Phủ Châu Tào Sơn Bổn Tịch 1 Thiền Sư Ngữ Lục (Nhật Bổn Huyền Khiết biên)
Lúc bấy giờ có Trù Bố Nạp hỏi: Mang lông đội sừng là đọa gì?
Sư đáp: Là Loại đọa
Trù Bố Nạp hỏi: Chẳng đoạn thanh sắc là đọa gì?
Sư đáp: Là Tùy đọa
Bố Nạp hỏi: Chẳng thọ thực là đọa gì?
Sư đáp: Là Tôn quí đọa
Có vị tăng hỏi: Thế nào là vua?
Sư đáp: Diệu đức trùm vũ trụ,
Rực sáng khắp hư không!
Tăng hỏi: Thế nào là thần?
Sư đáp: Máy linh truyền đạo Thánh
Chơn trí lợi quần sanh.
Tăng hỏi: Thế nào là thần hướng về vua?
Sư đáp: Chẳng đọa vào đường khác
Lắng lòng nhìn Thánh quân
Tăng hỏi: Thế nào là vua nhìn thần?
Sư đáp: Dung nhan tuy chẳng động
Soi chiếu chẳng lệch nghiêng.
Tăng hỏi: Thế nào là đạo quân thần hợp?
Sư đáp:
Rõ ràng không nội ngoại
Hòa hợp trên dưới đồng.
Khi hành cước, Sư hỏi thiền sư Ô Thạch Quán: Thế nào là Pháp môn chủ của Tỳ-lô sư?
Sư: Nếu ta nói cho ông, tức là có một cái riêng biệt!
Sư thưa lại với ngài Động Sơn, ngài Động Sơn nói: Thật là câu thoại rất hay, nhưng thiếu lời hỏi tiếp theo! Sao ông không hỏi “vì sao chẳng nói?”
Sư đến Ô Thạch, lặp lại lời ngài Động Sơn. Ô Thạch nói: Nếu cho rằng ta không nói, thì miệng ta câm mất; nếu cho rằng ta nói, thì lưỡi ta cứng mất.
Sư trở về thuật lại cho ngài Động Sơn, ngài Động Sơn thầm chấp nhận Ô Thạch.
Thiền sư Vân Môn hỏi Sư: Thế nào là hạnh Sa-môn?
Sư đáp: Là ăn lúa mạ của thường trụ.
Vân Môn hỏi: Khi đến như thế thì thế nào?
Sư hỏi: Ông có nuôi được chăng?
- Nuôi được! _ Vân Môn nói
Sư hỏi: Làm sao nuôi?
- Cho mặc áo, ăn cơm, có khó gì? _ Vân Môn đáp
Sư nói: Sao chẳng nói mang lông đội sừng?
Vân Môn liền lễ bái.
Sư dạy chúng: Các bậc Tôn túc trong thiên hạ nắm giữ tất cả phép tắc, vì sao không nói cho y một chuyển ngữ, làm cho y hết nghi đi?
Vân Môn nghe xong bước ra thưa: Chỗ bí mật vì sao không thấu?
Sư đáp: Chỉ vì bí mật, cho nên không thấu được!
(Tuyết Đậu hạ biệt ngữ: Đạt-ma đến rồi!)
Vân Môn nói: Người này làm sao gần gũi?
Sư nói: Chớ nên gần gũi chỗ bí mật!
Vân Môn hỏi: Khi không gần gũi chỗ bí mật thì thế nào?
Sư đáp: Mới biết gần gũi!
Vân Môn: Dạ! Dạ!
(Diệu Hỷ hạ biệt ngữ: Dầu dơ làm đen tim đèn!)
Thiền sư Vân Môn hỏi Sư: “Người không biến đổi” đến, Hòa thượng có tiếp chăng?
Sư đáp: Tào Sơn không có công việc nhàn rỗi như thế!
Hòa thượng Mễ đến, chưa gặp nhau đã ngồi trên giường thiền của Sư, Sư không ra tiếp, hòa thượng Mễ liền bỏ đi. Vị tăng Chủ sự thấy thế liền hỏi:
- Giường thiền của Hòa thượng vì sao bị người khác ngồi?
