👤 GIỚI THIỆU
Sa-môn Huệ Khả, triều Tề ở đất Nghiệp, kế thừa Thiền sư Đạt Ma. Thiền sư Huệ Khả họ Cơ, người Vũ Lao. Năm 14 tuổi gặp Thiền sư Đạt Ma du hóa ở Tung Sơn - Lạc Dương, phụng thờ ngài suốt 6 năm trời, tinh chuyên nghiền ngẫm về đạo Nhất thừa dựa vào huyền lý, lược nói về phép tu, cùng yếu pháp Minh tâm thật sự lên quả Phật.
Nhị Tổ Đại Sư Huệ Khả, người Vũ Lao, họ Cơ, cha tên là Tịch. Lúc chưa có con trai, ông thường tự nghĩ: “Nhà ta ưa thiện, há lại không con trai” cầu tự đã lâu, một buổi tối bỗng có ánh sáng lạ chiếu trong nhà, bà mẹ nhân đó mang thai. Đến khi lớn, nhân lấy điềm ánh sáng chiếu hiện trong nhà mà đặt tên là Quang (tức ánh sáng). Từ bé, chí khí cũng đã khác người thông bác thi thư, lại tinh thâm các lý lẽ cao xa. Không màng nghiệp gia sản, ngài chỉ thích đi đó đây ngắm cảnh.
Sau đó, nhân đọc sách Phật mà đắc ý thoát tục, bèn đến Lạc Dương, núi Hương Sơn, chùa Long Môn nương theo Bảo Tịnh Thiền sư mà xuất gia, sau đó thọ giới cụ túc tại chùa Vĩnh Mục chu du khắp Thiền hội, học khắp Đại, Tiểu thừa.
Năm 32 tuổi, ngài trở lại Hương Sơn, suốt ngày tọa Thiền. Lại trải qua 8 năm như vậy. Một hôm, đang lúc ngồi Thiền, chợt thấy một thần nhân hiện ra, nói:
- Ông muốn được đạo quả, sao còn nấn ná nơi đây. Truyền pháp đạo lớn không xa, nên đi đến phương Nam.
Tổ biết là thần linh trợ giúp, nhân đó đổi tên là Thần Quang.
Hôm sau, cảm thấy đầu đau nhức như kim châm. Sư phụ ngài muốn cứu chữa, bỗng trên không trung có tiếng:
- Đấy là đổi xương cốt, không phải đau nhức thường.
Tổ bèn đem chuyện thấy Thần nhân thuật lại thầy, sư Bảo Tịnh thấy xương trên đầu ngài nhô lên như năm đỉnh núi, bèn nói:
- Hiện tướng điềm lành của ông tất sẽ chứng đạo. Thần báo ông phải sang phương Nam, ở đó có Đại sĩ Bồ Đề Đạt Ma chùa Thiếu Lâm, chắc đó là thầy ông đấy.
Tổ vâng dạy, đi đến Thiếu Thất (Truyện về sự đắc pháp của Tổ đã thuật lại đầy đủ trong chương Đạt Ma, đây không lập lại).
Từ khi Tổ Đạt Ma ở Thiếu Lâm về Tây, đại sư nối tiếp xiển dương Chánh pháp và tìm khắp người nối pháp.
Đến niên hiệu Thiên Bình, năm thứ hai đời Bắc Tề, có một cư sĩ, tuổi cỡ 40, chẳng báo họ tên, cứ đến trước Tổ đảnh lễ mà hỏi rằng:
- Đệ tử mình đầy tật bịnh, thỉnh Hòa thượng sám tội cho.
Tổ bảo:
- Đem tội ra đây ta sám cho.
Cư sĩ im lặng lúc lâu, bạch:
- Con kiếm tội mãi mà chẳng thấy được.
Tổ nói:
- Ta đã sám hối cho ông xong rồi đó, ông nên nương theo Phật, pháp, tăng mà an trụ.
Cư sĩ bạch:
-
Nay gặp Hòa thượng thì biết thế nào là tăng rồi nhưng xin hỏi cái gì gọi là Phật và pháp ?
-
Tâm ấy là Phật, tâm ấy là pháp. Pháp, Phật không hai, Tăng bảo cũng vậy.
