(CỔ TÔN TÚC NGỮ LỤC QUYỂN 27)
Thiền sư Phật Nhãn Thanh Viễn họ Lý, quê ở Lâm Ngung. Sư ban đầu trụ ở Thiên Ninh, Thư Châu.
Ngày khai đường, học sĩ Để Hình là Quyền Quận Thừa Nghị dâng hương độ sớ cho Sư. Tiếp được, Sư dạy chúng:
Trời chẳng thể che, đất không thể chở. Thiên cơ tiết lộ, lời lời có thể mến. Hãy nói thế nào là lời lời có thể mến?
Im lặng giây lâu, nói tiếp:
Rõ ràng ghi nhớ lấy, nêu lên tợ bậc tác gia. Rồi độ cho biểu bạch
Hô bãi nghỉ.
Sư chỉ pháp tòa nói: Đạo của Thánh xưa, vì pháp đến hay là vì giường tòa đến? Vì pháp đến, chẳng phải vì giường tòa.
Sư quát nói: Là lời gì?
Liền thăng tòa, niêm hương nói: Một nén hương này chúc mừng Bệ hạ Thượng hoàng đế. Hôm nay cúi mong long đồ mãi vững bền, phụng lịch mới mẻ hoài, bát biểu xưng thần bốn phương vui vẻ.
Lại niêm hương lần nữa, nói: Nén hương này, phụng vì Để Hình Học sĩ Quyền Quận Thừa Nghị cho đến Tôn Quan ở Hạp Quận. Cúi mong hạ thinh hạt trước (tiếng hay dịu dàng), khéo chỉnh ngày mới thừa ân mưa móc, ngồi nghe nhạc Diêm Mai.
Rồi niêm hương nữa, nói: Một nén hương này, lại biết chỗ rơi chăng? Muốn ẩn dời sương móc, cuồng tối càng tối, vốn muốn ném bỏ Nham A, hỗn nơi Sa Thạch, khổ vì các ngươi ân nghĩa, tuy nhiên, ơn lớn khó đền, chưa thoát khỏi ném ba phóng hai. Liền ngồi kiết già.
Hòa thượng Sơn Cốc bạch chùy: Các long tượng pháp đã tụ hội, thường quán đệ nhất nghĩa.
Sư nói: Quán tức chẳng một, một tức chẳng quán. Môn đệ nhất nghĩa nay ở đâu?
Sư nói tiếp:
Gươm Thái A tiếp ngang, cắt đứt muôn cơ ở trong nắm tay đang nắm. Gương Bảo Giám đang ở trên đài, hiện bày các hình bóng vô tâm. Có duyên liền ứng, nên hỏi đáp để tung hoành, chẳng khiến mà hành, bèn nói hình bóng mà hiếm so lường. Người có ảnh hưởng, ấy là đủ sao? Cho nên, Phật giao cho Phật, Tổ truyền cho Tổ. Lại không chút gì khác, há lại có khác biệt ở Đông ở Tây sao? Chẳng lập thứ lớp, riêng truyền việc ấy. Nếu chẳng phải là linh căn đốn ngộ, đại dụng hiện tiền, chưa thoát khỏi biển sâu của nghiệp mê lầm, vọng trần tự cách. Sự liền đưa phất tử lên dạy chúng:
Lại thấy chăng? Nếu thấy, thấy cái gì? Nếu thấy cây phất tử chính là phàm phu. Nếu nói chẳng thấy, thì đây là cây phất tử, sao nói là chẳng thấy? Đạo nhân đến chỗ này phải là nghĩ lường. Đâu thể coi thường lấy ở lưu truyền. Thật chẳng phải việc nhỏ, phải thật ở chỗ ngộ sáng. Vì thế, Thánh nhân được việc này, đều thống lĩnh ba cõi, bốn loài, hiệu lệnh Thánh phàm, phò điện chửng vật (giúp kẻ mê mờ, cứu vớt sinh linh).
Đại chúng! Từ trên các bậc Thánh vào trong cửa này rồi, mỗi mỗi đều phát ngộ vào cõi này để phá các vọng trấn. Nhớ lại trên hội Linh Sơn 49 năm nói chẳng hết, rốt sau trao cho ngài Ca Diếp. Khoảng 9 năm ở Thiếu Lâm, sau cùng lại trao riêng cho Nhị Tổ (Huệ Khả). Về sau, ánh sáng lan truyền khắp cõi Trung Hoa, đạo pháp tràn đầy khắp cả bờ cõi. Lâm Tế, Đức Sơn oai hành sấm sét đều là vì Thượng Tổ chẳng xong, nên làm cho tai họa đến con cháu.
Sự liền đưa phất tử lên, nói:
Đại chúng! Từ trên nhiều bậc Thánh Hiền, như nay thảy đều ở trên đầu phất tử của Sơn tăng, mỗi vị ngồi trên hoa sen lớn, nói pháp nhiệm mầu, giao ánh sáng bủa nhau, như lưới tơ báu. Lại tin được kịp chăng? Nếu nói tin được kịp, thì việc một phen Sơn tăng xuất thế đã được tròn khắp. Nếu chưa được vậy, chẳng tránh khỏi tự thông tin tức đi! Đầu đường chữ Thập thổi sáo ngọc, ngày nói mây nhẹ chính thu xanh. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường, nói:
Thế Tôn giơ cành hoa, ngài Ca Diếp mỉm cười, rất thân, tỉnh yếu, tỉnh yếu. Con mắt định động.
Sư thượng đường, nói:
Khi Đạt Ma chưa đến xứ này, phải tin việc vốn chân thật, Nhị Tổ lạy ba lạy rồi đứng, chẳng được uổng phí thương lượng. Đại chúng! Vì cớ sao người thời nay nghi tình chẳng dứt? Im lặng giây lâu, nói: “Sớm biết đèn là lửa, cơm chín đã lâu rồi”. Dù cho thế ấy có tin được vẫn còn là lầm thừa đương (gánh vác), tự trừ tất cả còn gì đủ để luận bản? Về tham đường đi.
Sư thượng đường, nói:
Quái lạ, lúc bình thường nói: “Ra khỏi cửa liền làm kế về quê hương” Lành thay lời nói ấy. Há chẳng thấy Tăng hỏi Cổ Đức: “Khi con muốn về quê thì sao?”. Có Đức nói: “Cha mẹ ông dời thân hồng xán lạn, nằm trong gai góc. Ông về chỗ nào?”. Nói: Thế ấy thì không về”. Có Đức nói: “Lại phải về, về đi! Có cái tuyệt lương phương tử cho ông. Tăng nói: “Xin cho”. Cổ Đức nói: “Hai thời thượng đường chẳng cắn vỡ một hạt gạo”.
Đại chúng! Trong rừng gai góc hồng xán lạn đã hết, không đường về quê hương. Hai thời trong nhà, tuyệt lương phương, lại phải về đi. Cho nên, Sơn tăng 20 năm vạch mây kêu nguyệt, ban đầu chưa du phương; sau 10 năm tiếp vật lợi sanh, đâu từng xuất thế? Các người đều đem cha mẹ làm khế khoán (vé phiếu), bàn luận, so lường, ruộng vườn, sự nghiệp của Tổ. Lại lấy nước đỏ cầu châu, châu chìm vào nước đỏ, hướng vào núi gai tìm ngọc, cũng là cuồng dối ông! Sơn tăng có lúc vẽ vuông thành tròn, chỉ Nam thành Bắc, cớ sao như thế? Vì là các ông xướng ca khúc về quê, khúc điệu chẳng tròn, đường nào khó quên, quê hương nói hoài chưa đổi, chẳng phải là chẳng nhiệm mầu của chỉ nam vậy. Làm sao được khúc điệu tròn đi! Há chẳng thấy nói: “lúc bình thường dòm lén chỗ hồng xán lạn, vui vẻ giết chết bình sanh”. Xuống tòa.
Sư thượng đường, im lặng hồi lâu, nói:
Sơn tăng hôm nay cho các ông cùng tham một vị thiện tri thức chân thật. Liền xuống tòa.
Sư thượng đường, Tăng ra hỏi:
Vào cửa Đức Sơn liền bị đánh, vào cửa Lâm tế liền bị hét. Chưa biết Sư tiếp người ra sao?
Sư nói: Chẳng hao chẳng thiếu
Tăng hỏi: Lại khi thế ấy đi thì sao?
Sư nói: Bậc nhất chẳng được đóa căn.
Sư lại nói: Ngày tháng qua mau, thay đổi âm thầm, mới thấy rạng đông đã biết ngày qua. Các người lại biết ngày tháng chẳng biến đổi, chẳng đổi dời chăng? Phải gấp tham cứu lấy. Xưa kia, Lục Tổ Huệ Năng Đại sư khi còn là cư sĩ ẩn dưới pháp hội của Pháp sư Ấn Tông chùa Pháp Tánh, Quảng Châu. Tình cờ đêm nọ, ở nơi hành lang xem thấy có 2 vị tăng tranh cãi nhau về phướn động và gió động chưa ngã ngũ nghĩa lý. Lúc ấy, Tổ sư mới nhẹ bước chân tới mà nói rằng: Xin cho kẻ tục này được dự vào bàn luận về việc này được chăng? Rồi ngay đó bảo rằng: “Chẳng phải phướn động, chẳng phải gió động, mà là tâm nhân giả động”.
Đại chúng! Chỉ như đêm nay gió khởi hãy nói là gió động hay chẳng phải gió động? Nếu nói chẳng phải gió động, như thế thì riêng chiếc rèm động ở cửa sẩy đất tung bụi đó, làm sao chẳng phải là gió động? Còn đoán được ra chăng? Sơn tăng nói: “Cũng chẳng phải gió động, cũng chẳng phải phướn động, cũng chẳng phải tâm động”. Có người được chăng? Núi xanh đẹp vô ngắn, còn nói chẳng bằng về. Trân trọng.
Sư thượng đường, nói:
Tăng hỏi Triệu Châu: “Muôn pháp về một, một quy về đâu?”. Triệu Châu đáp: “Ta ở Thanh Châu may một chiếc áo vải nặng 7 cân”. Đại chúng! Tột âm bặt vấn, diệu khúc chẳng phải tiếng. Toàn thân chẳng dính một tấc tơ, trần thân hoàn toàn không kỵ húy. Các ông quyết phải thật sự chứng nghiệm lấy, ngay đó phải cắt đứt đầu lưỡi, buông hết thân tâm, tự nhiên sông núi vui vẻ. Mắt nếu chẳng buồn ngủ thì các mộng tự trừ, tâm bằng chẳng khác thì gọi là vật gì? Sống vui thích! Sống vui thích! Về nhà uống trà đi! Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Nếu có một người phát về nguồn chơn, 10 phương hư không hết thảy đều tiêu mất hết. Chư Thánh từ trước há chẳng phát về nguồn chân sao? Vậy làm sao 10 phương thế giới hư không đến nay vẫn còn? Lại nói: Bọt tan không vốn không, huống lại có ba cõi! Thân huyễn đã diệt rồi nhưng hư không diệt thì không. Chúng sanh trong 3 cõi từ đây cũng không còn khốn khổ nữa. 9 loài, 4 loài làm sao được không? Lại nói: “Thanh tịnh vốn sẵn vậy, vì sao bỗng sanh ra sơn hà đại địa?”. Đã sanh ra sơn hà đại địa thì làm sao trở lại thanh tịnh sẵn vậy? Làm sao bỏ cái chấp thấy sơn hà đại địa? Đại chúng! Làm sao là phải? Im lặng giây lâu, nói: “Nước từ bờ trúc theo dòng lạnh, gió ở trong hoa thoảng hương đưa. Hảo đại ca, Hảo đại ca! Về nhà.”
Kiết Hạ, Sư thượng đường, nói: Giơ giáo mặt trời Phật chẳng trôi về Tây, chiếu thấu nhân gian rỗng suốt 9 cõi u ám. Từ đây an cư không một việc, thôi đem huyền diệu dính đầu tâm.
Hòa thượng Ngũ Tổ Pháp Diễn (Sư phụ của Sư) tịch, có gởi thư đến.
Sư thượng đường nói:
Sáng sớm ngày 26 tháng 6 hôm qua, trâu sắt không sừng sanh 4 chân. Gầm rống một tiếng người chưa biết. Lay động cửa trời và cõi đất. Giầy một chiếc lại về Tây, xướng xong khúc Hồ Gia, đáng thương rốt cùng quá rõ ràng. Tiếng trong vô ngần bên khe cốc. Tiên sư của ta ứng thế hơn 40 năm. Thư, Kỳ 2 quận ngồi giữ 4 ngôi chùa to lớn, đắng miệng rủ lòng từ bi, tiếp vật độ sanh chưa từng nhàn rỗi chút nào. Rồi vào sáng sớm ngày 25 thăng tòa báo cho chúng, đến chiều cạo sạch râu tóc rồi quay về phương trượng. Sáng ngày 26, an nhiên ra đi. Từ trước tới sau, từ đầu tới cuối đều biết khéo léo và hoàn mỹ hết là thiện trí thức chân thật. Thanh Viễn tôi chỉ thêm thừa nêu lời để dạy bảo, đau đớn khôn lường.
Cổ nhân nói: “Đem thân tâm này phụng sự vì các cõi như vi trần, ấy mới gọi là đền đáp báo ân chư Phật”. Xưa kia, ngài Đại Mai lúc sắp tịch, thượng đường, nghe tiếng chuột kêu liền nói: “Tức vật này không vật nào khác”. Các ông khéo giữ gìn, ta sẽ ra đi thôi. Tiên sư ta thượng đường, bảo chúng: “Giàu hiềm ngàn miệng ít, hèn hận một thân nhiều”. Lấy nay so với xưa, không khác chút gì. Các ông lại biết Đại Mai, Động Sơn hai vị Lão gia ấy đi đâu chăng? Nếu biết được ắt không cô phụ Tiên sư. Nếu chưa biết, có lạnh nóng chừ gần tuổi thọ, có quỷ thần chừ ganh phước người. Xuống tòa.
Sư thượng đường, động cây gậy một cái, hét một hét, nói:
Gậy hét cùng cho tông Phật xưa, Tam huyền tam yếu bặt vết hồ. Mây trắng tan ra núi xanh hiện, trăng sáng hoa lau đối lục hồng.
Lại dộng xuống một gậy nữa, hét thêm một hét, rồi xuống tòa.
Giải Hạ, Sư thượng đường, nói:
Lấy một hạt cải gõ vào hang A-tu-la, ở trong ngồi yên 9 tuần. Rung cây tích trượng 6 khoen lên Tu Di Lô. Thẳng lên ở yên 3 tháng. Dựa vào tùng lớn mà tự thệ, vào duyên với nước để kinh hành. Châu du tỉnh ấp thì đi đứng như tiếng gió, nương vào chốn tòng lâm thì oai nghi đầy đủ sẵn. Đâu luận bàn chi đến thành hoàng, tụ lạc? Đâu cần chia nơi thắng địa hay bảo phường! Trăng tâm lẻ loi mà tròn trịa, châu trần sáng tỏ, sáu cửa rỗng sạch, muôn pháp đều như. Hộ sanh như thế, há có luật nào để giữ. Người sáp ở trong túi, toàn thân bị tuyết lạnh. Thật kham vui vẻ, vui như thế nào vậy?
Ngô cư sĩ vì Sư lập ra am Thản Nhiên ở Long môn, thỉnh Sư thượng đường:
Cư sĩ Tịnh Danh, người tại gia, là người đích thân thâm nhập pháp môn Bất Nhị, một bát cơm Hương Tích cõi trên, từ ngàn xưa tịch mịch chuyển đến chốn này. Đại chúng! Pháp lực của ông Duy Ma Cật, thần thông của Cư sĩ ấy đoạn ở thế giới Diệu Hỷ, đoạn ở trong đây, đem cơm của Phật Hương Tích cho chúng hội ăn no nê. Ba mươi hai ngàn tòa sư tử vốn đã trang nghiêm. Mười phương ba đời chư Phật hiện tiền chứng cứ xem ông ta làm một trường Phật sự, việc thật hiếm có và kỳ lạ ấy đều do công huân tập bất tư nghì, là thần lực của tự tâm vậy. Cư sĩ Minh Công hy vọng làm nên Duy Ma Cật, nổi gót Bàng Công, cố tỉnh cái thân huyễn, đã lâu hướng về Chánh giác. Mong kéo dài cái bình tích, sửa lập am vũ (chùa chiền) mà đuổi ông đến đây nhóm họp bạn tu thiền. Ta nhớ thuở xưa, có lần Tổ Lâm Tế trồng tùng, Tổ Hoàng Bá hỏi: “Trong núi sâu trồng nhiều tùng làm gì?” Tổ Lâm Tế đáp: “Trước làm cảnh cho sơn môn, sau làm tiêu bản cho người sau”. Nói xong, lấy cán cuốc đánh xuống đất hai cái. Hoàng Bá nói: “Tông ta đến ông rộng hành ở đời”.
Đại chúng! Việc trồng tùng của Tổ Lâm Tế có thể gọi là Căn Bàn Sa Giới, là che Di Lâu, Tam Hiền Thập Thánh làm chỗ nghỉ ngơi. Chư Phật, Tổ sư làm nơi dừng ở, nên được thịnh hành cho con cháu đời sau. Cành lá sum suê từ xưa đến nay liên miên chẳng dứt. Như nay trong chúng, nếu có một vị thiền khách nào đến đây nói “Trong núi sâu dựng lập am làm gì?” Sơn tăng sẽ hướng vào y nói: “Trước làm cảnh trí cho sơn môn, sau làm tiêu bản cho người sau”. Hãy nói cùng với người xưa cách nhau bao nhiêu? Đại chúng! Trước làm cảnh trí cho sơn môn, người thấy chóng siêu việt qua chỗ vô học; sau làm tiêu bản cho người sau, phàm thánh mê ngộ đồng một dạng. Nếu là cửa hướng thượng của tòng lâm, ai dẫm đạp được thì vui vẻ vô cùng. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Thiếu Thất không lời nói, Tào Khê có tin tức. Đáng thương, cửa lớn đã mở mà người chẳng thể vào. Rồng xanh được mây mưa, mãnh hổ mọc lông cánh. Chỉ biết tự thừa đương, nhọc gì hỏi tri thức?
Sư thượng đường, Tăng hỏi: Kiếp hỏa tràn lan, cõi đại thiên đều bị hoại, chưa biết cái ấy có bị hoại hay không?
Sư đáp: Trong thùng sơn đen toàn màu vàng.
Tăng nói: Xin Sư đáp thoại.
Sư đáp: Lời nói rỗng.
Sư lại nói:
Người xưa nói: “Có khi ta nhướng mày chớp mắt, có khi ta chẳng nhướng mày chớp mắt. Có khi nhướng mày chớp mắt là phải, có khi nhướng mày chớp mắt là không phải. Như ngày nay, ông chẳng biết rõ được, liền riêng cho là hiểu biết, nói: “Người được đó nói phải cũng được, nói chẳng phải cũng được. Vậy ta hỏi: Thế nào là người được đó?
