CAO MÂN TỰ
Các vị Hoàng đế từng lưu lại đây, các vị Tổ Sư giác ngộ tại đây, và đây là nơi của khóa thiền 100 ngày. Đã hơn ngàn năm qua, Chùa Cao Mân là cột trụ của Thiền Tông Phật Giáo Trung Hoa. Được thành lập vào đời nhà Tùy (khoảng năm 600 SCN), Chùa Cao Mân đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, những lần đói kém, và những cuộc cách mạng. Hiện nay, do hoàn cảnh của Phật Giáo tại Trung Quốc, Chùa Cao Mận bị buộc phải nới lỏng chính sách chỉ có Thiền mà thôi và cung cấp nhiều sinh hoạt khác có thể dễ gần gũi hơn như Tụng Kinh Hoa Nghiêm, và mới đây là Truyền Đại Giới (Tam Đàn Đại Giới) cho một ngàn sa di, lần đầu tiên trong cả ngàn năm.
Mùa hè năm nay, tôi được may mắn tham dự lễ Truyền Giới cùng với người thầy dạy Y Học Truyền Thống Trung Hoa của tôi.
Chúng tôi đến nơi vào xế chiều và trước hết là đến đảnh lễ Hòa Thượng phuơng trượng là Trưởng Lão Đức Lâm. Hòa Thượng Đức Lâm đã 92 tuổi, cao lớn đối với tuổi tác của ngài và nói bằng giọng phương Bắc với giọng nói lớn và rõ ràng. Lúc 19 tuổi ngài đã rời bỏ gia đình giàu có ở Thiên Kinh để đến học hỏi với Thiền Sư Lại Quả nổi tiếng tại Chùa Cao Mân, và từ đó đến nay ngài ở tại đây.
Hòa Thượng Lai Quả là một trong những vị Đại Sư của đầu thế kỷ hai mươi, cai quản Chùa Cao Mân vào một trong những thời kỳ khó khăn nhất tại Trung Hoa, tuy nhiên ngài đã duy trì được tất cả các luật nghi của Thiền Lâm Trung Hoa. Ngài từ chối không tổ chức bất cứ một sinh hoạt nào không liên hệ đến thiền (Phật Sự), những sinh hoạt mà các tu viện khác thường tổ chức để đem lại lợi tức. Thông thường các vị tăng chùa Cao Mân chỉ có cháo để ăn. Có một lần vào ngày Phật Đản, vì không có thức ăn để cúng Phật nên chư tăng phải nấu nước sôi dâng cúng Phật rồi sau đó họ uống nước và trở lại ngồi thiền.
Hòa Thượng Lai Quả viên tịch vào đầu thập niên 1950, vài năm sau khi Trung Hoa “giải phóng”. Dòng Thiền được truyền qua đệ tử của ngài là Thiện Huệ, người mà sau này bị xếp loại “hữu khuynh”. Tôi không biết được chuyện gì đã xảy đến cho Thầy Thiện Huệ, có lẽ ngài đã bị đánh đập đến chết. (Hòa Thượng Hư Vân bị đánh đập rất nặng trong thời gian này, và tác phẩm trước tác duy nhất của ngài là quyển chú giải Kinh Lăng Nghiêm đã bị đốt cháy. Một số đệ tử của ngài bị tử hình sau khi bị xếp loại là “hữu khuynh”).
Trong cuộc Cách Mạng Văn Hoá, Chùa Cao Mân bị tấn công nặng nề cay đắng. Tất cả đều bị phá hủy gồm cả Thiền Đường nổi tiếng là nơi nhiều cao tăng đã giác ngộ và nơi tôn thờ năm Nhục Thân Bồ Tát. Như lời Hòa Thượng Đức Lâm nói với chúng tôi “Chùa Cao Mân đã biến mất!”. Chỗ này được làm thành một xưởng làm áo len. Chỉ có cổng sơn môn nguyên là món quà của vua Khang Hy tặng là còn tồn tại, có lẽ vì làm bằng đá và rất khó phá hủy. Trong thời kỳ cách mạng, mặc dầu có những cuộc phá hoại quy mô, nhiều di vật đã tránh thoát được sự phá hoại nhờ ở vị trí xa xôi, nhờ làm bằng đá, nhờ dùng hình Mao Trao Đông che phủ, hoặc được các vị tăng sẵn sàng tự thiêu để bảo vệ đã làm đám đông quần chúng sợ hãi tránh đi.
Vào năm 1985, nhiều năm sau khi cuộc cách mạng chấm dứt, theo chính sách Cải Cách và Mở Cửa của Đặng Tiểu Bình, chính quyền địa phương quyết định phục hồi Chùa Cao Mân. Trưởng Lão Đức Lâm được mời phụ trách công việc. Lúc đó ngài đã 72 tuổi, Ngài nói “Người ta về hưu vào lúc năm mươi mấy tuổi. Tôi lại bắt đầu làm việc khi bảy mươi mấy tuổi.”
Công việc của ngài là phục hồi Chùa Cao Mân theo đường hướng của Hòa Thượng Lai Quả. Điều này không dễ dàng nếu chúng ta biết rằng Chùa Cao Mân không phải là một tu viện thông thường. Trong đời nhà Thanh, nơi này đã 8 lần đón tiếp Hoàng Đế. Hoàng Đế Khang Hy rất thích Chùa này đến nỗi ông cho xây một cung điện kế cận Chùa. Cung điện nguy nga đến nỗi ông Tào Tuyết Cần - tác giả truyện Hồng Lâu Mộng và ông nội của ông là người giám sát việc xây dựng cung điện này - đã nói: “Cung điện này có nhiều vàng bạc hơn là đất đá”.. Nhưng sau những cuộc chiến tranh và những cuộc cách mạng, nay chẳng còn lại gì nhiều. Điều duy nhất nhắc nhở sự huy hoàng trước đây là hai con sông song song trước cổng sơn môn cũ. Ngay phía trước cổng là con kinh lớn Bắc Kinh - Hàng Châu, nối trung tâm kinh tế của Trung Hoa thời xưa (Hàng Châu) với trung tâm chính trị (Bắc Kinh). Con sông xa hơn từ phía cổng được Vua Càn Long cho đào khi ông ở lại Chùa Cao Mân. Được nghe kể lại rằng vua không ngủ được vì tiếng ồn của những con thuyền qua lại trên dòng Đại Kinh nên ra lệnh đào một con kinh nữa cách Chùa Cao Mân xa hơn.
Việc tái xây dựng đặc biệt khó khăn khi cần phải duy trì truyền thống Thập Phuơng Lâm Tự chỉ dành cho Thiền mà thôi. Một phần trong viễn kiến của Hòa Thượng Lai Quả về Chùa Cao Mân là nơi đây là nơi để người ta giác ngộ.
Hòa Thượng Lai Quả thich so sánh các Khóa Thiền với những cuộc thi cử Trung Hoa ngày xưa. Đối với việc thì cử, người học sinh phải chuyên cần học tập nhiều năm, đến kỳ thi thì cố hết sức mình và …. A! Điều kế tiếp người học trò biết được là vào Triều Đình làm việc với Hoàng Đế và các quan đại thần. Quy luật ở trường thi cần phải nghiêm khắc để mọi người có thể tập trung tâm trí. Tương tự như vậy, Chùa Cao Mân nổi tiếng về các luật lệ. Hòa Thượng Lai Quả cũng nổi tiếng về việc nghiêm khắc trong thiền đường và đánh người bằng thiền trượng để giúp họ tu tập. Có một lần, một bà cư sĩ giàu có đề nghị cúng dường Hòa Thượng Lai Quả 7 thỏi vàng (tương đương 200 ngàn đến 500 ngàn Mỹ Kim) nếu ngài chịu đánh bà bằng thiền trượng để giúp tiêu trừ nghiệp chướng của bà. Ngài từ chối nói rằng “Thiền trượng của tôi chỉ để dành cho những người có tiềm năng trở thành tổ sư”.
