Vĩnh Minh Diên Thọ [Thiền sư]


GIỚI THIỆU

Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ (904 - 976) cũng được gọi là Huệ Nhật Trí Giác (zh. 慧日智覺), Vĩnh Minh Đại sư, là Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Pháp Nhãn, nối pháp Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều.

Tông Pháp Nhãn rất phồn thịnh dưới sự hoằng hoá của ông. Học chúng đến rất đông - có lúc đến 2000 người để tham Thiền.

Ông có soạn bộ Tông Kính Lục (zh. 宗鏡錄) gồm một trăm quyển, được lưu truyền khá rộng trong giới Thiền.

Ông là tổ sư đời thứ 3 của tông Pháp Nhãn và cũng được tôn xưng là tổ sư đời thứ 6 của Tịnh độ tông Trung Quốc.

⚙️⚙️⚙️

Ông họ Vương, tự là Xung Huyền (zh. 冲玄), Bảo Nhất Tử (zh. 抱一子), quê ở Dư Hàng, phủ Lâm An (nay thuộc Hàng Châu tỉnh Chiết Giang).

Ông mộ đạo từ nhỏ, không ăn thịt cá, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Ông trì kinh Pháp Hoa chỉ sáu tuần (60 ngày) là đã đọc thuộc lòng.

Trong khi tụng, ông cảm được bầy dê quỳ xuống nghe kinh.

Năm 28 tuổi, ông được làm quan trấn ở Hoa Đình nước Ngô Việt và có dịp tiếp xúc với Thiền sư Thuý Nham Lệnh Tham (đệ tử của Tuyết Phong Nghĩa Tồn).

Ông lễ Thuý Nham làm thầy, vì hết lòng phục vụ mọi người mà quên cả chức tước của mình.

Mặc chẳng lụa là, ăn chẳng gia vị ngon ngọt, chỉ mặc vải thô, ăn rau rác qua ngày mà thôi.

Cơ duyên xuất gia của ông cũng rất thú vị và thường được nhắc đến.

Vì thương dân nên ông trộm lấy tiền của vua mà phân phát cho người nghèo. Một vị quan khác biết được bèn tâu lại với vua.

Nghe chuyện này vua rất ngạc nhiên vì ông cứ cho rằng ông là người thuần lương, thành thật.

Để răn chúng dân, vua ra lệnh xử trảm nhưng lại căn dặn vị quan là nếu ông nhận lệnh mà an vui trầm tĩnh thì tha tội và đến trình vua.

Quả thật như nhà vua tiên đoán, ông không tỏ vẻ sợ hãi khi nghe tin này.

Được vua hỏi vì sao, ông trả lời: “Thần muốn từ quan, cống hiến cuộc đời cho tất cả chúng sinh, muốn xuất gia tu học Phật pháp với trọn tấm lòng.”

Nghe như vậy, vua cho phép ông từ quan để xuất gia.

Sau khi xuất gia, ông đến ngọn Thiên Trụ trên núi Thiên Thai và tu tập tọa Thiền trong chín tuần (90 ngày), có chim xích án làm tổ trong áo của ông.

Kế đến, ông đến tham vấn Quốc sư Thiên Thai Đức Thiều và được ấn khả, Đức Thiều căn dặn: “Ông với nguyên soái [note 2]có duyên, ngày sau sẽ đại hưng Phật sự!”.

⚙️⚙️⚙️

Vào năm thứ 2 (952) niên hiệu Quảng Thuận (zh. 廣順), ông đến trụ trì tại Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự (zh. 資聖寺). Về sau, thể theo lời thỉnh cầu đặc biệt của Trung Ý Vương (zh. 忠懿王), ông nhậm chức trụ trì Linh Ẩn Tự, rồi chuyển sang Vĩnh Minh Tự (zh. 永明寺) và hoằng pháp tại đây trong vòng 15 năm. Ông độ được khoảng 1.700 đệ tử. Tăng chúng tham học trong pháp hội lên đến 2.000 người.

Ông kiêm tu cả Thiền lẫn Tịnh Độ, ban đêm thường hành trì pháp môn Niệm Phật. Nhà vua bèn cho xây dựng Tây Phương Quảng Giáo Điện (zh. 西方廣敎殿) và cử ông đến đây trú trì. Chính vì lẽ đó, Thạch Chi Tông Hiểu (zh. 石芝宗曉) kính ngưỡng ông và coi ông như là vị tổ đời thứ 7 của Liên Tông. Ngoài ra, người đương thời cũng tôn sùng ông là Đấng Từ Thị (zh. 慈氏, Di Lặc) hạ sinh.