Liền nói:
Trên phần ông ta chẳng nói được cùng chẳng được. Được cũng tốt, không được cũng tốt.
Bèn thở dài một tiếng, nói:
Có chỗ nào cùng nói đâu? Chỉ như người xưa nói: “Thế ấy cũng chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy đều chẳng được, lại là làm sao? Kia liền nói: Đây là phủi dấu vết ngôn ngữ. Còn chẳng phủi sạch dấu vết ngôn ngữ thì sao?
Liền nói:
Thế ấy cũng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy đều chẳng được. Đây gọi là lời nói thật, có thật cha mẹ ở trong thất ông.
Sư lại hô lên hai tiếng, nói:
Có chỗ nào cùng nói chăng? Phàm là nạp tăng, phải nói thoại của nạp tăng. Các ông hợp ra sao? Chớ bảo Long Môn chẳng chấp nhận tôi, chôn lấp tôi, yểm tài tôi. Nếu Long Môn mà thế ấy thì cần gì ông đến, hay chẳng cần ông đến? Cũng phải chín chắn xem xét cho tường tận đi! Trân trọng. Xuống tòa.
Sư thượng đường, cử:
Xưa, Đại sư Huyền Sa (Sư Bị) dạy: Các nơi lúc bình thường đều nói tiếp vật lợi sanh, bỗng gặp ba hạng người bệnh làm sao tiếp? Người mù đến, tay giơ chùy dựng phát tử làm sao thấy? Người điếc đến, nói cho y, y lại chẳng nghe. Người câm đến, bảo y nói, y nói chẳng được. Nếu tiếp ba hạng người này chẳng được thì Phật pháp đâu còn linh nghiệm?
Sư nói:
Hay thay, chư huynh đệ! Lại biết tướng chân thật là chỗ nào không? Sơn tăng chẳng tiếc lông mày vì các ông nói phá đâu. Chỉ như các ông lúc bình thường có cặp mắt, lại đâu từng thấy chăng? Có đôi tai, lại đâu từng nghe chăng? Có cái lưỡi, lại đâu từng nói chăng? Đã không nói, không nghe, không thấy, chỗ nào có sắc, thinh, hương, vị tới? Tuy nhiên như thế, tại sao có mấy người đến chỗ điền địa này? Cho nên nói: Máy gỗ, gái đá, ba mùa đông khí Dương vẫn thạnh. Lúc tháng Sáu sương giáng. Có lời chẳng ngàn lưỡi, có lời nói quan trọng. Hội câu rốt sau của tôi, xuất thế ít người biết. Trâu, tê (giác) sanh vằn không việc khác, hương lan thơm nức nếm nói kỳ. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Điện Quang Minh khắp ở nhân gian, lưới giao thánh phàm bặt qua lại. Nếu hướng một trần thân được thấy, chỗ hào quang chiếu phụng từ nhan.
Sư thượng đường, nói:
Xưa kia, Thiền sư Bá Trượng Đại Trí có lần tái tham với Mã Tổ (Đạo Nhất) đang đứng hầu, Mã Tổ đưa cây phất tử lên. Bá Trượng hỏi: “Tức đây dùng, hay lìa đây dùng?” Mã Tổ treo phất tử trở lại, hỏi: “Ông ngày sau mở hai mảnh da lấy gì vì người? ” Bá Trượng lấy cây phất tử dựng lên. Mã Tổ nói: “Tức đây dùng, hay lìa đây dùng? Bá Trượng treo phất tử lại chỗ cũ. Mã Tổ liền hét, Bá Trượng ngay đó điếc tai đến ba ngày.
Đại chúng! Nói điếc tai ba ngày, dù nói được Long Môn đánh trống thượng đường, đại chúng thảy đều vẫn tập. Tăng đường nuốt ngang Phật điện, cây cột treo ngược lồng đèn. Trời cao đất dày, trăng thanh gió mát. Mưa thuận gió hòa, sông trong biển lặng. Đói thì cùng ngươi ăn rau đắng, khát thì cùng ngươi uống nước suối lạnh. Dù cho ngoài trời hoa mưa bay, sao bằng uống trà ở Thiền đường? Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Trên đường Ngũ Đài Sơn khách đi qua rất ít. Trước nhà Phá Táo (Đọa) cảm ơn không nơi. Tuyết chôn cây bách (trước) sân, băng đông cứng nơi khe suối. Lò lửa tuy ở phương Nam, chẳng vào trong hũ dưa muối nhà người. Coi đây, coi đây, ngày 30 tháng Chạp chính là Mạnh Xuân còn Đông. Bọn các ông, mỗi mỗi phải cố gắng hướng tới trước. Rất kỵ tự sanh lui sụt. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Sơn tăng vừa ở trong tẩm đường (nhà bệnh), trên pháp đường (nhà thuyết pháp) không có Sơn tăng, trên tẩm đường có Sơn tăng. Xuống tới pháp đường, trên pháp đường có Sơn tăng, trên tẩm đường không có Sơn tăng. Có thì ngoài tâm có pháp, không thì ngoài tâm, pháp chẳng tròn. Chư thượng tọa, ở dưới chỗ để y bát nghe đánh bảng liền lên pháp đường, trên pháp đường được thêm thượng tọa, dưới chỗ để y bát thiếu thượng tọa. Thêm thành tăng, giảm thành diệt. Diệt nên rơi vào đoạn, tăng thì rơi vào thường. Người hành cước làm sao lìa được có và không, lìa được thường và đoạn? Sanh tử nghi tình rất khó thấu thoát. Đây là tâm thanh tịnh của Như Lai, nên nghi phải quyết trạch, chẳng nên ngồi không. Ngày tháng đổi dời như tên bắn, đời phù du như thế, người sống có bao lâu? Kia đây xuất gia, làm khách nghịch trong ba cõi, nhà tranh cửa trúc, ai làm chủ đó? Lãnh đạm ở chung, vắng vẻ cùng ở. Vì sao? Mới gì? Lo gì? Nghĩ gì? Xuống tòa.
Hành giả xuống tóc, Sư thượng đường:
Cây trụ cột nhiều năm xuất gia, cái đèn lồng đã lâu xuống tóc. Điện Phật giữ vững giới cấm, ba cửa gần được nghỉ ngơi. Việc lớn xưa nay bình đẳng. Chẳng dính trăng đầy mát mẻ. Độ hết cỏ cây tòng lâm, một tợ Dương Hòa cùng phát. Xuống tòa.
Ngày Tết, Sư thượng đường, nói:
Muôn vật đều mới bàn quê xưa, ngước mắt vốn là cha mẹ xưa. Xuân trước hoa nở ngát hương đưa, núi sông ngoài vật ngày tháng dài.
Tăng hỏi: Thuở xưa, Tôn giả Bạt Đà hỏi Đại sư Pháp Chiếu, chưa biết so với nay là đồng hay khác.
Sư nói: Xưa đó, nay đó.
Tăng nói: Lão nhân Tài Tòng khó được truyền bát, Lão Lư nhỏ bé vào Lãnh Nam.
Sư nói: Ông thử nêu người xưa xem?
Tăng nói: Kho bếp ba cửa, lầu chuông điện Phật.
Sư nói: Thế ấy lại làm sao được?
Tăng nói: Bỗng gặp người bảy tay tám chân đến thì thế nào?
Sư nói: Cắt đứt cẳng chân đem một câu lại.
Tăng nói: Hôm qua có người từ Thư Châu đi.
Sư nói: Cũng là kẻ xa xôi lại.
Lại cử:
Tăng hỏi Bá Trượng: “Thế nào là việc kỳ đặc?”. Bá Trượng nói: “Riêng ngồi trên ngọn Đại Hùng”. Tăng lễ bái, Bá Trượng liền đánh.
Sư nói: Đánh lầm người.
Như tăng hỏi Đức Sơn: “Thế nào là việc kỳ đặc?”. Đức Sơn nói: “Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người”.
Sư nói: Còn so sánh chút ít.
Tăng hỏi La Sơn Nhàn: “Thế nào là việc kỳ đặc?”. La Sơn nói: “Nói gì?”.
Sư nói:
Thành đạo lý gì? Đại chúng! Lưỡi câu người xưa dính mồi, ý ở được cá. Như nay rửa chân lên thuyền được có mấy người? Hoặc nếu ai hỏi Long Môn tôi: Thế nào là việc kỳ đặc?”. Sơn tăng đáp với y rằng: “Đây cách Thái Hồ chẳng xa”. Nói thoại thế ấy, có gì kỳ đặc? Tôi lại nói với y: Tám thước là Đường - Lê. Đại chúng! Lại hội chăng? Rảnh rang nếu chẳng hội, phải rảnh rang xem! Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Trong thân có sanh già bệnh chết, trên niệm có sanh trụ dị diệt, cõi nước có thành trụ hoại không. Mười hai loại việc này rất có thể kỳ đặc. Phàm phu chẳng biết, vì họ nổi trôi. Đức Như Lai ra đời chỉ ra Niết bàn diệu tâm, thường lạc ngã tịnh. Giống như một viên đan sa điểm sắt thành vàng. Một lời tột lý chuyển phàm thành thánh. Mười hai loại này chỉ là một pháp. Hiện định như nay là người nghe pháp rõ ràng vậy. Lại nói được đến chăng? Bèn nói: “Đan quế trong trăng riêng cấm lạnh, mai lạnh trong tuyết riêng phóng hương. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Khi ngộ thì việc này vốn đến dễ, sau khi mê cửa ấy thật rất khó. Chốn chốn vin cây dương kham cột ngựa, nhà nhà cửa miệng thấu Trường An.
Sư thượng đường, nói:
Mồng 3 tháng 3, mồng 2 tháng 2. Chẳng hoại giả danh nói nghĩa lớn. Chúng sanh nô lệ đuổi bóng theo vật, đồ cho là hư bỏ. Tháng 2 nhớ 9, Mồng 1 tháng 3, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. Giả sử đa văn suốt xưa cả nay, nhiều kiếp chưa từng khác ngày nay. Việc ngày nay là thế nào? Im lặng hồi lâu, nói: “Sao là ngày nay?”
Sư thượng đường, nói:
Từ trên chư Thánh, thấy người ưa dính trần lao, chẳng mong lìa khỏi, bèn sanh lòng thương xót, bảo đó rằng: Ông theo tiếng đuổi sắc, gọi là người cuồng. Đại chúng! Hay thay lời nói ấy. Hổ thẹn thay, chư Thánh nói thế ấy. Tuy nhiên như thế, đã là đánh mở cái túi vải rồi, chẳng thể tách hợp được. Long Môn tôi hôm nay lật ngược tung ra. Có người được đó, hằng dứt mong cầu. Bèn giơ cây gậy lên, rồi dộng xuống đất một cái, nói: Há chẳng phải là tiếng ư? Ông lúc bình thường làm sao theo? Lại giơ cây gậy lên, nói: “Há chẳng phải là sắc ư? Ông bình thường làm sao đuổi? Lại hội chăng? Nếu hay theo đuổi vốn không bị trói cột, chính là người liễu đạt trong chốn tòng lâm Phiền đứng lâu.
Ngày tắm Phật, Sư thượng đường nói:
Như Lai diệu sắc thân, chân thật khó che dấu. Chẳng treo y bát cũ, đâu dính khổ mẹ sanh? Dưới cây Vô Ưu lúc giáng sanh, Đông Tây Nam Bắc đi 7 bước. Đi 7 bước, độ hết chúng sanh không chỗ độ. Sớm nay là mồng Tám tháng Tư, ngày Đản Sanh của Đức Phật Như Lai của ta. Thiên hạ nấu nước sạch tắm Phật, Phật thì do các người tắm. Hãy nói thế nào là Phật? Muốn biết chăng? Phật gọi là Như Lai, thường trụ chẳng diệt. Có ai thấy được Sơn tăng liền chẳng lo đau đáu. Nếu không ai thấy, Sơn tăng nói thêm bài kệ:
Hôm qua Như Lai ban mưa pháp, Sớm nay mưa pháp tắm Như Lai. Rõ ràng một vị không sai khác, Núi xanh ngoài mây đóa hoa nở. Muốn báo ơn sâu Đức Như Lai, Trên điện trùng tân lại tắm qua. Xuống tòa.
Kiết hạ, Sư thượng đường, nói:
Long Môn Kiết hạ hơn các nơi. Núi sông quả đất đều nêu ra. Nếu đến 9 tuần tham thấu được, liền không Phật pháp để thương lượng.
Sư thượng đường, nói:
Hư không muôn xưa, trăng gió một sớm. Cổ nhân báo cáo thế ấy, rất hay lời tỏ bày. Đâu thể lấy một vị trăng gió một sớm bỏ hư không muôn xưa ư? Đâu thể đem hư không muôn xưa chẳng sáng rõ trăng gió một sớm mà được ư? Đây là pháp rất sâu rộng, là tông tự tại. Nếu cũng rõ được thì chỗ nào có pháp thừa bằng một mảy tơ đến? Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường, nói:
Ba ngày chẳng gặp nhau chớ cho là thời xưa. Hãy xem, Sơn tăng gần đây chẳng phải là người xưa vậy. Trời là trời, đất là đất, núi là núi, nước là nước, tăng là tăng, tục là tục, khác nhau vậy, chẳng phải là người xưa luôn. Có người hỏi: Chưa biết trước đó ra sao? Sơn tăng khi trước trời là trời, đất là đất, núi là núi, nước là nước, tăng là tăng, tục là tục, cho nên tình mê lấp kín, che ngăn nguồn tâm. Như nay thì khác rồi. Hoặc có người nào bước ra đây nói rằng: Tôi cũng như Hòa thượng, trời là trời, đất là đất, núi là núi, nước là nước, tăng là tăng, tục là tục, lại được chăng? Chẳng được. Nói thẳng là chưa được gì hết. Lại có giản biện được chăng? Nếu giản biện được là con mắt đạo của thượng tọa tròn sáng. Nếu giản biện chẳng được thì tơ trúc làm ổn náo, cho đến nhạc trên thuyền, lụa soi nước, người trên bờ. Trân trọng.
Sư thượng đường, nói: Đạo xa thay! Chạm việc mà chân. Thế nào là đạo?
- Trên đảnh tám thước năm.
Sư nói: Vuông tròn bảy tám tấc.
- Một đường hướng thượng còn cho hội chăng?
Sư nói: Chẳng bàn hướng thượng hay hướng hạ để cho ông hội.
- Thế ấy thì ngay đây xuất sanh, tùy theo chỗ diệt.
Sư nói: Bao nhiêu người lầm hội thế ấy?
- Bậc tông sư tác gia, thiên nhiên đã có.
Liền lễ bái.
Sư nói: Chưa từng cùng thượng tọa đi chung.
Sư nói tiếp:
Trong thân thiết thật là thân thiết. Trong tỉnh yếu thật là tỉnh yếu. Lại hội được chăng? Các ông đều là phát chí dò huyền, ý cầu xuất ly. Sơn tăng ở trong ấy chẳng nêu nay cử xưa, lấy phải bỏ quấy làm mê loạn người. Ông nếu chẳng đến đây, Sơn tăng cũng không được nói. Ông nếu lên đây, Sơn tăng chẳng khỏi ở trên thân ông cắt một miếng tương tợ như ông, lại biết đau đớn chăng? Bỗng nhiên biết được, đáng gọi là thân thiết vậy. Nếu chẳng biết lý do đến đây thì một miếng của đạo giả trong chỗ nào được đến? Được thơm cũng thế ấy, được thúi cũng thế ấy, được sống cũng thế, được chín cũng thế ấy. Lại biết được chăng? Chẳng lìa ngay đó thường lặng yên, còn tìm tức biết anh chẳng thấy. Trân trọng!
Sư thượng đường, nói:
Rõ biết một, muôn sự xong. Thích Ca, Di Lặc vui hôm nay. Chỉ được tâm an là chỗ an, không tai không nạn, không xưa nay. Nên biết cội nguồn Phật pháp, nhớ lấy mồng Một tháng Năm (Tết Đoan Ngọ). Xuống tòa.
Tết Đoan Ngọ, Sư thượng đường, nói:
Hôm nay là ngày Đoan Ngọ, người đời đóng đinh vào thẻ đào, viết chữ lên then cửa khiến cho muôn việc tà chẳng dòm ghé vào cửa, trăm quỷ chẳng nhập vào cửa. Người đời lại bảo châm kim, đốt cứu, lên núi tìm thuốc làm cho muôn thứ bệnh tật chẳng ở trên thân thể nữa, bệnh tật chẳng nhập vào thân thể nữa. Sư liền hét một tiếng thất thanh: A ha ha! A ha ha! Người trọn ở trên đại địa đốt phá da thịt, bảo Sơn tăng chịu khổ đau vô hạn.
Xưa kia, Sở đại phu (tức Khuất Nguyên) bởi chẳng màng tới lời trung chánh mà chìm vào sông Tương. Người sau thương xót ông, lấy ống trúc bỏ đầy cơm vào trong đó rồi buộc dây năm màu để cứu vớt ông. Phong tục ấy đến nay còn mãi lưu truyền chẳng ngớt.
Sự liền ho hẹn vài tiếng, nói tiếp:
Người đời ăn hết bánh chưng khiến Lão tăng căng da bụng. Đại chúng! Người khác đốt ngải cứu, người nọ ăn đồ, vì sao Trưởng lão Long Môn tôi bị đau, bị no? Chưa thể tình quên, mất nỗi lo theo duyên sự ra ngoài thấy nghe. Ở trong cửa này liền là hí luận. Há chẳng thấy Thánh trước nói rằng: “Trâu châu Hoài ăn lúa mà ngựa châu Ích no bụng”, hay sao? Thiên hạ tìm thấy thuốc đốt ngải cứu trên cánh tay trái con heo đó sao? Vì sao vậy? Xa chạy chẳng bằng gần khúm núm. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường, nói:
Vào được Long Môn đây, việc việc kỳ, nghe tiếng thấy sắc bất tư nghì. Núi xanh nước duyên, là duyên việc gì? Thảy đều là sức của mọi người khiến ra đó.
Sư thượng đường, nói:
Lại lờ mờ chăng? Chớ bảo hôm nay vẫn còn so sánh chút ít. Dù phải hướng vào chỗ không sờ mó đến được, xô ao ngã gò lờ mờ mới được. Sơn tăng nói thể ấy, có thể giết không biết tốt xấu. Tuy nhiên như thế, dù ông lờ mờ được, ta liền hỏi ông rằng vậy các tội sát, đạo, dâm, vọng từ trước, và uống rượu ăn thịt kia, bảo người nào trả? Sư lại quơ gậy, nói: Kim Cang làm xấu, Phật nhận dầu thơm.