“Không có những dịch vụ du lịch, không có những tiệm to lớn làm ra vẻ như của Phật Giáo, và không có quầy xem bói để tạo nên lợi tức.”
Ngay cả đến ngày nay, Chùa Cao Mân không có những dịch vụ du lịch, không có những tiệm to lớn làm ra vẻ như của Phật Giáo, và không có quầy xem bói để tạo nên lợi tức. Chùa cũng không tổ chức những lễ Phật Giáo lớn thường nhằm đem lại lợi tức một cách hợp pháp. Tăng chúng sống bằng cách trồng rau cải vào mùa hè và thiền vào mùa đông. Tuy vậy, họ vẫn mở cửa cho những du tăng trú ngụ. Đây là những truyền thống Hòa Thượng Đức Lâm tìm cách duy trì trong khi ngài làm việc để phục hưng tu viện này.
Khi bạn không có tiền, bạn cần uyển chuyển và làm chậm chạp. Hòa Thượng Đức Lâm đã làm công việc phục hưng tu viện Cao Mân trong hơn 20 năm qua. Đây là một tu viện khổng lồ trải ra trên 230 mẫu đất, với hơn 200 tăng ni. Nhưng để hoàn tất tất cả các công trình theo dự trù, Hòa Thượng Đức Lâm phỏng đoán sẽ cần thêm khõang 20 năm nữa theo mức độ xây dựng hiện nay.
Ngòai ra, tại Trung Quốc, khi bạn không có tiền thì chính quyền không thích bạn. Trong nhiều năm qua, chính quyền đã áp lực Chùa Cao Mân để Chùa trở thành địa điểm du lịch. Họ đã kiên trì yêu cầu Hoà Thượng Đức Lâm thâu lệ phí vào cửa. Hòa Thượng nhận xét “Họ bảo tôi rằng tôi cần phải cởi mở Chùa Cao Mân. Tôi nghĩ chúng tôi đã rất cởi mở vì chúng tôi miễn phí. Tôi không biết làm sao chúng ta có thể cởi mở hơn bằng cách tính lệ phí vào cửa”.
Một Thầy trụ trì của một “Trung Tâm Giải Trí Phật Giáo” (Buddhist Disneyland) giải thích cho chúng tôi là sự thoả thuận điển hình giữa chính phủ và tu viện là tu viện sẽ được 20% của lệ phí vào cửa và chính phủ sẽ lấy 80% để dùng giới thiệu tu viện qua việc dựng lên những bảng hiệu ngoài đường hướng dẫn đến tu viện, phổ biến bản đồ và chương trình du lịch bao gồm các thông tin về tu viện trên các tạp chí du lịch. Tu viện nếu muốn có thể tính thêm lệ phí phụ trội cho các sinh họat như leo tháp, đánh chuông v.v… và còn có thể cho các cơ sở thương mại thuê mướn chỗ.
Vào dịp Tết, những tu viện nổi tiếng có những đường dây điện thoại nóng (hotlines) để khách có thể gọi giữ chỗ cho những vé mắc tiền. Đánh chuông để được may mắn được đưa ra đấu giá dành cho người ra giá cao nhất. Chính quyền địa phương, theo tôi tin, đánh thuế lợi tức tu viện như là một cơ sở thương mại thông thường. Đây là một sự rộng lượng lớn lao khi so sánh việc các tu viện thường bị đối xử trước đây: chư tăng bị đánh đập và tu viện bị phá sập. Vì vậy hiện nay có rất ít tu viện vẫn còn cho dân chúng đến viếng miễn phí. Tôi nghe rằng ngày nay chỉ có hai tu viện là vào cửa miễn phí. Thầy trụ trì trẻ tuổi của “Trung Tâm Giải Trí Phật Giáo” (Buddhist Disneyland) cho chúng tôi biết rằng ông không có lựa chọn nào khác là phải thâu lệ phí vào cửa và cho các cơ sở thương mại mướn chỗ bởi vì đó là “sự tiến bộ lịch sử không thể nào tránh được”. ..
Thầy trụ trì trẻ tuổi tốt nghiệp từ tu viện Phật Giáo chính thức tại Bắc Kinh. Là một vị sư đã thấm nhuần tư tưởng, thầy nói rằng thầy sẽ dùng tiền do tu viện này sinh ra để lo cho cơ sở Phật Giáo và cho các công việc từ thiện. Mặc dầu còn trẻ tuổi (gần 40 tuổi hoặc hơn 40), thầy đang phụ trách hai tu viện nổi tiếng…
Một mảnh đất lớn của Chùa Cao Mân bị các cơ quan khác nhau chiếm dùng vì nhiều lý do khác nhau. Phải mất nhiều năm thương thảo mới lấy lại hầu hết đất đai. Khi con sông chung quanh Chùa Cao Mân bị ô nhiễm nước không uống được, chính quyền từ chối không cho đưa ống dẫn nước vào. Chỉ sau khi được một số “lãnh đạo” nào đó hòa giải, Chùa mới có nước máy. Khi bạn không được chính quyền tôn trọng, thì có vẻ bạn cũng không được những nông dân láng giềng tôn trọng. Một số nông dân dựng nên những bãi đậu xe giả tạo ngày trước cổng sơn môn của Chùa. Khi bạn nói với họ rằng bạn sẽ đậu xe bên trong Chùa thì họ đòi bạn phải trả cho họ lệ phí vào cửa.
Chắc hẳn 20 năm qua thật là gay go đối với Hòa Thượng Đức Lâm. Như thế mới hiểu tại sao ngài nói “Tôi không muốn gặp Bác Sĩ. Mỗi khi tôi gặp bác sĩ nào thì bác sĩ đó cũng luôn bảo tôi rằng tôi cần phải vào nằm bệnh viện.” Thầy tôi nói rằng “Lời khuyên của tôi là Hòa Thượng ít nhất nên nằm trên giường và để người khác phục vụ ngài.” Hòa Thượng Đức Lắm nói khôi hài “Đó chính là điều tôi mơ ước!”.
Sau khi nói chuyện với Hòa Thượng Đức Lâm, Thầy tôi và tôi lấy ra số tiền của những người trong gia đình và bạn bè gởi nhờ cúng dường để trao lại cho Hòa Thượng. Trong quá khứ, một vị A La Hán đã phát nguyện giúp người tạo phước bằng cách sẽ hóa thân đến nơi nào có pháp hội trên một ngàn vị xuất gia, như buổi lễ truyền giới này chẳng hạn. Do đó chúng tôi rất vui mừng ủng hộ. Chúng tôi đảnh lễ Hòa Thượng và đi ra ngoài.
Sau đó chúng tôi đến viếng thăm Thầy Văn Long, người sẽ trở thành vì trụ trì kế tiếp. Do áp lực ngày mỗi mạnh từ phía chánh quyền, Hòa Thượng Đức Lâm đã quyết định sẽ về hưu dưỡng sau buổi lễ truyền giới này. Ngài đã chọn Thầy Văn Long là người đệ tử của ngài hơn hai mươi năm qua sẽ kế vị ngài.