Sư đáp: Y sẽ trở lại!
Thật vậy, sau hòa thượng Mễ trở lại cùng Sư tương kiến.
Thiền sư Trí Cự đến tham kiến, Sư hỏi rằng: Người xưa nắm chặt người bên kia, học nhơn làm sao thể hội?
Trí Cự đáp: Lui bước liền thôi, vạn người chẳng mất một!
Trí Cự ngay đó quên hết những kiến giải Phật pháp.
Sư hỏi Kim Phong Chí: Đến làm gì?
Phong Chí đáp: Lợp nhà!
Sư hỏi: Xong chưa?
- Bên này thì xong. _ Phong Chí đáp.
Sư hỏi: Còn việc bên kia thì sao?
Phong Chí: Đợi xong ngày công mới trình Hòa thượng.
Sư nói: Như thế! Như thế!
Thiền sư Thanh Thuế thưa: Con nghèo khổ, cầu xin Hòa thượng từ bi cứu giúp!
Sư bèn gọi: Xà-lê Thuế, đến đây!
Thuế dạ và bước đến gần Sư, Sư liền nói:
- Uống cạn ba chén rượu của nhà họ Bạch ở Tuyền Châu (Thanh Nguyên) mà nói chưa dính môi.
(Huyền Giác hạ biệt ngữ: Cùng với ông ta uống rượu chỗ nào?)
Thiền sư Cảnh Thanh hỏi: Lý thanh tịnh rỗng rang, rốt cuộc khi không có thân thì như thế nào?
Sư hỏi lại: Lý tức như thế, còn Sự thì sao?
Cảnh Thanh đáp: Như Lý như Sự.
Sư nói: Dối gạt một mình Tào Sơn thì được, nhưng đâu có thể qua được con mắt của chư Thánh!
Cảnh Thanh nói: Nếu không có con mắt của chư Thánh, thì đâu thể soi xét được cái chẳng như thế.
Sư nói: Pháp luật tuy nghiêm minh, nhưng cũng phải tùy cơ phương tiện.
(Thiền sư Đại Qui Mộ Triết hạ biệt ngữ: Tào Sơn tuy khéo mài giũa ngọc, nhưng đâu thể làm gì với viên ngọc Cảnh Thanh vốn không tỳ vết! Nếu không qua đôi tay khéo léo, thì rốt cuộc cũng thành vật phế bỏ).
Sư hỏi thượng tọa Đức: Câu “Bồ-tát trụ trong định, nghe Hương tượng qua sông” trích từ kinh nào?
- Từ kinh Niết-bàn. _ Thượng tọa Đức đáp.
Sư hỏi: Nghe trước khi định hay sau khi định?
Thượng tọa Đức nói: Hòa thượng trôi mất rồi!
Sư nói: Nói quá nhiều, cũng chỉ mới nói được một nửa!
Thượng tọa Đức hỏi: Hòa thượng thì thế nào?
Sư đáp: Dưới thác tiếp lấy!
Đạo giả Chỉ Y đến tham vấn. Sư hỏi: Chỉ Y đó chăng?
- Dạ, không dám! _ Chỉ Y đáp.
Sư hỏi: Thế nào là việc của Chỉ Y?
Chỉ Y đáp: Áo lông cừu vừa mặc, vạn pháp thảy đều như!
Sư hỏi: Thế nào là dụng của Chỉ Y?
Chỉ Y đến gần cất tiếng dạ rồi thoát hóa.
Sư liền nói: Ngươi chỉ biết đi như thế, sao chẳng biết đến như thế?
Chỉ Y bỗng nhiên mở mắt hỏi: Chơn tánh minh linh, khi chẳng gá bào thai, thì thế nào?
Sư đáp: Chưa phải là diệu!
Chỉ Y hỏi: Thế nào mới là diệu?
Sư đáp: Chẳng gá mà gá!
