Phủ Châu Tào Sơn Bổn Tịch 1 Thiền Sư Ngữ Lục (Nhật Bổn Huyền Khiết biên)
Sư dạy chúng:
Có kiến giải phàm thánh đều là bị khóa vàng phong tỏa huyền lộ, cần phải dung thông. Phàm người muốn giữ Chánh mạng thực 2, phải biết 3 loại đọa:
Mang lông đội sừng
Chẳng đọa thanh sắc
Chẳng thọ thực
Có vị tăng hỏi Sư về yếu chỉ của Ngũ vị quân thần, Sư trả lời:
Chánh vị tức Không giới, xưa nay không một vật; Thiên vị tức Sắc giới, vạn tượng vạn vật hữu hình. Thiên trong chánh là bỏ lý theo sự. Chánh trong thiên là bỏ sự về lý. Kiêm đới là thầm hợp các duyên, chẳng rơi vào các hữu, chẳng nhiễm chẳng tịnh, chẳng chánh chẳng thiên; cho nên nói rằng đại đạo hư huyền, không dính mắc vào chơn tông. Các bậc Tiên đức cho rằng một vị này tối diệu tối huyền, cần phải biện biệt thật rõ ràng chính xác! Vua là chánh vị; thần là thiên vị; thần hướng về vua là chánh trong thiên; vua nhìn thần là thiên trong chánh; đạo vua tôi hợp là lời kiêm đới.
Sư lại dạy:
Theo Quân thần, Thiên chánh để luận bàn, thì vì chẳng muốn phạm tội bất trung cho nên thần chỉ khen vua chứ không dám có lời chê bai. Đó là ý chỉ của Tông ta.
Hãy nghe kệ của ta:
Người học trước tiên biết Tự tông
Chớ xen chơn tế với ngoan không.
Chơn thể diệu minh tri xúc chạm
Sức tại gặp duyên chẳng mượn Trung.
Xuất ngôn cần phải thiêu chẳng cháy
Hạnh ẩn nên với cổ nhơn đồng
Không thân, có việc qua đường hiểm
Không việc, không thân lạc thủy chung.
Sư lại làm bài tụng Ngũ tướng:
1.◓
Thường dân được phong Tể tướng.
Việc ấy chẳng lạ gì
Bao đời đã tôn quí
Chẳng nói lúc hàn vi
2.◒
Nửa đêm ngay chánh vị
Sáng tỏ tại quân thần
Chưa rời cung Đâu-suất
Trên tuyết lộ gà đen
3.ž
Băng kết trong lò lửa
Hoa thông tháng chín bay
Trên nước trâu đất rống
Theo gió ngựa gỗ kêu
4.○
Ngày mới giáng Vương cung
Thỏ ngọc chẳng thể rời
Chưa đạt vô công dụng
Trời người sao quá chậm
5.●
Mịt mờ ẩn sự lí
Tín hiệu cũng chẳng bày
Oai Âm Vương không biết
Di-lặc há rõ rành.
Sư làm bài tụng:
Giác tánh viên minh không tướng thân
Chớ đem tri kiến luận xa gần
Niệm khác, khiến cho Huyền thể ngại
Tâm sai, chẳng hợp đạo tương lân
Tình phân, vạn pháp chìm tiền cảnh
Thức chia, trăm mối mất bản chân
Trong câu, như thế toàn liễu ngộ
Rõ ràng vô sự, Tích thời nhân!
(Người bản lai)
Sư đọc bài kệ Pháp thân của Phó Đại sĩ trong truyện Đỗ Thuận, bèn nói:
- Ý ta không muốn nói như thế, nhưng đệ tử thỉnh cầu làm kệ tụng. Ta đã làm kệ và chú thích:
Y vốn chẳng phải là ta- (chẳng phải ta)
Ta vốn chẳng phải là y- (chẳng phải y)
Không có ta, Y ắt chết- (xin ông giữ lấy mạng sống)
Không có y, Ta ắt thừa- (không có ai khác)
Y như ta, tức là Phậ.- (nhưng chẳng phải là Phật)
Ta như y, tức là lừa. (cả hai đều chẳng lập)
Chẳng ăn gậy của Không vương- (nếu gặp thức ăn của vua cũng nên mửa ra)
Đâu nhờ chim nhạn chuyển thư- (chẳng gửi thư)
Ta nói đem thân ca xướng- (tín xướng)
Anh xem lông mọc trên lưng- (không giống hắn)
Thoạt như đồng dao tuyết trắng- (lẽ nào là tuyết trắng)
Còn ngại là tiếng Ba ca- (câu này không chú thích)
Nam Châu Soái là Nam Bình Chung vương nghe tin Sư đạo đức danh vang nên hết lòng dùng lễ kính thỉnh, nhưng Sư từ chối, làm bài thơ Đại Mai Sơn Cư gởi cho sứ đem về dâng cho Vương:
Cây khô xơ xác gởi hàn lâm
Bao độ xuân sang chẳng đổi tâm
Tiều lão thấy qua còn chẳng đoái
Việc chi người Dĩnh khổ công tầm.
Sư làm bài kệ Tứ Cấm:
Chớ đi đường tâm xứ
Chẳng mặc áo bản lai
Không nên xem chân thật
Rất kỵ lúc chưa sanh.
Sư làm kệ dạy bảo đệ tử:
Từ duyên ngộ được chóng tương ưng
Theo thể tiêu trừ chậm tận tường
Chớp mắt xưa nay không xứ sở
Thầy ta tạm nói chẳng nghĩ lường.