Thầy Văn Long là một vị thầy rất khiêm tốn. Khi chúng tôi mới gặp thầy, chúng tôi không biết rằng thầy là phụ tá của Hòa Thượng Đức Lâm. Thầy trò chuyện với chúng tôi và đưa đi thăm quanh chùa. Khi chúng tôi đề cập về chuyện về hưu dưỡng của Hòa Thượng Đức Lâm, thầy nói đừng có lo. Thầy nói Hòa Thượng Đức Lâm là Thầy của thầy, do đó thầy luôn tuân theo chỉ dẫn của Hòa Thượng. Thầy nguyện sẽ chống lại áp lực của chính quyền đòi tính lệ phí vào cổng.
Tuy nhiên Thầy Văn Long lại rất bệnh. Một trong những mục đích của chúng tôi khi đến thăm Chùa Cao Mân là để điều trị cho thầy. Thầy bị phong thấp dọc theo cột xương sống và năm ngoái đã nằm liệt giường nhiều tháng. Đây là loại bệnh rất đau đớn. Thầy cảm thấy rằng sức khỏe của thầy có thể sẽ không cho phép thầy đảm nhận trách nhiệm điều hành Chùa Cao Mân. Nhưng sau khi dùng thuốc của thầy tôi cho, thầy đã có thể giảm bớt việc dùng thuốc giảm đau.
Thầy tôi cũng điều trị hai phụ nữ làm việc tại nhà khách. Họ yếu đuối nhưng bệnh tình không phức tạp. Họ chỉ làm việc quá sức và thiếu dinh dưỡng. Hòa Thượng Lai Quả cho phép ăn ba bữa ăn mỗi ngày, nhưng chỉ một đĩa rau cải và cơm. Những người phụ nữ này nói rằng vì bây giờ có nhiều khách nên họ ăn khá hơn một chút, nhưng thông thường họ chỉ ăn cơm trắng với rau cải ngâm chua. Họ đã sống và làm việc tại Chùa Cao Mân được khoảng ba năm và dự định sẽ xuất gia (vào tu chính thức trong chùa). Thỉnh cầu xuất gia của họ năm nay bị Hòa Thuợng Đức Lâm từ chối, ngài nói họ cần được huấn luyện thêm vài năm nữa. Thầy của tôi hỏi họ rằng tại sao họ không thử đến những tu viện khác vì với sự phát triển kinh tế của Trung Quốc trong 20 năm vừa qua, có rất ít nơi mà người ta chỉ ăn cơm với rau cải chua. Họ chỉ mỉm cười e thẹn và nói “Ở đây thì tốt hơn.”
Ngày hôm sau, chúng tôi đến dự lễ tụng kinh sáng. Hơn 800 sa di từ khắp Trung Quốc đến để thọ Đại Giới trở thành tu sĩ thọ cụ túc giới. Con số ít so với 1000 người như dự trù, có lẽ do thiếu thông báo. Giới đàn và phòng ở cho các sa di chưa được hoàn tất do thiếu phương tiện. Trong suốt những ngày lễ, các vị sa di ở trong những tòa nhà bằng xi măng chưa hoàn tất và ngủ trên những tấm gỗ có trải chiếu. Mặc dầu tiện nghi thiếu thốn, họ vẫn tỏa ra hào quang nghiêm túc. Các vị tăng ni đi trong Phật Điện thành từng nhóm nhỏ tùy theo tu viện liên hệ của họ và mỗi nhóm đều được dẫn đầu bởi một vị tăng thâm niên từ tu viện của họ.
Buổi lễ tụng kinh sáng về căn bản cũng giống như Vạn Phật Thánh Thành tại California . Thật là thích thú khi nghe mọi người tụng chú Lăng Nghiêm với những thổ âm khác nhau, và tôi nhận thức được Phật Giáo Trung Hoa liên kết thật chặt chẽ biết bao. Tuy không có một Giáo Hội trung ương để điều hành giáo pháp, phong tục, nghi lễ, nhưng vẫn có sự đoàn kết giữa các tu viện khác nhau. Không cần phải thay đổi lối sống nhiều, một vị tăng có thể đi đến những tu viện khác nhau để học hỏi và tu tập.
Mặc dầu những vị đại sư không được phong thánh, cộng đồng vẫn công nhận họ như những vị thánh. Họ không phải là những nhà thần học chia rẽ con người thành những trường phái tin tưởng khác nhau, mà chỉ đơn giản mang lại những giáo pháp thích hợp cho những người khác nhau tại những nơi khác nhau vào những lúc khác nhau. Những tu viện không liên hệ với nhau vẫn tự nguyện theo sự lãnh đạo của họ. Mặc dầu môi trường như vậy đã suy giảm rất nhiều, khi bạn thấy cả ngàn vì tăng ni từ khắp nước Trung Hoa cùng làm chung một buổi lễ, bạn có thể chứng kiến được dấu ấn của một truyền thống vĩ đại.
Chỉ vừa tụng kinh được vài phút thì một tia chớp khổng lồ lóe sáng lên. Vạn vật sáng lên trong chớp nhoáng, ngay cả bên trong Phật điện. Tiếp theo ngay sau đó là một tiếng sấm lớn nhất mà tôi từng nghe và mưa bắt đầu trút xuống. Tôi cảm thấy như đang ở trên một chiếc tàu giữa cơn bão. Mưa ngừng lại ngay trước lúc chúng tôi bước ra khỏi Phật điện. Cơn mưa chỉ kéo dài chừng hai mươi phút và không mưa trở lại suốt ngày hôm đó. Có vẻ như các vị rồng đến để rửa sách đất đai. Tôi hy vọng cơn mưa là điểm báo một sự khởi đầu tốt đẹp, không chỉ cho việc truyền giới mà còn cho Phật Giáo Trung Hoa.
[Trong những lần thăm viếng về sau, tôi đã hỏi hai vị tăng sĩ từ Đài Loan đã thọ giới trong buổi lễ đó, họ nói với tôi rằng trời mưa và sấm động vào ngày đầu tiên của mỗi lần truyền giới trong toàn buổi lễ (Tam Đàn Đại Giới là ba lần truyền giới kết hợp lại trong một kỳ lễ)].
Chùa Cao Mân là nơi ở Trung Quốc tôi được gặp những người tu hành tinh tấn. Truyền thống của Chùa Cao Mân thật vĩ đại, to lớn và đáng kiêu hãnh. Nhưng dầu với sự cống hiến của Hòa Thượng trụ trì cùng những người theo ngài, tương lai của Chùa vẫn không có gì chắc chắn.
Các vị Hoàng Để không còn đến thăm viếng nơi này và chính quyền thì không thân thiện về những tư tưởng và sự tổ chức không theo lý tưởng của Đảng. Quốc Gia Trung Tâm - Trung Hoa - có thời được hãnh diện gọi là Quốc Gia Trung Tâm và nổi tiếng về truyền thống phong phú, ngày nay có thể cảm thấy như là vùng đất khô cằn về tâm linh. Tôi tự hỏi Chùa Cao Mân sẽ duy trì là một Tu Viện Thiền Lâm như thế nào.
Trong một quốc gia mà hầu hết mọi người không còn có một chút ý niệm về Phật Giáo, sẽ có những vị du tăng từ những vùng núi non xa xôi trở nên giác ngộ tại đây chăng? Chùa có thể tránh khỏi trở thành một cơ quan thương mại không? Tôi không biết.