Buổi sáng ngày kỵ của Hòa thượng Đông Sơn (Pháp Diễn), Sư thượng đường, nói:
Câu rốt sau, hồi Tiên sư còn tại thế, ở dưới lớp da người khều ra cây gai. Thí như băng trong ngày của tháng Sáu, tiêu dung thì chỗ chỗ đều tương tợ, sau này tiếng vàng mỗi mỗi đều được lưu truyền. Lại thêm một hai, cùng ba bốn. Trong ấy ai là người không tai? Thấy rõ xưa nay không sanh tử? Lão Hòa thượng Tiên sư, ta hầu hạ đã lâu, phần nhiều thật là nhờ đắng miệng nêu ra nhắc nhở đó để nhớ xa, có gì đáng mất? Các ông bày cúng nhỏ, mọi người hãy nói Tiên sư có đến chăng? Nếu bảo đến, thì đã nhập diệt hơn mười năm rồi. Làm sao thấy được đạo lý này? Nếu bảo là chẳng đến, thì bày tiệc trai này làm gì? Nói chẳng đến cũng có sai lầm. Nếu được sao không sai ngoa? Lại biết được chăng? Ba cái côn luân đồ ăn sắt, một đôi bánh bao cây vô phùng.
Sư thượng đường, nói:
Đại chúng! Hoặc có người gọi thượng tọa, thượng tọa liền ứng đáp, trong tâm cũng phải xem qua. Người tu thời nay lại nói: Ứng đáp là phải vậy, xem qua là phải vậy. Nếu hội như thế chính là kẻ vào địa ngục. Phải thì nên bày ra, hãy nói trước mặt ấy là ai gọi ông? Ấy là có người gọi, hay không có ai gọi? Lại cắt đứt được chăng? Nếu là có người gọi thì sơn tinh quỷ mỵ khi gọi ông, thiên ma ngoại đạo khi gọi ông, làm sao ông biện bạch? Nếu nói là không ai gọi ông thì ông đâu có điếc, đâu có ngu đần gì, làm sao được không ai gọi? Đây là việc đầu đường sanh tử trong mười hai giờ. Mọi người có sáng tỏ được chăng? Có người gọi thì sanh mê loạn, không người gọi thì bị cùm trói. Nếu hay hành thì sanh tử đoạn dứt, muôn lượng vàng ròng trọn không đổi. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Tỳ Mục Tiên nhơn nắm tay Thiện Tài Đồng tử, trong chốc lát thấy chư Phật quá khứ như vi trần, rồi khi buông tay ra, uyển nhiên như cũ. Trưởng lão Long Môn lãnh chư đại chúng, bèn ở chốn này kiết túc an cư. Khi giải hạ, uyển nhiên như cũ. Chỗ y như cũ của Thiện Tài vi trần chư Phật gồm nhiếp có trở về. Còn chỗ y như củ của đại chúng, ba tháng chín tuần coi lại không có dấu vết gì. Lại hội chăng? Mảy lông che đậy nhiều cõi nước, hạt cải nhét cả núi Tu Di. Chẳng lìa duyên thấy nghe, vượt lên trên Thập địa. ứ sanh lục đạo tức tâm tự tánh; tam đồ bát nạn khắp hiện sắc thân. Ở trong biển Hoa Tạng, trụ trong bất tư nghì. Yếu chỉ như thế là phận thường của bọn ta vậy. Lại tin đến được chăng?
Sư thượng đường, nói:
Hôm nay là ngày Hai Mươi tháng Bảy, giải Hạ được năm ngày rồi. Thiền Tăng tham thiền các ông ai cũng nói: “Tôi hội rồi vậy”. Hãy nói hôm nay là ngày Hai Mươi tháng Bảy hay chẳng phải là ngày Hai Mươi tháng Bảy? Ngay một câu hỏi này ở trong Phật pháp làm sao đối đáp? Có Sư tăng bảo: Sao Ngài không hỏi việc bổn phận sự? Còn cái ấy là ngày tháng của thế gian. Há lại có pháp chẳng thúc chế đó cao? Lại có Sư Tăng nói: Chẳng động một ngôi sao thế gian, hướng lên liền sáng lấy việc thế ấy. Hôm nay là ngày Hai Mươi tháng Bảy. Đại chúng! Trong chỗ nào có một tinh tú bất động? Được người an lạc? Nói chung, chẳng phải loại tác giả bỏ đi. Sơn tăng hỏi ông: Hôm nay là ngày Hai Mươi tháng Bảy hay chẳng phải là ngày Hai Mươi tháng Bảy? Có ai sáng tỏ được chăng? Trong đống lửa lớn khó đút tay, trong chỗ mát mẻ để yên thân. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường, cử:
- Tăng hỏi Vân Cư: “Thế nào là người trong đạo?”.
- Đáp: “Như tay người chết”. Hỏi: “Khi người trong đạo thấy nhau thì sao?”. Đáp: “Như mắt người chết”.
Sự giơ cây gậy lên, nói: Chẳng chấp đuổi bắt, thế nào là mắt người chết?
Sư vạch mắt lên nói:
Chẳng phải đuốc soi. Bọn các ông hội lấy. Chỉ như ngày trước đưa một vị Tăng mất, Sơn tăng có nói: Một bọn người chết tống táng một kẻ sống. Có người hội câu thoại ấy chăng? Thế nào là một bọn người chết? Sư nói: Dời thân chẳng dời bước. Thế nào là một kẻ sống? Sư nói: Muôn cơ đều chẳng đến. Này huynh đệ đời sau, đầu thu cuối hạ, sao chẳng gầm lên một tiếng? Vách đứng ngàn tầm khiến ta biết nói đi? Ông là người ấy, hướng vào trong đầu lưỡi hiểu lấy câu chết. Trong chết, hiểu lấy câu sống. Nếu chẳng phải vậy, cầu sống chẳng được sống, cầu chết chẳng được chết. Ăn đắng cay cũng phải nên rống lên một tiếng. Xuống tòa.
Sư thượng đường, Tăng hỏi: Đạo ở chỗ miệng biếng mở. Khi thơ thành từ, gật đầu thì thế nào?
Sư gật đầu vài cái nói:
- Ngày nay ngộ được vậy.
- Chớ mở miệng loạn.
Sư lại nói:
Các vị mỗi ngày hành ngàn hành vạn, chẳng phải là chẳng đến, cớ sao lại chẳng hiểu rõ ràng? Chỉ vì tin chẳng đến! Nếu tin đến thì chẳng hành mà tự đến vậy. Việc của thế giới ở mười phương chẳng đợi suy lường, một lúc đều sáng tỏ được.
Các vị mỗi ngày nói ngàn nói vạn, chẳng phải là nói chẳng đến, cớ sao lại chẳng hiểu rõ ràng? Cũng là nói chẳng kịp.
Nếu tin được kịp thì thật là vô sở thuyết. Pháp mà Như Lai ba đời nói đó, chẳng đợi suy lường, một lúc hiểu rõ được. Đại chúng! Lại đến chỗ ruộng đất thế ấy chưa? Tông môn này của ta chỉ bàn chuyện chứng ngộ, chẳng bàn hội giải. Nếu là người tham học còn nhân ngã, hổ thẹn vì chẳng hội nên phải cầu tìm giải hội, đến chỗ tìm kiếm câu lời tương tự mà ấn chứng cho nhau, làm diệt mất chủng tộc Hồ. Rồi sau Hồ loạn dạy bảo làm hại đến trai gái nhà người. Ta ở trong cửa này đều không việc ấy. Lại biết chăng? Kẻ điếc cũng xướng điệu kèn Hồ, tốt xấu cao thấp tự chẳng nghe.
Sư thượng đường, nói:
Người đời đều nói đường đi khó, bổn phận vàng ròng vào lửa xem. Luyện đi luyện lại thể vàng sạch. Một chùy đánh làm lan can ngọc.
Thỉnh Hóa chủ, Sư thượng đường, nói:
Sư cử:
Cổ nhân hỏi ba vị Tôn túc: “Hai rồng tranh châu con nào được??
Đáp 1: - Được tức mất. Đáp 2: - Lão tăng chỉ quản xem. Đáp 3: - Con nào chẳng được?
Sư nói:
“Được tức mất”, chấp bận làm gì? “Lão tăng chỉ quản xem, xem cứu giúp việc gì? Một tắc ngữ rốt sau Chẳng con nào được”, nếu ai hội được lời nói này của Tổ sư, thì một Đại Tạng giáo tự nhiên chẳng còn nghi. Lại sáng tỏ được chăng? Ai là người chẳng được? Chẳng thủ cũng chẳng xả. Chừng nào ngựa chở lạc đà, chính là lúc trở về vậy. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Đánh trống động Long Môn, kêu dậy ăn bánh bao sắt. Mời anh một phen cắn vỡ. Sơn tăng há lại dối lừa nhau sao? Tiên sư từng đắc lực, vị ướt nay chẳng bớt. Nếu vậy chẳng nề hà gì. Hay thay ăn bánh bao sắt.
Sư thượng đường, cử nói:
Hòa thượng Trường Sa (Cảnh Sầm) nói: “Ta nếu một bề nêu cao tông giáo thì trước pháp đường cỏ mọc cao một trượng”. Hay thay lời nói này. Hòa thượng Huyền Sa nói: “Ông thấy biết điên đảo mới có tới lui”. Hay thay lời nói này.
Long Môn tôi bình thường thấy bọn các ông thế ấy, nên hướng vào bọn các ông nói chẳng thế ấy. Ông phải là chẳng thế ấy mới được. Các ông chẳng thế ấy, thì Long Môn tôi sẽ hướng vào các ông nói thế ấy, các ông phải là thế ấy mới được. Các ông nói thế ấy chẳng thể ấy, Long môn tôi sở dĩ nói chẳng phải thế ấy, chẳng phải chẳng thế ấy, các ông phải là chẳng phải thế ấy, chẳng phải chẳng thế ấy mới được. Các ông chẳng phải thế ấy, chẳng phải chẳng thế ấy, Long Môn tôi sở dĩ nói thế ấy chẳng thế ấy, các ông phải thế ấy chẳng thế ấy mới được.
Đại chúng! Tình mất trí hiện, bệnh hết thuốc bỏ. Đâu chẳng là việc siêu thoát của nạp tăng ư? Long Môn tôi lúc bình thường còn có một câu đến trên phần của các ông chăng? Chẳng thấy Tăng hỏi Mã Đại sư: “Lìa tứ cú, tuyệt bách phi xin thầy chỉ thẳng ý Tổ sư”. Đại sư nói: “Hôm nay ta mệt, ông đi hỏi lấy Trí Tạng”. Tăng hỏi Trí Tạng, Trí Tạng nói: “Hôm nay ta đau đầu, ông đi hỏi Hải Huynh đi”. Tăng lại đi hỏi Hoài Hải, Hoài Hải đáp: “Ta đến trong ấy lại chẳng hội”. Tăng đem việc này trình lên Mã Đại sư, Đại sư nói “Tạng đầu bạch, Hải đầu hắc”. Đại chúng! Nói bạch nói hắc, lý rất rõ ràng. Các ông lại thấy Mã Đại sư chăng? Phiền đứng lâu. Cũng rất không manh mối.
Sư thượng đường, nói:
Nếu luận việc này, như đêm Trung thu xem trăng tròn vậy, trong sạch không có mây che, ai cũng thấy đó. Cõi Nam Diêm Phù Đề không đâu chẳng soi chiếu. Các ông mỗi người ở quê này tỉnh nọ có gia sơn của cha mẹ, các ông nói trong kia còn có chăng? Núi sông khe suối vắng bặt không ai đến. Trong kia còn có chăng? Lại sao được không người đến? Mỗi người tự bảo là thấy được là trăng, song trăng đầy này chẳng từ nơi này đến, chẳng từ nơi kia đi. Nếu từ nơi này đến, kia ắt là không vậy. Nếu nơi kia đi, cớ sao ở nơi này lại thấy đó? Bốn phương và trên dưới cũng lại như thế. Cho nên nói, cùng an ngàn vật thì ngàn vật đều tròn, một đạo sông lắng, một trăng lẻ loi sáng suốt. Xưa, có người lấy tay chỉ trăng hỏi Hòa thượng Nam Tuyền: “Chừng nào được như thế ấy đi?”. Nam Tuyển đáp: “Hai mươi năm trước Vương Lão gia cũng từng như thế ấy lại”.
Đại chúng! Nói cho ông việc này mà không có chỗ cho ông đoán dò, không có chỗ cho ông nói lại. Như này bạn thiền đều nói ta hội được, chỗ nào là chỗ chiếu soi chẳng tới? Hãy nói việc các ông soi được tới đó là do đời trước thượng tọa từ trong nẻo nào mà tới? Là trời hay là người? Là địa ngục hay ngạ quỷ, súc sanh? Nếu chẳng biết rõ thì uổng cho lời nói này phải làm sao dùng?
Mã Đại sư một hôm xem trăng, có hai ba đệ tử theo hầu. Đại sư nói: “Chính ngay lúc này thì làm sao?”. Tây Đường nói: “Tốt nhất là nên cúng dường”. Bá Trượng nói: “Nên tu hành”. Nam Truyền phất tay áo đi. Đại sư nói: “Kinh thuộc về Tạng, Thiên về Hải, chỉ có Phổ Nguyện vượt ngoài sự vật”. Xem ông ta luận bàn như thế cũng rất kỳ quái. Đại sư đến một câu hỏi này, các vị Đại sĩ dù được liền đoạt cái mũi vá, trông mong làm người hoàn toàn, lấp hang dời núi thành đất bằng. Lại khế hợp một câu hỏi này của Mã Đại sư chăng? Biết hết được chăng? Sư im lặng giây lâu, nói tiếp: May không chỗ soi khắp, vừa có khi chẳng sáng.
Sư thượng đường, nói:
Tổ sư (Bồ Đề Đạt Ma) nói: Cũng chớ mến Thánh ghét phàm. Hội được pháp phàm phu liền thành pháp Thánh nhân. Biết được pháp Thánh nhân tức là pháp phàm phu. Thảy đều nói phàm phu, Thánh nhân chẳng hai, vì sao phàm phu trôi nổi, chư Thánh lại giải thoát? Lại bảo: Cũng chớ bỏ mê lấy ngộ. Như nay ngộ là hướng đến mê, như nay mê là hướng đến ngộ. Trọn mê là ngộ, chẳng hai. Vì sao kẻ mê lại nương cái bít lấp trước và ngộ lại nương cái tỉnh tỉnh cũ? Các ông lại biện rõ được chăng? Phàm thánh, mê ngộ nếu thấu qua được rồi thì rỗng suốt thấy rõ người xưa nay. Dám hỏi các ông, thế nào là người xưa nay? Lúc bình thường các sư tăng nói: chỗ nào chẳng thấy người xưa nay? Lư Thần Tiên sanh há là Tứ Châu Đại thánh đó sao? Lại nói, y không có mặt mắt, chỗ nào gặp y? Nước xa chẳng cứu lửa gần. Lìa hai đường này, thế nào là người xưa nay? Im lặng giây lâu, Sư nói: Giả sử nghe mà ngộ đến, đâu bằng tự được gần gũi. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Thuở xưa, Hòa thượng Vô Trước dạo núi Ngũ Đài, lễ bái Văn Thù, đến chân núi xin tá túc trong một ngôi chùa thì gặp một Lão tăng đứng đợi, hỏi Vô Trước “Thượng nhân, từ đâu tới?”. Vô Trước đáp: “Phương Nam tới”. Lão tăng nói: “Phật Pháp ở phương Nam gần đây ra sao?” Vô Trước thưa: “Tỳ kheo thời mạt pháp ít giữ giới luật”. Lão tăng hỏi: “Chúng nhiều ít?”. Vô Trước đáp: “Có khi ba trăm, có lúc năm trăm”. Rồi hỏi lại: “Hòa thượng dạo này Phật pháp trụ trì thế nào?”. Lão tăng đáp: “Phàm Thánh cùng ở, rồng rắn lẫn lộn”. Vô Trước hỏi: “Chúng nhiều ít?”. Lão tăng đáp: “Trước ba ba, sau ba ba”. Thấy Vô Trước không tỉnh, Lão tăng liền sai đồng tử đem chén lưu ly điểm trà cùng với Vô Trước, lại hỏi: “Phương Nam có cái này chăng?”. Vô Trước đáp: “Không”. Lão tăng nói: “Không thì lấy gì uống trà?” Vô Trước lại chẳng tỉnh, Lão tăng lại sai đồng tử tiễn ra khỏi cửa. Vô Trước quan sát thấy ngôi chùa không có ngạch (tức bức hoành phi để tên chùa), mới hỏi đồng tử: “Chùa này vì sao không có ngạch?” Đồng tử chỉ hai chữ Kim Cang ở sau lưng. Vô Trước vừa quay đầu, bỗng nhiên đồng tử biến mất, chỉ thấy mình đang ở trong rừng. Đại chúng! Vô Trước đi dạo xa xôi tận Ngũ Đài, lễ bái Văn Thù, và đích thân thấy, mà lại chẳng biết, thật là khổ thay.
Cho nên Hòa thượng Minh Chiêu tụng rằng:
Khuếch châu sa giới thánh già lam,
Mãn mục Văn Thù tiếp thoại đàm.
Ngôn hạ bất tri khai Phật nhãn,
Hồi đầu chỉ kiến thủy sơn nhàn.
Tạm dịch:
Chốn già lam rộng thênh khắp cõi, Tận mắt nói chuyện với Văn Thù. Dưới lời chẳng biết mở mắt Phật, Quay đầu chỉ thấy núi âm u.
Hòa thượng Tuyết Phong cũng có bài tụng:
Thiên phong bàn khuất sắc như lam, Thùy vị Văn Thù thị đối đàm. Kham tiếu Thanh Lương đa thiểu chúng, Tiền tam tam dữ hậu tam tam.
Tạm dịch:
Ngàn ngọn âm u một màu lam, Ai bảo Văn Thù ấy đối bàn? Cười ngất Thanh Lương bao nhiêu chúng, Trước ba ba sau cũng ba ba.
Đại chúng! Hai bài tụng này, thông suốt xưa nay, đẹp thì có đẹp vậy, mà sao lại chẳng thấy Văn Thù? Sơn tăng nay vì các ông tụng ra. Bèn tụng:
Thanh sơn môn ngoại bạch vân phi, Duyên thủy khê biên dẫn khách quy. Mạc quái tọa lai tần khuyến tửu, Tự tùng đáo hậu kiến quân hy.
Tạm dịch:
Ngoài cửa núi xanh, mây trắng bay, Theo bên khe nước dẫn khách về. Chở ngại ngồi đây thường khuyên rượu, Kể từ sau đó hiếm thấy ai.
Xuống tòa.
