👤 GIỚI THIỆU
Tổ thứ tư Đại Sư Đạo Tín, họ Tư Mã, Dòng họ lâu đời ở Hà Nội, sau dời đến huyện Quảng Tế, Kỳ Châu. Lúc sinh đã dị thường. Từ bé đã ưa chuộng các môn học giải thoát của Phật giáo, như thể đã tích tập từ đời trước kia vậy.
Sau khi nối môn phong Tổ, nhiếp tâm không hề nằm ngủ, không ngã lưng xuống chiếu suốt 60 năm.
Thời nhà Tùy, niên hiệu Đại Nghiệp, năm thứ mười ba, Tổ thống lãnh đồ chúng đi đến Cát Châu, gặp lúc bọn giặc vây thành đến 70 ngày vẫn chưa giải vây được, muôn dân trong thành sợ hãi. Tổ bèn thương tình dạy họ niệm Ma-ha Bát-nhã. Bên ngoài, bọn giặc nhìn lên bờ thành thấy như có thần binh xuất hiện. Chúng bảo nhau:
- Bên trong thành chắc có dị nhân, không thể công phá càn bừa được.
Đoạn dần dần rút bỏ đi.
Đời Đường niên hiệu Vũ Đức, năm Giáp Thân, Tổ trở lại Kỳ Xuân, trụ tại Phá Đầu Sơn, người đến thọ học rất đông.
Ngày nọ, ngài đến huyện Hoàng Mai, trên đường gặp một đứa bé, cốt tướng thanh tú, kỳ lạ, khác hẳn những trẻ bình thường khác.
Tổ hỏi:
-
Con tánh (họ) gì ?
-
Tánh thì có, nhưng không phải tánh thường.
Tổ hỏi:
- Là tánh gì ?
Đứa bé đáp:
- Là tánh Phật.
Tổ hỏi:
- Con không có tánh (họ) à ?
Đáp:
- Tánh vốn không, nên không có.
Tổ biết ngay đây là pháp khí. Ngài bảo thị giả đến nhà đứa bé, xin cho nó được phép xuất gia. Người mẹ cho là vốn có túc duyên, mặt không lộ vẻ từ chối, liền cho con xuất gia theo Tổ làm đệ tử cho đến khi được phó Pháp, truyền Y. Tổ đọc kệ:
Phiên âm:
Hoa chủng hữu sanh tánh
Nhân địa hoa sanh sanh
Đại duyên dữ tánh hợp
Đương sanh, sanh bất sanh.
Tạm dịch:
Giống hoa có tánh sanh
Do đất hóa nảy sanh
Đại duyên cùng tánh hợp
Đương sanh, sanh chẳng sanh.
Rồi giao học đồ cho để lập môn phái.
Một hôm, Tổ nói cùng đồ chúng:
Thời Vũ Đức, ta du ngoạn đến Lư Sơn, leo lên đến chóp đỉnh, nhìn qua núi Phá Đầu, thấy mây sắc tía như cái lộng che, bên dưới có khí trắng, quyện quanh qua sáu luồng. Các ông có biết là gì không ?
Chúng đều im lặng.
Hoằng Nhẫn nói: Há có phải sau này Hòa thượng sẽ nảy sinh một chi Phật pháp đó không ?
Tổ nói: Đúng.
Vào thời Trinh Quán, năm Quý Mão, vua Thái Tông mộ đạo vị của Tổ, muốn chiêm ngưỡng phong thái nên xuống chiếu triệu về kinh. Tổ dâng biểu từ chối, trước sau 3 lần ngài đều lấy cớ đau ốm thoái từ. Lần thứ tư, vua lệnh sứ giả, nói:
- Nếu mời không được, hãy mang thủ cấp về đây.
Sứ giả lên núi tuyên chỉ dụ. Tổ liền ngữa cổ chờ chém, thần sắc vẫn thản nhiên. Sứ lấy làm kinh dị, trở về tâu lại tình trạng, vua nghe càng thêm khâm mộ, bèn gửi đến Tổ vải quý cúng dường, để Tổ toại chí lưu lại núi.
Đến đời vua Cao Tông, niên hiệu Vĩnh Huy, năm nhuận Tân Hợi, ngày 4 tháng 9. Tổ bỗng dặn dò môn nhân rằng:
- Hết thảy các pháp đều là giải thoát. Các ông đều phải tự hộ niệm, truyền bá đời sau.
Nói xong, ngài ngồi yên thị tịch, thọ 72 tuổi, tháp lập ngay tại núi Phá Đầu.
Năm sau, ngày 8 tháng 4, cửa tháp bỗng dưng mở ra, nghi dung Tổ vẫn như lúc sống. Sau đó, môn nhân không dám đóng tháp cửa nữa.
Vua Đại Tông thụy phong ngài hiệu Đại Y Thiền sư, tháp là Từ Vân. Từ lúc Tổ viên tịch đến năm đầu niên hiệu Cảnh Đức Hoàng Tống ta là 356 năm.