Tuy nhiên tôi có được sự hiểu biết rõ hơn về quyết tâm của Hòa Thượng Tuyên Hóa nhằm bảo tồn Phật Giáo bằng cách mang hạt giống Phật Giáo đến một vùng đất mới để được phát triển tự do. Hy vọng một ngày nào đó Phật Giáo sẽ bắt rễ trở lại tại Trung Hoa.
HƯ VÂN HÒA THƯỢNG HỌA TRUYỆN - 40. Hành Thiền Tại Chùa Cao Mân Ở Dương Châu
Chùa Cao Mân, nằm bên dòng Tam Xá, là một đạo tràng chuyên tu Thiền-Na. Đa số những người ưu tú của tông môn đều được đào luyện từ “lò đúc” này. Quy củ của chùa hết sức nghiêm mật, khiến “rồng phải uốn mình, hổ phải phủ phục.” Đây quả thật là một ngôi Lan Nhã thanh tịnh, tuy hải chúng trú ngụ trong chùa có tới mấy trăm vị, song không hề nghe tiếng ồn ào, huyên náo.
Năm Tân Tỵ (1882), Ngài Hư Vân đến Chùa Cao Mân tham học và đảnh lễ Hòa Thượng Lãng Huy. Ngài tinh tấn tu tập tĩnh lự, công phu được tương ưng, tăng tiến.
- Kệ tán của Hòa Thượng Tuyên Hóa:
Đẩu tẩu tinh thần hiệu Đầu Đà,
Bất xá trú dạ Diễn Ma Ha,
Bát Nhã Đường trung quán tự tại,
Tuyển Phật Trường lý khán a thùy
Nghĩa là:
Phấn chấn tinh thần, hiệu Đầu Đà,
Ngày đêm chẳng nghỉ, Diễn Ma Ha,
Bát Nhã Đường quán xem tự tại,
Tuyển Phật Trường kén kẻ dụng công
Chú thích:
“Lan-nhã” là gọi tắt của chữ “A-lan-nhã,” chỉ chỗ ở của chư tăng; và có nghĩa là chốn vắng vẻ, thanh tịnh, tĩnh mịch, không có tiếng cãi cọ.
Chuyến viếng thăm chùa Cao Mân, Trung Quốc của Thầy Duy Lực
Vừa rồi,, tôi có đi viếng thăm Chùa Cao Mân, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc và ở lại chùa một tháng từ ngày 04/08/1992 đến 04/09/1992. Ngài Trụ Trì Chùa có mời tôi làm Thủ Tọa. Ở đó, bất cứ cửa nào cũng đề bốn chữ “Chiếu cố thoại đầu.” CHIẾU là chiếu soi, CỐ là nhìn, tức nhìn chỗ thoại đầu, vừa nhìn vừa hỏi. Nếu không nhìn mà chỉ đề câu thoại để hỏi thì nghi tình dễ đánh mất, vừa hỏi liền mất; nếu vừa nhìn vừa hỏi thì nghi tình được kéo dài. Tham thiền chỉ cần vừa nhìn vừa hỏi, ngoài ra khỏi cần tìm hiểu, khỏi cần biết gì, bởi cái biết chẳng phải nghi tình, chẳng phải tham thiền.
Ở Chùa Cao Mân, ngày thường cũng đả Thiền thất. Vào mùa đông thì liên tục mười thất. Đáng lẽ ngày thường đã là thiền thất rồi, tại sao mùa đông lại tổ chức liên tục mười thất? Bởi vì bình thường mỗi ngày chỉ có mười bốn nén hương, đến mùa đông là hai mươi nén hương một ngày: Bắt đầu từ 4 giờ 30 sáng đến 11 giờ khuya mới nghỉ, công phu như thế được miên mật và tinh tấn hơn, nên trong Thiền thất có nhiều vị Tổ sư khai ngộ.
Nay chúng ta chỉ khi đến Thiền đường mới đả thất, còn ở nhà thì không đi hương tọa hương đúng theo qui định, và ở nhà tất nhiên giải đải hơn, muốn tham cũng được, không tham cũng được, chẳng ai bó buộc và khích lệ. Còn những người ở Thiền đường, không vào thiền thất là không được, hằng ngày đều như thế, mùa đông càng phải dụng công hơn. Sự thật thì khi tập trung đả thất, mặc dù chi phí tốn hao nhiều, nhưng lợi ích cũng nhiều, không uổng cho sự tốn hao. Vì thế ngài Lai Quả Thiền sư khuyên chúng nên tu trong Thiền đường, không nên ở chùa tư.
Về thời khóa tu tập của Chùa Cao Mân, quí vị xem cuốn Tham Thiền Phổ Thuyết của ngài Lai Quả Thiền sư để biết thêm. Trong cuốn Tham Thiền Phổ Thuyết tôi có sửa lại đôi điều sai, vì khi tôi hỏi, mới biết là có sự chênh lệch so với nguyên bản của ngài Lai Quả Thiền sư, đó là do sự sai sót khi in ấn, nên tôi đã lọc bỏ ra những phần không phải của Ngài.
Ngài Lai Quả Thiền sư kiến tánh ở Chùa Kim Sơn, ngài Hư Vân Thiền sư kiến tánh ở Chùa Cao Mân. Nay chỉ có Chùa Cao Mân giữ được pháp môn Thiền tông, nối theo ngài Lai Quả Thiền sư, còn Chùa Kim Sơn đã trở thành khu du lịch, trong Thiền đường chỉ có hai cụ già tham thiền mà thôi.
Vì lẽ đó, ngài Lai Quả Thiền sư nói “Pháp Thiền ngày nay tựa như sợi chỉ treo ngàn cân, không biết ngày nào sẽ đứt,” nên tôi phát nguyện chuyên hoằng Tổ Sư Thiền này. Hoằng dương Tổ Sư Thiền rất khó, vì người ta không tin tự tâm. Phải tin tự tâm 100%, mới có thể nhận được bản tâm của mình.
Người đời nay đa số tu theo Giáo môn, học theo Giáo môn là muốn giải, còn Tổ Sư Thiền không cho giải, vì hễ giải là hết nghi. Cho nên, nhiều vị sau khi kiến tánh, nói:”Tôi không trọng thầy tôi ở chỗ đạo đức, văn chương, chỉ trọng chẳng vì tôi nói trắng ra,” vì nói trắng ra là chẳng thể ngộ.
CHÙA CAO MÂN
Giới thiệu
Chùa Cao Mân tọa lạc trên bờ tây hợp lưu sông Tam Tranh, thuộc phường Chahe, quận Hanjiang, thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Tô. Được thành lập năm 1651 (năm thứ 8 niên hiệu Thuận Trị nhà Thanh ), chùa nhận tên hiện tại vào năm 1703 (năm thứ 42 niên hiệu Khang Hy). Được coi là ngôi chùa hàng đầu trong Tám Ngôi Chùa Nổi Tiếng của Dương Châu thời nhà Thanh, chùa được công nhận là Chùa và Tu viện Quan trọng Quốc gia năm 1983. Chùa nằm cạnh kênh đào cổ ở phía đông. Bố cục chính của chùa được chia thành hai phần: Tu viện phía Đông ở phía đông và chùa phía Tây ở phía tây. Phần trước chiếm một phần năm tổng diện tích, trong khi phần sau chiếm bốn phần năm. Các công trình hiện có bao gồm Đại Phật Điện, Tháp Thiên Trung và Đình Kinh. Đại Phật Điện, với diện tích 1.320 mét vuông, là nơi thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và Mười Sáu La Hán.
