⚡️ Hòa thượng La Sơn lúc mới vào viện nhận chức trụ trì, lần đầu tiên lên pháp đường thuyết pháp cho đại chúng, vừa chỉnh y chuẩn bị ngồi, liền nói: “Trân trọng!” (chào tạm biệt), rồi xuống tòa. Giây lâu trở lên nói: “Ai chưa nhận biết bản tánh hãy đến đây”.
Khi ấy có vị tăng bước ra lễ bái, La Sơn nói: Khổ thay!
Tăng lễ bái thưa: Xin hòa thượng chỉ dạy.
La Sơn hét một tiếng đuổi ra.
Có vị tăng hỏi La Sơn: Thế nào là một câu kỳ đặc?
La Sơn đáp: Ông nói cái gì?
Giây lâu, La Sơn bảo:
Nếu người căn khí bậc thượng, vừa bước vào cửa thì được rõ ràng. Giả sử ta có trình cơ phong trước mặt ông, ông cũng mờ mịt mà thôi. Miệng lảm nhảm mà không biết nói gì. Hiểu chăng? Chẳng phải thiền, chẳng phải đạo, chẳng phải Phật, chẳng phải pháp, rốt cuộc là gì?
Gươm báu bén nhọn thường hiện bày trước mặt, cũng có thể giết người mà cũng có thể cứu sống người. Nếu ông dùng được cây kiếm ấy thì cứ việc dùng.
Nếu muốn phân biệt sự cạn sâu của người học thì phải là người tham thiền chân chánh mới được, cơ cơ ứng hợp nhau, pháp pháp không thiếu, chủ khách dung thông. Tuy nhiên như thế rất kỵ lãnh ngộ thiền pháp. Vì sao? Nếu ông kêu tiếng dã can, ta rống tiếng sư tử. Nếu ta kêu tiếng dã can, ông rống tiếng sư tử. Nếu ông rống tiếng sư tử, ta cũng rống tiếng sư tử. Những sự chuyển đổi dung thông quan hệ chủ khách ấy, đều là tạm thời căn cứ tình huống của đối phương mà quyết định. Cho nên nói, trong ý nghĩa phải bao hàm ngôn ngữ, trong ngôn ngữ cũng phải có ý nghĩa. Ý nghĩa không thể loại trừ ngôn ngữ, ngôn ngữ cũng không thể loại trừ ý nghĩa. Ý nghĩa và ngôn ngữ không thống nhất thì làm sao hiểu được? Ý nghĩa phủ định ngôn ngữ, ngôn ngữ cũng phủ định ý nghĩa, ý nghĩa và ngôn ngữ qua lại lẫn nhau, phải thận trọng dè dặt. Sự quan hệ giữa ý nghĩa và ngôn ngữ phân chia không rõ ràng, sự lý chẳng thông, đó là chùy sắt không lỗ (không thông suốt được thiền). Người xưa gọi là căn tánh chậm lụt. Những người như thế, như lau như sậy (không ngộ tánh), không thể dùng được. Trong thiền môn, phải là người sáng mắt mới đảm đang nổi, vừa điểm hóa liền tỏ ngộ. Ông há chẳng phải là người có khả năng phân biệt trong đục, biện được thánh phàm? Nhân vật như thế khi gặp họ ngôn ngữ cơ phong qua lại như đập đá nháng lửa, như điện lửa đốt rùa, rùa bốc cháy một cách nhanh chóng như cuồng phong như điện chớp.
Các vị phải chóng phấn chấn tinh thần lên! Người học thiền, nếu chỉ bám vào văn tự ngôn cú thì làm sao học được thiền. Cho nên nói, được như thế thì dễ, chẳng được như thế thì khó. Cũng có thể nói, được như thế thì khó, không được như thế thì dễ. Các ông phải làm sao? Hãy suy xét kỹ!
