Nguyên Phù Tự nằm phía Tây bắc huyện Thành An, nơi thờ Xá lợi Nhị Tổ Huệ Khả. Theo “Từ huyện huyện chí” ghi: Nguyên Phù Tự xây cất vào năm Đường Trinh Quán 貞觀 thứ 16 (642).
Năm Khai Nguyên 20 (732), bắt đầu kiến lập bảo tháp trong chùa để an trí linh cốt Xá lợi Nhị Tổ Huệ Khả.
Đời Đường Nguyên Hòa 元和 thứ 12 (817) Chiêu Nghị Quân, Giám quân sử nhà Lý lập bia ký trước tháp.
Thời Tống Gia Hựu 嘉祜 trùng kiến lại tháp.
Bảo tháp Xá lợi Nhị Tổ Huệ Khả được làm bằng đá ghép lại. Sau trận động đất, chính quyền sợ nguy hiểm nên phải cho hạ Bảo tháp vào năm 1966. Hiện nay chỉ còn nền tháp sâu dưới lòng đất và đang chuẩn bị xây lại.
Xưa kia xá lợi Tổ được an trí trong một chiếc hộp bằng bạc rồi an trí vào trong một khám bằng đá chạm khắc tinh xảo.
Vì qua nhiều năm không có nơi thờ tự nên Xá lợi Tổ được lưu giữ trong Bảo tàng viện.
Hiện tại Chùa đang xây dựng lại bảo tháp nên đang xin thỉnh về lại Chùa để thờ.
Thời Tống Minh Đạo 明道 năm thứ hai (1033) Chùa được ban tên là “Quảng Từ Thiền Viện 廣慈禪院”.
Niên hiệu Nguyên Phù năm thứ ba (1100), Chùa được ban tên là “Nguyên Phù Tự 元符寺”
Khi sang Trung Hoa tiếp xúc với Vua Lương Võ Đế, do cơ duyên chưa khế hợp, Tổ Đạt Ma đã trốn sang Thiếu Lâm ngồi xoay mặt vào vách 9 năm.
Sau truyền pháp cho Nhị tổ Huệ Khả. Khi Tổ Huệ Khả giáo hóa Thiền tông thạnh hành, Vua biết được Tổ Đạt Ma sang để truyền pháp nên ăn năn lập ba bia đá để cảm niệm Tổ và hối lỗi mình.
Một tấm ở trước hang Thiếu Thất (Đạt Ma Động), một tấm ở Chùa Không Tướng và một tấm ở đây.
Hiện nay, các nhà khảo cổ phát hiện ra một con rùa bằng đá nằm sâu dưới ba mét đất so với nền đất hiện tại.
Kiểm tra thì thấy kiểu mẫu ứng hợp với bia đá này nên trong Chùa đã mang bia đá an trí trên lưng con rùa đá thời xưa đã làm sẵn.
Nằm trên một cánh đồng rộng lớn của miền quê, đã có hai nhóm chư Tăng đến trùng tu nhưng không thành tựu, đến nhóm thứ ba mới thực hiện được công cuộc trùng tu Chùa.
Hiện Chùa đang tiến hành xây dựng lại theo kiểu thời Đường và có tên là Nhị Tổ tự.