Ngôi chùa này thuộc phái Thiền Lâm Cơ, đặc trưng bởi phương pháp “Thiền mùa đông, học tập mùa hè” và “coi trọng nông nghiệp và Thiền như nhau”. Hàng năm, từ ngày 15 tháng 10 âm lịch đến ngày 16 tháng 1 âm lịch tiếp theo, một khóa tu thiền mùa đông, gọi là “Thiền Khí”, được tổ chức tại đây. Tháp Thiên Trung của chùa được xây dựng ban đầu vào năm 1651. Tháp có cấu trúc bê tông cốt thép tám cạnh, chín tầng, cao 88 mét. Thân tháp được khảm đá chạm khắc kinh Pháp Hoa, tạo thành một văn bản gồm vạn chữ. Trong các chuyến thị sát phía nam, các hoàng đế nhà Thanh Khang Hy và Càn Long đã nhiều lần lưu trú tại chùa Tawan, nằm phía tây của chùa. chùa này có bố cục với các điện thờ ở phía đông và các khu vườn ở phía tây. Ngày nay, bức tường thành lớn, cổng chính của chùa và ba trong số các công trình chính vẫn còn tồn tại.
Chùa Cao Mân, cùng với chùa Kim Sơn ở Trấn Giang, chùa Thiên Ninh ở Trường Châu và chùa Thiên Thông ở Ninh Ba, được công nhận là một trong Tứ Đại Thiền tông của Phật giáo Trung Quốc. Nó cũng tạo thành, cùng với chùa Văn Thù ở Thành Đô, chùa Bảo Quang ở Tân Đô và chùa Kim Sơn ở Trấn Giang, Tứ Đại Thiền tông cổ của lưu vực sông Dương Tử. Có câu nói phổ biến rằng, “Thượng nguồn là Văn Thù và Bảo Quang; hạ nguồn là chùa Kim Sơn và Chùa Cao Mân.” Chùa lưu giữ các hiện vật văn hóa như bia đá thời nhà Thanh khắc dòng chữ “chùa Cao Mân được xây dựng theo sắc lệnh của hoàng đế” và đình bia đá hoàng gia.
Vào thế kỷ 20, chùa được các thiền sư như Lai Quốc Tử và Đức Lâm trùng tu. Trong số các công trình cổ còn tồn tại có điện thiền (chantang) và điện Phật Ngọc. Một truyền thuyết địa phương cho rằng cấu tạo địa lý độc đáo của khu vực, được gọi là “vùng đất chín rồng”, là do sự hợp lưu của ba con sông trước chùa.
Lịch sử và sự phát triển
-
Năm 1651, dưới triều đại của Hoàng đế Thuận Trị nhà Thanh , chùa Cao Mân được thành lập. Vào thời điểm đó, Ngô Vi Hoa, Tổng đốc tỉnh Nam Hoàng Hà, đã bắt đầu xây dựng tháp Thiên Trung vào mùa xuân. Đến mùa thu năm 1654, tháp đã hoàn thành, và một quần thể tu viện ba sân được xây dựng xung quanh nó, được gọi là “tháp chùa”. Quần thể chùa này lúc bấy giờ là một công trình khiêm tốn và chưa mang tên “Chùa Cao Mân”.
-
Năm 1699, trong chuyến thị sát phía nam lần thứ ba, Hoàng đế Khang Hy đến Dương Châu và thấy tháp Thiên Trung trong quần thể chùa bị xuống cấp. Ông muốn cấp ngân quỹ hoàng gia để trùng tu tháp như một lời cầu nguyện cho sự trường thọ và thịnh vượng của Thái hậu. Tào Âm, quan quản lý dệt may của Giang Ninh, Lý Hối , quan quản lý dệt may của Tô Châu, và các thương gia muối từ hai tỉnh Hoài đã quyên góp để trùng tu tháp Thiên Trung và mở rộng quần thể chùa.
-
Năm 1703, trong chuyến thị sát phía nam lần thứ tư, Hoàng đế Khang Hy đã ban cho ngôi chùa tên là “Cao Mân”. Khi trở về Bắc Kinh, ông đã tặng chùa Cao Mân một bức tượng Phật Dược Sư mạ vàng sơn mài từ chùa để thờ cúng và đích thân soạn thảo một bản khắc chữ cho bia chùa.
-
Mùa đông năm đó, Khang Hy cử Viện sĩ Cao Thế Kỳ và viên chức Bộ Nội vụ Đinh Tái đến chuyển bản khắc chữ cho chùa Cao Mân. Ông cũng gắn một chiếu chỉ hoàng gia vào bản tưởng niệm của Cao Âm, ghi rằng: “Văn bản trên bia đá chùa Cao Mân đã hoàn thành. Hãy giao cho một nhà thư pháp giỏi khắc lên đá, in mực và dâng lên.”
-
Vào ngày thứ hai của tháng 12 âm lịch, Cao Âm đã dâng một bản tưởng niệm đặc biệt để cảm ơn hoàng đế vì ân huệ của ngài. Để đặt tượng Phật vàng và bia đá, Cao Âm và những người khác đã cho xây dựng một điện thờ Phật vàng và Điện Bia đá Hoàng gia phía sau chính điện của chùa Cao Mân.
Vào thời điểm này, chùa Cao Mân đã phát triển mạnh mẽ và nằm trong số tám ngôi chùa nổi tiếng nhất Dương Châu.
-
Tháng 3 năm 1705, trong chuyến du ngoạn phía nam lần thứ năm, Hoàng đế Khang Hy đã ở tại chùa Hoàng gia chùa Cao Mân mới hoàn thành. Sau đó, trong chuyến du ngoạn thứ sáu của ông và sáu chuyến du ngoạn tiếp theo của Hoàng đế Càn Long, tất cả các vị vua đều cư ngụ tại chùa Hoàng gia chùa Cao Mân.
-
Năm 1844, dưới triều đại vua Đạo Quang nhà Thanh, tháp Thiên Trung bị sụp đổ.
-
Vào thời kỳ Tiên Phong , chùa Cao Mân bị thiêu rụi hoàn toàn trong một trận hỏa hoạn thời chiến. Sau đó, từ thời Thông Trị đến thời Quang Tự, chùa bị phá hủy và xây dựng lại nhiều lần. Mặc dù các nỗ lực phục chế đã được thực hiện thường xuyên, nhưng chỉ giải quyết được một phần của quần thể.
-
Năm 1919, sư phụ Laiguo trở thành trụ trì của chùa. Ông cho xây dựng tháp, đại điện, thiền đường, điện Trường Thọ và các công trình khác, khôi phục lại vẻ huy hoàng xưa kia của ngôi chùa cổ. Tháng 3 năm 1935, việc trùng tu tháp Thiên Trung bắt đầu, nhưng chỉ hoàn thành một tầng trước khi bị gián đoạn bởi sự bùng nổ của cuộc kháng chiến chống Nhật.
-
Vào những năm 1950, việc dâng hương vẫn tiếp tục diễn ra tại chùa Gaomin, với một cộng đồng khoảng một trăm nhà sư.
-
Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, các điện thờ, tượng Phật và kinh sách của chùa Cao Mân đã bị phá hủy.
