói được Như Lai thân, đủ nêu bày sai biệt cũng là cứu cánh. Sở dĩ đều cứu cánh, vì Phật tánh không hai vậy.
💥 GIẢI
Đây nói chung bốn quả đều chẳng phải cứu cánh.
Tu-đà-bát-na cũng gọi là Tu-đà-hoàn, Trung Hoa dịch Nhập lưu, nghĩa là mới nhập dòng Thánh, là Sơ quả. Vãng lai là Nhị quả, Bất hoàn là Tam quả, A-la-hán là Tứ quả. Do những bậc Thánh này đều ghét sanh tử, ưa Niết-bàn, ưa ghét chưa quên nên nói là hoặc loạn.
💥 GIẢI
Đây nói về trí cứu cánh vô sai biệt, để nêu bày tông thú tối cao của kinh này.
Như Lai tuy nói ba thừa, chỉ dùng giả danh để dẫn đạo. Vì người ngu trí huệ kém, nên lập phương tiện 3 thừa, vì nhị thừa thú hướng tịch lặng nên nói chân thật nhất thừa, đều chẳng phải 4 hoại. Pháp môn đốn giáo đệ nhất nghĩa này, 3 hay 1 đều chẳng phải, quyền thật không lập, há lại thật có nói 3 thừa ư? Bởi vì chỗ khác nói Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát là 3 thừa, Như Lai là nhất thừa. Kinh này gồm nói cả Như Lai là 3 thừa, đối 3 thừa nói nhất thừa, 3 hay 1 đều chẳng phải, mới là tông cực của kinh này.
💥 GIẢI
Đây tụng chung về tự tâm hiện lượng, phàm thánh đều lìa, một pháp chẳng lập, để rõ tướng tự giác thánh trí cứu cánh.
Chư thiền tức các thiền giải thoát của nhị thừa, Vô lượng tức Đại thừa từ vô lượng tâm, thấy tức thập lực, vô úy, thập bát bất cộng, cho đến 37 phẩm trợ đạo… Vô sắc tam-ma-đề tức tam giới cửu thứ đệ định. Nêu trên để bao quát luôn ở dưới. Thọ tướng tịch diệt tức nhị thừa diệt tận định, nói chung, là nghĩa hồi của 108 câu ở trước. Nay nói cũng không có tâm lượng, do tự tâm hiện lượng thánh phàm chẳng lập, tất cả đều phi, để hiển nghĩa cứu cánh giác trong sanh diệt.
Chương trước thỉnh Phật nói kinh Thánh trí sự phân biệt tự tánh, căn cứ vào 108 câu mà nói, nghĩa hợp ở đây. Ý rằng rõ được điều này mới gọi là tự giác thánh trí sự.
Xét quả biệt nhân xong.
Sau đây chỉ nhân quả nhất như.
K₆ – Chỉ nhân quả nhất như
💥 GIẢI
Xưa cho rằng chương này đứng về mặt sanh tử Niết-bàn không hai để giảng rõ như như. Song trí như nhất thể, vốn không hai thứ, nghĩa là không có trí ngoài như để chứng như, cũng không có như ngoài trí để làm chỗ cho trí nhập. Nếu chánh trí hiện tiền, thì các pháp tự như. Nếu rõ sanh tử vốn vắng lặng, tức là chánh trí; trí như hợp một, mới gọi là tự giác thánh trí cứu cánh sự.
Nay đứng về mặt xiển đề để thuyết minh đó, do trước đã bài xích nhị thừa ngoại đạo thiên tà, cách xa tướng tự giác thánh trí và tha thiết khuyên người tu nên xa lìa, không nên gần gũi tập tánh. Nếu Nhị thừa ngoại đạo tuyệt phần thì chân như có lỗi không khắp.
Nếu xiển đề thật là vô tánh thì Phật tánh có lỗi không bao trùm, thế là tự rơi vào lỗi bất bình đẳng, mà tự giác thánh trí cũng không rốt ráo.
Đứng về mặt dạy đạo mà nói, vì tồi tà hiển chánh, không thể không nghiêm trách thiên tà, để sáng tỏ chánh trí. Nếu căn cứ trên pháp tánh mà nói, thời bình đẳng không hai không khác vốn tự như như, hạng vô tình cũng còn chung một thể, hà chúng hữu tình mà lại tuyệt phần. Cho nên trước nói nhị thừa nếu ngộ bốn thức cũng được Như Lai pháp thân. Nay nói xiển đề hoặc phát thiện căn, cũng được Niết-bàn. Đây chính là “không một chúng sanh nào mà không vào Niết-bàn”, mới gọi là tướng tự giác thánh trí rốt ráo. Như như chánh trí, đầy đủ hết trong đây. Song hạng xiển đề vô tánh nếu chẳng có Bồ-tát xiển đề thì không do đâu phát thiện căn. Bồ-tát xiển đề nếu chẳng có hạng vô tánh xiển đề thì không do đâu giúp thêm nguyện lực. Đây thời là xiển đề không dứt tánh thiện, Như Lai không dứt tánh ác, nên nói Chẳng phải nhất xiển đề, thế gian giải thoát ai chuyển. (Ngụy dịch: “Vô tánh thừa là nhất xiển đề”, đây tức là trước nói vô chủng tánh trong năm tánh nói đó, để hiển Phật tánh bình đẳng, để rõ chúng sanh như vậy.)
