👤 GIỚI THIỆU
Tổ người Hoàng Long Mai (Kỳ Châu), họ Chu, sanh ra đã có dị tướng. Lúc trẻ, Tổ đi chơi gặp một trí giả than rằng: “Đứa trẻ này chỉ kém Như Lai có bảy tướng”. Sau ngài gặp đại sư Tín mà đắc pháp, nối tự giáo hóa ở núi Phá Đầu.
Trong thời Hàm Hanh, có một cư sĩ họ Lư, tên Huệ Năng, từ Tân Châu đến ra mắt sư.
Tổ hỏi:
- Ông từ đâu tới ?
Lư đáp:
- Lĩnh Nam.
Tổ hỏi:
- Đến muốn cầu việc gì ?
Lư đáp:
- Chỉ cầu làm Phật.
Tổ hỏi:
- Người Lĩnh Nam không có Phật tánh, làm sao làm Phật được ?
Lư nói:
- Người thì có phân Nam Bắc, Phật tánh há cũng vậy sao ?
Tổ biết là một dị nhân, liền nạt rằng:
- Thâu nhận xuống nhà sau đi.
Lư đảnh lễ chân Tổ lui ra, rồi vào nhà giã gạo, nhận việc đạp cối lao nhọc, ngày đêm không nghỉ. Qua 8 tháng, Tổ biết lúc truyền phó Chánh pháp đã đến nên báo cùng môn đồ.
- Chánh pháp khó hiểu, không thể cứ theo lời ta mà lấy làm của mình. Các ông mỗi người hãy tùy ý làm một bài kệ, nếu ý, lời phù hợp, ta sẽ truyền cho cả y và pháp.
Lúc ấy, trong hội có hơn 700 ông tăng. Có thượng tọa Thần Tú là người uyên bác, học thông nội ngoại giáo điển, mọi người rất ngưỡng phục. Họ đều bàn nhau: “Nếu không suy tôn thượng tọa Tú thì trong bọn ta ai dám đảm đương”.
Thần Tú thầm nghe lời khen thì không cần suy nghĩ chi lâu, liền viết lên vách hành lang lời kệ:
Phiên âm:
Thân thị Bồ-đề thọ
Tâm như minh kính đài
Thời thời cần phất thức
Mạc khiển hữu trần ai.
Tạm dịch:
Thân là cây Bồ-đề
Tâm như gương trong đài
Luôn cần phải lau quét
Chẳng để lấm trần ai.
Tổ đi ngang qua nhìn thấy bài kệ, biết là của Thần Tú làm bèn khen ngợi rằng:
- Đời sau cứ theo đây mà tu hành, cũng được quả lớn.
Bức tường vốn muốn để xử sĩ Lư Trân diễn họa tích Lăng Già Biến Tướng, đến khi Tổ thấy bài kệ rồi thì bỏ qua không bảo họa nữa, mà bảo mọi người cùng nhau niệm tụng.
Lư tại nhà giã gạo chợt nghe có người đọc kệ liền hỏi một người đồng học:
- Bài văn gì vậy ?
Đồng học đáp:
- Ông không hay là Hòa thượng muốn kiếm người nối pháp nên bảo mọi người làm tâm kệ đó sao ? Đây là bài kệ của thượng tọa Thần Tú. Hòa thượng rất khen ngợi, ắt sẽ truyền thọ y - pháp cho thượng tọa.
Lư nói:
- Bài kệ thế nào ?
Đồng học đọc kệ cho nghe, Lư yên lặng một lúc nói:
- Hay thì có hay đấy, nhưng chưa được thấu suốt.
Đồng học nạt:
- Hàng tôi tớ ngu dốt mà biết gì, chớ có nói sàm !
Lư nói:
- Ông không tin sao ? Tôi xin làm bài kệ họa lại.