Sư thị chúng:
Hàng tăng sĩ mặc pháp phục này, theo lý thì nên biết rõ việc hướng thượng, chớ cho là việc tầm thường. Nếu chỗ thừa đương rõ ràng, tức có thể chuyển được chư Thánh về phía sau lưng của tự kỷ, như thế mới được tự do. Nếu không chuyển được thì dầu có học được 10 phần đi nữa cũng chắp tay đứng sau lưng các vị ấy mà thôi, còn nói được gì?
Nếu chuyển được tự kỷ, một khi các cảnh giới dù thô hiển hiện đến cũng có thể làm chủ được. Ví như té ngã trong bùn cũng làm chủ được. Như một vị tăng hỏi ngài Dược Sơn: “ Trong Tam thừa giáo, có ý Tổ chăng? Ngài Dược Sơn đáp: Có. Tăng hỏi: Đã có thì Đạt-ma đến làm gì? Dược Sơn đáp: Chỉ vì có nên mới đến”. Như thế, há chẳng phải đã làm chủ được, chuyển được trở về tự kỷ sao? Kinh dạy: “Phật Đại Thông Trí Thắng, 10 kiếp ngồi đạo tràng, Phật Pháp chẳng hiện tiền, chẳng thành Phật đạo”. Kiếp tức là dính mắc, gọi là 10 phần, cũng gọi là đoạn sấm lậu, là tuyệt ngã tư đường vậy, chẳng quên Đại quả. Cho nên nói: Giữ chặt, đắm trước là cẩu thả thừa đương, chẳng biết tốt xấu.
Ta thường thấy trong tòng lâm, có một loại người thích luận bàn, như vậy có thể lập được việc hướng thượng chăng? Bọn người này chỉ nói những việc đã rõ từ trước. Ông không nghe thiền sư Nam Tuyền nói: “Dẫu cho ông học được 10 phần, cũng còn cách Vương lão sư một quãng đường”. Việc rất khó, đến đây cần phải kỹ càng, mới được rõ ràng tự tại. Chẳng luận là thiên đường, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chỉ cần tất cả nơi không dời đổi. Vốn là người xưa, nhưng không đi con đường xưa mà thôi!
Nếu có tâm ham thích, lại thành ra chấp trước, nếu thoát được thì chọn lựa làm gì? Cổ đức nói: “Chỉ sợ không được luân hồi”. Ông nói thế nào? Như người hôm nay thích nói chỗ thanh tịnh, thích nói đến việc quá khứ, bệnh này rất khó trị. Như việc thô trọng của thế gian lại là nhẹ, còn bệnh thanh tịnh này là nặng, vì đắm trước tất cả mùi vị Tổ, Phật. Thầy ta nói: “Tâm sinh là phạm giới, biết vị là phá trai, hãy gọi cái gì là vị? Chỉ là mùi vị Phật, Tổ. Vừa khởi tâm ham thích liền phạm giới. Như nay nói phá trai phá giới thì vừa lập tam yết-ma là đã phá rồi, như ba hoặc tham, sân, si tuy khó đoạn nhưng lại nhẹ, còn thanh thanh tịnh tịnh, vô vi vô sự thì lại nặng không gì sánh nổi.
Tổ sư xuất thế cũng chỉ vì cái này, cũng chẳng vì một mình ông. Ngày hôm nay chớ xem thường. Mèo nhà, trâu trắng tu hành lại càng sung sướng, chẳng còn có thiền có đạo. Còn như ông tìm cầu đủ loại, nào Phật Tổ cho đến Bồ-đề Niết-bàn, đến bao giờ mới xong việc đây? Tất cả đều là tâm sanh diệt, vì thế không bằng mèo nhà, trâu trắng ngờ nghệch vô tri, không biết Phật, Tổ, Bồ-đề, Niết-bàn, cho đến thiện ác, nhân quả, chỉ biết đói ăn khát uống mà thôi. Nếu có thể như thế thì lo gì không thành tựu! Ông không nghe nói: “Tính toán suy lường thì không thành”. Vì thế biết rõ sẽ mang lông đội sừng, kéo dắt nhau đi. Được tiện nghi này mới có chút ít phần tương ưng.
Ông không nghe nói các thế giới A-súc, Di-lặc, Diệu Hỷ… bị người Hướng thượng gọi là nơi của hàng Bồ-tát giải đãi vô tàm quí, cũng gọi là Biến dịch sanh tử. Như vậy đối với việc chính phải thế nào? Nên cẩn thận mới được!
Người người đều có một chỗ ngồi vững chắc, Phật ra đời chiếm chẳng được. Thể hội như thế mà tu hành, chẳng nên chạy theo danh lợi. Nay ông thành Phật, thành Tổ cũng chỉ cái ấy, đọa tam đồ, địa ngục, lục đạo, cũng chỉ cái ấy! Tuy không có chỗ dùng, nhưng lìa nó chẳng được, cần phải làm chủ, nếu làm chủ được, tức không biến dịch. Thiền sư Vĩnh Gia nói: “Mờ mờ mịt mịt chiêu ương họa”.
NGUỒN
🔗 ngữ lục thiền sư Tào Sơn Bản Tịch - hoavouu.com
GHI CHÚ
Footnotes
-
📝 Chánh mạng thực: Phương cách đúng chánh pháp mà tỳ-kheo dùng nuôi sống thân mạng, đó là khất thực. ↩