Chỉ Y tạm biệt rồi thị tịch.
Có vị tăng nêu lại nhân duyên vấn đáp giữa Lục Hoàn đại phu và thiền sư Nam Tuyền rằng: Hòa thượng họ gì?
Lục Hoàn đáp: Họ Vương!
Nam Tuyền hỏi: Vương có quyến thuộc không?
- Có bốn cận thần sáng suốt! _ Lục Hoàn đáp.
Nam Tuyền hỏi: Vương ở vị nào?
- Rêu xanh trong điện ngọc. _ Lục Hoàn đáp”.
Nêu xong tăng hỏi Sư: Rêu xanh trong điện ngọc, ý chỉ thế nào?
Sư đáp: Chẳng ở chánh vị.
Tăng hỏi: Bốn phương đều đến thì thế nào?
Sư đáp: Y không nhận lễ.
Tăng hỏi: Như thế đâu cần vào chầu?
Sư đáp: Trái lệnh thì chém!
Tăng hỏi: Trái nghịch là việc của bề tôi, chưa biết ý Vương như thế nào?
Sư đáp: Cơ yếu bí mật chẳng được chỉ dụ.
Tăng nói: Như thế thì công lo liệu thuộc về thần vậy!
Sư hỏi: Ông biết ý của Vương chăng?
Tăng đáp: Bên ngoài không dám bàn luận!
Sư nói: Như thế! Như thế!
Tăng nói: Đệ tử toàn thân là bệnh, xin Hòa thượng chữa trị!
Sư đáp: Không chữa!
Tăng hỏi: Vì sao không chữa?
Sư đáp: Ta bảo ông không được cầu sống, cũng không được cầu chết!
Tăng hỏi Sư:
- Người xưa nói con người có bệnh nặng, thế gian không thể chữa trị được, chẳng biết đó là bệnh gì?
Sư đáp: Bệnh “tu tập không được”.
Tăng hỏi: Tất cả chúng sanh có bệnh này chăng?
Sư đáp: Ai cũng có!
Tăng hỏi: Hòa thượng có chăng?
Sư đáp: Tìm chỗ sinh khởi chẳng được!
Tăng hỏi: Tất cả chúng sanh vì sao không bệnh?
Sư đáp: Nếu chúng sanh bệnh tức chẳng phải chúng sanh.
Tăng hỏi: Không biết chư Phật có bệnh này chăng?
Sư đáp: Có!
Tăng hỏi: Đã có vì sao không thấy bệnh?
Sư đáp: Vì Y tỉnh thức!
Tăng hỏi: Sa-môn há chẳng phải là người có lòng đại từ bi sao?
- Đúng! _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Bỗng nhiên gặp sáu tên giặc đến thì thế nào?
Sư: Cũng cần phải đủ lòng đại từ bi.
Tăng hỏi: Thế nào mới đủ đại từ bi?
- Một kiếm chém sạch! _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Sau đó thì thế nào?
- Mới được hòa đồng. _ Sư đáp.
Vị tăng hỏi Sư: Mi và mắt có biết nhau chăng?
- Không biết nhau. _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Vì sao?
- Vì ở cùng một chỗ. _ Sư đáp.
Tăng nói: Thế thì không phân biệt được!
Sư nói: Mi chẳng phải là mắt, mắt chẳng phải là mi!
Tăng hỏi: Thế nào là mắt?
Sư đáp: Lãnh hội đi!
Tăng hỏi: Thế nào là mi?
- Tào Sơn lại còn nghi. _ Sư nói.
Tăng hỏi: Hòa thượng vì sao lại nghi?
- Nếu chẳng nghi tức đã lãnh hội. _ Sư đáp.
Tăng hỏi Sư: Khi Ngũ vị 2 đối với khách, thì thế nào?
- Nay ông hỏi vị nào? _ Sư hỏi.
Tăng nói: Con từ Thiên vị đến, thỉnh Hòa thượng từ Chánh vị tiếp!
- Không tiếp. _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Vì sao?
- Sợ lạc vào Thiên vị. _ Sư đáp.