-
Đầu những năm 1990, chùa Cao Mân đã mời các chuyên gia quốc gia về kiến trúc cổ để thiết kế việc trùng tu tháp Thiên Trung.
-
Năm 1990, thiền đường do Delin thiết kế và được các tín đồ tại gia từ Hồng Kông tài trợ đã được hoàn thành.
-
Năm 1996, Đại điện Phật được xây dựng.
Bố cục tổng thể của chùa Cao Mân như sau: Tu viện phía Đông chiếm một phần năm diện tích; chùa phía Tây chiếm bốn phần năm. Cổng chính của tu viện hướng ra kênh đào, mở về phía đông, với hai con sư tử đá phía trước.
Bên phải cổng chính là Đại Phật Điện năm gian, nơi đặt tượng Phật Nguyên Thủy. Hai bên là các đình bia đá hoàng gia, và phía sau là Kim Phật Điện, được bao quanh bởi một bức tường cao, tạo thành sân trước.
Sân sau được vào qua một cổng và chứa công trình biểu tượng của chùa Cao Mân, tháp Thiên Trung. Phía sau tháp là Đình Kinh, Điện Tụng Phật, các phòng ở của sư tử, khu nhà khách, nhà ăn và các hành lang.
Phía tây của chùa Cao Mân, được ngăn cách bởi một bức tường bao quanh cao, là một khu vườn kiểu tu viện, chùa Thiên Hoàn, ban đầu được sử dụng riêng để tiếp đón các hoàng đế Khang Hy và Càn Long của nhà Thanh trong các chuyến thị sát phía nam. Chùa có bố cục cơ bản là phía đông là chùa, phía tây là vườn. Ở trung tâm là một bức bình phong lớn và cổng chính của chùa.
Các công trình chính dọc theo trục trung tâm là ba điện quý: điện trước, điện giữa và điện sau. Hai cánh phía đông và phía tây có các sảnh tiếp kiến, nhà bếp và phòng trà ở phía trước. Cánh phía đông còn bao gồm một sảnh chính, một sảnh sau và các phòng tiếp khách, trong khi cánh phía tây có ba xưởng thủ công và một vọng lâu bia đá hoàng gia. Bên ngoài chùa là một hồ nước, trên đó có một hòn đảo với sân thượng, nơi để xem opera và nghe nhạc.
Cổng Núi Cũ
Cổng Núi Cổ được xây dựng vào thời nhà Thanh. Cổng Núi Cổ hướng về phía tây, đối diện với kênh đào Guazhou, và tấm phù điêu phía trên cổng được khảm một tấm đá cẩm thạch trắng mang dòng chữ “Đền Cao Mân được xây dựng theo sắc lệnh của hoàng đế” do chính tay Khang Hy viết.
Chùa Thiên Trung
Chùa Thiên Trung, được xây dựng lại trên nền móng ban đầu, mang phong cách kiến trúc nhà Thanh, với kết cấu bê tông cốt thép. Đây là một ngôi chùa bát giác chín tầng, cao khoảng 88 mét, với chu vi khoảng 63 mét ở tầng đầu tiên.
Nó thu hẹp dần về phía đỉnh, mỗi tầng hành lang có chiều rộng 2 mét. Ngôi chùa có hình bát giác, với những chiếc chuông gió lớn treo ở mỗi góc được nâng cao. Phần thân chính của chùa được khảm kinh Pháp Hoa bằng đá, gồm khoảng mười nghìn chữ, không có bất kỳ đường nối nào.
Đại điện Phật
Đại Phật Điện có chiều dài xấp xỉ 40 mét, chiều rộng 33 mét và chiều cao 3 mét, diện tích khoảng 1.320 mét vuông. Đại điện được xây dựng trên nền đá granit theo kiểu Sumer. Phía trước đại điện là hai con vật hộ vệ được sắp xếp đối xứng, một con sư tử xanh và một con voi trắng, cùng với một lư hương bằng đồng lớn, đặc trưng, nặng 12,8 tấn và đường kính 4 mét. Xung quanh đại điện rộng rãi và thoáng đãng, bên trong cao và sáng sủa.
Ở trung tâm đại điện là tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, mỉm cười và cầm một bông hoa, hai bên là hai vị tùy tùng Sariputra và Maudgalyayana. Hai bên đại điện là các hành lang treo tượng của Mười Sáu Vị La Hán, mỗi vị ở một tư thế khác nhau. Phía sau ngai Phật là một bức tượng điêu khắc mô phỏng một hòn đảo giữa biển, với 32 hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm được sắp xếp không đều trên những tảng đá, cứu độ chúng sinh khỏi khổ đau.
Trên các bức tường phía bắc và phía nam của điện thờ có 10 bức bích họa minh họa các câu chuyện từ kinh Phật, trong khi hai cánh phía đông và phía tây có những bức tranh phong cảnh của bốn ngọn núi thiêng của Phật giáo: Ngai, Ngũ Đài, Phổ Đà và Cửu Hoa.
Phòng thiền
Thiền đường là công trình trung tâm và quan trọng nhất trong chùa Cao Mân. Ở lối vào sân lớn nơi thiền đường tọa lạc có khắc dòng chữ “Cơ sở giáo dục tối cao”. Trên cánh cửa thứ hai của thiền đường có một tấm biển ghi dòng chữ “Đạo Hải”, tên gọi riêng của thiền đường trong chùa Cao Mân. Từ khi sư phụ Laiguo lên làm trụ trì chùa Cao Mân năm 1918 (năm thứ 7 của nền Cộng hòa Trung Hoa), phụ nữ luôn được phép trực tiếp vào tất cả các điện và khu vực của chùa để tu tập. Thiền đường cao khoảng 18 mét, có cấu trúc gần như hình bát giác với các cạnh không bằng nhau, được xây bằng gạch xanh và ngói xanh, theo phong cách đơn giản và trang nhã. Thiền đường có thể chứa bốn trăm người để tập trung, ngồi thiền và nghiên cứu các công trình thiền định. Bên trong có hai tượng Phật bằng ngọc bích, quà tặng từ Miến Điện.
Di tích văn hóa
Chùa Cao Mân sở hữu một con dấu bằng ngọc bích xanh từ Lào Thượng, khắc chín chữ triện với dòng chữ “Kỷ niệm về sự thành lập của chùa Thiền Cao Mân ở Vi Dương”. Con dấu nặng khoảng 3 kg và có một nút vuông phía trên đầu sư tử. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, nó đã bị bán với giá mười nhân dân tệ và biến mất khỏi chùa. Sau đó, nó đã được tìm thấy và trả lại cho chùa.
Lịch sử và văn hóa
Truyền thuyết về “Vùng đất của chín con rồng” Theo một truyền thuyết dân gian, nơi tọa lạc của chùa Cao Mân được gọi là “Vùng đất của chín con rồng”. Trước chùa, ba dòng sông tượng trưng cho ba con rồng nước, và các con đê ở hai bên bờ ba dòng sông này tượng trưng cho sáu con rồng đất, tổng cộng là chín con rồng, cho thấy phong thủy rất tốt.
Nguồn gốc tên gọi
Trong chuyến thị sát phía nam lần thứ tư vào năm 1703 (năm thứ 42 triều đại Khang Hy), Hoàng đế Khang Hy đã leo lên tháp Thiên Trung. Nhìn về phía nam hướng núi Kim và phía bắc hướng đồi Thư Cương, ông đột nhiên cảm nhận được rằng “bầu trời mùa thu trong lành và tinh khiết, khí thế cao vút và thanh khiết.” Vì vậy, ông đã đặt tên cho ngôi tháp là “Cao Mân.”