Có vị tăng hỏi ông: “Thế nào là diệu chỉ của Vĩnh Minh?”

Ông đáp: “Lại thêm hương đi”

Tăng thưa: “Tạ thầy chỉ dạy”

Ông đáp: “Hãy mừng chớ giao thiệp”

Rồi ông làm bài kệ:

Biết diệu chỉ Vĩnh Minh

Trước cửa nước một hồ

Trời soi ánh sáng dậy

Gió sang sóng mòi sinh

Tăng khác hỏi: “Trường Sa Cảnh Sầm có bài kệ:

Học đạo chi nhân bất thức chân

Chỉ vị tùng tiền nhận thức thần

Vô thủy thời lai sanh tử bản

Si nhân hoán tác bổn lai nhân

Đâu chẳng phải lìa thức tính riêng có chân tâm ư?” Ông đáp: “Như Lai Thế Tôn trên hội Thủ-lăng-nghiêm vì ngài A-nan-đà giản biệt rất rõ mà ngươi vẫn cố chẳng tin.

Ngài A-nan lấy cái suy xét theo đuổi làm tâm, bị Phật quở đó. Cái suy xét theo đuổi ấy là Thức vậy.

Nếu lấy cái biết pháp, theo tướng là Phiền não thì gọi thức, chẳng gọi tâm.

Ý là nhớ, nhớ tưởng cảnh trước khởi vọng đều là vọng thức, chẳng can gì về việc của tâm. Tâm chẳng phải có không, có không chẳng nhiễm.

Tâm chẳng phải cấu tịnh, cấu tịnh chẳng nhơ. Cho đến mê ngộ phàm thánh đi đứng ngồi nằm đều là vọng thức, chẳng phải tâm vậy.

Tâm xưa nay chẳng sinh, nay cũng chẳng diệt. Nếu biết tâm mình như thế, đối chư Phật cũng vậy.

Cho nên Duy-ma-cật nói: ‘Trực tâm là đạo trường!’ vì không có hư giả vậy.”

Có tăng hỏi: “Học nhân ở tại Vĩnh Minh đã lâu, vì sao chẳng hội gia phong Vĩnh Minh?”.

Ông đáp: “Chỗ chẳng hội nên hội lấy.” Tăng nói: “Chỗ chẳng hội làm sao mà hội?”

Ông đáp: “Thai trâu sanh voi con, biển biết dấy bụi hồng.”

Vua Cao Ly Triều Tiên là Quang Tông (zh. 光宗) xem ngôn giáo của ông cảm thấy rất kính trọng, bèn sai sứ giả sang Trung Quốc thăm hỏi ông, tự mình giữ lệ đệ tử và cho người dùng kim tuyến dệt thành áo ca-sa kết kèm theo rất nhiều châu ngọc để cúng dường cho ông.

Sau vua lại phái 36 vị tăng đến tham học nơi ông và tất cả đều được tông chỉ.

Khi đã đắc pháp, họ quay về Triều Tiên, mỗi người giáo hóa một nơi khiến cho tông Pháp Nhãn được mở mang sang Cao Ly và không bị thất truyền.

Sau khi tiến hành độ tăng, truyền thọ giới pháp và phóng sinh, đến giờ Thìn buổi sáng ngày 26 tháng 12 năm thứ 8 (975) niên hiệu Khai Bảo (zh. 開寶), ông đốt hương lễ Phật, dặn dò đồ chúng rồi ngồi kiết già thị tịch.

Ông thọ 72 tuổi, hạ lạp 42 năm.

Đến ngày mùng 6 tháng giêng năm sau, đệ tử trang nghiêm thỉnh nhục thân ông nhập tháp ở núi Đại Từ.


THIỀN SƯ DIÊN THỌ Ở chùa Vĩnh Minh (904-975)

Thiền Sư Diên Thọ, tự là Xung Huyền, người đời Tống, con nhà họ Vương ở Tiền Đường. Lúc thiếu thời, Ngài thích tụng kinh Pháp Hoa, cảm đến bầy dê quỳ mọp nghe kinh.

Lớn lên, Xung Huyền được Văn Mục Vương tuyển dụng, cho làm quan trông nom về thuế vụ. Nhiều lần Ngài lấy tiền công quỹ đến Tây Hồ mua cá trạnh phóng sanh. Việc phát giác ra, bị pháp ty thẩm định, xử Ngài vào tội tử hình. Lúc sắp đem đi chém, Văn Mục Vương cho người rình xem, nếu thấy Ngài nhan sắc thản nhiên, không tỏ vẻ buồn rầu lo sợ thì phải đem về trình lại. Thấy Ngài trước sau vẫn an nhiên điềm tĩnh, sứ giả trao sắc chỉ cho quan giám trảm, rồi dẫn về diện kiến vua.

