GIỚI THIỆU
Thiền sư Tông Mật khi chưa xuất gia họ Hà, nguyên quán ở Quả Châu Tây Sung, gia đình giàu có, lúc nhỏ tinh thông Nho học, đến hai mươi tuổi mới nghiên cứu kinh Phật. Ðời Ðường hiệu Nguyên Hòa năm thứ hai (807) sắp được tiến cử đi làm quan, chợt gặp thiền sư Ðạo Viên, Sư phát tâm xuất gia. Nơi đây, Sư được truyền tâm ấn cũng năm ấy thọ giới Cụ túc.
Một hôm, nhơn theo chúng thọ trai tăng ở nhà Phủ sứ Nhâm Quán, Sư ngồi sau chót, theo thứ tự nhận kinh, nhận được mười hai chương kinh Viên Giác. Xem chưa hết mà cảm ngộ rơi nước mắt. Về chùa, Sư đem sở ngộ trình lên thầy.
Ðạo Viên bảo: Ông nên truyền giáo viên đốn, đây là chư Phật trao cho ông, nên du phương đừng tự ràng buộc một góc.
Sư rơi nước mắt, vâng lệnh Thầy từ tạ ra đi, đến yết kiến thiền sư Kinh Nam Trung (người Nam Ấn).
Trung bảo: Người truyền giáo nên giảng dạy ở đế đô.
Sư lại đến yết kiến thiền sư Thần Chiếu ở Lạc Dương. Chiếu bảo: Người Bồ tát, ai có thể biết được.
Sư tìm đến Tương Hán, nhân bị bệnh, vị tăng trao cho bộ kinh Hoa Nghiêm Cú Nghĩa do đại sư Trừng Quán tuyển.
Sư chưa từng học tập, một phen xem qua là giảng được, tự mừng duyên gặp gỡ của mình. Sư nói: Các thầy thuật tạo, ít có cùng tột chỉ yếu, chưa bộ nào bằng bộ này, bộ này văn chương lưu loát, nghĩa lý rõ ràng. Ta tu Thiền thì gặp Nam tông (đốn ngộ), kinh điển thì gặp Viên Giác. Chỉ ngay một lời, tâm địa khai thông, trong một quyển kinh nghĩa sáng khắp trời. Nay lại gặp bộ tuyệt bút này, trong lòng dứt sạch. Giảng xong, Sư nghĩ nên tìm đến Ðại sư Trừng Quán. Khi ấy, trong môn đồ có Thái Cung chặt tay để cúng dường công ơn giảng dạy. Sư gởi thư đến Ðại sư Trừng Quán trước, đợi săn sóc Thái Cung lành mạnh, thầy trò đồng đến Thượng Ðô.
Sư đối với Ðại sư Trừng Quán giữ lễ đệ tử, Quán bảo: Người hay theo ta dạo Hoa Tạng Tỳ-lô là ông vậy.
Sư ở đây đức hạnh càng ngày càng cao, những bệnh chấp tướng lần lần dứt sạch.
Ði dạo miền bắc đến núi Thanh Lương, Sư dừng lại ở chùa Thảo Ðường, huyện Hộ. Chưa bao lâu, lại trụ trì Lan Nhã Khuê Phong ở núi Chung Nam.
Ðến niên hiệu Thái Hòa năm thứ hai (828), vua thỉnh Sư về triều ban tử y (y tía) và thưa hỏi pháp yếu, bá quan trong triều đều quy kính Ngài. Duy tướng quốc Bùi Hưu thâm nhập chỗ uyên áo, thọ giáo và làm ngoại hộ.
Sư dùng Thiền và Giáo để giáo hóa môn đồ. Về thiền, Sư có biên tập lời nói, kệ tụng của các thiền gia làm một bộ lấy tên là Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập và viết một quyển cương yếu lấy tên là Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Ðô Tự. Về Giáo, Sư có sớ giải các bộ kinh Viên Giác, Hoa Nghiêm, Niết Bàn…
Niên hiệu Hội Xương năm đầu (841) ngày mùng sáu tháng giêng, Sư ngồi kiết già thị tịch, tại tháp viện Hưng Phước, dáng mạo nghiêm trang, vui vẻ hơn ngày thường. Ðến bảy ngày mới để vào quan tài và sau này thiêu được xá-lợi rất nhiều. Sư thọ sáu mươi hai tuổi, được ba mươi bốn tuổi hạ.
NGỮ LỤC
Thiền Sư Tông Mật đáp 10 câu hỏi
1- ❓❓❓ HỎI: Thế nào là đạo? Lấy cái gì để tu? Phải do tu mới thành hay chẳng cần dụng công?
📣📣📣 ÐÁP:
Không ngại là đạo, biết vọng là tu, đạo tuy vốn tròn, vọng khởi phiền lụy, vọng niệm hết sạch tức là tu thành công.
2- ❓❓❓ HỎI: Ðạo nếu nhơn tu mà thành tức là tạo tác, tạo tác thì đồng pháp hư ngụy không thật ở thế gian, thành rồi lại hoại, sao gọi là xuất thế?
