BÀNG UẨN [Cư Sĩ]


GIỚI THIỆU

Bàng Cư Sĩ (zh. 龐居士 Páng Jūshì, ja. Hōkoji, 740–808), còn gọi là Bàng Uẩn Cư Sĩ, Bàng Long Uẩn, là cư sĩ Thiền Tông ngộ đạo nổi tiếng thời Đường.

Ông là môn đệ của hai vị Thiền sư kiệt xuất đương thời là Thạch Đầu Hi Thiên và Mã Tổ Đạo Nhất, đồng thời ông cũng là bạn với Thiền sư Đan Hà Thiên Nhiên.

Ông được xem như là cư sĩ Duy Ma Cật của Trung Quốc và là minh chứng cho việc những người cư sĩ, phật tử bình thường (không phải người xuất gia) nếu có ý chí tu học cũng có thể đạt đạo và sống một cuộc đời giác ngộ.

Những cuộc pháp chiến, đối đáp thiền ngữ với các Thiền sư đương thời và 300 bài kệ Thiền do ông sáng tác đã được ghi chép lại trong quyển Bàng Uẩn Ngữ Lục.

Đây là một điều khá hiếm vì thông thường các bản ngữ lục chỉ dùng để ghi chép hành trạng, pháp ngữ của các vị Thiền sư nổi tiếng. Các công án Thiền và Thơ Thiền của ông đã gây cảm hứng rất nhiều đến người đời sau.

GIA ĐÌNH

Ông tên thật là Bàng Uẩn, và cũng hay được gọi là Bàng Cư sĩ. Bàng (龐) là họ của ông và Cư sĩ (居士) trong tiếng Sanskrit là Upasaka, tức dùng để chỉ những người tu học theo Phật Pháp nhưng không cạo tóc, xuất gia.

Ông quê ở huyện Hành Dương, Xung Châu và gia đình ông vốn theo Nho Giáo, đời sống ông khá thanh đạm.

Ông là một thương gia giàu có và có gia đình êm ấm, vợ ông thường được gọi là bà Bàng, con gái ông tên là Bàng Linh Chiếu (zh. Linhchao), con trai tên là Bàng Đại.

Gia đình ông bốn người đều hứng thú với việc học Phật Pháp và thường xuyên xem Kinh Điển, về sau, cả gia đình ông đều đại ngộ.

TU HỌC

Năm 785, ông đến núi Hành Sơn (một trong chín ngọn núi thiêng của Trung Quốc) để gặp Thiền sư Thạch Đầu Hi Thiên - một trong hai vị thiền sư nổi trội nhất đương thời (người còn lại là Mã Tổ Đạo Nhất) và tham hỏi về Thiền.

Ông hỏi Thiền sư Thạch Đầu: “Người không cùng muôn pháp làm bạn là ai?”.

Thiền sư Thạch Đầu lấy tay bụp miệng ông lại, ông bỗng nhiên có chỗ khai ngộ.

Một hôm Thiền sư Thạch Đầu hỏi: “Từ ngày ông thấy lão Tăng đến nay hằng ngày làm việc gì?”.

Ông đáp: “Nếu hỏi việc làm hằng ngày tức không có chỗ mở miệng” và trình bài kệ sau:

日用事無別

唯吾自偶諧

頭頭非取捨

處處勿張乖

朱紫誰爲貴

丘山絕點埃

神通并妙用

運水及般柴

Nhật dụng sự vô biệt

Duy ngô tự ngẫu hài

Đầu đầu phi thủ xả

Xứ xứ vật trương quai

Châu tử thuỳ vi quý

Khâu sơn tuyệt điểm ai

Thần thông tịnh diệu dụng

Vận thủy cập ban sài!

Hàng ngày không việc khác

Mình ta ta hòa chung (Chỉ tôi tự biết hay)

Việc việc không nắm bỏ (Vật vật chẳng bỏ, lấy)

Nơi nơi chẳng trệ ngưng (Chỗ chỗ nào trái bày)

Quan chức có gì quý (Đỏ tía gì làm hiệu)

Đồi núi bặt bụi hồng (Núi gò bặt trần ai)

Thần thông cùng diệu dụng

Gánh nước, bổ củi tài

Thiền sư Thạch Đầu thấy ông có trí huệ, căn cơ tu hành nên hỏi: “Ông muốn làm cư sĩ hay xuất gia?”.