Các tác phẩm văn học và nghệ thuật về chùa Thiên Trung
Hoàng đế Càn Long nhà Thanh đã sáng tác một bài thơ ngũ ngôn có tựa đề “Chùa Cao Mân”: “Tu viện như đóa sen xanh, tháp vươn lên tận trời xanh. Vịnh quả thật xứng danh; ngay cả ngỗng trời cũng dừng chân nơi đây và mang theo hương thơm của nó.” Một bài thơ khác viết: “Bên bờ sông trải rộng một cõi Phật giáo; bóng tháp vươn lên tận trời cao. Hai chữ mang tiếng vang lớn; một văn bản quý giá tỏa sáng ngàn mùa thu.” Các câu thơ “tháp vươn lên tận trời xanh” và “bóng tháp vươn lên tận trời cao” miêu tả tháp Thiên Trung như thể đang đứng giữa bầu trời, vươn cao lên tận mây.
Một ví dụ khác: vào thời điểm giao mùa xuân và hè năm 1757 (năm thứ 22 triều đại Càn Long), sau chuyến thị sát miền Nam trở về Bắc Kinh, Càn Long lại ở lại chùa Cao Mân và viết “Những sự kiện tại chùa Cao Mân”: “Từ xa, người ta chiêm ngưỡng bóng tháp chùa in trên dòng nước xanh uốn lượn. Từ phương Bắc về, ta dừng lại, rồi lại đi về phương Nam. Cảnh sắc thay đổi từ xuân sang hè chỉ trong một ngày; bao nhiêu thời gian đã trôi qua giữa những lần ta đến và đi?” Câu thơ “Từ xa, người ta chiêm ngưỡng bóng tháp chùa in trên dòng nước xanh uốn lượn” miêu tả hình ảnh phản chiếu của tháp Thiên Trung trên mặt nước tĩnh lặng tại ngã ba Tam Trấn, một cảnh tượng mà Càn Long đã quan sát từ bờ kênh đào.
Một ví dụ khác, vào năm 1761 (năm thứ 16 triều đại Càn Long), ông viết: “Mây tan trên bầu trời xanh, bóng tháp chia cắt trên bậc thềm ngập nắng; mưa tưới mát những cánh đồng xanh mướt, tiếng hát đồng quê vang vọng cùng ánh mặt trời xuân.” Ở đây, “bóng tháp chia cắt trên bậc thềm ngập nắng” miêu tả khoảnh khắc dưới ánh mặt trời rực rỡ, bóng của tháp Thiên Trung đổ xuống bậc thềm của chùa Cao Mân, chia thành những hình thù uốn lượn theo từng bậc thang – một cảnh tượng mà Càn Long đã chứng kiến từ chùa.
Trong bài thơ “Về tháp Thiên Trung của chùa Cao Mân”, Càn Long viết: “Trên cánh đồng xanh, niềm vui của người nông dân hiện hữu; trên núi xanh, ý niệm về một bức tranh tụ lại.” Điều này miêu tả cảnh tượng ông nhìn thấy khi leo lên đỉnh tháp Thiên Trung và nhìn về phía xa: những người nông dân đang cày cấy trên những cánh đồng xanh mướt gần đó, và những ngọn núi xanh ở phía xa, mờ ảo như một bức tranh thủy mặc. Một ví dụ khác, Càn Long cũng dâng tặng một tấm bia ngang cho tháp Thiên Trung với dòng chữ “Gió Trời Trên Mây”, nhằm mô tả cảm giác khi leo lên tháp Thiên Trung giống như đang ở trên những đám mây trắng. Được tắm mình trong làn gió thiên đường.
Một ví dụ khác: “Leo lên tháp chùa ở vịnh Cornelian Cherry” của Qi Junzao, Bộ trưởng Nội vụ thời nhà Thanh: “Tại vịnh Cornelian Cherry, thuyền neo đậu vào một ngày thu trong lành. Lần đầu tiên leo lên đỉnh tháp, tầm nhìn bừng sáng. Một đường kẻ vạch ranh giới giữa trời và nước vịnh Guabu. Vạn núi ôm trọn mặt trời, và thành phố đá. Hào quang hoàng gia của các triều đại phương Nam còn vương vấn trong bụi vàng. Trái tim của lữ khách phương Bắc dõi theo những lá cờ và hiệu kỳ. Cửa sổ với những bức tranh phản chiếu, trống rỗng, cho phép người ta ngồi lại thật lâu. Vài cọng tre xanh ngọc bích - người ta muốn khắc tên mình lên đó.”
Nguyên nhân xây dựng tháp Thiên Trung
Tháp Thiên Trung được xây dựng vì ba lý do: Thứ nhất, Ngô Vi Hoa, khi đó là Tổng quản quản lý sông ngòi tỉnh Giang Nam dưới triều đại nhà Thanh, đã xây dựng một ngôi tháp bảy tầng gọi là “Tháp Thiên Trung” tại hợp lưu sông Tam Trác phía nam thành phố để kiểm soát kênh đào và giảm thiểu lũ lụt. Điều này được xác nhận trong cuốn sách “Phật giáo đương đại ở Giang Tô” do Hội Phật giáo tỉnh Giang Tô xuất bản.
Thứ hai, bản thân Ngô Vi Hoa là một Phật tử mộ đạo và đã xây dựng ngôi tháp để tích đức. Điều này cũng được phản ánh trong “Ghi chép về Tháp Thiên Trung” của Ngô Vi Hoa.
Thứ ba, nó liên quan đến kinh nghiệm cá nhân của Ngô Vi Hoa. Ông đã trực tiếp tham gia vào các cuộc chiến dẫn đến sự sụp đổ của triều đại nhà Minh trước triều đại nhà Thanh, và ông hiểu rõ sự tàn khốc của chiến tranh và những đau khổ mà nó gây ra cho người dân, những người chỉ mong muốn một cuộc sống hòa bình và ổn định. Do đó, việc xây dựng Tháp Thiên Trung cũng là một lời cầu nguyện cho hòa bình, ổn định và điều kiện thời tiết thuận lợi cho hàng ngàn người dân ở phía bắc sông.
Thiền ngồi với hương trầm (Zuo Xiang)
Thiền ngồi hương (Zuo Xiang) là một giới luật quan trọng và là đặc điểm nổi bật của chùa Gaomin. Từ khi thành lập, tất cả các vị trụ trì kế nhiệm của chùa Gaomin đều lấy “Kinh Lục Tổ” làm kinh điển nền tảng, trong đó khẳng định bản chất của tâm vốn thanh tịnh và Phật tính vốn có sẵn. Tuy nhiên, họ chủ yếu nhấn mạnh việc thực hành thiền ngồi hương để tĩnh tâm và các khóa tu thiền chuyên sâu bảy ngày (Da Qi). Nhờ đó, dòng Phật pháp được truyền thừa không gián đoạn, và chùa nổi tiếng về sự rõ ràng và nghiêm ngặt trong các giới luật, được coi là một trụ cột của trường phái Thiền tông.