Chùa Nguyên Phụ, một ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng thờ Tổ Nhị, nằm ở phía bắc làng Đông Tử Tổ, cách huyện Thành An 9 km về phía tây bắc. Đây là nơi Tổ Nhị của phái Thiền tông, Huệ Năng, viên tịch vào năm thứ 13 niên hiệu Khai Hoàng nhà Tùy (năm 593 sau Công nguyên). Vào năm thứ 16 niên hiệu Chính Nguyên nhà Đường (năm 642 sau Công nguyên), Hoàng đế Thái Tông nhà Đường ra lệnh cho Ngọc Trì Cảnh Đức giám sát việc xây dựng chùa. Vào năm thứ 20 niên hiệu Khai Nguyên nhà Đường (năm 732 sau Công nguyên), một bảo tháp được xây dựng trong chùa để lưu giữ hài cốt của Tổ Nhị Huệ Năng. Vào năm thứ 12 niên hiệu Nguyên Hòa của nhà Đường (817 sau Công nguyên), Lý Triều Chính, tổng quản quân đội Triệu Nghĩa, đã dựng một tấm bia trước tháp với dòng chữ “Tái thiết Tổ sư đầu tiên của Thiền tông, Bồ Đề Đạt Ma”, mặt trước có dòng chữ do Hoàng đế Vũ của nước Lương viết và mặt sau có lời giải thích về việc xây dựng bia do Lý Triều Chính viết. Tháp được xây dựng lại hai lần, vào năm thứ 2 niên hiệu Thiên Phủ của nhà Đường (902 sau Công nguyên) và năm thứ 2 niên hiệu Gia Du của nhà Tống (1057 sau Công nguyên). Vào năm thứ 2 niên hiệu Minh Đạo của nhà Tống (1033 sau Công nguyên), ngôi chùa chính thức được đặt tên là “Tu viện Thiền tông Quảng Chí”. Vào năm thứ 3 niên hiệu Nguyên Phủ của nhà Tống (1100 sau Công nguyên), nó được đổi tên thành “Chùa Nguyên Phủ”. Chùa Nguyên Phụ, nơi lưu giữ xá lợi của Tổ Nhị của Thiền tông, được coi là “chùa tổ của Thiền tông” và là một thánh địa Phật giáo. Trong lịch sử, chùa Nguyên Phụ trải rộng trên hơn 240 mẫu Anh, một quần thể rộng lớn và tráng lệ. Một quảng trường nằm trước chùa, và cổng chính hướng về phía nam, với ba điện thờ chứa tượng của Tứ Thiên Vương. Chùa được chia thành ba sân. Sân thứ nhất có Điện Phật Bi, chứa tượng Phật Bi. Sân thứ hai có bảo tháp chứa xá lợi của Tổ Nhị, với chu vi đáy 96 feet và chiều cao 180 feet. Đỉnh hình hoa sen cao 12 feet, trên cùng là một tháp nhỏ hơn cao 12 feet. Mỗi tầng có hai bậc, và ba bậc trên cùng được lợp mái bát giác, mỗi bậc được trang trí bằng một chiếc chuông đồng. Mỗi bậc đều có một tượng Phật. Có thể lên đỉnh bảo tháp từ cổng phía bắc. Cổng phía nam có một điện thờ Phật một phòng với bức tượng sống động như thật của Tổ thứ hai, Huệ Khắc. Bên dưới bảo tháp là một cung điện ngầm tám bảo vật, bên trong có một quan tài đá treo bằng dây xích sắt. Bên trong quan tài đá là một quan tài bạc nhỏ chứa xá lợi của Tổ thứ hai, Huệ Khắc. Bốn bức tường của cung điện được vẽ tranh sơn dầu nhiều màu sắc và chạm khắc hình Bát Tiên. Trên đỉnh có vẽ một đôi hạc sải cánh. Quan tài đá được bao quanh bởi những hoa văn tinh xảo. Trước quan tài đá là hai ngọn đèn trường thọ, và xung quanh đó là mười tám tượng La Hán mạ đồng và những đồng xu bằng đồng.
Chùa Nguyên Phủ thời kỳ Cộng hòa.
Phía bắc của chùa là Điện Vi Đà, phía sau là Điện Đại Vi, nơi lưu giữ các tượng Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai. Phía trước Điện Đại Vi là các dãy phòng thiền ở hai bên. Phía sau các phòng thiền này là Điện Ngồi Lưng, và xa hơn nữa là Kho Lưu trữ Kinh điển. Phía sau chùa là núi đất Nhị Tổ, một thắng cảnh có vẻ đẹp thanh bình.
Vào thời kỳ đỉnh cao, chùa Nguyên Phủ tự hào sở hữu một quần thể kiến trúc tráng lệ gồm các điện thờ, phòng thiền và tháp Phật, với những viên gạch vàng và ngói ngọc tỏa sáng rực rỡ. Ngọn tháp vươn cao lên tận mây, dường như chạm tới trời đất; từ đỉnh tháp, người ta có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh trải dài hàng dặm, ngay lập tức gợi lên cảm giác thanh tịnh và siêu thoát, như thể đang lang thang giữa những đám mây. Khi mặt trời mọc, tiếng chuông buổi sáng đánh thức du khách; khi mặt trời lặn, tiếng trống chiều tạm biệt. Trong nhiều thế kỷ, nơi đây tấp nập các nhà sư, cư sĩ và khách du lịch; các thương nhân bày bán dọc các con phố; và những người hành hương chen chúc trên đường phố. Vào thời nhà Tống và nhà Nguyên, khu vực này là thị trấn Nhị Tổ nổi tiếng.