Đồng học không nói, chỉ nhìn Lư mà cười. Đến đêm, Lư ngầm bảo một chú tiểu dẫn tới chỗ bức tường hành lang, Lư cầm đuốc, nhờ chú tiểu viết giùm một bài kệ cạnh bên bên kệ của Thần Tú như sau:
Phiên âm:
Bồ-đề bổn phi thọ
Minh kính diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật
Hà giả phất trần ai.
Tạm dịch:
Bồ-đề vốn không cây
Gương sáng cũng không đài
Xưa nay không một vật
Cần gì phủi trần ai.
Sau đó, Tổ đọc thấy kệ, nói:
- Kệ này ai làm đây, mà cũng chưa thấy được tánh.
Đồ chúng nghe Thầy nói nên cũng không màng tới bài kệ nữa.
Đến đêm, Tổ âm thầm sai người đến nhà giã gạo triệu hành giả vào thất bảo:
- Chư Phật xuất thế là một việc trọng đại, nên tùy theo căn cơ cao thấp khác nhau mà hướng dẫn, cho nên mới có các chỉ ý mười địa, ba thừa, nhanh chậm làm Giáo môn. Nhưng Thế Tôn đã đem pháp môn vô thượng thâm diệu, trong sáng sâu xa là Chánh pháp nhãn tạng chân thực truyền đạt cho đệ tử thứ nhất là Đại Ca-diếp Tôn giả, lần lượt truyền qua 28 đời. Đến Tổ Đạt Ma thì sang tới Đông Độ này, được Khả đại sư nối tiếp đến hôm nay. Nay ta đem Pháp bảo cùng với Cà-sa trao lại cho ông. Hãy khéo giữ gìn, đừng để pháp đứt đoạn. Nghe ta đọc kệ:
Phiên âm:
Hữu tình lai hạ chủng
Nhân địa quả hoàn sinh
Vô tình ký vô chủng
Vô tánh diệc vô sanh.
Tạm dịch:
Hữu tình đến gieo mầm
Nhờ đất trái nẩy sinh
Vô tình đã không giống
Không tánh cũng không sanh.
Lư hành giả quỳ xuống nhận lãnh y và pháp, bẩm:
- Pháp, con đã nhận, còn y sẽ trao cho ai ?
Tổ nói:
- Xưa, lúc đầu Tổ Đạt Ma đến đây, vì chưa ai tin nên phải truyền y làm biểu minh đắc pháp. Nay tín tâm mọi người đã muồi, chiếc y sẽ là đầu mối tranh giành. Vậy nên đến ông thì dừng lạy không truyền nữa. Ông nên đi xa ẩn lánh, đợi thời cơ mà hành đạo, bởi lẽ người nhận y, mạng như tơ mành.
Lư hỏi:
-
Nên ẩn nơi đâu ?
-
Gặp Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn.
Lư đảnh lễ chân Tổ xong, mang y đi khỏi.
Ngay đêm ấy, ngài đi xa về phương Nam, mọi người không ai hay biết.
Từ đó về sau ba ngày liên tục Ngũ Tổ không lên giảng pháp nữa. Mọi người kinh ngạc nghi ngờ đến hỏi. Tổ bảo:
- Đạo ta đi rồi ! Còn hỏi gì nữa ?
Lại hỏi:
- Ai được y, pháp ?
Tổ đáp:
- Năng hành giả đã được.
Đồ chúng bàn luận, Lư hành giả kia tên là Năng, bèn đổ nhau tìm nhưng không thấy đâu, do đó mới biết đích thực là người ấy đã được pháp, y bèn cùng nhau đuổi theo.
Trải bốn năm sau, đến niên hiệu Thượng Nguyên năm thứ hai, ngài bỗng cáo cùng đồ chúng:
- Việc ta nay đã xong, đến lúc phải đi thôi.
Bèn vào thất, ngồi an nhiên tịch diệt, thọ 74 tuổi. Tháp dựng tại Đông Sơn, Hoàng Mai.
Vua Đại Tông thuỵ phong ngài là Đại Mãn Thiền sư, pháp hiệu Pháp Vũ.