Sư thượng đường, vác cây gậy lên vai, bảo đại chúng:
- Cười thích, cười thích.
Bèn cười ha hả, nói:
Hôm qua có hai người cùng nói một sự kiện cho Sơn tăng. Sơn tăng nghe được, một đêm cười đến nỗi đau vỡ cả ruột. Lại cười ha hả.
Đại chúng! Muốn biết chăng? Có một người nói: Hôm nay là ngày mồng Ba. Quan viết lịch đến, người trong thôn bảo ngày mồng Bốn là lịch dưới thôn. Hỏi lão tăng rằng: Là mồng Ba chăng? Sơn tăng bảo: Là ngày mồng Ba. Lại hỏi: Là quan lịch chăng? Sơn tăng đáp: Là quan lịch. Lại hỏi: Trong thôn bảo đó là ngày mồng Bốn, là lịch dưới thôn chăng? Sơn tăng đáp: Là ngày mồng Bốn, lịch dưới thôn. Người ấy gật đầu.
Lại có một người nói: Hôm nay là ngày mồng Bốn, quan viết lịch tới, người trong thôn bảo ngày mồng Ba là lịch dưới thôn. Còn trưởng lão thì sao? Sơn tăng hỏi y: Là ngày mồng Bốn, ngày mồng Ba là lịch dưới thôn. Người ấy cũng gật đầu.
Hai người thấy nhau đều nói việc này. Một người nói: Trưởng lão nói với tôi là ngày mồng Ba. Người kia nói: Trưởng lão nói với tôi là ngày mồng Bốn. Hai người đồng tới gặp Sơn tăng, nói: Hôm nay là ngày mồng Ba hay mồng Bốn? Sơn tăng nghe được liền cười ngất, hai người nói: Trưởng lão chẳng nên mâu thuẫn, phải nói cho rõ ràng, Sơn tăng nói: Ông tự chẳng rõ ràng, chớ mâu thuẫn chỗ nào? Đại chúng! Hội được ý này chăng? Sơn tăng thấy y chẳng hiểu cũng chẳng nề hà gì.
Thiền tăng trong chúng sẽ có người nói:
Trưởng lão, vì sao trống vang nhóm họp rồi chẳng nói vài lời về Phật pháp và ý Tổ sư từ Tây sang, lại lý hội của kẻ nhàn rỗi ở thế gian làm gì? Đây là tình kiến của người đời thôi mà.
Sơn tăng nghe qua lại hỏi y:
- Thế gian có kẻ nhàn rỗi sao? Lại cái gì là tình kiến? Đem lại xem? Hóa ra y chẳng hội, liền làm bài tụng cho y như sau:
Ngôn thân sự diệc thân, Vô ngụy diệc vô chân. Ngu tục xưng vị ngã, Tà đồ hoán tác thân.
Tạm dịch:
Nói thân việc cũng thân, Không ngụy cũng không chân. Kẻ ngu cho là ngã, Bọn tà gọi là thần.
Ngã ấy đâu từng là ta? Nói thần đâu là thần? Đời người phải thấu suốt.
Rồi đưa cây gậy lên, để xuống giường thiền, nói: Thân vàng tía trượng sáu.
Trước tòa Sư lại bảo chúng: Cũng chẳng khuất lấp ông.
Sư thượng đường.
Tăng hỏi: Khi đại dụng hiện tiền, chẳng còn phép tắc thì thế nào? Sư nói: Ai tin ông?
Tăng liền hét, Sư nói: Hãy tiến lên một bước xem?
Tăng nói: May là có một cung ba mũi tên, đương cơ phải bắn chẳng bình người.
Sư lại nói: Năm thiếu từng quyết trận rồng rắn, mưa tới lại cùng chim trĩ ca.
Tăng lại hét. Sư nói: Hóa ra chỉ là Dã hồ tinh.
Tăng lễ bái. Sư nói: Đâu từng đại dụng hiện tiền.
Sư lại nói:
Xưa nay chỉ có một mình ngài Nam Tuyền, bọn các ông lại biết chăng? Nếu biết được, một đời không trôi suông đâu. Hòa thượng Nam Tuyền nói: “Thấy mà chẳng biết, lại biết chăng?”. Từng có một cư sĩ hỏi: “Trong nhà đệ tử có một phiến đá, cũng từng ngồi, cũng từng nằm. Như nay muốn tạc tượng Phật, chẳng biết có được không?” Nam Tuyên đáp:“Được”. Lại hỏi: “Chẳng biết chẳng được không?”. Nam Tuyền đáp: “Chẳng được”. Có ai sáng tỏ được ý chỉ này chăng? Nam Tuyền nói được, Long Môn tôi nói tốt cho tượng Phật. Nam Tuyền nói chẳng được, Long Môn tôi nói tốt cho phiến đá. Kia nói trong nhà đệ tử, sao gọi là nhà? Nhà ở chỗ nào? Chư nhân giả, đích thân từ trong nhà đến, trong nhà có vật gì? Phiến đá này rộng lớn lại bền lâu. Linh Sơn từng cúng dâng Phật, Đế Thích ông giơ tay, trong tâm ra vật gì? An lạc và trường thọ. Xuống tòa.
(CỔ TÔN TÚC NGỮ LỤC QUYỂN 27 - HẾT)
CỔ TÔN TÚC NGỮ LỤC QUYỂN 28
Lễ Thánh Tiết, Sư thượng đường, nói:
Hoàng đế lấy thiên hạ làm nhà, lấy triệu dân làm con, cha con một thể, thiên hạ một nhà. Vua thương dân, dân kính vua. Thương kính đã đồng, đạo vua tôi không ngoài. Cho nên, Phật nói: “Như dân được vua”. Lại nói: “Như vua của dân”. Hơn nữa, ngoài vua không có dân, ngoài dân không có vua. Vua ở ngoài dân, dân chẳng chịu ban cho. Dân ở ngoài vua, đạo vua tôi chẳng rộng. Sao gọi là vua? Thánh thần gọi là vua. Sao gọi là dân? Không biết gọi là dân. Nay trên hoàng đế đến thần, đến thánh là cha mẹ của dân. Tiết Giáng đản ở Thiên Ninh, mặt trời, mặt trăng, và các ngôi sao liên châu hợp bích (kết châu hợp ngọc). Giang Hà, Hoài Tế, cảm trọc dương thanh (rửa đục bày trong), càn khôn tạo hóa, cỏ cây trùng cá trình rõ manh mối, hiển bày kỳ đặc, đều là chỗ cảm kích cái đức tột của Hoàng đế vậy. Cúi Mông Sơn Thọ (Bệ hạ) sánh bằng núi Nam, tuổi bằng Bắc Nhạc. Vĩnh viễn muôn năm, không cùng không cực.
Sư gõ giường thiền và múa may, nói:
- Hội chăng? Sơn tăng nhảy múa tung bụi. Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế! Xuống tòa.
Sư thượng đường, giơ cây gậy lên, gõ xuống một cái nói:
- Tròn sáng rõ biết, chẳng do tâm niệm. Đến chết phải nói: Rơi hầm rớt hố, rốt ráo là thế nào? Bèn dựa vào cây gậy. Xuống tòa.
Sư thượng đường, cử:
Xưa có một vị Tú tài thấy Hòa thượng Trường Sa đang xem kinh Thiên Danh Phật, hỏi: “Có nhiều Phật chỉ nghe tên, chưa biết là ở cõi nước nào?”. Trường Sa nói: “Sau lầu Hoàng Hạc Thôi Hạo đề, Tú tài lại từng đề chăng?”. Đáp: “Chẳng từng”. Trường Sa nói: “Không việc đề một thiên, tốt”. Tú tài không đáp được gì. Đại chúng Tú tài hỏi Phật ở cõi nước nào vì sao Trường Sa lại nói thế ấy? Tú tài lúc bình thường ca gió vịnh trăng, vì sao trước ngài Trường Sa một từ cũng không có? Nếu là lầu Hoàng Hạc, có chỗ nào mà khó đề? Hãy nghe Sơn tăng nói phá. Lại nói: Mặt khách rất kỳ diệu, sáng chiếu khắp mười phương. Ta vừa từng cúng dường, nay lại còn thân thấy. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Buổi sớm giờ Dân, trong máy cuồng có thân đạo nhân. Đại chúng! Trong mười hai giờ xoay ngưng, ngửa úp, đi qua đi lại, nói phải nói quấy, phân Nam chia Bắc, vận dụng thi vi, khai đơn mở bát đều là máy cuồng. Hãy nói đâu là thân đạo nhân? Im lặng hồi lâu, nói tiếp: Bích lạc hữu tình không tướng vọng, diêu đài vô lạc khả truy tầm (Vách rơi có tình rỗng tướng trông, đài động không rơi đáng truy tìm). Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Vừa rồi Sơn Tăng ở trên nhà, mộng nghe pháp cổ (tiếng trống pháp), liền bước xuống thềm, thấy mọi người lên, tới gần hỏi thăm. Rồi lên pháp tòa, thị giả đốt hương xong, như nay người ở trong mộng bày ra chuyện mộng. Bọn các ông lại mộng thấy chăng? Nếu thật thấy được ấy là người giác. Người chẳng tỉnh mộng, uyển nhiên bị chìm đắm. Lại có một pháp cho ông đối chăng? Chẳng thấy cổ nhân nói: Trước mắt không pháp, ý ở trước mắt. Chẳng phải pháp trước mắt, chẳng phải chỗ đến của tai mắt. Đâu có gì kỳ đặc. Lại mộng thấy chăng? Phật Thích Ca nói: “Như người khi tỉnh dậy, tâm dẫu tinh minh (sáng suốt), muốn nhân duyên gì lấy vật trong mộng?”. Gõ vào giường thiền, nói:
Là cái gì? Có nghe chăng? Lại dựng phất tử lên. Có thấy chăng?
Im lặng hồi lâu, nói:
“Trên trời nhân gian các tri thức, đâu bằng Long Môn mộng được gần”. Xuống tòa.
Sư thượng đường, Tăng hỏi:
Người xưa nói: “Chư Phật chẳng ra đời, nói pháp 49 năm. Chư Phật đã chăng ra đời vì sao nói pháp 49 năm?”
Sư nói:
-
Ông nghĩ là bao lâu?
-
Tổ sư chẳng từ Tây sang, Thiếu Lâm có diệu quyết. Tổ sư đã chẳng Tây sang, vì sao Thiếu Lâm có diệu quyết
-
Người biết ơn thì ít, kẻ vong ơn thì nhiều.
-
Thế ấy thì một người truyền rỗng, nhiều người truyền thật.
-
Chỗ rỗng làm sao truyền?
-
Mặc từ đâu biến đổi, trọn chẳng làm y thông.
-
Lễ bái đi.
Sư lại nói:
Ban đầu từ một chiếc giày về Tây, cuốn y về gặp ở phương Nam, rỗng nghe tin tức, lưu lạc trong nhân gian, xưa đi nay đến, kính nhân cho nhau, rất giống một người truyền rỗng muôn người truyền thật. Sơn tăng bịnh phần nhiều am hiểu tính thuốc, già tuổi biến thành tinh, chẳng phải là cổ nhân khắc nghiệt, khỏi thấy chôn vùi lẫn nhau. Các ông lẽ ra là xúc giác từ trước, thấy biết ngày nào, từ bên người mà thỉnh ích được đến trong lời nói, và trong lúc cử, ra vào du hí thì chẳng phải không, nhưng rốt ráo đại sự chân thật thì hầu như không thể được. Chỉ hay tình quên lý mất, mưu sạch đường cùng, không còn chỗ bày ra để dụng công. Sơn tăng lúc bình thường chỉ bảo uống trà đi, ngày nay cũng nói uống trà đi. Hội trọn ngũ vị thiền của các nơi, đâu giống uống trà đi của Sơn tăng? Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Toan suy lường, kiếp nào ngộ? Chẳng suy lường trọn thành lỗ mãng. Khi muốn nghĩ chẳng nghĩ đạp phá, muôn dặm không mây thường hiển lộ. Thường hiển lộ, diệu dụng hằng sa chẳng sớm chiều. Chư thiền bá, chính đúng lúc dừng hết chinh chiến, hằng dứt binh đao, bên suối dựa núi, thành tựu việc lớn. Huống là đời người dễ già, mạng sống có bao lâu? Hoặc nếu sanh tử hiện tiền, rốt cuộc lấy gì làm tiêu chuẩn? Chẳng thấy Cổ Đức nói: Nếu chẳng an thiền tịnh lự đến trong ấy thảy đều phải mờ mịt. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường, nói:
Đến đến đi đi khi đến đi, đi đi đến đến lìa giác tri. Rõ được đến đi không ngăn ngại, mới hay trần kiếp chẳng nghĩ nghì. Cho nên nói: Đến không chỗ đến, đi không chỗ đi. Mé đến đi, sanh tử rõ ràng. Niệm trước sanh là đến, niệm sau diệt là đi. Cầu đến đi ấy rõ không thể được. Cho đến sanh trước sanh sau, năm nay năm qua càng không có chút mảy may tướng đổi dời. Hội được như thế, mới bặt đến đi. Bởi do chúng sanh trái giác hợp trần, đến đi luân chuyển, nếu hay rỗng suốt thì còn việc gì?
Thuở xưa, Đại sư Thạch Đầu (Hy Thiên) một hôm hỏi Bàng Cư sĩ: “Ông gần đây thế nào?”. Cư sĩ đáp: “Nói rốt chẳng kịp”. Bèn trình một bài tụng:
Hàng ngày không việc khác, Chỉ ta tự biết hay. Việc việc chẳng lấy bỏ, Chốn chốn chớ trái bày. Đỏ tía gì làm hiệu Gò nồng bặt trần ai. Thần thông cùng diệu dụng, Gánh nước bửa củi tài.
Thạch Đầu im lặng hứa khả.
Sau đó Cư sĩ qua Giang Tây thưa hỏi Mã Đại sứ “Chẳng lầm người xưa nay, xin thầy để mắt nhìn lên”. Đại sư nhìn thẳng xuống. Cư sĩ nói: “Một cây đàn cầm không dây mà thấy đờn rất hay” Đại sư nhìn thẳng lên. Đại chúng! Nếu chẳng phải là Mã Đại sư bị một câu hỏi này của ông ta liền vỡ vụn thành trăm mảnh. Các ông nói thế nào là người xưa nay? Nếu không người xưa nay làm sao mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, các loại thi vi vận chuyển? Các ông lại thấy người xưa nay chăng? Như nay đều nói người xưa nay không hình không tướng, chẳng từng mặc áo ăn cơm, chẳng sanh chẳng tử. Hội được như thế, đâu thể khế hợp được người xưa nay. Muốn biết chăng? Các ông đều là người xưa nay. Một đoạn sanh tử biến hóa, phiền não vô minh lại làm sao tiêu khiển?
Hãy nghe đây một bài tụng:
Dữ tử giai thành kim nhật lộ, Như quân cộng khán bổn lại nhân. Đồng danh đồng tánh đồng hình đoạn, Vô tử vô sanh vô sắc trần.
Tạm dịch:
Cùng ông chung bước đường hôm nay, Nếu ông cùng thấy người xưa nay. Cùng tên cùng tánh cùng thân thể, Không tử không sanh, không sắc trần.
Sư thượng đường, cử:
Tăng hỏi Hòa thượng Động Sơn (Thủ Sơ): “Thế nào là Phật? Đáp: “Ba cân gai. Đại chúng! Có một sự kiện ấy, cớ sao không ai biết được? Động Sơn thấy người chẳng biết rõ, liền tự tụng rằng:
Thất bảo họa ngưu đầu,
Hoàng kim vi điểm ngạch.
Xuân tình nhị tam nguyệt,
Nông nhân giai thủ tắc.
Hàn thực hảo tân chánh,
Thiết tiền tam tứ bách.
Tạm dịch:
Bảy báu vẽ đầu trâu,
Vàng ròng làm biển ngạch
Xuân xanh tháng Hai Ba,
Nhà nông đều lấy phép.
Hàn thực rất tân chánh,
Tiền sắt ba bốn trăm.
Chư nhân giả, một chuyển nhân duyên này trọn cho là lời thô, lời tế, đều quy về đệ nhất nghĩa. Lại nói: Lâm cơ ứng dụng, hết thảy tầm thường. Như đây hội được, chôn vùi người xưa. Muốn thấy Lão Động Sơn chăng? Hồng hạc cất cánh bay ngàn dặm, mây tụ diều hâu lấp cả trời. Phụng hoàng nào phải loài phàm tục, hiện điềm lành đẹp ắt có thời. Phiền đứng lâu.
Sư đến Chân Thừa, thỉnh thượng đường. Chân Thừa nêu tích: “Thạch Sương Thiên Giới chẳng từng tàng ngữ”.
Sư nói:
Thiên Giới chẳng che giấu mà toàn thể bày ra. Còn thấy dù một chút mảy may cũng là sai. Trong hội ai là khách Tiên Đà? Chẳng động mảy trần liền đến nhà. Người thật đến nhà được ý quên lời, lẻ loi ở người bên ngoài. Theo tình khởi hiểu, hễ tình giải đã khởi thì danh tướng dấy theo. Lời ý cả hai quên rồi, thì mười phương đều thông suốt. Há chẳng thấy Đường Đầu vừa đến, đã khắp bảo với đại chúng: Sao lại khiến Sơn tăng xướng nêu? Bởi vì diệu chỉ sâu xa, người khó thấu suốt. Sao vậy? Đã biết khoảng thước tám, vì sao lại nói chẳng thấy mặt thầy? Đã nói là trùm khắp không chỗ nào chẳng phải, sao lại nói chẳng từng che giấu? Lại có chỗ rơi chăng? Nếu thấy được liền thấy lão Thạch Sương và Đại sư Tuyết Phong, cũng như biết Long Môn Sơn tăng và Trưởng lão Chân Thừa.
Lại một chúng bạn thiền đây đều có chỗ phân phó trao cho. Sơn tăng chưa rời nơi này, lúc chẳng đến đây, Chân Thừa không có ai là Trưởng lão Long Môn. Sơn tăng lìa khỏi nơi này, Hoàng Sơn lại đến Chân Thừa, mọi người ai cũng đều thấy nhau. Khoảng này có một mình Trưởng lão Long Môn, đối pháp thành có thêm nếu không có một mình Trưởng lão Long Môn thì đối pháp thành ra giảm bớt. Giảm nên rơi vào đoạn, thêm thì lọt vào thường. Đã rơi vào đoạn và thường thì đâu gọi là chánh kiến được. Một là giống như hồi thượng tọa chưa xuất gia, không ai là thượng tọa, sau khi xuất gia rồi, có một mình thượng tọa. Các ông làm sao lại cắt đứt được tâm địa an lạc đi. Lại cắt đứt rồi chăng? Hướng đây có chỗ vào thì còn việc gì? Im lặng giây lâu, nói tiếp: Nếu chưa sáng tỏ, chớ hiểu là khách. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường, nói:
Riêng mình ngồi mới tin Tây lai có Đạt Ma. Riêng mình đi chẳng cần sen hồng đỡ dưới chân. Riêng mình nói rõ ràng hướng vào ai đâu chấp nhận. Riêng tự tham, cõi cõi trần trần bày chỉ nam. Gặp nhau hỏi nhau mối manh cùng cực. Chớ bảo Sơn tăng hết ngây ngô.