Cư sĩ nói:
- Nay mới biết tánh tội chẳng ở trong, không ở ngoài, không ở giữa, cũng như tâm ấy, Phật và pháp không hai vậy.
Tổ biết đã ngộ, rất coi trọng là pháp khí, bèn cho cạo tóc xuất gia, nói:
- Ông là bảo vật cửa Phật của ta, nên lấy tên là Tăng Xán (Xán là Xán thổi, một loại ngọc quý).
Ngày 18 tháng 3 năm ấy, Tăng Xán làm lễ thọ giới cụ túc tại chùa Quang Phúc. Cũng từ đó, bịnh tật của ngài cũng giảm dần.
Hầu cận thầy được 2 năm. Một hôm, Tổ bảo:
- Bồ Đề Đạt Ma từ Thiên Trúc xa xôi đến đây, đã đem Chánh pháp nhãn tạng cùng tấm tín y mật truyền cho ta, nay trao lại cho ông, ông nên giữ gìn, đừng để dứt đoạn. Nghe kệ ta nói:
Phiên âm:
Bản lai duyên hữu địa
Nhân địa chủng hoa sinh
Bản lai vô hữu chủng
Hoa diệc bất tằng sinh .
Tạm dịch:
Xưa nay nhân có đất
Từ đất giống hoa sinh
Xưa nay không có giống
Hoa cũng chẳng từng sinh.
Tổ trao Y và Pháp xong, nói:
- Ông nhận giáo pháp của ta rồi nên tìm vào núi sâu ẩn dật chưa thể đi giáo hóa ngay được, không bao lâu nữa sẽ xảy ra quốc nạn.
Tăng Xán nói:
Thầy đã biết trước, cúi xin chỉ dạy.
Tổ nói:
- Không phải ta biết trước mà đấy là lời của Đạt Ma truyền lại lời huyền ký của Bát-nhã Đa-la cho ta: “Trong tâm tuy tốt ngoài lại xấu, đúng là vậy. Ta so sánh niên đại, chính là nhằm lúc nầy đây. Ông hãy suy gẫm lời xưa, đừng để vương thế nạn. Còn ta do còn vướng nợ nhiều đời trước, nay cần phải trả. Hãy khéo ẩn náu, đợi đến thời cơ hãy đi giáo hóa”.
Tổ giao phó xong, đi đến Nghiệp Đô, tùy nghi mà thuyết pháp. Một lời diễn giải, bốn chúng quy y. Như vậy được 34 năm bèn che đấu thân phận, thay đổi hình tướng, hoặc vào quán rượu, có đến hàng thịt, hoặc đứng lảm nhảm giữa đường sá, hoặc theo bọn đầy tớ làm công việc lao nhọc, có người hỏi Tổ:
- Sư là người tu, sao lại như vậy ?
Tổ nói:
- Ta tự điều tâm, có dính dáng gì đến ông đâu mà hỏi !
Tổ đến huyện Quản Thành, dưới cổng chùa Uông Cứu, diễn đạo vô thượng. Người đến nghe đông như rừng vậy.
Lúc ấy có pháp sư Biện Hòa ở trong chùa đang giảng kinh, người học nghe Tổ diễn pháp bên ngoài thì lần lượt rút ra ngoài nghe Tổ giảng. Biện Hòa không dằn được giận, thóc mách quan huyện là Địch Trọng Khản vu khống Tổ. Địch lầm nghe lời sằn bậy bắt tội Tổ làm việc phi pháp phải chịu gia hình. Tổ điềm nhiên chịu chết. Người rõ việc cho là phải trả món nợ đời trước. Lúc ấy ngài đã 107 tuổi. Nhằm thời Tùy Văn đế, niên hiệu Khai Hoàng năm thứ 13, Quý Sửu, ngày 16 tháng 3.
Di thể Tổ được an táng tại Từ Châu, cách 70 dặm về phía Đông Bắc huyện Phú Dương.
Đến vua Đức Tông nhà Đường truy thụy Tổ là Đại Tổ Thiền sư. Từ lúc sư thiên hóa cho đến năm thứ nhất niên hiệu Cảnh Đức (Cảnh Đức Truyền Đăng Lục) nhà Tống nhằm năm Giáp Thìn là 413 năm.