📣📣📣 ÐÁP:
Tạo tác thì kết nghiệp gọi pháp thế gian hư ngụy, không tác (làm) là tu hành tức pháp xuất thế chơn thật.
3- ❓❓❓ HỎI: Kia tu là đốn hay tiệm? Tiệm thì quên trước mất sau, lấy cái gì tập hợp mà thành? Ðốn thì muôn hạnh nhiều môn, đâu thể một thời đầy đủ?
📣📣📣 ÐÁP:
Chợt ngộ chơn lý là viên đốn, dứt vọng cần phải tiệm tu (tu dần dần) mới hết. Viên đốn ví như trẻ con sơ sanh trong một ngày các cơ thể đầy đủ. Tiệm tu ví như nuôi dưỡng đến thành nhân, phải nhiều năm mới lập chí khí.
4- ❓❓❓ HỎI: Phàm tu phát tâm địa khi ngộ tâm là xong, hay riêng có hạnh môn? Nếu riêng có hạnh môn thì sao gọi là đốn chỉ Nam tông (đốn tu)? Nếu ngộ liền đồng chư Phật, sao không phóng quang hiện thần thông?
📣📣📣 ÐÁP:
Biết băng trên mặt hồ nguyên là nước, nhờ ánh nắng mặt trời dần dần tan, ngộ phàm phu tức chơn, nhờ sức pháp để tu tập. Băng tiêu thì nước trôi chảy, công phương trình tẩy rửa vọng hết thì tâm linh thông, mới có ứng hiện phát quang. Ngoài việc tu tâm không có hạnh môn riêng.
5- ❓❓❓ HỎI: Nếu chỉ tu tâm mà được thành Phật, cớ sao các Kinh lại nói: “Cần phải trang nghiêm Phật độ, giáo hóa chúng sanh mới gọi thành đạo”.
📣📣📣 ÐÁP:
Gương sáng thì hiện muôn ngàn hình bóng sai khác, tâm tịnh thì ứng hiện muôn ngàn thần thông. Hình bóng ví trang nghiêm Phật độ, thần thông ví giáo hóa chúng sanh, trang nghiêm tức phi trang nghiêm, hình bóng là sắc mà phi sắc.
6- ❓❓❓ HỎI: Các Kinh đều nói độ thoát chúng sanh, chúng sanh tức phi chúng sanh, tại sao lại nhọc nhằn độ thoát?
📣📣📣 ÐÁP:
Chúng sanh nếu thật độ được tức là nhọc nhằn, đã nói “tức phi chúng sanh”, sao không so sánh độ mà không độ?
7- ❓❓❓ HỎI: Các Kinh nói “Phật thường trụ” hoặc nói “Phật diệt độ”. Thường tức không diệt, diệt tức không phải thường, như vậy là mâu thuẫn nhau.
ÐÁP:
Lìa tất cả tướng gọi là chư Phật thì đâu có thật ra đời hay nhập diệt? Thấy ra đời hay nhập là tại cơ duyên. Cơ duyên ứng hợp thì xuất hiện dưới cội Bồ đề. Cơ duyên hết thì nhập Niết bàn giữa hai cây Sa La. Cũng như nước trong, không tâm không hình tượng, không hiện hình tượng không phải có ngã. Bởi vì tướng ngoại chất có đến đi, không phải thân Phật. Ðâu thể nói Như Lai có xuất nhập.
8- ❓❓❓ HỎI: Thế nào là Phật hóa sanh như chúng sanh kia sanh? Phật đã vô sanh thì là nghĩa gì? Nếu nói tâm sanh pháp sanh, tâm diệt pháp diệt, thì do đâu được Vô sanh pháp nhẫn?
📣📣📣 ÐÁP:
Ðã nói như hóa, hóa tức là không, không tức là không sanh, sao lại hỏi nghĩa sanh? Sanh diệt diệt rồi thì tịch diệt là chơn, nhận được pháp vô sanh này gọi là Vô sanh pháp nhẫn.
9- ❓❓❓ HỎI: Chư Phật thành đạo thuyết pháp chỉ vì độ chúng sanh giải thoát, chúng sanh thì có lục đạo, tại sao Phật chỉ hóa hiện ở trong nhơn đạo? Lại Phật sắp diệt độ, trao pháp cho tổ Ca-diếp dùng tâm truyền tâm cho đến phương này (Trung Hoa), bảy vị Tổ mỗi đời chỉ truyền một người, đã nói rằng đối tất cả chúng sanh coi như con một, tại sao truyền dạy không khắp?
ÐÁP:
Mặt trời, mặt trăng lên cao đều soi sáng khắp sáu phương mà người mù không thấy, chậu úp không biết, không phải mặt trời, mặt trăng soi chẳng khắp, tại lỗi che đậy ngăn cách. Ðộ cùng không độ nghĩa giống như vậy, không phải hạn cuộc nơi người trời bỏ các loài quỷ súc. Chỉ vì nhơn đạo hay kiết tập truyền trao không dứt, nên biết Phật hiện trong nhơn đạo. Sắp diệt độ Phật trao pháp cho tổ Ca-diếp, lần luợt truyền nhau một người, chính vì nhằm vào vị chủ Thiền tông trong một đời. Như trong nước không có hai vua, không phải người được độ chỉ có số dường ấy.