Buổi sáng ngày kỵ của Đoan Sư ông (tức Thiền sư Thủ Đoan ở Bạch Vân, Sư ông của Sư),
Sư thượng đường:
Xưa có người đã cưỡi mây trắng đi, đất này trống trơn duyên theo dòng nước. Duyên theo dòng nước một đi không trở lại. Mây trắng ngàn năm trôi xa xôi. Hồ Nam xưa nói Trưởng lão Dương Kỳ. Mất tuốt sư tử con lông vàng, chạy đôn chạy đáo không chỗ kiếm. Long Môn ngày nay thuận gió thổi. Thuận gió thổi, la la lý. Nước gấp mây cao thả cần câu.
Sư thượng đường, nói:
Chim từ trong không bay, người hướng trong tâm trụ. Người chết tâm uyển nhiên, chim rơi không, sao đoán? Đời người cánh chim qua, tâm này thật đáng tựa. Nếu tự rõ tâm kia, không nhọc hỏi đến đi. Thế nên ngài Tu Bồ Đề hỏi Thế Tôn: “Làm sao trụ?” Thế Tôn đáp: “Như thế mà trụ. Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, đều khiến cho vào vô dư Niết bàn diệt độ cho đó mà thật không có một chúng sanh nào thật diệt độ”. Lại hội được chăng? Ba cõi muôn pháp, thật không có mảy may nào là tướng sanh diệt, động tĩnh. Chỉ do mê đây quyết định lầm cho là trong sắc thân. Vì vậy, chất ngại gọi là sắc, lãnh nhận gọi là thọ, tư duy gọi là tưởng, dời đổi gọi là hành, phân biệt gọi là thức đó đều do tự tâm mà thành lập. Bởi chẳng biết đây gọi là ngũ ấm liền thành hai pháp sắc và tâm. Chẳng thấy nói: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách (soi thấy năm uẩn đều không liền qua hết thảy khổ ách)” đó sao? Thân năm ấm hiện đây là có chăng? Là không chăng? Nếu hay thấy được như thế, thật không có sanh tử… các việc, hoặc có người chưa được như vậy, há không có đến đi sao?
Có một tắc nhân duyên không sanh tử, nêu tương tợ cho đại chúng nghe. Xưa, Tiệm Nguyên cùng Đạo Ngô đi phúng điếu, Tiệm Nguyên mới gõ vào cỗ quan tài hỏi ngài Đạo Ngô: “Sanh ư? Tử ư?”. Đạo Ngô nói: “Sanh cũng không nói, tử cũng không nói”. Tiệm Nguyên chẳng tỉnh. Về sau nghe vị tăng đọc kinh Phổ Môn đến câu: “Ưng dĩ Tỳ kheo thân đắc độ giả, tức hiện Tỳ kheo thân nhi vị thuyết pháp (đáng dùng thân Tỳ kheo để được độ, liền hiện thân Tỳ kheo mà độ cho đó)”, bỗng nhiên tỉnh được. Liền đến Thạch Sương, cầm cái mai ở trên pháp đường đi từ Đông qua Tây rồi từ Tây sang Đông. Thạch Sương hỏi: “Làm gì?”. Tiệm Nguyên đáp: “Tìm linh cốt của Tiên sư”.
Thạch Sương nói: “Nước dâng lên lai láng, sóng dậy ngập cả trời. Tìm cái gì là linh cốt của Tiên sư?”. Tiệm Nguyên nói: “Linh cốt Tiên sư vẫn còn”. Đại chúng! Lại thấy được chăng?
Sư giơ cây gậy lên, nói:
Cái ấy là cây gậy, cái nào là linh cốt? Cái ấy là linh cốt, cái nào là cây gậy?
Rồi gõ xuống một cái, nói:
Trường An đêm đêm nhà nhà trăng, bóng rơi đầm lạnh mấy ai biết?
Sư thượng đường, nói:
Nếu luận về việc này, giống như người bán ruộng đất, bốn bên là bờ ranh, một lúc rõ ràng kết khế (làm giấy tờ mua bán cam kết trên văn tự) rồi vậy, chỉ có cây ở khoảng giữa là thuộc về tôi. Đại chúng! Đã là bốn bên rõ ràng kết khế rồi, vì sao trong khoảng giữa thuộc về của người khác? Chẳng thấy nói: Ruộng ngàn năm chủ tám trăm năm đó sao? Nếu biết được cây ở khoảng giữa này, cày bừa mặc tình cho ông cày bừa, nở hoa mặc tình cho ông nở hoa, kết hạt mặc tình cho ông kết hạt. Nếu không biết được cây trong khoảng giữa thì đâu gọi là thường trụ được.
Im lặng giây lâu, Sư nói tiếp: Là sao? Rồi tự nói: Chỗ cao cao bằng, chỗ thấp thấp bằng.
Sư thượng đường, nói:
Long Môn riêng không có gì kỳ đặc, mới gọi là đơn truyền tâm yếu. Đâu chỉ là nước cạn không cá, gạt bỏ hoàn toàn, không có lỗ mũi sao? Hai thời ăn cơm khai đơn liền là mỗi ngày đi ỉa đi đái, muôn sự cùng người một thứ. Chín chắn nhìn kỹ xem bắt tức cười. Đã là muôn việc cùng người hai thứ, vì sao gọi là thiện tri thức? Im lặng giây lâu, nói: Ta cũng lý hội chẳng ra.
Sư thượng đường, nói:
Tông làm nay trong thiên hạ có nhiều. Cầu một người hội được vô tình thuyết pháp lại không có một ai. Chớ bảo là hội được, xét một người cùng lời này cũng là khó có được rồi. Sao vậy? Phải là từng đích thân nghe nói đến, mới có thể nêu bày. Còn như chưa từng nghe đến dù có nêu bày, chỉ thêm nhọc nhằn. Đối với huệ mạng kia nào có thêm chút lợi ích gì? Đại chúng! Hội đã hiếm rồi, cử nêu càng khó. Tòng làm tuy có ngày sẽ suy tàn nhưng nếu muốn sáng tỏ yếu chỉ phải nên lìa niệm xem? Một người nếu lãnh hội được, đại chúng thảy đều an tâm. Đã là một người lãnh hội được vì sao đại chúng đều an tâm? Nếu chẳng như thế, đâu thể gọi là môn xuất ly được?
Sư thượng đường, cử:
Ngài Chí Công nói: “Ta thấy người trong thế gian, ai cũng chấp chặt một thứ dị kiến là chỉ biết dựa vào mũi nhọn cầu bánh mà chẳng biết quay về gốc xem bột”. Bánh thì từ bột mà có, còn làm bánh thì có trăm ngàn người. Đại chúng! Hội chăng? Mèo đen, trâu trắng niệm Ma ha, mèo con chó lớn đều thấy nhau. Chư thiền khách, tiến hay không tiến? Nếu bảo tự tánh vốn tròn sáng, rất giống như sờ mó điện chớp xẹt trong hư không. Biết được chăng? Trên điện Hàm Nguyên lại tìm Trường An, trong cung Từ Thị mong sanh Nội Viện.
Sư thượng đường, tăng ra hỏi:
- Cuộn tơ ngàn thước rủ thẳng xuống, một sóng vừa động muôn sóng theo. Thế nào là một ngọn sóng?
Sư nói:
-
Ông lúc bình thường nuốt khạc thế nào?
-
Thế nào là nhiều sóng?
-
Mặc áo ăn cơm có khó lắm không?
-
Một câu đầu lưỡi câu, xin Thầy nói?
-
Ông tự nói lấy đi.
-
Trên sông hùng hùng buông sợi tơ, trên sào một lúc có lân gấm.
-
Chìm mà bắt chước lội.
Sư lại nói:
Chư nhân giả, không qua lúc này cũng trưởng thành thế ấy, cũng có lúc chẳng thế ấy. Người học thiền nói không có lúc chẳng thế ấy. Nói cái thế ấy, đã là chẳng thế ấy rồi. Lúc thế ấy, gọi là đắc niệm. Lúc chẳng thế ấy, gọi là thất niệm. Như nay hỏi mọi người, là thường thất niệm hay cũng có lúc chẳng thất niệm? Người học thiền nói thường khi gọi là được niệm. Nói cái được niệm ấy đã là thất niệm mất rồi. Phải biết được thế ấy, là chỉ rõ lấy lúc chẳng thể ấy. Phải rõ đắc niệm nhưng biết lấy lúc thất niệm. Cho nên bậc Tiên Đức nói: Thế ấy, thế ấy. Lại nói: Chẳng thế ấy, chẳng thế ấy. Thật là quái lạ cho bậc Cao Đức! Thế nên Đức Thích Ca nói: “Đắc niệm thất niệm thảy đều giải thoát, pháp thành pháp phá đều gọi Niết bàn. Địa ngục, Thiên cung đều là Tịnh độ”. Các ông lại biết được một việc chân thật này chăng? Nếu biết được hằng vượt suốt cả xưa nay. Trong mười hai giờ tự nhiên an lạc vô sự vậy. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Chẳng động trong Long Môn, hành tham cơ Phật xưa. Đích thân gặp mắt mặt, nhận lời từ dung nghi. Phàm Thánh tâm bình đẳng, đường cao thấp bằng thôi. Đan Hà thiêu Phật gỗ, viện chủ rụng lông mày. Vì cớ sao? Xuống tòa.
Sư thượng đường, cử:
Đại sư Lục Tổ ở trên ngọn Đại Dữu khai thị cho Thượng tọa Minh rằng: “Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác chính lúc thế ấy, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?”. Minh liền đại ngộ. Đại chúng! Lại hội lời nói ấy chăng? Chính đang khi thế ấy, nhiều kiếp chưa từng mê bước bước vượt ngoài tam giới, về nhà chóng dứt nghi.
Sư thượng đường, cử:
Tăng hỏi Quốc sư Huệ Trung: “Thế nào là bổn thân Tỳ Lô Xá Na?”. Quốc sư bảo: “Đem tịnh bình đến cho ta. Tăng đưa tịnh bình đến cho Quốc sư, Quốc sư nói: “Hãy đem trả lại chỗ cũ”. Tăng đem trả lại chỗ cũ, rồi lại hỏi: “Thế nào là bổn thân Tỳ Lô Xá Na?” Quốc sư bảo: “Phật xưa đã qua mất rồi”. Một tắc pháp môn này, nếu chẳng chứng nhập chớ hiểu phép tắc tông chỉ, nếu buông lung tâm khỉ vượn, trọn thành hội giải. Bình thường đều nói chỗ nào đến? Chẳng phải là Lô Xá Na, càng chẳng biết rõ lại hỏi lại, đâu chẳng là đã qua lâu rồi hay sao? Lại nói, Quốc sư tự thọ dụng tam muội. Lại, ba lần như hỏi Lô Xá Na, từ đó cổ Phật đi qua lâu rồi vậy. Lại, thế nào là bổn thân Lô Xá Na? Chỗ im lặng giây lâu mà hội lấy đi. Nếu chẳng biết được liền rơi vào cỏ, hướng vào ông mà nói rằng: “Đem đến cho ta cái tịnh bình. Hội giải như thế, chỉ là buông lung tâm khỉ vượn. Chẳng thấy Quốc sư nói: Được ở nơi tâm, Y lan làm cây Chiên đàn; mất ở nơi yếu chỉ, Cam lồ là vườn Tật lê. Cần biết chăng? Thái dương dưới cửa, ngày ngày ba thu. Trăng sáng trước nhà, giờ giờ chín hạ. Đại chúng! Thế nào là Lô Xá Na? Về thiền đường uống trà đi. Xuống tòa.
Sư thượng đường, cử:
Xưa, Hòa thượng Triệu Châu hỏi Am chủ rằng “Có chăng? Có chăng?”. Am chủ dựng đứng nắm tay lên. Triệu Châu nói: “Nước cạn chẳng phải chỗ thuyền đi”. Rồi phất tay áo đi ra. Lại hỏi một am chủ khác rằng: “Có chăng? Có chăng?”. Am chủ cũng dựng đứng nắm tay lên. Triệu Châu nói: “Hay buông hay đoạt, hay chết hay sống”, rồi lễ bái lui ra.
Sư nói:
Am chủ cùng một kiểu dựng đứng nắm tay lên, mà sao Triệu Châu một chấp nhận, một không chấp nhận. Hãy nói được, mất ở chỗ nào? Triệu Châu tự dựng, tự xô, khám phá ít nhiều am sư. Am chủ ngồi cắt đứt yếu tân, qua rồi bao nhiêu nóng lạnh? Muốn biết Triệu Châu chăng? Sư vỗ góc phải giường thiền nói: Biết lấy Triệu Châu. Muốn biết hai vị Am chủ này chăng? Sư vỗ góc trái giường thiền, nói: Biết lấy Am chủ. Lại có người kiểm điểm ra chỗ được mất chăng? Im lặng giây lâu, nói: Dễ mở miệng chung thỉ, khó giữ tâm tuế hàn. Xuống tòa.
Ngô cư sĩ thỉnh thượng đường, Sư nói:
Thân là thân Phật, phải tin sáu căn thanh tịnh. Hạnh gọi là hạnh Phật, nên biết ba nghiệp tròn sáng. Thân trong sạch thì dơ không chỗ sanh, hạnh tròn sáng thì tối không chỗ khởi. Cấu sanh là do ở mê tịnh, tịnh thành cấu mà chẳng hay biết. Tối đi ắt do được sáng, sáng tức là tối khó mà tin hiểu. Cho nên chư Thánh thường gia bị, còn chúng sanh tự bỏ dời.
Nếu ban đầu dễ nghi ở chỗ đáng làm thì sau cách tình hướng vào sai lầm mà làm. Đích thân khai mở khóa trí, ngưỡng khấu cửa từ, tha tâm huệ nhãn do biết rỗng suốt. Tội nặng oan xưa đều có thể sám hối. Bi nguyện của Bồ Tát đầy khắp cõi Ta bà. Chúng sanh kêu xin thảy đều cảm ứng. Ấy là biết sáng tối cùng thể, tịnh cấu chung nguồn. Phàm phu còn có hạn thành Phật, Đại sĩ (đây) có phần độ sanh. Nếu chẳng biết như thế, muôn thiện dấy lên cũng uổng.
Công Đạt Cư sĩ và Như Đạo nhân rỗng suốt tỏ bọt huyễn, liễu ngộ cuộc đời trôi nổi, cùng vào núi để nghiên cứu cho sáng tỏ việc này, sớm nay thỉnh Sơn tăng thăng tòa nói pháp.
Nhớ thuở xưa, ông Bùi Hưu thưa Hòa thượng Hoa Lâm rằng: “Sư có thị giả chăng?”. Hoa Lâm nói: “Có một đôi”. Bùi Hưu hỏi: “Ở đâu?”. Hoa Lâm bèn gọi: “Đại Không, Tiểu Không”. Khi ấy hai con cọp từ phía sau am rống to mà ra. Bùi Hưu trông thấy cả kinh. Hoa Lâm nói với hai con cọp: “Có khách, hãy đi đi”. Hai con cọp rống lên rồi đi. Bùi Hưu hỏi: “Sư hành nghiệp gì mà cảm được như thế?”. Hoa Lâm im lặng giây lâu, nói: Hội chăng?” Bùi Hưu nói: “Chẳng hội”. Hoa Lâm nói: “Sơn tăng thường niệm Quan Âm”. Đại chúng! Có hiểu ý chỉ này của Ngài chăng? Thường niệm Quán Âm, lực hàng phục mãnh thú, đạo nhãn thông sáng, muôn duyên còn gì? Lành thay Đại sĩ. Giờ giờ buông tay. Niệm đây, ở đây. An vui, trường thọ. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Vĩnh Gia một đêm mà ngộ, liền nói: “Mấy lần sanh, mấy lần tử. Sanh tử đổi thay không ngừng nghỉ. Từ khi chóng ngộ rõ vô sanh, đối với nhục vinh nào lo nghĩ”. Đại chúng! Nói có sanh tử cũng là lời nói thuyên, nói không sanh tử cũng là lời nói thuyên. Đã thiệp lời thuyên ắt là sự tích. Vả lại, sự thô dễ hiển, lý diệu khó bày. Nên nói, gần mà ý chỉ xa. Thế nào là do lời nói tột gần mà sáng tỏ ý chỉ tột xa kia? Chẳng phải khó đó sao? Tiên Thánh nói: Được ý chỉ quên lời nói, để mất sự quán lý. Người sau chẳng hiểu, liền cho là ngoài sự tìm lý, ngoài lời cầu ý chỉ. Giống như lấy tay nắm bắt hư không, chỉ luống uổng tự nhọc nhằn, nào có ích gì? Muốn biết chỗ dụng ý đắc lực chăng? Phải ngay nơi sự mà vô sự, ngay nơi lời mà không lời. Ngộ nhập được mới gần gũi, thân thiết. Giải hội được chăng? Nếu như thế, ẩn hiện, thi vi, thần dụng khó lường vậy. Chẳng thấy Tăng hỏi Thủ Sơ: “Thế nào là đại ý Phật pháp?”. Thủ Sơ đáp: “Bờ thành Sở Vương, sông Nhữ chảy về Đông”. Lại có ai ngộ không? Về thiền đường đi.
Sư thượng đường, cử:
Năm sắc ánh đèn do mờ thành, Chỉ trừ mờ dứt chớ trừ trần. Nếu nói mắt xưa đâu từng mờ, Bèn vào sông gặp người chết khát.
Sư thượng đường, Tăng ra hỏi:
Trước Oai Âm kiếp hỏa diệt, riêng có một trời. Lên lầu xem thợ săn bắn, chẳng phải là cắt ruộng cỏ tranh. Rồi đưa tọa cụ lên, hỏi: Chưa biết cái ấy gọi là gì?
Sư nói: Đang thấy cắt ruộng cỏ tranh.
Tăng liền hét. Sư nói: Vẫn còn là chủ.
Sư nói tiếp:
Chỉ nên nói một câu, có người hội được, thì còn so sánh chút ít. Hoặc nếu không ai hội được, Sơn tăng lại thành vọng ngữ. Suy nghĩ rồi thấy, chẳng bằng thôi dừng. Mỗi người từ trong nhà lớn uống trà, tự do tự tại. Miễn thấy khi khác, ngày khác bị người dòm thấy. Sao vậy? Đem quân tự có Gia Khánh ở, chẳng được phong hầu cũng là nhàn. Uống trà đi. Xuống tòa.