Ông đáp: “Xin cho con theo sở nguyện, không cạo tóc xuất gia” và từ đó đến cuối đời ông vẫn giữ hình tượng người cư sĩ.

Sau ông đến vùng Giang Tây, tại đây lúc bấy giờ là nơi giáo hóa của Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất và rất hưng thịnh.

Tại đây ông cũng hỏi Thiền sư Mã Tổ: “Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?”.

Mã Tổ đáp: “Đợi miệng ông hút hết nước Tây giang, ta sẽ nói với ông”.

Ngay câu nói này, ông đại ngộ và được Mã Tổ ấn khả, ông tiếp tục ở lại đây tu tập thêm hai năm để bảo nhậm công phu.

Ông có làm bài kệ tỏ ngộ:

Mười phương đều tụ lại

Người người học vô vi

Đây là trường tuyển Phật

Tâm không thi đậu về

SAU KHI ĐẠI NGỘ

Sau ông trở về nhà lấy thuyền và chở toàn bộ của cải đem đổ hết xuống sông Tương Giang (có sách khác nói là động Đình Hồ) và cúng dường khu gia thất cho việc xây chùa và cất một am thất nhỏ để ở và tu hành.

Cô con gái Linh Chiếu hàng ngày chẻ tre làm sáo bán lấy tiền nuôi cha, người con trai làm nông nuôi mẹ.

Vợ ông, người con trai, con gái (con gái ông ngộ đạo lúc 18 tuổi) khi nghe ông đối đáp Thiền với các vị Thiền sư khác thì cũng đại ngộ.

Và như thế cả gia đình ông đều là những người thực hành Thiền Tông và chứng ngộ, đây là một sự việc hết sức hiếm có trong lịch sử Phật giáo.

Ông có làm bài kệ về gia đình mình như sau:

有男不婚

有女不嫁

大家團樂頭

共說無生話

Hữu nam bất thú

Hữu nữ bất giá

Đại gia đoàn biến đầu

Cộng thuyết vô sinh thoại.

Có trai không cưới

Có gái không gả

Cả nhà chung hội họp

Đồng bàn lời vô sanh

THỊ TỊCH

Năm 808, sau nhiều năm du phương khắp nơi, ông già yếu và trở về ẩn cư tại Hương Châu, tỉnh Quảng Tây và có chút bệnh.

Một hôm, ông thấy đến lúc mình có thể thị tịch rồi nên gọi con gái Linh Chiếu ra xem mặt trời đúng giờ ngọ hay không.

Linh Chiếu ra xem rồi vào thưa: “Mặt trời đã đúng ngọ, mà sao bị sao thiên cẩu ăn mất”.

Ông tự ra xem nhưng chả thấy có gì, quay vào thất thì thấy con gái đã ngồi tọa Thiền vào chỗ của cha từ lúc nào và an nhiên thị tịch.

Ông vào thấy vậy cười nói: “Con gái ta lanh lợi quá”.

Rồi ông lo liệu hậu sự, trà tỳ nhục thân cô con gái và dự định bảy ngày sau sẽ tịch. Có Vu Công đến thăm bệnh, ông nói: “Tất cả đều là không. Tất cả các vật đều như bóng theo hình”.

Rồi ông gối đầu lên gối Vu Công mà tịch.

Theo lời căn dặn trước khi mất, nhục thân của ông sẽ được trà tỳ và tro cốt sẽ rải trên sông. Ngày đưa tang có hàng ngàn tăng, tục rơi lệ đến viếng ông.

Vợ ông là Bà Bàng sau khi nghe chồng và con gái đã tịch, tự nói: “Con gái ngu si với ông già vô tri, không báo tin mà đi sao đành vậy!”.

Bà ra báo tin cho con trai ngoài đồng, người con trai đang cuốc đất nghe tin cha với em đã mất bèn đáp:“Dạ!” một tiếng với mẹ xong rồi chống cuốc đứng mà tịch.

Bà Bàng nói: “Thằng này sao ngu si lắm vậy!” Sau khi bà hỏa táng con trai xong, bà từ biệt hết tất cả người quen, thân thuộc rồi biệt tích.

NGỮ LỤC

➡️ Xem chi tiết tại: 1


NGUỒN

🔗 wikipedia


GHI CHÚ

Footnotes

  1. 📝 BÀNG UẨN CƯ SĨ NGỮ LỤC - Đối Đáp Căn Cơ


Thiền sư liên quan