GIỚI THIỆU
Sư họ Ngô, tên Nguyên Khanh, người Hàng Châu. Sư tướng mạo trang nghiêm, lúc nhỏ thông minh mẫn tiệp.
Thời Đường Đức Tông, Sư làm Sứ ở Lục Cung 1, vương tộc đều khen ngợi.
Một hôm dạo Chiêu Vương cung thấy hoa nở, dạo ngắm lâu, chợt nghe trên không trung có tiếng nói: “Tướng hư huyễn nở tàn chẳng dừng, hay làm tổn hoại căn lành. Nhân giả sao có thể vui thích”.
Sư nghe chợt tỉnh, không còn ưa thích nữa.
Một hôm vua đến cung, hỏi: Khanh sao chẳng vui?
Sư nói: Thần chí nguyện nương Phật.
Vua không chấp nhận. Sau đó dung mạo Sư tiều tụy, vua bèn hạ chiếu cho Vương Tân xem tướng Sư.
Vương Tân tâu: Người này, sẽ làm hưng thịnh Tam bảo.
Vua nghe mới chấp thuận.
Sau đó Sư nghe tin thân mẫu bệnh, xin được về phụng dưỡng. Sư gặp pháp sư Hoằng Thao, khuyên nên yết kiến Điểu Khòa.
Sư thưa với Điểu Khòa: Đệ tử ăn chay lúc 7 tuổi, 11 tuổi thọ ngũ giới. Nay đã 22 tuổi, vì muốn xuất gia nên hưu quan. Xin Hòa thượng nhận cho làm tăng.
Điểu Khòa bảo: Tăng thời nay ít chịu khổ nhọc tinh cần, thường làm những việc quá đáng.
Sư thưa: Bổn tịnh chẳng cần mài giũa, nguyên minh chẳng nhờ chiếu.
Điểu Khòa bảo: Ông nếu rõ tịnh trí diệu viên, thể tự không tịch, tức chơn xuất gia, cần gì tướng bên ngoài. Ông nên làm Bồ tát tại gia, giới thí đầy đủ, như Tạ Linh Vận 2.
Sư thưa: Lý tuy như vậy, nơi sự có ích gì, nguyện Thầy rủ lòng tiếp nạp, thệ theo sự chỉ dạy của Thầy.
Như thế 3 lần đều không được chấp nhận. Pháp sư Thao Quang bèn kiên trì thưa với Điểu Khòa rằng: Cung sứ chưa từng có vợ, cũng không có thị nữ. Thiền sư nếu không cứu độ, thì ai độ đây.
Điều Khòa mới cạo tóc cho thọ giới Cụ túc. Sư thường chỉ dùng tiểu thực buổi sáng, ngày đêm tinh cần, tụng kinh Đại thừa, tập An-ban Tam-muội.
Về sau từ giã Thầy đi du phương, Điểu Khòa dùng sợi vải bố chỉ dạy, Sư ngộ được ý chỉ. Lúc đó mọi người gọi Sư là “THỊ GIẢ SỢI VẢI”.[3]
Khi Điểu Khòa quy tịch 20 năm, Vũ Tông phế bỏ chùa. Sư cùng tăng chúng lễ Linh tháp mà đi. Về sau không biết Sư thế nào.
NGUỒN
GHI CHÚ
Footnotes
-
Trong Cung điện chia làm Đông lục cung và Tây lục cung. ↩
-
Tạ Linh Vận 謝靈運 (385-433) người Dương Hạ, Trần Quận (nay thuộc Thái Khang, Hà Nam), sống ở Cối Kê (nay thuộc Thiệu Hưng, Chiết Giang), là dòng dõi của đại gia tộc tể tướng Tạ Huyền 謝玄 đời Đông Tấn. Ông đọc khắp các sách, văn chương trác việt, sánh ngang với Nhan Diên Chi nhưng thực tế còn hơn cả họ Nhan. Khi Tạ Huyền mất, Tạ Linh Vận mới chỉ 18 tuổi, làm Khang Lạc công, do đó gọi là Tạ Khang Lạc. Thơ ông cứ vừa viết xong thì khắp Kinh thành đã tranh nhau truyền chép. Ông còn nổi tiếng về thư pháp. Thơ và chữ của ông được Tống Văn Đế coi là “nhị bảo”, và cho vời ông về làm quan ở Kinh sư, ngày đêm hầu cận, đàm đạo. Tạ Linh Vận là thi gia tả cảnh sông núi trứ danh đời Tấn, Lưu Tống (Lục triều). ↩