Khi nhà vua hỏi duyên cớ Ngài đáp:

Tôi dụng của công, thật đáng tội chết. Nhưng toàn số tiền đó tôi dùng để mua cứu được muôn ức sanh mạng, thì dù thân này có chết cũng được vãng sanh về cõi Liên Bang, thế nên tôi không lo sợ”.

Văn Mục Vương nghe qua cảm động, rơi lệ tha bổng. Ngài xin xuất gia, nhà vua bằng lòng.

Năm ba mươi tuổi, Ngài nương theo Thiền sư Thúy Nham ở chùa Long Sách xuất gia. Sau đó tham học với Quốc sư Đức Thiều ở núi Thiên Thai, ban đầu tu tập thiền định, tỏ ngộ tâm yếu, được Quốc sư ấn khả. Ngài từng tu Pháp Hoa Sám ở chùa Quốc Thanh, trong lúc thiền quán thấy Bồ Tát Quán Thế Âm rưới nước cam lồ vào miệng, từ đó được biện tài vô ngại.

Sau đó, Ngài ở núi Tuyết Đậu tại Minh Châu, pháp hội rất hưng thịnh, đồng thời phục hưng chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu. Ngoài giờ giáo hóa, Đại sư thường ở bên dòng thác ngồi tụng kinh, tọa thiền, trầm mặc. Đại sư mặc y phục thì thô sơ, dùng thức ăn rất đạm bạc.

Năm Kiến Long thứ 2 (961) đời Tống, Trung Ý Vương thỉnh Ngài trụ trì chùa Vĩnh Minh, giáo hóa đại chúng, cho nên người đời gọi là Đại sư Vĩnh Minh. Sư đề xướng tinh thần viên dung tất cả pháp, lấy tâm làm tông, bốn chúng khâm phục. Ở chùa Vĩnh Minh mười lăm năm, độ được 1,700 vị Tăng. Đại sư lập công khóa mỗi ngày đêm hành trì 108 điều. Hai điều đặc biệt trong đó là: tụng một bộ kinh Pháp Hoa, niệm mười muôn câu Phật hiệu.

Trọn đời Ngài tụng được một muôn ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa. Đại sư thường truyền giới Bồ Tát, mua chim cá phóng sanh, thí thực cho quỷ thần, tất cả công đức đều hồi hướng Tịnh độ.

Ngài có trước tác bộ Tông Cảnh Lục 100 quyển, dung hội chỉ thú dị đồng của ba tông:

  • Hoa Nghiêm.
  • Pháp Hoa.
  • Duy Thức.

Đối với sự phân chia tông chỉ giữa các tông phái đương thời, Ngài giữ thái độ điều hòa.

Vua nước Cao Ly thấy được bộ sách này, bèn sai sứ thần sang bày tỏ lễ nghĩa của người đệ tử, đồng thời phái ba mươi sáu vị Tăng trong nước đến Trung Hoa học pháp với Ngài. Do đó, Thiền của tông Pháp Nhãn lại được thịnh hành ở Hải Đông.

Đại sư còn soạn thuật tập Vạn Thiện Đồng Quy. Giáo nghĩa trong đây viên dung vô ngại, đồng quy về nhất tâm, bảo rằng:

“Tám vạn pháp môn đều đưa đến giải thoát, một niệm lành nhỏ cũng dẫn tới Chân như”, lời lẽ chỉ dạy về Tịnh độ rất thiết yếu.

Ngoài ra Đại sư còn trước tác Thần Thê An Dưỡng Phú 1 quyển, Duy Tâm Quyết 1 quyển, Định Huệ Tương Tư Ca 1 quyển v.v…tất cả hơn 60 bộ.

Niên hiệu Khai bảo năm thứ 8 (975), ngày 26 tháng 2, vào buổi sáng sớm Đại sư lên chánh điện đốt hương lễ Phật. Lễ xong, Ngài họp đại chúng lại dặn dò khuyên bảo, rồi ngồi kiết già trên pháp tòa mà thị tịch, thọ 72 tuổi. Trung Ý Vương ban tôn hiệu là “Thiền Sư Trí Giác”.

Đại sư là Tổ thứ ba của tông Pháp Nhãn, đồng thời cũng được tôn xưng là Tổ thứ sáu của tông Tịnh độ.

(Theo Mấy Điệu Sen Thanh, Tống Cao Tăng Truyện, Phật Quang Đại Từ Điển)

NGỮ LỤC


NGUỒN

🔗


GHI CHÚ


Thiền sư liên quan