12.
Sư thượng đường bảo đại chúng :
Sự này rõ ràng không hiển nhiên, ngay cả vô luợng đại nhân cũng không vượt qua đuợc. Khi tôi tới Quy Sơn có một ông tăng hỏi “Ý tổ sư từ Tây qua là gì?” Quy Sơn bảo : Mang ghế lại đây! Nếu là tông sư phải đem bản phận sự ra mà tiếp người.
48.
Sư thượng đường nói :
Nếu ông là người tham học lâu ông không thể không hiện thực khi nhìn về quá khứ hay tương lai. Nếu ông là người mới, ông phải tra xét chân lý ngay, đừng đuổi theo ba trăm, năm trăm hoặc một ngàn, hoặc toàn thể đại chúng. Nếu ông khen ngợi một người nào, xưng tán ổng là một vị trụ trì tốt, khi hỏi về Phật pháp thì như rang cát làm cơm, nuốt không vô. Các ông không thể làm gì về những gì ông ta nói, ông cũng không thể mở mồm để trả lời. Nếu ông nói ổng sai, tôi đúng thì mặt ổng sẽ đỏ bừng vì mắc cỡ và ổng sẽ nói lời phi pháp ngữ. Nếu ông thành thực muốn biết rõ ý thì đó mới không hạnh phụ lão tăng.
61.
Sư thượng đường nói:
Huynh đệ, cải tạo những gì đã qua, tu hành những gì sẽ tới. Nếu không chịu sửa đổi thì các ông đã chấp vào một chỗ nào đó.
63.
Sư nói :
Nếu một người từ phương Nam tới, tôi sẽ dở hành lý họ xuống, nếu có người từ phương Bắc tới tôi sẽ đeo hành lý cho họ. Sở dĩ mới nói nếu hỏi đạo thượng nhân thì mất Đạo, còn hỏi đạo hạ nhân thì được Đạo.
64.
Sư lại nói :
Chính nhân nói tà pháp, tà pháp liền thành chánh. Tà nhân nói chánh pháp, chánh pháp liền thành tà. Ở mọi nơi khó thấy nhưng dễ biết. Ở nơi tôi dễ thấy nhưng khó biết.
76.
Sư thượng đường nói :
Chuyện này giống như minh châu trong lòng bàn tay, hồ đến hồ hiện, Hán đến Hán hiện.
77.
Một lần khác sư nói :
Tôi có thể lấy một cọng cỏ làm một vị Phật vàng trượng sáu, và có thể lấy tượng vàng trượng sáu thành một cọng cỏ. Phật là phiền não, phiền não là Phật.
78.
Sư dạy chúng :
Ngay đây lão tăng lấy bản phận sự dạy người. Nếu dạy lão tăng tùy theo căn cơ mà dạy, sẽ dùng 3 thừa 12 phần giáo mà dạy. Nếu còn chưa hiểu thì lỗi ấy ở ai? Về sau nếu có gập tác gia, tôi sẽ nói tôi không lừa dối hắn, có ai hỏi tôi sẽ lấy bản phận sự mà tiếp.
89.
Sư dạy chúng :
Ở đây, Phật pháp nói khó thì dễ, nói dễ thì khó. Ở các nơi dễ biết nhưng khó thấy. Còn ở nơi lão tăng dễ thấy nhưng khó biết. Nếu hiểu được thì có thể tung hoành thiên hạ. Nếu có người hỏi ông từ đâu tới? Và ông trả lời tôi từ Triệu Châu tới là mắng Triệu Châu. Nếu nói tôi không từ Triệu Châu tới là mai một chính mình. Xin hỏi các ông phải trả lời sao?
91.
Sư dạy chúng:
Tôi dạy ông cách trả lời. Nếu có người nào hỏi ông hãy trả lời. Tôi vừa rời khỏi Triệu Châu.
Nếu người đó lại hỏi: Triệu Châu dạy pháp gì?
Ông sẽ trả lời: Lạnh thì nói lạnh, nóng thì nói nóng.
Nếu người đó bảo: Tôi không hỏi chuyện này, thì ông đáp: Vậy ông hỏi chuyện gì? Người đó nói Triệu Châu dạy pháp gì?
