GIỚI THIỆU
Thiền sư Tư Không Bổn Tịnh họ Trương, quê ở Giáng Châu, xuất gia từ thuở bé. Sau Sư đến tham học với Lục tổ Huệ Năng được Tổ truyền tâm. Sư từ giã Tổ, tìm đến núi Tư Không ở chùa Vô Tướng, chuyên ở nơi đây tu hành.
Đời Đường niên hiệu Thiên Bảo thứ ba (744) vua Huyền Tông sai Trung sứ Dương Quang Đình vào núi cắt dây thường xuân. Dương Quang Đình tình cờ gặp được thất của Sư. Đình lễ bái thưa: Đệ tử mộ đạo đã lâu, cúi xin Hòa thượng từ bi tóm tắt chỉ dạy.
NGỮ LỤC
Sư bảo: Người nghiên học Thiền tông trong thiên hạ đều hội về kinh sư, thiên sứ nên trở về triều thưa hỏi là đầy đủ. Bần đạo ở gộp núi cạnh khe không có chỗ dụng tâm.
Quang Đình thiết tha khóc lóc lễ lạy.
Sư bảo: Thôi! Chớ lễ bần đạo. Thiên sứ vì cầu Phật hay vì hỏi đạo?
Đình thưa: Đệ tử trí thức tối tăm chưa biết Phật với Đạo nghĩa ấy thế nào?
Sư bảo: Nếu muốn cầu Phật, tức tâm là Phật. Nếu muốn hội đạo, vô tâm là đạo.
Thưa: Thế nào tức tâm là Phật?
Sư bảo: Phật nhân tâm mà ngộ, tâm do Phật được bày. Nếu ngộ vô tâm thì Phật cũng chẳng có.
Thưa: Thế nào vô tâm là đạo?
Sư bảo: Đạo vốn vô tâm, vô tâm gọi là đạo. Nếu rõ vô tâm thì vô tâm tức là đạo vậy.
Quang Đình đảnh lễ tin nhận.
Trở về triều, Quang Đình tâu hết việc trong núi cho vua nghe. Vua ban sắc lệnh sai Quang Đình đi thỉnh Sư. Ngày 13 tháng chạp, Sư theo sứ về đến đế đô, vua thỉnh ở chùa Bạch Liên. Đến ngày rằm tháng hai năm sau, vua mời hết những danh tăng và các người học Phật uyên bác, đến nội đạo tràng cùng Sư xiển dương Phật lý.
Khi ấy, có thiền sư Viễn lớn tiếng hỏi Sư: Nay đối thánh thượng để xét lường tôn chỉ, cần phải hỏi thẳng, đáp thẳng, không cần dùng nhiều lời. Như chỗ thấy của Thiền sư lấy gì làm đạo?
Sư đáp: Vô tâm là đạo.
Viễn hỏi: Đạo do tâm mà có, đâu được nói vô tâm là đạo?
Sư đáp: Đạo vốn không tên, nhân tâm nên gọi là đạo. Tâm và tên nếu có thì đạo không rỗng suốt. Tột tâm đã không thì đạo nương đâu mà lập? Cả hai đều hư vọng, trọn là giả danh.
Viễn hỏi: Thiền sư thấy thân tâm là đạo rồi chăng?
Sư đáp: Sơn tăng thân tâm xưa nay là đạo.
Viễn hỏi: Vừa nói vô tâm là đạo, giờ lại nói thân tâm xưa nay là đạo, đâu không trái nhau?
Sư đáp: Vô tâm là đạo, tâm mất đạo không, tâm đạo nhất như nên nói vô tâm là đạo. Thân tâm xưa nay là đạo, đạo cũng vốn là thân tâm, thân tâm vốn đã là không, đạo cũng tột nguồn chẳng có.
Viễn hỏi: Xem hình thể thiền sư rất nhỏ, đâu thể hội được lý này?
Sư đáp: Đại đức chỉ thấy tướng sơn tăng, chẳng thấy được không tướng của sơn tăng. Thấy tướng là chỗ thấy của đại đức, kinh nói “phàm có tướng đều là hư vọng, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức ngộ được đạo kia”. Nếu lấy tướng cho là thật thì cùng kiếp không thể ngộ đạo.
Viễn bảo: Nay thỉnh Thiền sư ở trên tướng nói không tướng.
Sư đáp: Kinh Tịnh Danh nói “Bốn đại không chủ, thân cũng không ngã, chỗ thấy không ngã, cùng đạo tương ưng.” Đại đức nếu cho tứ đại có chủ là ngã, nếu thấy có ngã thì cùng kiếp không thể hội đạo.
Viễn nghe nói thất sắc lặng lẽ rút lui.
Sư có bài kệ:
Tứ đại vô chủ phục như thủy
Ngộ khúc phùng trực vô bỉ thử
Tịnh uế lưỡng xứ bất sanh tâm
Ủng quyết hà tằng hữu nhị ý
Xúc cảnh đản tợ thủy vô tâm
Tại thế tung hoành hữu hà sự?