Sư thượng đường, cử:
Hòa thượng Nam Tuyển bảo chúng: “Vương Lão sư bán thân, có ai mua chăng?”. Khi ấy có Tăng ra thưa: “Con mua”.
Sư nói: Hay cho thiền khách.
Nam Tuyền nói: “Chẳng mắc, chẳng rẻ, ông làm sao mua?”.
Tăng không đáp được.
Sư nói:
Câm họng. Cười chết đi được. Có một số tôn túc vì vị Tăng này mà trước ngữ. Như Triệu Châu nói: “Năm tới cùng Hòa thượng may chiếc áo vải”. Một người nói: “Thành đạo lý gì?”. Người khác nói: “Hòa thượng thuộc về con”. Sau này Tuyết Phong nói: “Chỗ khác dung cho Hòa thượng chẳng được”. Đại chúng! Đã có nhiều Tôn túc tranh giành mua, cũng nên vận xuất gia tài của chính mình. Vương lão sư trao đổi mua bán chưa thành, chẳng dám trao cho lộn xộn. Thứ ấy mua bán, xưa nay cũng ít thấy. Long Môn ngày nay cũng bán thân, thế thì có mắc có rẻ. Rẻ thì xu hào chẳng đáng, mắc thì vàng ngọc khó sánh. Ông mua cũng thuộc về ông, ông không mua cũng thuộc về ông. Nếu biết được Long Môn, Long Môn sẽ cùng ông làm bạn đạo. Chỗ có người, chỗ không người khởi tâm động niệm đều biết được ông. Thiện thì cho ông làm, dữ thì bảo ông dừng. Dẫu trải qua tam đồ bát nạn, một bước chẳng xa lìa nhau, thường cùng ông làm bạn đạo. Ông nếu chẳng biết Long Môn, Long Môn cùng ông thành oan gia. Bảo ông xuất gia, khiến ông hành cước, dạy ông tìm thầy, bảo ông thể cứu, rồi nói ông chẳng hội, khiến ông mờ mịt. Cho ông tìm kiếm hội giải, khiến ông khéo làm đạo lý. Liền khiến ông tịnh diệu quốc độ mà làm đất đá, núi sông. Thường ưa pháp thân mà làm vô minh phiền não, thành ra chẳng tự tại mà thường sanh lui sụt. Một bước chẳng dám buông xả, thường cùng ông kết thành oan gia. Đại chúng! Nhiều khi Long Môn thuộc về bọn các ông, biết được là bạn đạo, chẳng biết được là oan gia. Lại có người sáng được ý chỉ này chăng?
Bèn giơ cây gậy lên điểm một cái, nói:
Một là bạn đạo, hai là oan gia. Thông nghịch thuận, khắp hà sa. Mắt là không, che là hoa. Được Long Môn, nói không bờ.
Lại ném cây gậy xuống, nói: Ít bàn giỡn. Về nhà tham thiền đi.
Sư thượng đường, nói:
Cây quạt tháng Chạp công huân dứt, đầy trời gió mát đâu vắng mất? Đừng để nóng bức ngày tháng Sáu. Tạm thời cùng anh giải nhiệt đi. Xuống tòa.
Hòa thượng Ngũ Tổ (Pháp Diễn) đến, Sư thượng đường
Đại sư Tào Khê được truyền y về Lĩnh Nam, sau Hòa thượng Hoài Nhượng được pháp trao cho Đại sư Mã Tổ. Mã Tổ lại trao xuống cho Tổ Bá Trượng. Tổ Bá Trượng truyền xuống cho Tổ Hoàng Bá, Tổ Hoàng Bá được ngài Lâm Tế, ngài Lâm Tế được ngài Hưng Hóa (Tồn Tương). Ngài Hưng Hóa truyền cho ngài Nam Viện (Huệ Ngung), ngài Nam Viện trao cho ngài Phong Huyệt (Diên Chiểu). Ngài Phong Huyệt được ngài Thủ Sơn (Tỉnh Niệm). Ngài Thủ Sơn được ngài Phần Dương (Thiện Chiêu). Ngài Phần Dương được ngài Từ Minh (Sở Viên). Đại sư Từ Minh tiếp được một mình Hòa thượng Dương Kỳ (Phương Hội). Như nay cùng kia thấy được sự việc. Lão già này nói: “Ta trong ấy đâu khác gì trong chợ búa mà leo lên cây sào. Người đều trông thấy, che mù đôi mắt các ông được chăng? Lão Dương Kỳ về sau tiếp được một mình Hòa thượng Bạch Vân (Thủ Đoan).
Lão già này từng trụ ở núi này, có bài tụng rằng: “Khi châu đáy biển động, trăng trong mây lại hiện. Đêm mát không gió cuồng. Sáng trong thành một mảnh”. Sư ông Đoan (tức Bạch Vân) sau lại tiếp được một mình Tiên sư (Pháp Diễn). Tiên sư có nói rằng: “Chỉ từ khi cắn vỡ một cái bánh sắt đến nay được trăm vị đầy đủ”. Lão già này sở dĩ một đời cứng miệng nên nói ra lời gì cũng cứng. Sau lại từ Tiên sư phó chúc đại pháp truyền giữ cho tới nay. Về sau Đông Sơn một lúc phân phó cho Hòa thượng Đường Đầu Ngũ Tổ ngày nay. Hôm nay may mắn đối với trời người đông chúng thỉnh, ta chẳng bỏn xẻn từ bi, trọng vì xiển dương khiến cho tông trước có chỗ y cứ, đạo ta càng sáng tỏ, thảy đều là rất may mắn vậy.
Sư thượng đường, nói:
Bọt huyễn đều không ngại, tại sao chẳng liễu ngộ? Đồng tử trong mắt người thổi kêu, đạt pháp ở trong ấy, chẳng phải nay cũng chẳng xưa. Sáu viên xúc xắc đỏ đầy chậu. Đại chúng! Người thời ấy vì sao ngồi dưới đất thấy bát bồn ở Dương Châu để gá vào mẫu mới? Trên trâu cưỡi trâu, cười chết người.
Sư thượng đường, nói:
Các ông chưa đến núi Long Môn sẽ bảo Long Môn ở thế gian, đã đến Long Môn tâm tự tại. Sam tùng phất phới nước róc rách. Các ông lại biết Long Môn sơn chăng? Nếu cũng chẳng biết chưa khỏi núi xanh nước duyên. Trăm năm ngày tháng có là bao? Chưa xoay ánh sáng để thấu đạt gốc từ trước đều thành mộng huyễn. Liền đưa cây gậy lên, nói: Chúng sanh trong sáu nẻo tạo tội tạo nghiệp. Chư Phật trong ba đời làm Phật làm Tổ đều ở trên đầu cây gậy của Sơn tăng. Các ông lại thấy chăng?
Sư gõ xuống một cái nói: Vỡ trăm mảnh rồi vậy.
Lại đưa tay lên nói: Đem chút mảy may đến.
Lại gõ xuống một cái, nói: Tay cầm phù đêm sáng, mấy ai biết trời trong? Xuống tòa.
| Sư thượng đường, nói:
Giải, Trĩ đồng lan biện giả xi, huân do cộng xứ tu phần úc. (Con giải, con trĩ đậu chung kẻ cười chê. Cây huấn, cây do cùng ở nên thơm ngát). Này nhân giả, người được trọn chẳng từ người khác, mà từ ngàn Thánh đều tán thán. Thật có khác ở chỗ người. Thí như hai người cùng một bào thai, cùng cha cùng mẹ, cùng nhà cùng học, cùng thầy dạy trao cho đến trong lúc ăn uống, nói năng… thảy đều không khác. Một hôm cùng vào nhà thi mà một người thi đậu, một người thi rớt. Người thi đậu thì mãi mãi không làm thứ dân nữa, còn người thi rớt lại là thường dân. Hai người ấy ban đầu không có gì thay đổi mà sang hèn cao thấp có khác. Giống như được và chẳng được, ban đầu không có gì khác, mà một người được đó thì ở ngôi vị bằng chư Thánh, một người mê đó, bèn làm phàm phu. Người tuy có khác biệt, mê ngộ lại xa xôi.
Đại chúng! Đáng chẳng kinh sợ việc này sao? Vì thế, Hòa thượng Hương Lâm nói: “Lão tăng hai mươi năm trước chấp cho ta, một bọn người thảy đều được đạo”. Ta ngày đêm suy nghĩ, người kia được cái gì mà như thế? Ta trong hai mươi năm thường khán, về sau cũng được như thế. Ta xem lời đắng miệng của các bậc Tiên Đức kia, thật đáng tin cậy. Há lại có thể ôm cây đợi thỏ mà luống uổng ngày tháng trôi qua đi? Mỗi người nên cứu xét cho xong, về sau cũng phải được đi. Chẳng nhọc phiền đứng lâu. Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Long Môn giữa tháng Ba, tiếng trống lớn vang gọi, gọi được cùng lúc đến, càng thêm sanh mê loạn. Đại chúng! Đã là gọi được cùng lúc đến, vì sao riêng sanh mê loạn? Đây là đoạn nhân duyên tốt. Các ông làm sao dứt Chẳng biết dứt càng mê loạn. Nếu biết dứt sánh được một nửa. Im lặng giây lâu, nói: Một đoạn nhân duyên không người dứt, giữ cho các nơi đều dứt xem.
Sư thượng đường, nói:
Thâu được gốc gọi là điệp độ. Đi khắp núi sông, tự kỷ. Nghe có Trưởng lão Long Môn đến đây học đạo tham thiền. Kẻ tỉnh tỉnh thế ấy làm sao lập tức ngủ gật? Bỗng nhiên tỉnh ngủ mở mắt ra, hóa ra trời đã sanh tự nhiên. Sư bèn kêu thất thanh: Á! Tìm giết ta, tìm giết ta. Tuy nhiên như thế, biết là việc ấy liền thôi. Dù phải đem hết cả gia tài của chính mình ra, chớ tự câu nệ ở tiểu tiết. Tham đường (vào tham đường yết kiến Thủ tòa và đại chúng).
Sư thượng đường, nói:
Hãy nói Sơn tăng nay còn có chỗ vì người chăng? Nếu còn có chỗ vì người tức chôn vùi thượng tọa, và những vị xuất gia trẻ kia đây. Chớ để chôn vùi nhau là tốt. Muốn biết chăng? Sơn tăng đem việc bổn phận của ông tợ như nói cho ông và các người là sao chẳng ở trên việc bổn phận của ông mà biết lấy? Biết được chăng? Nếu nói liền là việc bổn phận của tôi vậy, như hướng vào tròng mắt lên xuống như một cây đinh. Nếu nói ta tuy có bổn phận sự, thật chưa rõ biết, ông lại mặc y áo gì? Đại chúng! Đã là người thế ấy, biết lấy việc thế ấy. Phiên đứng lâu, lại làm gì? Trân trọng.
Sư thượng đường, Tăng ra hỏi:
Nhét núi Tu Di vào trong hạt cải, ném cõi đại thiên ra ngoài. Dưới cửa nạp tăng trọn dùng chẳng dính. Học nhân muốn trâu cày biển lớn, núi Tu Di ngự trên thuyền sắt. Thầy có hứa cho không?
Sư nói: Chữ Thập dọc ngang mặc tình hành lấy.
Tăng thưa: Đạp vỡ đầm trăng lặng, xuyên mở vách trời rơi.
Sư nói: Vẫn chưa biết việc trên phần của nạp tăng.
Tăng nói: Khi còn ý khí thêm ý khí, chỗ chẳng gió thoảng cũng gió thoảng.
Sư nói: Hồng châu lưng trệ.
Sư lại nói:
Ánh Xuân dần hết, cảnh Hạ sắp về. Kẻ nhàn nhã tham sống qua ngày. Ta nay hỏi các ông, từ sớm đến tối, niệm niệm chẳng dừng, là có suy lường hay không suy lường? Người người đều bảo có suy lường. Ta lại hỏi ông suy lường thế nào? Sao chẳng biết lấy? Các ông suy lường rồi, tùy hứng mà tác động vận hành. Ta hỏi ông làm sao hứng làm? Sao chẳng biết lấy? Các ông khi hứng làm đó, dấy lên biết bao là lời nói, hãy nói thế nào? Sao chẳng biết lấy? Đều là do nhà mình đã mê từ trước chỉ quản theo chỗ trôi nổi. Cho nên nói: Nguồn đạo chẳng xa, biển tánh chẳng xa. Chỉ hướng vào mình tìm cầu, chớ tìm đâu khác. Tìm thì chẳng được, được cũng chẳng chơn. Như ở trong không, lui tới chỗ nào? Lại chấp nhận chăng? Bọn các ông ở trong ấy của ta, hoặc tạm trải qua mùa Đông mùa Hạ, hoặc lâu tiệp với nóng mát. Nếu đến chỗ khác, ai hỏi việc Long Môn chớ nên chỉ Đông vẽ Tây. Loạn có chỗ nói, tức thành ra khi dối vậy. Mỗi người sẽ làm việc, mỗi người sẽ làm việc.
Nhân đây làm bốn bài kệ:
Nghĩ không nghĩ nghĩ, Muôn là một chánh. Chẳng biết huyền chỉ, Luống uổng niệm tình.
Làm không làm làm, Suốt sắc thông tiếng. Vì muối trong nước, Chẳng thấy hình kia.
Nói không nói nói, Chẳng phí môi lưỡi, Pháp mà chưa nói, Lá ở trong rừng.
Long Môn chán nản, Bảo với các ông. Đã vậy như thế, Cớ sao lần lữa?
Hiền Tịch đầu dâng sớ, Sư thượng đường:
Chiếc lá trôi phiêu bồng trở về, Cô Tô xuân sắc rọi vách núi. Ngồi thiền trên phiến đá cùng đến xem, cười ngất mây núi thổi chéo áo. Cho là người trầm không trệ tịch, gọi là Tiểu thừa tham chấp. Kẻ hòa đời đồng trần, gọi là bạn viên thông. Chẳng xả bỏ đạo pháp mà hiện việc phàm phu, há lại là trồng hạt giống vào không sao? Hàng ngày sử dụng hiện tiền đó là cửa đại tổng trì. Mỗi mỗi đích thân được sức ấy. Yếu chỉ như thế, việc này thật đáng lường thay.
Thuở xưa, Hoàng Mai giải tán pháp hội, đạo ở Lão Lư, ngồi gãy giường thiền. Hồ Nam rất thạnh. Xưa nay nêu bày, tác giả đồng biết. Đi đứng hợp oai nghi, động tịnh đúng phép tắc. Huống nữa là, Long Môn tân hưng bảo xã, ý tại cầu người. Các tay đào vàng, ai là người được? Có chăng? Có chăng? Khiến người nghĩ tới ngài Bá Trượng. Thôi giẫm đạp lên bước ngựa câu. Tham.
Sư thượng đường, nói:
Đỗ Thuận, Văn Thù, việc đáng biết, Định Quang Như Lai, lão Đại Tùy. Trương Tam Lý Tứ, đâu vua Triệu? Hỏi bọn ông nay, ấy là ai? Chợ Quảng bán cá quên đường đến, trên bàn chia thịt bày hết cơ. Chiếc cùm nam nhi xương vàng ròng, khổ đau không tỏ rơi bùn dơ.
Kiết Hạ, Sư thượng đường, nói:
Lên Long môn xuống không phàm khách, chẳng mượn gió sấm mắt có lạ. Ba tháng tiến tu đầu từ đây, kinh hành thiền tọa đáng suy nghĩ. Nhờ chỉ giáo của Như Lai là thanh quy của hàng Thích Tử. Người quán tâm nhập định cũng thường dạo ở mười phương. Đây há có thể do có tâm mà biết được sao? Há có thể do vô tâm mà hội được sao? Nếu hay như thế sanh đâu mà chẳng giữ? Chân đâu mà chẳng cấm? Che đậy vạn linh của kia, rộng làm lợi ích chúng sanh. Hoặc chẳng do đạo ấy, ta chẳng bằng hay sao? Xuống tòa.
Sư thượng đường, nói:
Người học thời nay chẳng cứu xét lời Phật dạy, chỉ nghiên cứu lời của Tổ sư, đâu chẳng biết lời của Tổ sư tức là lời Phật. Chẳng giản trạch như thế trái lại thành dẫn dụ Phật Pháp quách rồi! Chỉ như Đại sư Vân Môn dạy chúng rằng: “Mọi người đều có ánh sáng đó, khi xem chẳng thấy u ám tối tăm. Thế nào là ánh sáng đó?”. Tự nói thay: “Ba cửa Điện Phật, Ty khố, Tăng đường”. Lại nói: “Việc tốt chẳng bằng không”. Ấy là lời của Tổ sư. Là kia nói ba cửa Điện Phật, Ty khố, Tăng đường. Các ông lúc bình thường khán lấy xem. Là khán hay không khán? Nếu khán thì lúc kia nói khán chẳng thấy có u ám, hôn trầm. Làm sao được thành ánh sáng? Đã là ánh sáng rồi, lại nói việc tốt chẳng bằng không thì làm sao lại chẳng phải? Vả lại, như trên hội Lăng Nghiêm, Phật nói: “Tăm tối làm không, trong cái không tăm tối đó kết tối làm sắc, sắc xen vọng tưởng, tướng tưởng hôn loạn cho là tự tánh. Một khi mê làm tâm rồi, quyết định lầm cho là ở bên trong thân sắc mà chẳng biết bên ngoài thân sắc còn có sơn hà đại địa hư không đều là vật hiện trong tâm chân tinh diệu minh”. Cái ấy nói thoại rất là chín chắn, hãy nói việc Vân Môn nói đó cách nhau bao nhiêu? Chớ nên chỉ hiểu lời nói của Tổ sư mà chẳng nghiên cứu lời dạy của Phật. Có người nói: Con chẳng dùng lời Phật, chẳng dùng lời của Tổ, chỉ dùng lời của chính mình. Lời Phật lời Tổ còn chẳng cần, lại dùng đến lời của chính mình?
Lại bảo:
Tông ta không ngữ cú. Có lời còn chẳng phải huống nữa là không lời? Chớ làm mộng. Từ sớm tới tối, Phật Pháp ở một bên, câu có ở một bên, câu không ở một bên, vọng tưởng ở một bên. Nếu thế ấy, thật đáng nói là khi xem không thấy có hôn mê tăm tối vậy. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường, cử:
Chùa Long Môn ở mười phương thế giới, quả đất núi sông là học trò. Tùy theo các duyên thành giải thoát, tính lại toàn chẳng phí công phu. Sư thượng đường, cử:
Tăng hỏi Triệu Châu: “Con mới vào tòng lâm, xin Thầy chỉ dạy”. Triệu Châu hỏi: “Ăn cháo chưa?”. Tăng thưa: “Ăn cháo rồi”. Triệu Châu bảo: “Rửa bát đi”. Tăng ngay câu ấy liền ngộ. Đại chúng! Sơn tăng sớm nay đã ăn cháo rồi, rửa bát xong, chỉ là chẳng ngộ. Đã là làm thiện tri thức, vì sao lại chẳng ngộ? Hội chăng? Đâu thể gọi chuông là bình sành được? Trọn chẳng thể chỉ con hươu là con ngựa được. Người khéo khó phạm, thủy ngân không giả. Đất lạnh bỗng nhiên thấy lỡ, nắm bắt một thời buông xuống.