Ông sẽ trả lời : Khi tôi đi hòa thượng không có chuyển ngữ gì cả. Nếu thượng tọa muốn rõ chuyện Triệu Châu thì tự đi mà hỏi.
122.
Sư dạy đại chúng: -Dù có 800 người hoàn thành Phật Đạo, tìm một đạo nhân cũng khó.
511.
Khi sư gập những ý kiến trái ngược, sư đọc bài kệ:
Phía Bắc Triệu Châu, Nam cầu đá
Di Lặc sống ở viện Quan Âm
Đạt Ma để lại một chiếc giép
Ngày nay chẳng biết đâu mà tìm?
512.
Thấy hoa sen nở, sư làm một bài kệ:
Kỳ thay là cái rễ
Ngỡ lấy ở trời Tây
Dưới bùn sâu ai biết
Sen trắng mọc ở đây?
513.
Thấy một ngôi chùa được xây, sư làm bài kệ:
Bắt đầu là kết thúc
Nhọc sức xếp đá cao
Hình dạng có thể khắc
Xa tôi chẳng được nào
Nếu ai đó có hỏi
Chẳng dự tính được sao?
514.
Một ông tăng hỏi: Sanh, tử là hai con đường, là cùng hay là khác?
Sư trả lời bằng một bài kệ:
Người Đạo hỏi sống chết
Chuyện ấy bàn được không?
Song lâm, một ao nước
Trăng chiếu trời đất không?
Tả hắn trên lời nói
Chẳng thà nói với ma.
Nếu nói chuyện sống chết
Điên kể Xuân mộng qua
515.
Có một ông tăng hỏi: Khi Phật gập nạn thì táng thân trong lửa, khi hòa thượng gập nạn thì táng thân ở đâu?
Sư trả lời bằng một bài kệ:
Hắn nói Phật gập khó
Tôi bảo hắn gập tai
Chỉ nhìn tôi lánh nạn
Cớ sao lại theo tôi?
Thị, phi nếu không nói
Đến đi nào có gì?
Tôi đã nói pháp nạn
Hãy tin ở tôi đi!
516.
Nhơn có cái mõ, sư làm bài kệ:
Tứ đại, tạo hóa công
Tiếng trọng có và không
Chẳng nói mọi người biết
Vì quan, thương bất đồng.
519. Bài ca 12 giờ
- Giờ Tý (23 - 1)
Con gà, chào buổi sớm
Thức dậy nỗi buồn lên
Không quần lót, áo lót
Miếng vải che tấm thân
Quần rách nát tả tơi
Đầu đội nhiều đá đen
Giúp người như thế đó
Thì chỉ là người đần
- Giờ Sửu (1 - 3)
Trời ngang đất, giờ Sửu
Chùa đổ, làng trống không
Cháo sớm, chẳng hạt gạo
Cửa sổ bần, ai trông?
Chim sẻ là bạn thiết
Ngồi lặng nghe lá rơi
Xuất gia là bỏ hết
Nghĩ đến lệ tơi bời
- Giờ Dần (3 - 5)
Giờ Dần mặt trời mọc
Trong trắng lòng Từ thôi
Làm tốt, chôn vào đất
Nghĩa cả quét chưa rồi.
Nhăn mày tâm chẳng đặng
Khó vừa lòng già Đông
Phước sương bao giờ tới
Con lừa ăn cỏ đồng
- Giờ Mão (5 - 7)
Đây là giờ cơm đấy
Trông lửa, nhìn khắp nơi
Bánh kẹo từ năm ngoái
Nghĩ tới nước miếng rơi.
Trong đám có người xấu
Chỉ tới để uống trà
Nếu như chẳng nhận được
Tức giận chẳng thôi đi
- Giờ Thìn (7 - 9)
Giờ Thìn trời sáng lắm
Cạo đầu ai mà ngờ
Hương tăng là ai đó?