Sư lại hỏi vị tăng: Như chẳng tiếp, là đối khách hay chẳng đối khách?
- Sớm đã đối khách rồi! _ Tăng đáp.
Sư nói: Như thế! Như thế!
Vị tăng hỏi: Vạn pháp từ đâu sanh?
- Từ điên đảo sanh. _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Khi không điên đảo, vạn pháp đâu có?
- Có! _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Tại nơi nào?
Sư đáp: Điên đảo làm gì?
Tăng hỏi Sư: Loại cỏ không nảy mầm, vì sao che giấu được Hương tượng 3?
Sư đáp: Xà-lê chính là Tác gia, hỏi Tào Sơn làm gì?
Tăng hỏi Sư: Ba cõi loạn động, sáu đường mờ mịt, làm thế nào để phân biệt được sắc?
- Không phân biệt. _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Vì sao không phân biệt sắc?
Sư đáp: Nếu phân biệt sắc, tức mờ mịt vậy!
Một hôm Sư nghe tiếng chuông bỗng la:
- Ôi chao! Ôi chao!
Vị tăng bèn hỏi: Hòa thượng làm gì thế?
Sư nói: Nó đánh trúng tim ta!
Vị tăng không nói được.
(Ngũ Tổ Giới đáp thay: Có tật giật mình!)
Sư hỏi vị Duy-na: Từ đâu về?
- Khiêng bả hèm về! _ Duy-na thưa.
Sư hỏi: Đến chỗ hiểm làm sao khiêng?
Duy-na không đáp được.
(Vân Cư đáp thay: Chính lúc ấy nên tận lực!
Sơ Sơn đáp thay: Cần phải ném quách đi mới được!)
Một hôm, Sư vào tăng đường sưởi ấm, có một vị tăng hỏi rằng: Hôm nay trời lạnh quá?
Sư nói: Nên biết có người không lạnh!
Tăng hỏi: Ai không lạnh?
Sư bèn gắp cục than đỏ đưa ra.
Vị tăng bèn nói: Chớ nói không có người!
Sư bèn ném hòn than đỏ.
Vị tăng nói: Chỗ này con chẳng thể hội?
Sư nói: Mặt trời chiếu đầm sâu,
Sáng lại càng thêm sáng!
Tăng hỏi:
- Người không cùng môn pháp làm bạn, là ai?
Sư nói: Ông hãy nói, trong thành Hồng Châu, nhiều người như thế, đã đi đâu rồi?
Vị tăng hỏi: Thế nào là kiếm không mũi?
- Chẳng phải do tôi luyện mà thành! _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Xử dụng như thế nào?
- Người gặp đều chết! _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Người không gặp thì sao?
- Cũng phải rơi đầu! _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Người gặp đều chết, hẳn như thế, còn người không gặp vì sao lại rơi đầu?
Sư đáp: Ông không nghe nói trừ sạch tất cả sao?
Tăng hỏi: Sau khi trừ sạch thì như thế nào?
Sư nói: Mới biết có kiếm này!
Có một vị tăng hỏi Sư:
-
Đã là tướng trạng vì sao lại chân?
-
Tức tướng tức chân! _ Sư đáp.
Tăng hỏi: Nên hiển thị thế nào?
Sư đưa phất tử.
Hỏi: Gốc huyễn vì sao chân?
Sư nói: Gốc huyễn vốn chân!
(Pháp Nhãn hạ biệt ngữ: Gốc huyễn chẳng chân!)
Tăng hỏi: Ngay lúc huyễn hiển thị thế nào?
Sư đáp: Tức huyễn tức hiển.
(Pháp Nhãn hạ biệt ngữ: Huyễn tức chẳng có đương thể!)
Tăng hỏi: Thế thì trước sau chẳng lìa huyễn rồi!
Sư nói: Tìm tướng huyễn bất khả đắc!
Có vị tăng nói: Tức tâm tức Phật thì chẳng hỏi, thế nào là phi tâm phi Phật?