Sư thượng đường, cử:
Long Môn vì sao làm Đoan Ngọ? Đánh động chúng nhân bằng trống độc. Đầu lâu vỡ rồi để ai nghe? Khi xem biết trọn cảm lời khắp. Gọi là con rắn (mũi ba ba) ở núi Nam. Hay cho cọp trắng núi Đại Hùng. Đáng thương mở mắt tìm người sáng, trong ánh trời đỏ tìm lối vào.
Sư thượng đường, cử:
Phất phới hoa dương liễu, Hồng hào ráng trời xa. Quanh co nẻo Long Môn, Vắng vẻ tăng quê mùa, Còn chẳng tâm đầu ôm thắng giải. Ai hay ngoài kiếp đếm cát sông. Kẻ hết lương phương cùng ăn cháo, Mặc cho về quê đắng chát trà. Hảo đại ca, uống trà đi.
Sư thượng đường, cử:
Bảy lần bảy là 49. Nhìn phương Nam xem Bắc Đẩu. Chết đi rồi sống lại, trâu lớn rống gầm. Cho nên Lão già Thích Ca chưa lìa Đâu Suất đã giáng vào Vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ đã độ người xong. Như thế thì cảnh giới Tỳ Lô dựng ở nhân gian. Niết bàn diệu tâm lại ở chỗ nào? Xưa kia Thái tử Na Tra lóc thịt trả cho mẹ, chẻ xương trả cho cha, sau lại hiện bổn thân, vận thần thông lớn. Đại chúng! Thịt đã trả cho mẹ, xương đã trả cho cha, vậy dùng cái gì làm thân? Người học đạo đến trong ấy nếu thấy được đi, đáng gọi là năm uẩn rỗng sạch, nuốt trọn mười phương. Hãy nghe lấy bài tụng:
Xương trả cho cha, thịt trả cho mẹ, Cái gì là thân? Rõ ràng nghe lấy
Núi sông cõi nước hiện toàn thân. Mười phương thế giới ở trong ấy, Muôn kiếp ngàn đời bặt đến đi. Thuyết này Sơn tăng chẳng nói ra.
Xuống tòa.
Sư thượng đường, vỗ tay cười lớn, rồi im lặng giây lâu, nói:
Đại chúng! Cười cái gì? Sơn tăng cười hết thảy các người từ xưa đến nay có chỗ liếc nhìn, có chỗ không liếc nhìn. Người chỗ không liếc nhìn như bình đất đen, có chỗ hiểu chút gì không? Người có chỗ liếc nhìn liền tự xoay đầu chuyển não, hỏi Đông hỏi Tây. Thí như mặc áo gấm ban đêm đi dạo, hỏi tới hỏi lui, hỏi lui hỏi tới. Bỗng nhiên như trọn ngày thấy, liền nói: “Giống y như có mắt, ánh sáng mặt trời chiếu rọi đến các hình sắc bao nhiêu đều thấy rõ ràng. Tuy nhiên như thế, liền phải biết có việc hướng thượng, câu rốt sau mới được bãi tham. Đại chúng ở chỗ thấy, trọn ở bãi tham. Từ xưa đến nay cho qua như thế. Sơn tăng sở dĩ cười như mộng mùa Xuân vậy. Các ông từng có mộng chăng? Chớ bảo là vô sự. Pháp ấy thiên chân hảo. Há chẳng thấy trên núi Đại Dữu từng leo lên, trước vách Thiếu Thất đứng đến lưng. Đâu chẳng gặp người ư? Hảo đại ca, uống trà đi”. Xuống tòa.
Hành giả thế phát, Sư thượng đường, nói: Sơn tăng nhân độ được một vị tiểu sư.
Sư liền đưa cây gậy lên bảo chúng: Thấy chăng? Pháp danh là Sùng Mộc, họ Cát.
Im lặng giây lâu, nói tiếp:
Ông đã theo ta xuất gia, nay ta vì ông trao cho Tam quy Ngũ giới. Sùng Mộc! Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Đã cho ông làm lễ Tam quy rồi, nay lại vì ông đổi mười điều tà, thọ năm giới, ông hãy nhận lấy. Nói về thân khẩu ý ấy thì thân có ba lỗi là sát, đạo, dâm; ý có ba lỗi là tham, sân, si; khẩu có bốn lỗi là vọng ngôn, ỷ ngữ, ác khẩu, lưỡng thiệt. Tạo mười điều này gọi là làm mười điều ác, không làm mười điều này gọi là làm mười điều lành. Ông nay ở trong cửa ba nghiệp bẩm thọ giới pháp; cái gọi chẳng sát, chẳng trộm, chẳng dối, chẳng dâm, chẳng uống rượu ấy là năm giới tướng. Ông y theo lời ta dạy mà tin nhận vâng làm. Lại đánh cây gậy xuống một cái, nói:
Sùng Mộc nghe ta giáo huấn rồi, bèn thưa với ta rằng: Theo lời của Hòa thượng mà Sùng Mộc từ xưa đến nay không có thân, miệng, ý cũng không biết lấy gì để trì phạm. Dẫu có nghe Tam quy, con cũng không biết cái gì gọi là Phật, Pháp, Tăng. Nghe qua năm giới tướng từ đâu mà thọ trì. Tuy làm phiền Hòa thượng như thế, Sùng Mộc con cũng không có chỗ lãnh hội.
Sư lia cây gậy nói:
Đây là đệ tử chân thật của ta. Ấy là chân thật quy y, thọ giới, đắc giới. Sở dĩ người xưa nói: “Hòa thượng sao chẳng nuôi Sa di?”. Lão túc nói: “Có kẻ không mắt tai, vì ta tìm một người đến”. Chính là ý này vậy. Hay cho vị tiểu sư đắc lực. Đại chúng hội được chăng?
Sư đưa cây gậy lên, nói:
Giúp qua sông Đoạn Kiều. Ghé về thôn Minh Nguyệt (Phò quá Đoạn Kiều thủy. Bạn quy Minh Nguyệt thôn). Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường, nói:
Chung riêng đồng khác và thành hoại, chỉ là Sơn tăng và chúng nhân. Tu Di cao rộng vào hạt cải, vô biên cõi nước trong hạt bụi. Ngày trở lại đêm, thu rồi đến xuân. Cảnh lặng tâm dung việc việc chơn. Bảy báu xe lớn đã như thế, đến đi nói nín chớ theo cũ. Thiền hòa tử, nghe nói rồi cười to ha hả, nói: Ta hội rồi, ta hội rồi.
Sư bèn cười ha hả nói:
Ông hội rồi, hãy nói sau chùa Na Lan Đà ở Tây Thiên, trên đảnh Cô Phong, như nay có người nào ở trong kia tu hành. Thấy chăng? Thấy chăng? Xuống tòa.
Sư thượng đường, cử:
Triệu Châu bảo rửa bát đi, Tăng ấy rỗng rang biết quay về. Ô Sào thổi lông áo, thị giả ngay đó được yếu chỉ. Lại là chính y minh phá (phá cho sáng tỏ)? Hay là thổ lộ cho y? Cũng chẳng phải chính y minh phá, cũng chẳng phải thổ lộ cho y. Đại chúng hội chăng? Tánh có sẵn, vì sao chẳng hội?
Sư vì Hòa thượng Lân ở Tứ Diện treo ảnh Hòa thượng đã thị tịch vào khám thờ, nói:
Hư không không có tướng, chẳng từ chối các tướng phát huy. Gương báu không có hình, đâu ngại các hình ảnh chóng hiện? Tướng và hình mà thường ngụy (dối), hư không và gương mà thường chân. Cho nên tức ngụy tức chân, chẳng sanh chẳng diệt. Đại chúng! Hoặc nếu hư không chóng tiêu tàn, gương báu chẳng trên đài, ánh sáng và gương đều mất, còn lại là vật gì? Sáu mươi ba năm thì gác lại, hãy nói ngay đây, Lão già Tứ Diện ở chỗ nào? Sư liền giơ cây gậy lên, nói: Sanh nhai chỗ nào có? Xưa nay cùng người truyền.
Sư thượng đường, cử:
Hạ đã qua một nửa, trong núi sớm chiều chẳng nóng lắm. Biết ngoài việc Tỳ tán ra không còn việc gì. Thủ tọa, Đại chúng đều nghỉ ngơi. Thủ tọa Tây Am sớm chiều lưu lòng từ, pháp lạc vô lượng. Sơn môn trong ngoài thong dong, trong ngoài an ổn giàu có. Núi báu Niết bàn, biển pháp tánh, đâu dung lấy chứng đắc do bịa đặc ra, mà định nghĩ bàn ở khoảng giữa sao? Tại Phù Sơn tăng cùng các vị lên cao mà giẫm sâu. Chẳng nên ngồi lấy buông lung mà không có sở đắc. Mỗi vị đều nên quán sát.
Xưa có một vị thiền khách thân cận một vị lão tác rất chuyên cần. Lão túc mỗi khi thấy đến liền xua tay nói: “Chưa phải, chưa phải. Hãy đi”. Như thế, trải qua thời gian lâu, vị Tăng ấy trong đêm tư duy rằng: “Đã chẳng mong nhờ được một lời khai thị, chỉ nói ta chưa phải, bảo ta làm gì bây giờ?”. Nghĩ tới nghĩ lui, bỗng nhiên tỉnh được, vui vẻ khôn cùng. Đến sáng hôm sau, đi lên gặp lão túc thấy, liền gật đầu nói: “Phải vậy, phải vậy”.
Đại chúng! Điều ấy chính là chỗ truyền tông chỉ của Đạt Ma Đại sư. Vả lại, làm thế nào mà thấy được? Im lặng hồi lâu, nói: (chim) Hàm Hàm giữ ao trống, cá theo dưới chân qua, Hàm Hàm đều chẳng biết. Về nhà đi.
Buổi sáng ngày kỵ Ngũ Tổ, Sư thượng đường:
Triệu Châu chẳng thấy Nam Tuyền, Sơn tăng chẳng biết Ngũ Tổ. Dưa ngọt tận rễ cũng ngọt, dưa đắng đến gốc cũng đắng.
Sư thượng đường, nói:
Đại sư Đạt Ma vào Trung Hoa đến nay có ngàn năm, được vị đạo giả ấy rất đông, lãnh yếu chỉ ấy thật nhiều. Rất giống một người truyền thì rỗng, muôn người truyền thì thật. Đại chúng! Lời nói lưu loát chỉ ở người trí. Các ‘người sau ba mươi năm chớ nói thấy Long Môn nhé.
Sư thượng đường, cử: Bậc Thánh trước nói: “Trong biển pháp tánh thân nhận được”.
Sư dựng phất tử lên, nói: Lại có nhận được chăng?
Im lặng hồi lâu, nói:
Nhận được cũng ở trong biển pháp tánh, nhận chẳng được cũng ở trong biển pháp tánh. Đại chúng! Đã là thảy đều ở trong biển pháp tánh, vì sao lại có nhận được hay không nhận được? Hãy nói lý này là sao? Mỗi lúc thường thấy huynh đệ nói: Chỗ nào chẳng phải biển pháp tánh? Sơn tăng thật là chẳng chấp nhận. Ông nói bệnh ở chỗ nào? Có người bảo: Bình ở chỗ có đạo lý. Sơn tăng hỏi y: Sao được không đạo lý đi? Kia nói: Trân trọng. Liền ra. Hoặc nói: Nay là mồng Bảy, mai là mồng Tám. Đại chúng! Nếu đều hiểu thế ấy thì làm sao thấy được người xưa, nay nói: Trong biển pháp tánh thân nhận được? Chớ đem chỗ học hiểu suông mà chôn vùi tâm Tổ sư.
Giải Hạ, Sư thượng đường, nói:
Tôn giả Kiều Trần Như, chín tuần rất thân thiết. Già trẻ may mắn nương nhau, trên dưới đều hoan hỷ. Thấy nghe lìa thấy nghe, đảm đương, soi xét cũng siêu tuyệt. Người trong bốn biển năm hồ chớ bảo là tiết lộ chân cơ.
Sư thượng đường, cử:
Xưa, Ngưỡng Sơn cuối Hạ đến lễ bái Quy Sơn, Quy Sơn hỏi: “Hạ này con làm gì?”. Ngưỡng Sơn thưa: “Mở được một mảnh ruộng, trồng được một lùm gai”. Quy Sơn bảo: “Hạ này con không bỏ qua suông”. Ngưỡng Sơn lại hỏi: “Còn Hòa thượng, Hạ này làm việc gì?”. Quy Sơn nói: “Ngày ngày ăn bữa cơm, sáng sớm ăn bữa cháo”. Ngưỡng Sơn nói: “Hòa thượng, Hạ này không bỏ qua suông”. Nói xong lại le lưỡi. Quy Sơn nói: “Con được gì mà tự giữ đao bén cắt đứt mạng căn vậy?”. Ngưỡng Sơn phất tay áo liền ra. Đại chúng! Cha con Quy Sơn lúc bình thường gặp nhau, du hí thần thông, chẳng đồng nhỏ nhít. Lại có biết được chăng? Nếu không, Sơn tăng cùng các ông nói xem? Mở một miếng, thành một miếng. Là một miếng gì? Xem lấy mũi tên ngay nơi cửa.
(CỔ TÔN TÚC NGỮ LỤC QUYỂN 28 - HẾT)
CỔ TÔN TÚC NGỮ LỤC QUYỂN 29
Vị tăng mất, lúc hạ hỏa, Sư nói:
Mấy lần từng trải qua thế ấy, xoay vần rồi lại vào Thiên Thai. Bạn đạo một nhà chung đưa tiễn, trân trọng Ngũ Đài dưới Nga Mi.
Hạ hỏa xong, Sư nói: Át lạt lạt (ngăn độc ác)
Sư thượng đường, cử:
Ngày gần đây Tăng mất đã hỏa táng, một tắc nhân duyên này có người hội được chăng? Đại phàm tham học, phải thấy nguồn gốc sanh tử. Sanh tử nếu có, thì chẳng sáng đạo. Sanh tử nếu không, lại là thế nào? Không được nói nhiều, thời giờ trôi qua lầm hội, dối làm chủ tể. Hôm nay thử cử hai tắc ngữ của Thánh hiền để chứng nghiệm chỗ lầm của người nay.
Chỉ như Hòa thượng Lâm Tế dạy chúng: “Có một vô vị chân nhân thường ở cửa mặt ông ra vào, ai chưa chứng cứ xem?”. Như nay một hơi thở vừa dứt liền bị hư hoại trùng sanh. Cửa mặt ra vào ấy có vô vị chân nhân, lúc này làm sao chủ trương? Đã không thể chủ trương thì nhân duyên của người xưa làm sao tiêu được? Người xưa lại nói: Ông cách lúc cha mẹ chưa sanh mà hiểu lấy bản lai diện mục của ông. Các vị như nay thảy là sở hữu sau khi cha mẹ sanh, và nhiều khi đi đứng ngồi nằm, thi vi vận động lại phân chia trao cho người nào? Nếu không có chỗ phân chia trao cho thì cổ nhân lại làm sao mà tiêu hết được? Chớ cho là chẳng can hệ đến việc của thân này, mặc tình sanh diệt, cần phải tỏ sáng bản tánh chăng? Chớ lầm hội.
Vả lại, nếu chán thân như gông cùm và xiềng xích, chán trí như thứ độc tạp thì ra khỏi tam giới rồi, ấy gọi là người dê nai. Thấy thân tâm không khởi diệt, không trong ngoài, chẳng dừng chẳng đi, chẳng lấy chẳng bỏ bình đẳng ở các thú mà vào, nên gọi là căn cơ đại thừa. Xem đến cũng chỉ là làm sáng tỏ con đường sanh tử. Các vị chưa rõ nghi tình sanh tử, tham học có gì là nơi chốn? Muốn được sức tĩnh tâm chăng? Chỉ làm sáng tỏ lấy hoặc thân hoặc tâm, hoặc thế giới các thứ biến hóa ở bên ngoài đều do đâu phát hiện? Phải là một được xong rồi mới được. Mê tình chẳng hiện, thuyết pháp hằng hà chẳng xong, sau lại không có chỗ dùng. Đại sư Đạt Ma nói: “Ta vốn đến xứ này, truyền pháp cứu mê tình. Một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành. Có thể nói là không người thừa đương. Về nhà uống trà đi. Sư thượng đường, cử:
Tăng hỏi Đức Sơn: “Thế nào là việc kỳ đặc của tông môn?”. Đức Sơn nói: “Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người”.
Sư nói: Bày vẽ rồi vậy.
Tăng hỏi Tuyết Phong: “Hòa thượng gặp Đức Sơn được cái gì liền trở về?”. Tuyết Phong nói: “Ta lúc ấy đi tay không, về tay không”.
Sư nói: Bày vẽ rồi vậy.
Mục Châu gọi vị Tăng, Tăng xoay đầu, Mục Châu nói: “Kẻ vác bảng”.
Sư nói:
Bày vẽ rồi vậy. Một bày vẽ, hai bày vẽ, ba bày vẽ. Dụng ý nâng đỡ trước để ở sau. Chớ đối với Phật kết oan thân. Nay xem châu trong áo thường lìa dơ uế. Người trong nhà, đánh nhau chạy. Hoài Nam cười chết lão Long Môn. Có ai nếu mà hội được lý do cười thì con mắt tợ như chuông đồng lớn như cái đấu. A ha! A ha! Về nhà đi.
Quách Công Triệu Tán cúng lọng báu (bảo cái), Sư thượng đường, cử:
Hòa thượng Mộc Bình lúc đi hành cước hỏi Lạc Phố: “Một thân chưa phát thì thế nào?”. Lạc Phố nói: “Dời thuyền quen mạch nước, đưa chèo riêng sóng xao”. Mộc Bình chẳng khế ngộ. Liền hỏi Bàng Long, Bàng Long nói: “Dời thuyền chẳng biện nước, đưa chèo tức nguồn mê”. Mộc Bình ngay lời ấy liền đại ngộ. Sau trụ ở Mộc Bình, Lý Cương mời đến Kim Lăng hỏi đạo nơi ngài Pháp Nhãn có bài kệ rằng:
Mộc Bình người trong núi, Dáng xưa nói lại thiếu. Người chẳng biết nhìn nhau, Bàn tâm trăng thu lớn.