Bốn đại không chủ cũng như nước
Dù gặp cong ngay chẳng kia đây
Hai nơi nhơ sạch tâm không sanh
Thông bít chưa từng có hai ý
Xúc cảnh chỉ như nước không tâm
Ở thế tung hoành nào có việc?
Một đại như thế, bốn đại cũng vậy. Nếu rõ bốn đại không chủ tức ngộ vô tâm. Nếu rõ vô tâm tự nhiên hợp đạo.
Vấn đáp với thiền Sư Chí Minh và thiền sư Chơn
Thiền sư Chí Minh hỏi: Nếu nói vô tâm là đạo, ngói gạch vô tâm cũng ưng là đạo? Thân tâm xưa nay là đạo, tứ sanh thập loại đều có thân tâm cũng ưng là đạo?
Sư đáp: Đại đức nếu hiểu bằng vào thấy nghe hiểu biết thì cùng đạo khác xa, tức là người cầu thấy nghe hiểu biết, không phải là người cầu đạo. Kinh nói: “Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý…”. Sáu căn còn không, thấy nghe hiểu biết nương đâu mà lập. Cùng tột gốc nguồn chẳng có thì chỗ nào còn tâm? Đâu không đồng với cỏ cây ngói gạch.
Chí Minh lặng thinh thối lui.
Sư có bài kệ:
Kiến văn giác tri vô chướng ngại
Thanh hương vị xúc thường tam muội
Như điểu không trung chỉ ma phi
Vô thủ vô xả vô tắng ái
Nhược hội ứng xử bổn vô tâm
Thủy đắc danh vi Quán Tự Tại.
Thấy nghe hiểu biết không chướng ngại
Tiếng mùi vị chạm thường tam-muội
Như chim trong không mặc tình bay
Không thủ không xả không thương ghét
Nếu biết ứng xử vốn vô tâm
Mới được tên là Quán Tự Tại.
Thiền sư Chơn hỏi: Đạo đã vô tâm, Phật có tâm chăng? Phật cùng với đạo là một, là khác?
Sư đáp: Chẳng một chẳng khác.
Chơn hỏi: Phật độ chúng sanh vì có tâm, đạo không độ chúng sanh vì vô tâm. Một độ một không độ đâu được không khác?
Sư đáp: Nếu nói Phật độ chúng sanh, đạo không độ, đây là đại đức vọng sanh thấy hai. Theo sơn tăng tức không phải vậy. Phật là tên suông, đạo cũng dối lập, cả hai đều không thật, toàn là giả danh. Trong một cái giả sao lại phân làm hai?
Chơn hỏi: Phật với đạo đều là giả danh, chính khi lập danh nhân cái gì mà lập? Nếu có lập được, đâu thể nói là không?
Sư đáp: Phật với đạo nhân tâm mà lập, xét cùng cái tâm dựng lập, tâm ấy cũng không, tâm đã là không liền ngộ cả hai đều chẳng thật, biết như mộng huyễn liền ngộ vốn không. Gắng lập hai tên Phật Đạo, đây là cái thấy biết của người Nhị thừa.
Sư bèn nói bài kệ Vô Tu Vô Tác:
Kiến đạo phương tu đạo
Bất kiến phục hà tu
Đạo tánh như hư không
Hư không hà sở tu?
Biến quán tu đạo giả
Bát hỏa mích phù âu
Đản khán lộng khối lỗi
Tuyến đoạn nhất thời hưu.
Thấy đạo mới tu đạo
Chẳng thấy lấy gì tu
Tánh đạo như hư không
Hư không tu chỗ nào?
Khắp xem người tu đạo
Vạch lửa tìm bọt nổi
Chỉ xem con rối múa
Đứt dây một lúc dừng.
Vấn đáp với thiền sư Pháp Không và thiền sư An
Thiền sư Pháp Không hỏi: Phật với đạo đều là giả danh, mười hai phần giáo cũng chẳng phải thật, vì sao các hàng Tôn túc từ xưa đều nói tu đạo?
Sư đáp: Đại đức lầm hội ý kinh, đạo vốn không tu, đại đức cưỡng tu, đạo vốn không tác, đại đức cưỡng tác, đạo vốn không sự, đại đức cưỡng sanh đa sự, đạo vốn không biết, ở trong ấy cưỡng biết. Thấy hiểu như thế cùng đạo trái nhau. Tôn túc từ xưa không như thế, tự đại đức không hội, xin suy gẫm đó.
Sư có bài kệ:
Đạo thể bổn vô tu
Bất tu tự hiệp đạo
Nhược khởi tu đạo tâm
Thử nhân bất hội đạo.