Sư đáp: Sừng thỏ chẳng phải không, sừng trâu chẳng phải có!
Hỏi: Thế nào là người thường tại?
Sư đáp: Vừa gặp Tào Sơn liền xuất hiện.
Tăng hỏi: Thế nào là người chẳng thường tại?
Sư đáp: Khó gặp!
Hỏi: Suy nghĩ há chẳng phải là “loại” sao?
Sư đáp: Cho dù chẳng suy nghĩ đi nữa cũng là “loại”!
Tăng hỏi: Thế nào là “dị”?
Sư đáp: Chẳng phải không biết đau ốm!
Có người hỏi: Cổ nhân nói rằng, người người đều có đủ, đệ tử ở trong trần lao, lại có chăng?
Sư bảo: Đưa bàn tay đây xem!
Người kia đưa ra, Sư bèn đếm ngón tay:
- 1, 2, 3, 4, 5, 6 đủ!
Có vị tăng hỏi: Thiền sư Lỗ Tổ quay mặt vào vách biểu thị việc gì?
Sư đưa tay bịt tai.
Người xưa có nói: Chưa có ai té trên đất mà không nương nơi đất để đứng lên.
Hỏi: Thế nào là té?
Sư đáp: Chấp nhận tức được!
Hỏi: Thế nào là đứng lên?
Sư đáp: Đứng lên!
Có vị tăng hỏi:
- Con trở về với bố, vì sao bố không đoái hoài?
Sư đáp: Theo lẽ phải như thế!
Tăng hỏi: Tình cha con còn đâu?
Sư đáp: Mới thành tình cha con!
Tăng hỏi: Thế nào là tình cha con?
Sư đáp: Đao chém chẳng lìa!
Hỏi: Khi không mặc áo tang thì thế nào?
Sư đáp: Tào Sơn đã mãn tang!
Hỏi: Sau khi mãn tang thì thế nào?
Sư đáp: Tào Sơn thích say rượu!
Kinh giáo có câu: Biển lớn không chứa tử thi, thế nào là biển lớn?
Đáp: Bao hàm vạn hữu.
Hỏi: Vì sao không chứa tử thi?
Đáp: Không dung chứa người tắt thở.
Hỏi: Đã bao hàm vạn hữu, vì sao không dung chứa người tắt thở?
Đáp: Vạn hữu chẳng có công ấy, người tắt thở có đức ấy!
Hỏi: Hướng thượng có việc hay không?
Đáp: Nói có nói không tức được, chứ Long vương vỗ kiếm biết làm sao?
Tăng: Có tri giải gì mà có thể ở trước chúng gạn hỏi?
Sư đáp: Không trình câu!
Tăng hỏi: Vấn nạn điều gì?
Sư đáp: Đao búa chém chẳng vào.
Tăng hỏi: Vấn nạn như thế, có người nào không chấp nhận chăng?
Sư đáp: Có!
Tăng hỏi: Ai?
Sư đáp: Tào Sơn!
Tăng hỏi: Thế gian, vật gì quí nhất?
Sư đáp: Đầu mèo chết quí nhất.
Tăng hỏi: Vì sao?
Sư đáp: Không ai trả giá nổi!
Vị tăng hỏi: Không lời nói, làm sao hiển bày?
Sư đáp: Chớ hướng vào trong đó mà hiển bày!
Tăng hỏi: Hướng vào đâu?
Sư đáp: Đêm qua, mất ba đồng trên giường.
Tăng hỏi: Mặt trời chưa mọc thì thế nào?
Sư đáp: Tào Sơn cũng từng đến như thế!
Tăng hỏi: Sau khi mọc thì như thế nào?
Sư đáp: Còn cách Tào Sơn nửa tháng lộ trình.
Sư hỏi một vị tăng: Làm gì?
Tăng đáp: Quét đất!
Sư hỏi: Quét trước Phật hay quét sau Phật?
Tăng đáp: Trước sau đều quét.
Sư nói: Đưa đôi giày đây cho Tào Sơn!
(Ngũ Tổ Giới đáp thay: Hòa thượng có tâm hành gì?)