Huynh đệ, hành cước tham thiền cần phải để mắt, chớ để những gã ấy lừa gạt, dạy ông mờ mờ mịt mịt, khổ thay! Các ông bị những kẻ ấy vô cớ cột trói đến bao giờ thoát khỏi? Những người như thế, như trái hồ lô nổi trên mặt nước, ai mà dìm xuống được? Thường hiện bày trước mặt, không có vật gì che lấp được y, nhưng cũng không có một pháp nào chẳng nỗ lực mà đạt đến cứu cánh được. Vừa gợi đến liền hiển lộ, vừa chạm đến liền tỏ ngộ, siêu việt những điều mắt thấy tai nghe, khi hiện ra thì không mảy may gì làm chướng ngại, thường hiển lộ trước mặt, tự do vô sự. Khi hiện ra thì hợp với bản thể, khi trở vào thì hợp với nguồn chân, xa lìa thanh sắc bên ngoài, đâu thể rơi vào biên kiến có không. Cho nên nói, một câu chưa phát ra âm thanh tức là chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm của Phật Tổ. Chư Phật Tổ xưa kia không thể truyền thọ, chỉ có tự mình thân chứng mà thôi. Nếu không thân chứng được thì cách bản nguyên trăm núi ngàn sông. Hãy chính chắn thể hội chứ không có nói ra. Các ông phải hiểu rõ. Làm sao hiểu rõ được điều ấy? Ta thường nói như thế, ngay âm thanh có đường vào cửa, ngay đó mà thể hội đại đạo. Đối với văn tự ngôn cú không xem trọng mà vẫn còn sai lệch nửa đường. Chỉ mảy may không thấu triệt thì cách xa bản tánh. Khi đối diện bản tánh làm sao mở lời?
Phàm hoằng truyền Phật pháp phải biết sanh tử trước mắt thì mới có thể cầm dao giết người, cầm kiếm cứu sống người. Ngày nay, cơ phong của bậc thượng cổ cũng có thể đem ra làm phương pháp tiếp dẫn người học, xô dẹp tà ma phá trừ vọng chấp, thảy đều dùng đến. Khi trực tiếp chỉ bày chơn tánh phải biết trạng huống giác ngộ sẵn có trước mắt chúng sanh mới phá trừ vọng chấp được. Nếu chưa được như thế, thì trong bốn oai nghi làm sao hiển bày tâm tánh? Các ông thấy mặt mày y chăng? Ta thường nói, phải luôn luôn nhớ chơn tánh. Các ông được như thế chăng? Nếu chưa được sáng mắt phải làm chủ mình thì chơn tánh sẽ hiện ra. Không chấp trước bất cứ pháp nào thì muôn pháp không làm gì được ông.
Cho nên người xưa nói: “Trước mặt không có một pháp, vì trí tuệ hiện tiền”. Nhưng, chẳng phải không có một pháp trước mặt rồi cảm giác mắt tai của ông không có.
Trước hết phải làm cho trí huệ hiện ra thì Phật tánh mới hiển lộ, được như thế thì tự do tự tại, ra vào không ngăn ngại. Như vậy mới không hạn cuộc thời gian, cho đến long thần rải hoa cúng dường, ngoại đạo trộm nhìn chẳng thấy. Tuy có dấu vết mà chẳng phải dấu vết, hết sạch không còn bóng dáng gì.
Huynh đệ, phải tỏ ngộ thấu trời thấu đất mới được, không nên nói chuyện người này người kia, chỉ Đông vẽ Tây nói xưa bàn nay. Những người như thế đánh chết muôn người cũng không có lỗi gì. Ngày kia người ta giam nhốt đánh ông từ đầu đến mông, ông biết chăng?
Tông môn rất cao vút, các ông phải suy xét kỹ. Ăn ngốn ăn ngấu tuy dễ no nhưng chỉ đối phó nhất thời, còn ăn kỹ thì no dai. Ăn lá cây chỉ là một sự lầm lẫn, luống công nhọc nhằn, làm cho bụng trống lòng cao, đó là lỗi tại ai? Ngốn ngấu ngôn ngữ của người, bàn luận thị phi, các ông không nên như thế. Vô sự, trân trọng!
NGUỒN
⚙️ Sách CON MẮT THIỀN TÔNG