Vào thời kỳ Cộng hòa, chùa Nguyên Phủ đã xuống cấp và đổ nát. Mùa xuân năm 1938, bọn cướp từ Lâm Chương đã cướp phá vùng Thượng Thành và Nhị Tử, đốt cháy tháp Nhị Tử và thiêu sống nhiều người đang trốn trong đó. Hậu quả là đỉnh tháp sụp đổ, trở thành một đống đổ nát. Năm 1969, chính quyền làng đã phá hủy hoàn toàn tháp.
Tháng 5 năm 2007, với sự chấp thuận của Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc và Sở Tôn giáo thuộc Chính quyền tỉnh Hà Bắc, chùa Nguyên Phủ bắt đầu công tác trùng tu và tái thiết.
Chuyện về tổ Huệ Khả & Nguyên Phù Tự
TỔ HUỆ KHẢ (487-593)
Đại sư họ Cơ (姫), hồi nhỏ tên là Quang, quê ở vùng Võ Lao, Lạc Dương, Hà Nam, Trung Quốc. Cha sư đã lâu không có con nên thường cầu tự, một tối có ánh sáng lạ chiếu khắp nhà, mẹ sư từ đó mang thai. Từ bé sư đã có chí khí khác người, thông đạt các lý lẽ huyền diệu, không ham cầu tài sản, thường hay đi đây đó vãn cảnh. Một hôm sư đọc Kinh Phật, trong lòng muốn tu hành giải thoát.
Bèn đến chùa Long Môn, núi Hương Sơn, Lạc Dương xuất gia với Pháp sư Bảo Tịnh. Sau đó thọ giới cụ túc tại chùa Vĩnh Mục. Sư đi khắp nơi học các giáo lý của Đại Thừa, Tiểu Thừa. Năm 32 tuổi, sư trở lại Hương Sơn, suốt ngày chuyên tâm tọa Thiền. trong 8 năm.
Một hôm, đang lúc ngồi Thiền, bỗng thấy một thần nhân hiện ra, nói: “Ông muốn được đạo quả, sao còn nấn ná nơi đây. Truyền pháp đạo lớn không xa, nên đi đến phương Nam”. Sư biết là có thần linh giúp sức, nên đổi hiệu thành Thần Quang. Hôm sau, cảm thấy đầu đau nhức như kim châm.
Sư phụ là Bảo Tịnh muốn cứu chữa, bỗng trên không trung có tiếng: Đấy là đổi xương cốt, không phải đau nhức thường. Sư bèn đem chuyện thấy Thần nhân thuật lại, ngài Bảo Tịnh thấy xương trên đầu sư nhô lên như năm đỉnh núi, bèn nói: “Hiện tướng điềm lành của ông tất sẽ chứng đạo.
Thần báo ông phải sang phương Nam, ở đó có Đại sĩ Bồ Đề Đạt Ma chùa Thiếu Lâm, chắc đó là thầy ông đấy.” Sư từ biệt thầy rồi đến Thiếu Lâm Tự tham vấn đại sư Bồ-đề-đạt-ma, khi ấy sư 40 tuổi.
- Điển tích :” đoản tý cầu Pháp”
Sau khi được Tổ truyền Tâm Ấn và Y Áo, đổi tên hiệu là Huệ Khả, Sư rời đi và ẩn danh. Năm Thiên Bình thứ nhất (tức năm 534), Huệ Khả đến Nghiệp Đô (ứng với khu vực huyện Lâm Chương, Hàm Đan ngày nay).
Nghiệp Đô thời Bắc Tề có 4000 ngôi chùa, hơn 8 vạn tăng ni, là trung tâm Phật giáo phương Bắc. Sau khi phong trào diệt Phật của Chu Võ Đế nhà Bắc Chu bắt đầu, ông ta đã ra chiếu lệnh cho 3 triệu tăng nhân hoàn tục, hơn vạn ngôi chùa bị thiêu hủy, tượng Phật bị đập phá.
Để tránh bị bức hại, Huệ Khả bèn ẩn tích nơi núi rừng. Mãi cho đến sau khi Chu Võ Đế chết, ngài mới quay trở lại chùa Thiếu Lâm.
Năm 589, Huệ Khả lại quay trở lại Nghiệp Đô tiếp tục hoằng dương học thuyết Thiền tông. Năm Khai Hoàng thứ 9 nhà Tùy, Huệ Khả đến chùa Khuông Giáo huyện Thành An ở Hàm Đan truyền giảng học thuyết Thiền tông.
Khi đó, ở chùa Thánh Sơn cách đó không xa có một tăng nhân là Biện Hòa cũng đang thuyết giảng Phật học. Do học thuyết Thiền tông rất gần với triết học thế gian, nên người đến nghe Huệ Khả thuyết giảng càng ngày càng nhiều.