Tăng hỏi Sư:
- Ôm ngọc đến dâng cho Sư, xin Sư mài giũa!
Sư đáp: Không mài giũa!
Tăng hỏi: Vì sao?
Sư đáp: Nên biết Tào Sơn khéo tay!
Hỏi: Thế nào là quyến thuộc của Tào Sơn?
Sư đáp: Trên đầu mang tóc trắng, trên đảnh một cành hoa!
Hỏi Sư: Cổ đức nói rằng: Cả đại địa chỉ có người này, chưa biết đó là ai?
Sư đáp: Chẳng thể có mặt trăng thứ hai!
Hỏi: Thế nào là mặt trăng thứ hai?
Sư đáp: Cũng mong lão huynh định mới được!
Hỏi: Thế nào là đệ nhất nguyệt?
Sư đáp: Hiểm!
Có vị tăng hỏi:
- Trong 12 thời, đệ tử phải bảo nhậm thế nào?
Sư đáp: Như đi qua làng có trùng độc, không nên để dính một giọt nước.
Tăng hỏi Sư: Thế nào là Pháp thân chủ?
Sư đáp: Cho rằng nhà Tần không người!
Tăng hỏi: Chẳng phải chính là cái ấy sao?
Sư đáp: Chém!
Tăng hỏi Sư: Gần gũi Đạo bạn nào mới được thường nghe điều chưa nghe?
Sư đáp: Cùng chung một cái đãy.
Tăng hỏi: Đó vẫn là Hòa thượng được nghe, thế nào là thường nghe điều chưa nghe?
Sư đáp: Chẳng đồng gỗ đá!
Tăng hỏi: Cái nào trước, cái nào sau?
Sư đáp: Ông chẳng từng nghe nói: Thường nghe điều chưa nghe sao?
Tăng hỏi Sư: Người trong nước, ai vỗ kiếm?
Sư đáp: Tào Sơn!
(Pháp Đăng hạ biệt ngữ: Ông chẳng phải là người như thế!).
Tăng hỏi: Định giết người nào?
Sư đáp: Tất cả đều giết!
Tăng hỏi: Bỗng gặp cha mẹ sanh ra thì làm sao?
Sư đáp: Chọn lựa làm gì?
Tăng hỏi: Còn mình thì sao?
Sư đáp: Ai làm gì được ta?
Tăng hỏi: Sao chẳng tự sát?
Sư đáp: Không có chỗ ra tay!
Tăng hỏi Sư: Nhà nghèo gặp cướp thì sao?
Sư đáp: Chẳng thể trừ sạch được.
Tăng hỏi: Vì sao?
Sư đáp: Vì giặc là người thân trong nhà.
Vị tăng hỏi: Một con trâu uống nước, năm ngựa chẳng hí là thế nào?
Sư đáp: Tào Sơn biết lời cấm kỵ!
Sư lại nói: Tào Sơn mãn tang!
Hỏi: Người thường chìm đắm trong biển sanh tử là ai?
Sư đáp: Mặt trăng thứ hai.
Tăng hỏi: Có cầu ra khỏi hay không?
Sư: Cũng có cầu ra khỏi, nhưng không có đường.
Tăng hỏi: Ra khỏi rồi, chưa biết ai tiếp được Y?
Sư đáp: Người mang gông sắt.
Tăng hỏi:
Tuyết phủ Thiên Sơn, vì sao đỉnh núi không trắng?
Sư đáp: Nên biết có dị trong dị.
Tăng hỏi: Thế nào là dị trong dị?
Sư đáp: Chẳng rơi vào sắc núi.
Có một vị tăng nêu nhân duyên thiền sư Dược Sơn hỏi người học: “- Bao nhiêu tuổi?
Đáp: 72 tuổi.
-
Là 72 ư? _ Dược Sơn hỏi.
-
Dạ! _ Người học đáp.
Dược Sơn liền đánh”.
Hỏi Sư rằng:
- Ý chỉ ấy như thế nào?