Đói buồn chết trong mơ
Ông Trương và ông Lý
Chẳng có kính trọng tôi
Lúc nãy đến trước cửa
Mượn trà, giấy đấy thôi
- Giờ Tỵ (9 - 11)
Giờ Tỵ là thứ sáu
Trời chuyển vế phía Nam
Để quyên trà và gạo
Đến các nhà Bắc Nam
Đến các nhà phía Bắc
Mặn chát và mì chua
Cơm kê và củ cải
Cúng dường sao cho vừa
- Giờ Ngọ (11 - 13)
Trời lặn, giờ thứ bẩy
Chớ xoay giữa bóng hình
Ăn, trăm ngày khỏi đói
Ngày nay chính thân mình
Không thiền, không quy tắc
Bầy sậy dưới mặt trời
Trên cả Tu Di đỉnh
Lưng ửng ánh trời soi
- Giờ Mùi (13 - 15)
Xế trưa, ngày thứ tám
Có người lạy, đốt hương
Năm bà già, ba bướu
Còn hai đầy vết nhăn
Trà Ma rất hiếm quý
Kim Cương chẳng lên gân
Tôi cần cho năm tới
La Hầu cho lời mừng
- Giờ Thân (15 - 17)
Trời lặn giờ thứ chín
Dã ngoại phải trở che
Tăng lớn không bắt buộc
Vô cùng có ngại chi
Lời nói trên cửa miệng
Tiếp tục con Như Lai
Trụ trượng bằng gỗ nhám.
Lên núi đuổi chó hù
- Giờ Dậu (17 - 19)
Trời tối là giờ Dậu
Ngồi im trong vườn không
Dù cho nến không gẫy
Trước tôi khoảng đen không
Chẳng nghe tiếng chuông réo
Chỉ nghe tiếng chuột kêu
Muốn có được cảm giác
Ba La Mật ý sâu
- Giờ Tuất (19 - 21)
Giờ Tuất là mười một
Trăng sáng phải đi nằm
Vào ngủ lòng còn tiếc
Có cần phải đắp chăn?
Lão Hưu và lão Triệu
Chỉ nói tốt bằng mồm
Túi không lôi ra hết
Có nói cũng là không
- Giờ Hợi (21 - 23)
Nửa đêm là giờ Hợi
Làm sao ngừng được đây?
Những kẻ xuất gia ấy
Làm tăng được bấy chầy?
Giường bẩn và chiếu rách
Gối chẳng có nhồi bông
Chẳng niệm hương cúng Phật
Chỉ nghe bò xả phân
522.
Sư thượng đường và dạy chúng :
Phật vàng chẳng độ lò, Phật gỗ chẳng độ lửa, Phật bùn chẳng độ nước, Chân Phật ở nơi mình.
Bồ Đề, Niết Bàn, Như Lai, Phật tánh chỉ là quần áo để che thân, là lòng bác ái. Chúng ta tìm thực tại ở đâu ? Tâm chẳng sanh thì vạn pháp chẳng sanh. Cứ ngồi và quán chuyện này 20, 30 năm nếu ông không hiểu thì cứ chặt đầu tôi đi. Bỏ sức vào mộng ảo và ảo giác chỉ là phí công. Không thể tìm ở bên ngoài, vậy phải làm sao? Cũng như con dê, nhai những gì ở trong mồm nhưng không biết chúng phải làm sao? Khi tôi gập Quy Sơn, thiền sư nói: “Khi có người hỏi tôi, tôi khóa mõm hắn lại” Tôi cũng nói : “Câm mõm hòa thượng lại”. Chấp ngã là sai, không chấp ngã là đúng. Cũng như một con chó điên chỉ muốn có nhiều đồ ăn. Tìm Phật ở đâu ? Trăm ngàn kẻ điên đi tìm Phật, nếu có tìm thấy một người thì đó cũng không phải là Phật. Nếu ông không muốn là con của không vương thì đừng sanh tâm. Khi thế giới này không còn, thì còn thực tại. Khi thế giới này bị hủy hoại, thì thực tại này không bị phá hủy.
Hãy nhìn tôi, tôi chỉ là tôi. Chân ngã chỉ đơn giản là vậy. Ở ngay đây, còn đi tìm ở nơi đâu chứ? Đúng lúc này đừng ngoảnh đầu đi, đừng đổi nét mặt. Nếu ông làm vậy ông đã hết đời!