💥 GIẢI
Đây nói về vô chủng tánh.
Nhất xiển đề dịch là đứt gốc lành, lại nói là đốt cháy tất cả căn lành. Bởi chân như tùy duyên thành việc, nêu thể toàn biến, không có pháp dư. Nay toàn thể chân như biến làm toàn thể tánh ác, tánh ác tức như, lại không có Niết-bàn để vào nên nói là không vào Niết-bàn.
💥 GIẢI
Đây nói về Bồ tát xiển đề.
Bồ tát nguyện độ tận chúng sanh giới. Nghĩa là chúng sanh giới tận thì nguyện tôi mới tận, nếu còn một chúng sanh chưa tận, nguyện tôi bất tận. Nên nói Không phải chẳng nhập Niết-bàn, vì tất cả chúng sanh mà vào Niết-bàn. Song sở dĩ nguyện độ hết chúng sanh giới, vì chúng sanh vốn là như, sớm đã nhập Niết-bàn, không cho lại nhập (Niết-bàn) nữa, nên không có Niết-bàn để vào. Vì thế nói Kia nhập Niết-bàn, gọi là chẳng nhập Niết-bàn pháp tướng.
Đây nêu lên xiển đề danh đồng, cho nên nói thứ hạng nhất xiển đề. Bản Đường dịch dùng danh cú này làm lời kết.
💥 GIẢI
Ý của Bồ tát Đại Huệ là hạng vô tánh đoạn thiện căn, không vào Niết-bàn thì có thể được, còn Bồ tát độ sanh vốn vì cầu chứng Niết-bàn, vì sao rốt cuộc cũng không nhập Niết-bàn. Cho nên đến đây nghi rằng: Trong hai hạng xiển đề này, thế nào là rốt ráo không vào Niết-bàn. Sau đây Phật đáp, xiển đề còn có lúc nhập, Bồ tát rốt ráo không nhập vì biết tất cả pháp vốn đã Niết-bàn rồi.
💥 GIẢI
Đây chính là hiển bày Phật tánh bình đẳng như như. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, do xiển đề không đoạn dứt tánh lành, Như Lai dùng lòng đại bi bình đẳng mà nhiếp trì đó, cho nên có khi phát sanh căn lành. Vì ngày xưa dùng nhân duyên báng pháp làm chứng tử, nay duyên chín muồi, cho nên Như Lai dùng sức thần gia trì. Hoặc có khi thiện căn phát khởi như đồ tể Quảng Ngạch buông dao giết thịt liền làm Phật sự. Đề-bà-đạt-đa luôn luôn mắng Phật, nay được thọ ký. Như Hoa Nghiêm nói: “Do xưa hủy báng kinh Hoa Nghiêm nên đọa địa ngục, mà làm vua cõi ngục. Phật Tỳ-lô ra đời trước dùng ánh sáng của bánh xe nơi bàn chân chiếu rọi, ba phen chóng viên mãn Thập địa”. Đây là sự hiệu nghiệm của hạng xiển đề báng Phật, được nương vào thần lực của Phật. Nói là thiện căn ấy, chính do chủng tử văn huân hồi xưa.
Bồ tát xiển đề không nhập Niết-bàn, vì pháp giới như, chúng sanh như nên chúng sanh giới không thể tận, phiền não chẳng thể tận, mà hạnh nguyện chẳng thể tận. Đây là Đại sĩ Phổ Hiền sở dĩ thường ở nơi huyễn hóa mà chẳng vào Niết-bàn.
Phần trên từ chương thỉnh vấn về phân biệt tự tánh sự đưa ra, dừng ở chỗ nói rõ 5 pháp xong.
⏯️
GHI CHÚ
Chú thích:
¹ Đường dịch: Vi trần phân tích sự.
² Đường dịch: Chẳng phải hành xứ ngoại đạo.
¹ Đường dịch: Thí như gương sáng, chóng hiện các hình tượng mà chẳng phân biệt
¹ Đường dịch: Thí như thức A-lê-da, hiện rõ cảnh giới tự thân, tài sản… một lúc rõ biết không có trước sau. Đại Huệ, Báo thân Phật cũng lại như thế, một lúc thành thục cảnh giới chúng sanh đạt ở cung trời tịnh diệu Sắc Cứu Cánh, chỗ tu hành thanh tịnh.
² Đường dịch: Thí như pháp thân Phật chóng hiện báo thân Phật.
¹ Đồng quán tánh Không mà được đạo: Bồ tát và Thanh văn đều do quán tánh Không mà được đạo.
¹ Ba pháp vô vi: Hư không, Niết-bàn, Diệt tận.
¹ Ba đức bí tạng: Niết-bàn có ba đức là Pháp thân, Bát-nhã, Giải thoát.
¹ Xiển đề danh đồng: Xiển đề trên danh tự, nghĩa là Bồ tát tuy mang tên xiển đề nhưng chỉ vì để độ hạng xiển đề, không phải thật sự là hạng này.
¹ Sự tướng: Là tên gọi tướng trạng sự việc. Như nói tôi cất nhà là sự tướng. Từ sự tướng này phát khởi lên vọng tưởng, nên sự tướng làm duyên khởi.