10- ❓❓❓ HỎI: Hòa thượng nhơn đâu phải phát tâm? Mộ pháp gì mà xuất gia? Nay tu hành pháp gì? Ðược pháp vị gì? Chỗ tu hành đến địa vị nào? Là trụ tâm tu tâm? Nếu trụ tâm thì ngại tu tâm, nếu tu tâm thì động niệm không an làm sao được gọi là học đạo? Nếu tâm an nhất định thì đâu khác gì môn đồ của định tánh (định tánh Thanh văn)? Cúi mong Ðại Ðức vận dụng đại từ bi theo thứ lớp nói đúng lý như như.
📣📣📣 ÐÁP:
Biết tứ đại như mộng huyễn, hiểu lục trần như không hoa, ngộ tâm mình là tâm Phật, thấy bản tánh tức pháp tánh là nguyên nhơn phát tâm. Biết tâm không trụ tức là tu hành; không trụ mà “biết” tức là pháp vị. Trụ trước nơi pháp đây là động niệm, như người vào tối thì không thấy vật; nay không có chỗ trụ, không nhiễm không trước, như người có mắt và có ánh sáng mặt trời thấy rõ các vật. Thế thì đâu thể đồng môn đồ của định tánh, đã không có chỗ trụ trước thì đâu luận xứ sở?
Thượng thư Ôn Tạo [^1] hỏi.
❓❓❓ HỎI: Người ngộ lý dứt vọng thì không kết nghiệp, sau khi mạng chung linh tánh sẽ nương vào đâu?
📣📣📣 ÐÁP:
Tất cả chúng sanh đều có tánh giác. Linh minh không tịch, không khác với Phật. Chỉ do từ vô thủy kiếp đến nay chưa từng liễu ngộ, vọng chấp thân là tướng của ta, cho nên sanh tình yêu ghét. Theo tình tạo nghiệp, theo nghiệp thọ báo, sanh già bệnh chết, luân hồi nhiều kiếp.
Nhưng, giác tánh trong thân, chưa từng sanh tử. Như mộng thấy bị xua đuổi mà thân vẫn nằm yên trên giường. Như nước thành băng, mà tánh ướt không đổi. Nếu có thể ngộ tánh này, tức là pháp thân.
Vốn tự vô sanh, thì đâu có chỗ nương gá, linh hoạt chẳng mờ mịt, rõ ràng thường biết. Không từ đâu đến, cũng không đi đâu. Song, vọng chấp nhiều đời, huân tập thành tánh. Mừng giận vui buồn, trôi chảy nhỏ nhiệm. Tuy đã đốn ngộ chân lý, mà tình này không thể dứt liền. Cần phải hằng xét nét, giảm bớt rồi giảm bớt. Như gió đã dừng, sóng dần dần lặng. Ðâu thể tu hành một đời, mà đồng lực dụng của chư Phật.
Chỉ nên lấy không tịch làm thể của mình, chớ nhận sắc thân này; lấy linh tri là thân của mình, đừng nhận vọng niệm. Vọng niệm nếu khởi, đều chẳng nên theo, tức là khi sắp mạng chung tự nhiên nghiệp không thể ràng buộc. Tuy có thân trung ấm mà đi đâu tự do, tùy ý đến cõi người, cõi trời thọ sanh.
Nếu niệm yêu ghét đã hết, tức không thọ nhận thân phần đoạn (thân còn ăn uống thô), tự hay đổi dở thành hay, đổi thô thành diệu. Nếu lưu chú nhỏ nhiệm lắng sạch tất cả, chỉ riêng còn Viên giác Ðại trí sáng suốt, tùy cơ ứng hiện trăm ngàn ức thân độ chúng sanh hữu duyên, gọi đó là Phật.
Có kệ rằng:
Tác hữu nghĩa sự
Thị tỉnh ngộ tâm
Tác vô nghĩa sự
Thị cuồng loạn tâm.
Cuồng loạn tùy tình niệm
Lâm chung bị nghiệp khiên
Tỉnh ngộ bất do tình
Lâm chung năng chuyển nghiệp.
Làm việc có nghĩa
Là tâm tỉnh ngộ
Làm việc vô nghĩa
Là tâm cuồng loạn.
Cuồng loạn theo tình niệm
Lâm chung bị nghiệp lôi
Tỉnh ngộ không theo tình
Lâm chung hay chuyển nghiệp.
NGUỒN
GHI CHÚ
[^1] Ôn Tạo (765-835) tên Giản Dư, người Kỳ Huyện Tinh Châu (nay là Huyện Kỳ, Sơn Tây). Ông làm Lễ bộ Thượng thư thời nhà Đường.