Hoạt động của các khóa tu thiền mùa đông (Dongjie Chan Qi)
Chùa Gaomin kế thừa dòng truyền thừa Lâm Cơ trong Phật giáo Thiền tông. Đặc điểm nổi bật nhất của chùa là “Hoạt động Thiền định Mùa đông”. Hệ thống này được thiết lập theo giới luật Phật giáo. Vào cuối mùa thu và đầu mùa đông, khi tiết trời bắt đầu se lạnh, hàng năm, từ ngày 15 tháng 10 âm lịch đến ngày 16 tháng 1 âm lịch năm sau, mỗi “Thiền Khí” (khóa tu bảy ngày) tạo thành một phần bảy ngày, tổng cộng mười hai khóa tu “Thiền Khí” chuyên sâu, kéo dài 84 ngày. Đây là một truyền thống tu viện mà chùa Gaomin đã kiên trì duy trì từ thời Lạt Ma Laiguo hiện đại.
“Thiền định mùa đông, học tập mùa hè” và “Nông nghiệp và thiền định đều có giá trị như nhau”
Việc tu tập tại chùa Cao Mân, đặc trưng bởi phương châm “Thiền định mùa đông, học tập mùa hè” và “Nông nghiệp và thiền định đều được coi trọng như nhau”, đã trở thành hình mẫu cho nhiều trung tâm tu tập Thiền tông trong và ngoài nước. Mỗi ngày, các vị sư thức dậy lúc 4:30 sáng để vào thiền đường và không rời đi cho đến 11:00 đêm, khi tuyên bố im lặng tuyệt đối để nghỉ ngơi. Ngoại trừ hai giờ nghỉ từ 3:00 chiều đến 5:00 chiều và 20 phút cho mỗi bữa ăn sáng, trưa và tối, họ không rời khỏi thiền đường, nơi họ thực hành thiền ngồi với hương (Zuo Xiang) và thiền hành (Pao Xiang). Mặc dù cuộc sống giản dị, nhưng rất có kỷ luật, và mọi chi tiết của quá trình thiền định đều được tuân thủ nghiêm ngặt.
Các tu viện trưởng
Vị trụ trì đầu tiên của chùa Cao Mân là Jiyin, được Cao Âm và những người khác tiến cử, và được Hoàng đế Khang Hy chấp thuận. Sau khi Jiyin viên tịch, các nhà sư Yingzong và Dingzhong lần lượt kế vị ông. Sau đó, nhà sư Tianhui trở thành trụ trì chính. Vốn xuất thân từ Xinghua, ông có 30 năm kinh nghiệm hành hương. Vào thời Hoàng đế Yongzheng của nhà Thanh, là hậu duệ của dòng Phật pháp Đại Pháp Sư Nhân Nhân (Đại Cấp Phù Tử), ông được triệu kiến triều đình.
Sau khi hội đàm Đạo với Hoàng đế Yongzheng, ông được phong áo cà sa màu tím và được hoàng gia bổ nhiệm làm trụ trì chùa Cao Mân, nơi ông truyền bá các nguyên lý cơ bản và đạt được nhiều thành tựu, được tôn kính là “Tổ Thiên”. Người kế vị trụ trì chùa Cao Mân của Thiên Hội là đệ tử Phật pháp của ông, nhà sư Jisheng, người từng tu tập trong một túp lều tranh ở Rừng Tre Tím trên núi Thiên Mục. Người kế vị ông là nhà sư Triệu Nguyệt vào thời Càn Long nhà Thanh. Ông tuân thủ nghiêm ngặt các giới luật, truyền bá giáo lý của trường phái, và danh tiếng về kỷ luật của ông lan rộng khắp nơi. Cùng với nhà sư Cảnh Tôn ở Vô Tích lúc bấy giờ, họ được biết đến với biệt danh “Cảnh ở phía nam, Triệu ở phía bắc”.
Trong thời nhà Thanh, dưới triều đại Càn Long và Gia Khánh, sau khi Đại Thành trở thành trụ trì chùa Cao Mân, ông đã biên soạn hai tập bài diễn thuyết và một tập thơ. Đại Thành cũng giỏi thơ ca và thư pháp, thông thạo cả Nho giáo và Phật giáo. Sau đó, cho đến vị sư phụ hiện đại Lai Quốc, chùa Cao Mân đã được dẫn dắt bởi mười bốn thế hệ cao tăng.
Trong số đó có Thiền sư Đạt Lệ, người đã khiêm nhường chịu đựng những điều kiện khó khăn nhất dưới triều đại Hiến Phong, và Thiền sư Việt Lang, người với quyết tâm không lay chuyển dưới triều đại Quang Tự đã khôi phục lại giáo luật của chùa. Tuy nhiên, đóng góp đáng kể nhất thuộc về Thiền sư Lai Quốc. Vốn xuất thân từ Hoàng Cương, Hồ Bắc, Lai Quốc đã nhịn ăn trong chuyến hành hương đến núi Phổ Đà, thọ giới tại núi Bảo Hoa, tu thiền tại chùa Kim Sơn, hành hương đến núi Võ Đài và ẩn cư tại núi Trung Nam.
Năm 1919 (năm thứ 8 của nền Cộng hòa Trung Hoa), ông trở thành trụ trì chùa Cao Mân, một vị trí ông nắm giữ trong hơn ba mươi năm. Ông quán xuyến công việc của tu viện, gìn giữ trí tuệ Phật giáo, nỗ lực khôi phục các thể chế cổ xưa của Gaomin và chấn chỉnh các quy tắc của cộng đồng tăng lữ. Dưới sự tổ chức nghiêm ngặt của ông, các nhiệm vụ trong chùa được phân chia chính xác: có nhóm kinh tế, nhóm làm ruộng vườn, quản gia, đầu bếp nấu cơm, đầu bếp rau, đầu bếp trà, thanh tra bên ngoài, người đưa tin và bác sĩ.
Ông cũng quản lý các xưởng sản xuất riêng: làm mì, làm nước chấm, xay xát, làm dụng cụ nông nghiệp, dệt và may vá. Ông đảm nhận việc xây dựng các công trình chùa mới và trùng tu tháp chùa, những dự án bị gián đoạn giữa chừng do chiến tranh hỗn loạn. Triệu Phổ Chu, nguyên chủ tịch Hội Phật giáo Trung Quốc, là một trong những đệ tử tại gia của ông. Đó là lý do tại sao ông được biết đến với biệt danh “Phật sống” trong khu vực giữa Giang Tô và An Huy. Thiền sư Lai Quả đạt Niết bàn năm 1952.
Ba mươi năm sau, đệ tử của ông là Chân Vũ (Thượng tọa Chân Đức Lâm) trở về chùa để trở thành trụ trì. Trụ trì hiện tại là Trụ trì Văn Long.
Các biện pháp bảo vệ
- Năm 1983, chùa Gaomin được Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công nhận là một trong những ngôi chùa và tu viện có tầm quan trọng quốc gia.
- Năm 1986, chùa Hoàng gia của chùa Cao Mân và bia đá khắc lời bạt của Ngô Vi Hoa về tháp Thiên Trung được chính quyền huyện Hàn Giang xếp loại là đơn vị bảo vệ di tích văn hóa cấp huyện.
Thông tin du lịch
Giá cả: Miễn phí
Truy cập
Tuyến xe buýt: Bạn có thể bắt xe buýt số 22 hoặc 76 của thành phố Dương Châu đến trạm “Trường Cao đẳng Giang Hải (Chùa Cao Mân)”, hoặc xe buýt số 37 đến trạm Chùa Cao Mân, sau đó đi bộ đến Chùa Cao Mân.