BẢO ĐƯỜNG VÔ TRỤ [Thiền sư]


GIỚI THIỆU

Sư họ Lý, quê ở huyện Phượng Tường My. Năm 20 tuổi, võ nghệ tuyệt luân; đã từng nhậm chức quan Tiên phong vệ tiền du dịch, sau từ quan tầm sư học đạo. Lúc đầu theo học thiền Đốn ngộ với cư sĩ Trần Sở Chương, được mật truyền tâm pháp.

Năm Thiên Bảo (742 - 755), Sư nghe nói ở Phạm Dương Thứ Sơn có Hòa thượng Minh, Đông Kinh có Hòa thượng Thần Hội, phủ Thái Nguyên có Hòa-thượng Tự Tại đang truyền thiền pháp Đốn ngộ của Huệ Năng; Vô Trụ bèn tìm đến phủ Thái Nguyên cầu học với Hòa thượng Tự Tại.

Năm Thiên Bảo thứ 8 (749), ở đây thọ giới Cụ túc, sau đó đến chùa Thanh Lương ở Ngũ Đài Sơn cầu học, năm sau đến chùa An Quốc và chùa Sùng Thánh ở Trường An tham học.

Năm Thiên Bảo thứ 10 (751), rời Trường An đến núi Hạ Lan trụ hai năm; nghe nói thiền sư Vô Tướng ở Kiếm Nam truyền thiền pháp Đốn ngộ, Vô Trụ bái phục ba câu Thiền yếu Vô ức, vô niệm và mạc vọng của Vô Tướng, nên Sư tìm đến Kiếm Sơn tham học.

Nhưng đến Linh Châu bị vua Diêu Tự lưu lại, mãi đến năm Chí Đức thứ hai (757) mới rời được Linh Châu.

Để đến được chùa Tịnh Chúng, Sư đã từng đi qua các nơi như: Định Viễn, Phong Ninh, Phụng Tường, Thái Bạch Sơn và Nam Lương Châu; đến tháng giêng năm Càn Nguyên thứ hai (759) mới đến được chùa Tịnh Chúng.

Trong thời gian này, Vô Trụ mặc nhận ý của Vô Tướng, đến núi Thiên Thương (còn gọi là núi Bạch Nham) ở Mậu Châu thuộc phía tây Thành Đô trụ, chuyên tu thiền pháp Vô niệm.

Đối với Sư, một ngày sáu thời không lễ Phật sám hối, không tụng kinh niệm Phật, ngay cả sự cúng dường thường nhật Sư cũng không nhận; lối hành trì này hợp với Vô Tướng, nên được Vô Tướng truyền Tín y ca-sa, nhưng chưa đến tay Vô Trụ thì bị thất lạc.

[Theo Lịch Đại Pháp Bảo Ký]


Ban đầu Sư đắc pháp nơi Đại sư Vô Tướng. Trụ núi Bạch Nhai, Nam Dương. Trải qua nhiều năm, học giả dần dần đến, siêng năng thỉnh cầu không thôi. Từ đây chỉ dạy, tuy giảng rộng về lời Phật dạy, mà chỉ dùng vô niệm làm tông.

Đỗ Hồng Tiệm làm tướng quốc đời Đường có tài an dân xuất cách, nghe danh tiếng của Sư, nghĩ đến chiêm lễ, sai sứ đến núi thỉnh mời Sư. Bấy giờ tiết độ sứ Thôi Ninh phụng mệnh chư tăng các chùa ra xa, tiếp đón đến chùa Không Huệ. Lúc đó Đỗ Hồng Tiệm cùng Nhung Soái chiêu gọi hàng tam học thạc đức câu hội trong chùa. Sư khai thị. Đỗ Hồng Tiệm cùng đại chúng làm lễ xưng tán, vui mừng mà đi.

Tháng sáu niên hiệu Đại Lịch thứ chín (774), Sư thị tịch ở chùa Bảo Đường.

NGỮ LỤC

Đỗ Hồng Tiệm hỏi: Đệ tử nghe Hòa thượng Kim thuyết ba câu pháp môn: Vô ức, vô niệm, chớ vọng. Phải chăng?

Sư đáp: Phải.

Đỗ Hồng Tiệm thưa: Ba câu này là một hay là ba?

Sư bảo: Vô ức gọi là giới, vô niệm gọi là định, chớ vọng gọi là huệ. Một tâm chẳng sanh, đầy đủ giới định huệ. Chẳng phải một, chẳng phải ba.

Đỗ Hồng Tiệm thưa: Chữ vọng câu sau, chẳng phải là chữ vong có bộ tâm sao? (忘 quên)

Sư bảo: Theo bộ nữ là đúng. (妄 tùy tiện)

Đỗ Hồng Tiệm thưa: Có căn cứ không?

Sư bảo: Kinh Pháp Cú nói: “Nếu khởi tâm tinh tấn, là vọng chẳng phải tinh tấn. Nếu tâm không vọng, tinh tấn không có bờ mé”.