Khí khước nhất chân tánh
Khước nhập náo hạo hạo
Hốt phùng tu đạo nhân
Đệ nhất mạc hướng đạo.
Thể đạo vốn không tu
Chẳng tu tự hiệp đạo
Nếu khởi tâm tu đạo
Người này không hiểu đạo.
Bỏ mất một tánh chân
Lại vào nơi ồn náo
Chợt gặp người tu đạo
Cần nhất chớ nói năng.
Đứt dây một lúc dừng.
Thiền sư An hỏi: Đạo đã giả danh, Phật nói dối lập, mười hai phần giáo cũng là phương tiện tiếp vật độ sanh, tất cả là vọng lấy gì làm chân?
Sư đáp: Vì có vọng nên đem chân đối vọng. Xét cùng tánh vọng vốn không, chân cũng chưa từng có. Thế thì biết chân vọng đều là giả danh, hai việc đối trị trọn không thật thể, tột cội gốc nó thì tất cả đều không.
An hỏi: Đã nói tất cả là vọng, vọng cũng đồng chân, chân vọng không khác, lại là vật gì?
Sư đáp: Nếu nói vật gì, vật gì cũng vọng. Kinh nói, “Không tương tợ, không so sánh, bặt đường nói năng, như chim bay trong không”.
Thiền sư An xấu hổ thầm phục mà không biết làm gì.
Sư có bài kệ:
Suy chân, chân vô tướng
Cùng vọng, vọng vô hình
Phản quán suy cùng tâm
Tri tâm diệc giả danh
Hội đạo diệc như thử
Đáo đầu diệc tự ninh.
Xét chân, chân không tướng
Tìm vọng, vọng không hình
Quán lại tâm tìm xét
Biết tâm cũng giả danh
Hội đạo cũng như vậy
Đến cùng chỉ lặng thinh.
Đối đáp với thiền sư Đạt Tánh và quan cận thần
Thiền sư Đạt Tánh hỏi: Thiền thật chí vi chí diệu, chân vọng cả hai đều bặt, Phật đạo cả hai chẳng còn, tu hành tánh là không, danh tướng chẳng thật, thế giới như huyễn, tất cả đều giả danh. Khi người đạt đến cái hiểu biết này cũng không thể đoạn dứt hai gốc thiện ác của chúng sanh.
Sư đáp: Hai gốc thiện ác đều nhân tâm mà có, tìm tột tâm nếu có thì gốc ắt thật, xét tâm đã không thì gốc nhân đâu mà lập. Kinh nói: “Pháp thiện pháp ác từ tâm hóa sanh, nghiệp duyên thiện ác vốn không thật có”.
Sư nói bài kệ:
Thiện ký tùng tâm sanh
Ác khởi ly tâm hữu.
Thiện ác thị ngoại duyên
Ư tâm thật bất hữu.
Xả ác tống hà xứ
Thủ thiện linh thùy thủ.
Thương ta nhị kiến nhân
Phan duyên lưỡng đầu tẩu.
Nhược ngộ bản vô tâm
Thủy hối tùng tiền cữu.
Thiện đã từ tâm sanh
Ác đâu rời tâm có.
Thiện ác là duyên ngoài
Nơi tâm thật chẳng có.
Bỏ ác đẩy chỗ nào?
Lấy thiện bảo ai giữ.
Than ôi! Người thấy hai
Bám víu hai đầu chạy.
Nếu ngộ vốn không tâm
Mới hối lỗi từ trước.
Vị quan cận thần hỏi: Thân này từ đâu mà đến? Sau khi trăm tuổi trở về đâu?
Sư đáp: Như người khi mộng từ đâu mà đến? Khi thức giấc lại đi về đâu?
Quan thưa: Khi mộng không thể nói không, đã thức không thể nói có. Tuy có ‘có không’ mà đến đi không chỗ nơi.
Sư nói: Bần đạo thấy thân này cũng như mộng.
Có bài kệ:
Thị sanh như tại mộng
Mộng lý thật thị náo.
Hốt giác vạn sự hưu
Hoàn đồng thùy thời ngộ.
Trí giả hội ngộ mộng
Mê nhân tín mộng náo.
Hội mộng như lưỡng ban
Nhất ngộ vô biệt ngộ.
Phú quí dữ bần tiện
Cánh diệc vô biệt lộ.
Thấy cuộc sống như mộng
Trong mộng thật là ồn.
Chợt thức muôn việc hết
Lại đồng tỉnh cơn mộng.
Người trí nhận biết mộng
Kẻ mê tin mộng ồn.
Biết mộng như hai việc
Một ngộ không ngộ khác.
Giàu sang cùng nghèo hèn
Lại cũng không đường khác.
Niên hiệu Thượng Nguyên năm thứ hai (761), ngày mùng 5 tháng 5, Sư quy tịch. Vua sắc ban hiệu là Đại Hiểu Thiền Sư.
[TSTH 1-HT]