Sư đáp: Mũi tên trước còn có thể tránh, mũi tên sau bắn trúng người.
- Làm sao tránh bị ăn gậy?
Sư đáp: Sắc vua đã ban, chư hầu không được bàn luận.
Có vị tăng hỏi thiền sư Hương Nghiêm: Thế nào là Đạo?
Thiền sư Hương Nghiêm đáp:
- Rồng ca ngâm trong cây khô.
Tăng hỏi: Thế nào là người trong đạo?
- Cặp mắt trong đầu lâu. _ Hương Nghiêm đáp.
Vị tăng không lãnh ngộ được, bèn đến hỏi Thạch Sương: Thế nào là rồng ca ngâm trong cây khô?
Thạch Sương đáp: Vẫn còn vui.
Tăng hỏi: Thế nào là cặp mắt trong đầu lâu?
Thiền sư Thạch Sương đáp: Vẫn còn biết.
Vị tăng cũng không lãnh hội được, mới đến tham vấn Sư, Sư nói:
Lão Thanh văn Thạch Sương lại có kiến giải này. Nhân đó Sư làm bài tụng dạy chúng:
Cây khô rồng ngâm, chân kiến tính
Đầu lâu vô thức, nhãn mới minh
Vui - biết, diệt rồi tin tức bặt
Đương nhân đâu biện trọc với thanh.
Vị tăng lại hỏi: Thế nào là rồng ca ngâm trong cây khô?
Sư đáp: Huyết mạch không đoạn dứt.
Tăng hỏi: Thế nào là cặp mắt trong đầu lâu?
Sư đáp: Chẳng khô kiệt.
Tăng hỏi: Chưa biết có người nghe chăng?
Sư đáp: Khắp nơi chẳng được có một ai mà không nghe.
Tăng hỏi: Chưa biết rồng ca ngâm trong cây khô là chương cú gì?
Sư đáp: Không biết là chương cú gì mà người nghe đều chết.
Hỏi: Đại ý Phật pháp là gì?
Sư đáp: Lấp hồ lấp ao.
Hỏi: Thế nào là sư tử?
Sư đáp: Các loài thú khác chẳng đến gần được.
Hỏi: Thế nào là sư tử con?
Sư đáp: Nuốt cả cha mẹ.
Hỏi: Đã nói các loài thú khác đến gần chẳng được, vì sao bị con nuốt?
Sư đáp: Ông há chẳng nghe, nếu con gầm rống thì Tổ phụ đều chết.
Hỏi: Sau khi chết thì thế nào?
Sư đáp: Toàn thân trở về với cha.
Hỏi: Chưa biết khi Tổ phụ chết, cha trở về đâu?
Sư đáp: Cũng không còn chỗ.
- Vì sao lúc trước nói là toàn thân trở về với cha?
Sư đáp: Thí như Vương tử có thể thành vua của một nước _ Sư nói tiếp:
- Xà-lê! Việc này không được chấp trước, cần phải
rải ít hoa trên cây khô.
Hỏi: Vừa có thị phi liền mất tâm là thế nào?
Sư đáp: Chém! Chém!
Sư đọc bài kệ Pháp thân của Phó Đại sĩ trong truyện Đỗ Thuận, bèn nói:
- Ý ta không muốn nói như thế, nhưng đệ tử thỉnh cầu làm kệ tụng.
Ta đã làm kệ và chú thích:
Y vốn chẳng phải là ta- (chẳng phải ta)
Ta vốn chẳng phải là y- (chẳng phải y)
Không có ta, Y ắt chết- (xin ông giữ lấy mạng sống)
Không có y, Ta ắt thừa- (không có ai khác)
Y như ta, tức là Phậ.- (nhưng chẳng phải là Phật)
Ta như y, tức là lừa. (cả hai đều chẳng lập)
Chẳng ăn gậy của Không vương- (nếu gặp thức ăn của vua cũng nên mửa ra)
Đâu nhờ chim nhạn chuyển thư- (chẳng gửi thư)
Ta nói đem thân ca xướng- (tín xướng)
Anh xem lông mọc trên lưng- (không giống hắn)
Thoạt như đồng dao tuyết trắng- (lẽ nào là tuyết trắng)
Còn ngại là tiếng Ba ca- (câu này không chú thích)
Có một vị tăng hỏi Sư: Khi trăng sáng trên không trung bao la thì thế nào?