Rất nhiều đồ đệ của Biện Hòa đã tới tấp chạy đến chỗ Huệ Khả nghe giảng. Thế là Biện Hòa yêu cầu trụ trì chùa Khuông Giáo đuổi Huệ Khả đi. Bị trụ trì cự tuyệt, Biện Hòa đến chỗ Trạch Trọng Khản, Ấp tể huyện Thành An, vu cáo Huệ Khả truyền bá tà thuyết dị đoan, tụ tập đông người mưu đồ bất chính.
Đồng thời ông ta dùng chuyện xưa ngụ ý chuyện nay rằng: Thời Bắc Ngụy có hòa thượng Pháp Khánh, danh nghĩa là dạy người tu hành Phật giáo Đại thừa, thực tế là tụ tập người tạo phản. Ngày nay Huệ Khả lại tự rêu rao Đại thừa, thực tế là ý đồ bất chính.
Ấp tể Trạch Trọng Khản liền bắt Huệ Khả lại, định tội truyền giáo trái phép và đánh gậy, đồng thời dâng tấu lên Tùy Văn Đế vu cáo rằng Huệ Khả tuyên truyền học thuyết trái pháp luật, mưu đồ bất chính. Tùy Văn Đế mới bình định thiên hạ, lo lắng tụ tập đông người sinh biến, bèn hạ lệnh xử trảm Huệ Khả.
Ngày 16 tháng 3 năm Khai Hoàng thứ 13 triều Tùy (năm 593), thiền sư Huệ Khả 107 tuổi bị chặt đầu ở huyện Thành An, cách Hàm Đan 12 km về phía đông nam. Theo sử sách ghi chép: Sau khi Huệ Khả bị chặt đầu, thi thể và đầu chảy ra chất như sữa trắng, màu sắc thân thể vẫn như bình thường.
Huyện ấp hạ lệnh đem thi thể Huệ Khả phơi mấy ngày ở cánh đồng hoang phía nam thành. Thi thể không những không thối rữa mà còn tỏa ra mùi thơm kỳ lạ, lan tỏa rất xa.
Người dân trong huyện bàn tán xôn xao. Ấp tể Trạch Trọng Khản rất sợ hãi, hạ lệnh đem thi thể Huệ Khả ném xuống dòng sông Chương.
Nào ngờ, thi thể Huệ Khả lại ngồi đả tọa nổi trên mặt nước sông Chương trôi ngược nước 18 dặm, đến thôn Lô Thôn huyện Thành An thì dừng lại. Các đồ đệ của ngài đã vớt lên bờ rồi an táng ở phía bắc thôn Lô Thôn, chính là thôn Nhị Tổ, huyện Thành An ngày nay. Thi thể Huệ Khả lại ngồi đả tọa nổi trên mặt nước trôi ngược về thôn Lô Thôn, các đồ đệ của ngài đã vớt lên bờ rồi an táng.
Để rửa mối oan mà Nhị tổ Huệ Khả phải chịu, các đồ đệ của ngài đã nhiều lần dâng tấu lên triều đình kêu oan cho Huệ Khả.
Tùy Văn Đế vốn tín ngưỡng Phật Pháp, trải qua nhiều lần tìm hiểu đã được chứng ngộ. Tùy Văn Đế hối hận không còn kịp nữa, nói: Đây chính là chân Bồ Tát. Rồi truyền chỉ điều tra lại sự kiện Huệ Khả bị giết hại, trừng trị nghiêm những quan lại lơ là chức trách.
Văn Đế còn làm lễ tế Huệ Khả, đồng thời ban cho Huệ Khả là: Chính tông Phổ giác Đại sư. Năm Trinh Quán thứ 16 triều Đường, Lý Thế Dân phái võ tướng Uất Trì Kính Đức giám sát việc xây chùa dựng tháp cho Huệ Khả để thờ xá lợi.
Thời Tống Nhân Tông, ông đã ban cho ngôi chùa này tên là “Quảng Từ Thiền viện”. Thời Tống Triết Tông lại ban cho chùa tên là “Nguyên Phù tự”.
Tuy nhiên, qua những biến cố lịch sử xã hội Trung Hoa, chùa Khuông Giáo nơi Huệ Khả thuyết pháp đã bị trưng thu làm công trình phúc lợi, thậm chí chùa Nguyên Phù tự – nơi thờ xá lợi của thiền sư Huệ Khả cũng bị mai một.