Đỗ Hồng Tiệm nghe xong nghi tình rỗng sạch.

Đỗ Hồng Tiệm lại hỏi: Sư lại dùng tam cú dạy người chăng?

Sư bảo: Học nhân sơ tâm, nên bảo dứt niệm, lắng dừng sóng thức, nước trong bóng hiện. Ngộ thể vô niệm, tịch diệt hiện tiền, vô niệm cũng không lập.

Lúc ấy con quạ đậu ở cây trước sân kêu lên. Đỗ Hồng Tiệm hỏi: Sư nghe chăng?

Sư bảo: Nghe.

Quạ bay đi rồi, lại hỏi: Sư nghe chăng?

Sư bảo: Nghe.

Đỗ Hồng Tiệm thưa: Quạ bay đi không còn tiếng, làm sao nói nghe?

Sư bèn bảo khắp đại chúng rằng:

Phật ở thế gian khó gặp, chánh pháp khó nghe, các vị lắng nghe, tiếng hay không có tiếng, chẳng quan hệ tới tánh nghe. Xưa nay không sanh, đâu từng có diệt? Khi có tiếng, là tiếng của trần tự sanh, khi không tiếng, là tiếng của trần tự diệt. Mà tánh nghe này, không theo tiếng mà sanh, không theo tiếng mà diệt. Ngộ tánh nghe này, thì ra khỏi thanh trần xoay chuyển. Nên biết tánh nghe không sanh diệt, tánh nghe không đến đi.

Đỗ Hồng Tiệm cùng với quan liêu đại chúng cúi lạy.

Lại hỏi: Sao gọi là đệ nhất nghĩa? Đệ nhất nghĩa đó, theo thứ lớp nào mà được vào?

Sư bảo:

Đệ nhất nghĩa không có thứ lớp, cũng không có ra vào. Thế đế tất cả đều có, đệ nhất nghĩa tức không. Các pháp không tánh, nói tánh đó gọi là đệ nhất nghĩa. Phật nói có pháp gọi là tục đế, không tánh đệ nhất nghĩa.

Đỗ Hồng Tiệm thưa: Như chỗ Sư khai thị, thật không thể nghĩ bàn.

Ông lại nói: Đệ tử tánh thức cạn cợt, xưa nhân lúc rảnh việc, soạn được hai quyển Khởi Tín Luận chương sớ, có thể được gọi là Phật pháp chăng?

Sư bảo: Phàm tạo chương sớ, đều dùng thức tâm, suy nghĩ phân biệt, hữu vi có tạo tác, khởi tâm động niệm, mới có thể tạo thành.

Căn cứ vào luận văn nói rằng: Nên biết tất cả pháp, từ xưa đến nay, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, không có thay đổi, chỉ có nhất tâm, nên gọi là chơn như. Nay tướng công chấp nơi tướng ngôn thuyết, chấp nơi tướng danh tự, chấp nơi tướng tâm duyên, đã chấp các thứ tướng, sao gọi là Phật pháp?

Đỗ Hồng Tiệm đứng lên làm lễ thưa: Đệ tử cũng từng hỏi các vị Đại đức, đều tán thán đệ tử không thể nghĩ bàn. Nay biết các vị chỉ theo nhân tình, Sư theo lý giảng giải, hợp pháp tâm địa, thật là chơn lý không thể nghĩ bàn.

Đỗ Hồng Tiệm lại hỏi: Thế nào là không sanh? Thế nào là không diệt? Thế nào được giải thoát?

Sư đáp:

Thấy cảnh tâm không khởi, gọi không sanh. Không sanh tức không diệt. Đã không sanh diệt, tức không bị tiền trần trói buộc, ngay đó giải thoát, không sanh gọi là vô niệm, vô niệm gọi là vô diệt, vô niệm tức gọi là vô phược, vô niệm tức vô thoát. Đại lược mà nói, thức tâm tức lìa niệm, kiến tánh tức giải thoát. Ngoài việc lìa thức tâm kiến tánh, lại có pháp môn chứng Vô thượng Bồ-đề, không có việc đó.

Đỗ Hồng Tiệm thưa: Sao gọi là thức tâm kiến tánh?

Sư bảo:

Tất cả người học đạo, theo niệm lang thang, bởi vì không biết chơn tâm. Chơn tâm đó, niệm sanh cũng không thuận sanh, niệm diệt cũng không nương nơi lặng yên. Chẳng đến chẳng đi, chẳng định chẳng loạn, chẳng thủ chẳng xả, chẳng chìm chẳng nổi. Vô vi vô tướng sinh động tự nhiên, tâm thể này bình thường tự tại, rốt ráo chẳng thể được, không thể giác biết, chạm mắt đều như, đều kiến tánh vậy.


NGUỒN

🔗 ngulucthien.com

🔗 ngulucthien.com


GHI CHÚ


Thiền sư liên quan