Sư đáp: Còn là kẻ dưới thềm.
Tăng nói: Thỉnh Hòa thượng dắt lên thềm!
Sư nói: Sau khi trăng lặn đến gặp mặt!
Sư dạy: Có một người từ vách cao ngàn trượng nhảy xuống vực, đó là ai?
Đại chúng không đáp được, Đạo Diên bước ra thưa: Không còn!
Sư hỏi: Không còn cái gì?
Tăng đáp: Mới đập không vỡ!
Sư chấp nhận.
Một vị tăng nêu nhân duyên: “Một hôm Tây Viên tự nấu nước tắm. Có một vị tăng đến hỏi: Vì sao không bảo Sa-di làm? Tây Viên vỗ tay ba cái”, để hỏi Sư.
Sư bèn đáp: Cũng đồng là vỗ tay cả, nhưng tựu trung thì Tây Viên kỳ quái, Câu Chi thì Chỉ đầu thiền, đó là vì chỗ thừa đương không thích đáng.
Tăng hỏi: Tây Viên vỗ tay, há chẳng phải là việc của tớ trai tớ gái sao?
Sư đáp: Đúng!
Tăng hỏi: Hướng thượng có việc không?
Sư đáp: Có.
Tăng hỏi: Thế nào là việc hướng thượng?
Sư bèn quát: Loại tớ trai tớ gái này!
Nam Châu Soái là Nam Bình Chung vương nghe tin Sư đạo đức danh vang nên hết lòng dùng lễ kính thỉnh, nhưng Sư từ chối, làm bài thơ Đại Mai Sơn Cư gởi cho sứ đem về dâng cho Vương:
Cây khô xơ xác gởi hàn lâm
Bao độ xuân sang chẳng đổi tâm
Tiều lão thấy qua còn chẳng đoái
Việc chi người Dĩnh khổ công tầm.
Sư làm bài kệ Tứ Cấm:
Chớ đi đường tâm xứ
Chẳng mặc áo bản lai
Không nên xem chân thật
Rất kỵ lúc chưa sanh.
Sư làm kệ dạy bảo đệ tử:
Từ duyên ngộ được chóng tương ưng
Theo thể tiêu trừ chậm tận tường
Chớp mắt xưa nay không xứ sở
Thầy ta tạm nói chẳng nghĩ lường.
Hỏi: Thế nào là mờ mờ mịt mịt chiêu ương họa?
Đáp: Tất cả cũng chỉ cái ấy.
Hỏi: Làm sao tránh được?
Đáp: Biết rõ tức được, cần tránh làm gì? Không chỉ không tránh Bồ-đề, Niết-bàn, phiền não, vô minh mà các việc thô trọng thế gian cũng chẳng cần phải tránh. Tránh tức đồng với biến dịch, cho đến thành Phật, thành Tổ, Bồ-đề, Niết-bàn, các tai họa này không nhỏ. Vì sao như thế? Chỉ vì biến dịch. Nếu không biến dịch, ngay đó tự do tự tại nơi cảnh mới được.
NGUỒN
🔗 ngữ lục thiền sư Tào Sơn Bản Tịch - hoavouu.com
GHI CHÚ
Footnotes
-
📝 Ngũ vị: Tức Ngũ vị Chánh Thiên và Ngũ vị Công Huân, do ngài Động Sơn lập. Ngũ Vị Quân Thần do ngài Tào Sơn lập. ↩
-
📝 Hương tượng: loài voi lớn có sức mạnh phi thường. Vốn chỉ cho loài voi trong thời kì giao phối. Trong thời kì này từ nơi voi phát ra mùi thơm và có sức mạnh vô cùng, không thể chế ngự. ↩