Áo rách sợi chẳng (do) tằm, Trợ tiếng hát có chim. Thành quách hôm nay đến, Một thân từng đã tỏ.
Hay thay lời nói này. Làm sao sáng tỏ được việc ông ta hướng vào Bàng Long mà ngay câu nói tỏ ngộ? Nếu có người hỏi Long Môn: Một thân chưa phát thì thế nào? Long Môn tôi thật khó thổ lộ.
Im lặng hồi lâu, nói:
Khi một thân chưa phát lọng báu hướng vào hư không rủ xuống. Sắc đẹp phất phơ bay, gió hương lơ thơ thổi. Nhọc chi nhẹ giở phất, chẳng mượn tạm gương mày. Năm trăm từng thân hiến, Như Lai ấn khả đó.
Thuở xưa, ở thành Tỳ Da Ly có năm trăm người con trưởng giả, mỗi người cầm lọng bảy báu đến chỗ Phật. Do oai thần của Phật khiến cho các lọng báu ấy hợp lại thành một cái lọng che khắp tam thiên đại thiên thế giới. Mọi người có tin được kịp chăng? Chẳng những người xưa mà người thời nay đều có một cái lọng báu này. Lại từng dòm thấy được chăng? Nếu ai dòm thấy được, bước bước đều là đường huyền, nói nói thảy đều là chuyển pháp luân. Nếu có người nào chưa được vậy, Sơn tăng tuy đã già yếu cũng đem lọng báu giúp cho tuyên dương. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường, cử:
Lão già Long Môn này tự nói: Làm gì? Lại hỏi ông: Rốt ráo là ai? Đáp: Là ông. Lại nói: Trong Hạ ông đã làm được việc gì rồi? Đáp: Khó nói cho ông, chỉ e ông rơi vào thấy nghe. Lại nói: Nhưng nói không ngại.
Sư bèn đưa cây gậy lên, nói: Có thấy, có nghe đều là phàm phu, không thấy không nghe là hàng Nhị Thừa. Có ai biết được chăng?
Im lặng hồi lâu, nói: Uyên Ương thêu xong cho anh xem, chẳng lấy kim vàng cho người xem. Tham.
Phát ruộng, Đáp Tử đến, Sư thượng đường, tạ ơn xong, cử:
Hòa thượng Bá Trượng bảo chúng rằng: “Các ông vì ta khai ruộng, ta vì các ông nói một đoạn nghĩa lớn”. Chúng phát ruộng xong, thỉnh Bá Trượng nói đại nghĩa, Bá Trượng đứng dậy, xòe tay duỗi chân. Đại chúng! Người xưa được lối tẻ thế ấy, lại hội cái thế ấy của Ngài phương tiện thế nào chăng? Bá Trượng nói đại nghĩa, may mắn việc cần biết. Long Môn không đạo lý, đại chúng dứt hồ nghi. Sức vua càn khôn nặng, ơn vua mưa móc đầy. Có người mượn nhau hỏi, ngoài mây bớt giương mày. Vì sao giương mày? Im lặng hồi lâu, nói: Vạn cổ trường xuân.
Sư thượng đường, cử:
Tiếng trống vừa động, nghĩa pháp đã khắp. Đại chúng lên đây, tìm sáng mà đến. Núi hoang giương cao ấn tổ. Mọi người dứt hồ nghi. Dù cho lật núi nghiêng sông, quyết chớ tìm cành bẻ lá. Cho nên nói: Nhóm góp trong ấy là ở trong tăng đường của ông. Tập họp trong ấy là ở trong liêu nhà của ông. Hội được chăng? Hay cho mỗi chỗ tham tri thức. Bỏ đi giải hội thiền từ trước.
Sư thượng đường, cử:
Người ở cõi Nam Diêm Phù Đề nói chung rất nhiều tranh đấu tán loạn. Bốn cõi thiền Vô Tưởng, tánh sân hận rất chậm. Mau chậm tuy chẳng đồng nhau nhưng nhiễm tịnh khó gọi quay về. Hai thứ tiền năm trăm vốn là một xâu thôi. Xâu! Xâu! A, tay và tay phát ra to tiếng. Người điếc nghe được giả vờ mặc kệ. Sáng mai mặt trời lên là nửa đêm. Đại sư Trí Giả nói về Chỉ Quán. Đại chúng! Lý này là sao? Im lặng giây lâu, nói: Khán.
Đàn việt thỉnh, Sư thượng đường, cử:
Sư ông Bạch Vân Đoan hồi trụ ở Viên Thông, Dương Thứ Công, Quách Công Phủ mỗi lần đến tham vấn hỏi đạo lý này, về sau, đi trở lại Hoài Nam thường cầu pháp yếu. Một hôm Công Phủ thưa thỉnh việc ấy, Sư ông Bạch Vân liền thượng đường nói: “Từ trước đến nay mong nhờ Thứ Công Đại Nho thưa hỏi đến, vì ông thượng đường, đã từng cử một lần rồi. Hôm nay, Công Phủ đến đây không lẽ ẩn giấu, lại vì ông cử một lần nữa. Lời nói này rất là kỳ đặc. Bèn nói: “Thượng Đại nhân, khưu Ất Tỵ, hóa tam thiên, thất thập sĩ. Nhĩ tiểu sanh, bát cửu tử, giai tác nhân, khả tri lễ da”. (Người lớn trên. Gò ắt tránh. Hóa ba ngàn, bảy mươi trò. Đời ông ngắn, tám chín con, đẹp làm nhân (từ), đáng biết lễ vậy). Liền xuống tòa.
Đại chúng! Lời nói trong cạn mỏng mà có lý thật sâu xa. Nếu chẳng hội Thượng đại nhân, làm sao lên cửa Khổng được và làm sao thông hiểu sáu bộ kinh sử, thi thư, trăm họ được? Cho dù thân được vang danh hiển đạt đi nữa mà chẳng hiểu Thượng đại nhân là gì, thì sao giúp nước an bang được? Giả sử khiến cho công thành thân lui cho đến đối với trăm kỹ nghệ, chỉ là kẻ làm thuê thất bại hay chỉ là đứa tiểu đồng ấu trĩ mà thôi chứ không phải là Thượng đại nhân, thì làm sao thành tựu việc có khả năng ấy? Núi rừng sông biển, mặt trời, mặt trăng và các tinh tú, trên Thánh dưới phàm, không phải là Thượng đại nhân thì đâu thể an lập? Đại chúng! Hay cho Thượng đại nhân. Lại hội chăng? Đệ tử nhà Nho nếu như biết được, là người bẻ cành đăng khoa bật nhất vậy. Xuống tòa.
Sư thượng đường, cử:
Thiền sư Tam Bình (Nghĩa Trung) nói: Chỉ thử kiến văn phi kiến văn (Chỉ thấy nghe này chẳng thấy nghe),
Sư nói: Niêm đất làm hương.
Cánh vô thỉnh sắc khả trình quân (Đâu còn thịnh sắc đáng trình anh).
Sư nói: Người nhớ niệm cũ.
Cá trung nhược liễu vô dư sự (Trong ấy nếu rõ không việc khác),
Sư gọi đại chúng nói: Chỗ đứng hồ nguy.
Thể dụng hà phòng phân bất phân (Thể dụng ngại gì phân chẳng phân).
Sư nói: Tuần đường khán lấy.
Chúng đi tuần đường xong, Sư lại bảo: Có người nào hội chăng? Lại nói: Hội được chăng? Chúng không đáp. Sư nói: Kẻ si! Kẻ si!
Di thư của Hòa thượng Tử Tâm ở Hoàng Long đưa đến, Sư thượng đường, nói:
Tử Tâm tâm đã chết, tâm tử chết do sanh. Bẻ gãy sừng Hoàng Long, ném thân ngoài địa hành. Lão già ấy từ trước đến nay, cởi ra mặc vào chiếc áo Lan Sam. Bộ dạng nghiêng ngả, cửa miệng thô tháo. Trong bụng nhu hòa, kiểm điểm tùng lâm, quát mắng người học. Tuy truyền đạo của ngài Hối Đường, mà mến dùng thiền của Vân Môn, lấy việc mắng gió chửi mưa dạy đồ chúng, lấy việc trồng rau trồng cây làm lao tác. Gây tai ương giáng họa, ít vui nhiều sân. Kẻ ngu thấy liền nhíu lông mày, người trí thì gật đầu thầm nhận. Nên đi liền đi, quả là bậc tác gia. Đằng Thân vốn là người Mạc Giao. Trong giấc ngủ mất quách lão Tử Tâm. Ô hô! Than ôi. Pháp môn bất hạnh.
Sư thượng đường, cử:
Danh rỗng, tướng rỗng, tiếng trong hang, bóng trong gương, bỏ mà chẳng tu hành làm sao sáng được vọng huyễn? Trẻ chẳng cố gắng, già lại ngao ngán buồn rầu. Lúc yên tĩnh mà suy xét đó, tùy theo cơ duyên mà suy lường. Cổ đức nói: “Thí như cả trăm năm, già trẻ đều ca múa, đâu chẳng là trò đùa của trẻ con sao? Đại chúng! Biết lời kia nói thế ấy là sao chăng? Trăm năm trẻ già đều ca múa, nghiêng đầu nhíu mày nghe đánh trống. Trong tâm nghe vỗ tuy rõ ràng, tay chân lại dấn vào khổ sở.
Rồi Sư đứng dậy múa may, nói: Hội chăng? Già là thành trẻ khó. Xuống tòa.
Sư thượng đường:
Chiếc lá rơi, khắp nơi Xuân, không nẻo nghĩ suy cười chết người. Dưới là trời, trên là đất, lời này chẳng vào ý thời lưu. Nam làm Bắc, Đông làm Tây, động mà dừng, vui mà buồn. Đầu rắn đuôi rết cùng một thứ, trong miệng cọp dữ chim sẻ sống. Là lời gì? Về nhà đi.
Sư thượng đường:
Lông mày mí mắt rất gần gũi, Lỗ mũi vành môi cũng rất gần. Đến gần vì sao mà không thấy? Đều do một thể thành toàn thân.
Sư thượng đường, đưa cây gậy lên quơ rồi đập một cái, bèn ngoái nhìn, nói:
Cây gậy này, cây gậy này. Ngươi không trụ giữ ở trong lòng lại không đau bệnh, khổ não. Đen gầy như thế là sao vậy? Đưa cây gậy lên cười to ha hả, nói:Là lời nói gì? Nếu sắc thấy thanh cầu ấy là hành đạo tà. Xưa Lâm Tế, Đức Sơn do đây mà phát minh ra kiến để (gốc của cái thấy), về sau các vị tôn túc mắt sáng cũng do đây mà tiếp vật độ sanh. Há chẳng thấy Hoàng Bá có lần phổ thỉnh, Hoàng Bá bảo Lâm Tế rằng: “Cái ta được là khí lực của việc chống gậy”. Lâm Tế đến gần đoạt mất cây gậy rồi xô ngã Hoàng Bá. Hoàng Bá liền nói: “Đỡ ta dậy, đỡ ta dậy”. Khi ấy có một vị tăng đến gần đỡ dậy, nói: “Hòa thượng đâu thể dung cho gã phong điên vô lễ như thế?”. Hoàng Bá liền đánh vị tăng ấy một cái. Lâm Tế bèn nói: “Trời xanh, trời xanh”.
Đại chúng! Ngay khi ấy thì chống gậy, còn bây giờ lại ở trong tay của Long Môn. Bèn đưa gậy lên và gọi đại chúng: Còn ở trong tay của Lâm Tế chăng? Ra đây, ra đây. Long Môn lại là buông xuống được. Liền ném cây gậy xuống, phóng thân chao nghiêng mình, nói: Có người nào đỡ được không hãy ra đây. Im lặng hồi lâu, nói: Đã không có người của Lâm Tế, lại không ai đỡ dậy, tự ngã. Có chỗ dùng chăng? Về nhà đi. Xuống tòa.
Hòa thượng Cam Lộ vào núi, Sư thượng đường:
Tổ Đạt Ma chẳng đến nhà Đường, đất lâu trời lớn. Nhị Tổ chẳng đến Tây Thiên, núi xanh nước chảy. Rồng ngâm mây mù dấy, cọp ngáy gió lốc sanh. Mưa Thu nhỏ xuống, mây nổi che trời. Các người có mắt lại thấy chăng? Có tai mà nghe chăng? Đã có đủ thấy nghe thì cái gì là mê? Cái gì là ngộ? Vật nào bị duyên? Vật nào bị đổi? Phải biết lý mê ngộ thăng trầm, cuối cùng rồi phải trở về bổn phận làm thầy. Phật xưa có nói: Thân tướng thuộc tứ đại, mỗi thứ đều lìa, thì cái gì làm cho hòa hợp?
Đại chúng! Thân tâm đã là như thế rồi, hiện nay lại là vật gì? Người tham học gần đây, thảy đều chạy tìm lời câu, nêu xưa bàn nay, đối với việc bổn phận hoàn toàn không sáng tỏ. Cho nên chánh tông đạm bạc, đạo pháp khắt khe. May sao gặp Hòa thượng đến đây, ngưỡng mong gặp Ngài làm chấn động tiếng hải triều, chỉ dạy yếu chỉ chân thật, giản trạch cho kẻ mù, chỉ bày châu trong áo. Tử chúng nghiêng mình thành kính không gì hơn thành tâm kính thỉnh.
Hòa thượng Hoàng Long Linh Nguyên gởi thư đến, Sư thượng đường:
Xưa khai mở chánh pháp nối tiếp bài minh, nay chỉ bày chân thật, quy về báo cáo. Một đường Niết bàn, thực hành và nói đều thân đến. Làm sáng tỏ ngọn đèn Lâm Tế, khéo xướng đạo Hoàng Long. Biển trống không đã lâu lắng rỗng, sóng ba đào như mây cuồn cuộn. Ngang thì nuốt biển lớn, cao như cưỡi thuyền sắt, ẩn hiện đồng nguồn, cuộn thả không bờ mé. Ấy chỉ có ngài Linh Nguyên thôi. Thiền sư ở chỗ rốt ráo, ở đạo tràng bổn giác, tuy nói là chỉ bày cái sanh mà thật không có cái sanh nào để chỉ. Tuy nói là diệt mà thật đâu có cái diệt nào đáng bày. Rõ ràng chân hóa chẳng dời, chỗ nào chìm nổi, xuống lên? Cho nên để lời nhắc nhở thật báo cho nghe khắp, năng sự thủy chung, một kỳ cho là xong.
Mà tôi hồi mấy năm trước còn du phương tình cờ đến Long Thư được nhận giao tiếp nửa mặt, hơi hám có phần cảm nhận. Tuy có lúc ở Kính Sơn, Ấn Ngọc, đã gặp liền biết nhau. Về sau mổ trai lấy châu, lên thuyền được kiếm. Âu Phong lại gặp, nguyện trước càng hài hòa, vui vẻ qua lại nhiều lần, có cùng chung khí tiết. Từ lúc mới đầu cho đến khoảng ba mươi năm nay, lý khế hợp cùng phong cách, lời tột không gián đoạn, có gì khác nhau? Riêng chỉ dạy đưa thư, tình cảm còn niệm mất, tình này càng khắng khít. Tuy nhiên như thế, Phật Phật chẳng nghĩ bàn, chẳng cho sống lâu ở đời. Đại chúng suy xét tường tận, rốt cuộc là thế ấy. Song mà Tử Kỳ đã mất, Bá Nha cắt đứt dây đàn, làm thương tổn kẻ không tri âm vậy. Huống là đạo tột này lìa kiến vượt tình, chớ nghịch nơi tâm, là lời nào vậy?
Xưa có người hỏi ngài Trường Sa (Cảnh Sầm): “Nam Tuyền tịch rồi, hướng vào chỗ nào đi?” Trường Sa nói: “Khi Thạch Đầu còn là Sa di, có tham kiến Lục Tổ”. Người kia nói: “Chẳng phải hỏi khi Thạch Đầu làm Sa di tham kiến Lục Tổ, mà là hỏi Nam Tuyền tịch rồi đi về đâu?”. Trường Sa nói: “Bảo y tầm tư đi”. Sư bèn cười to ha hả nói: Hội chăng? Hội chăng? Nước lớn thuyền cao, bùn nhiều Phật lớn. Cùng tước chí linh, chẳng nhọc thấy nghe.
Hòa thượng Phật Giám ở Tương Sơn gởi di thư đến, Sư thượng đường:
Á! Á! Sư huynh! Sư huynh! Ra thì ra trước tôi. Đi lại đi trước tôi. Á! Á! Sư huynh! Sư huynh! Ra thì ra trước tôi, cho tôi cùng măng sánh vai xem. Đi lại đi trước tôi, khiến tôi một cánh bay một mình. Đâu chẳng nhớ biển khổ này, chúng sanh chưa độ, huống là chúng huyền học ở khắp nơi vác tráp ôm chiếu, bỏ thuyền chèo, lấy gì qua sông dài? Tuy nhiên, đạo lý của Phật pháp có nhân duyên, đây là do sống không có sự giúp đỡ, phước mỏng nên mới khiến ra như thế. Vĩnh viễn trái với tòng lâm bảo xã, đuốc pháp chẳng nối truyền.
Ta nghe Như Lai nhập Niết bàn ở dưới cội Song Lâm, lại nghe Đạt Ma vác một chiếc giầy về Tây mà hóa. Chư Phật chư Tổ mà đạo ấy vẫn cứ nối tiếp liên miên. Huống là pháp huynh Phật Giám ở Chung Sơn của ta, diệu cơ không gián đoạn, ra vào ứng theo duyên. Sanh tử xưa nay ta có dự bị gì? Mà mỗi khi đối với Sư môn rất là khế hợp sâu xa, ở nơi Nhạn Tự tay chân liền nhau, nghĩa giao nhau như vàng với đá, như trời mây hơi mỏng, nghe lời di chúc mà nỡ nào? Nghĩ đến thân già do chẳng bền chắc, đồng lòng chung soi chiếu, lại còn gì để nói?
Vả lại, còn nhớ đến Như Lai Niết bàn, A Nan hỏi ngài Ca Diếp: “Thế Tôn ngoài việc truyền y kim lan ra, còn có pháp nào nữa chăng?”. Ca Diếp gọi: “A Nan”. A Nan đáp: “Dạ!” Ca Diếp nói: “Cây can trước cửa chùa ngã. Đại chúng! Nếu không có công án này, sanh tử lẫy lừng. Sư ông Bạch Vân nói: “Ngoài y kim lan ra, còn truyền gì nữa? Huynh ứng đệ hô, đâu là ngẫu nhiên? Cây can trước chùa ngã đó, chớ bảo như cũ mà dựa bên tường”. Đại chúng! Hội được chăng? Dựa bên tường, dựa bên tường. Trong ánh tịch diệt lễ sen trắng.
Sư thượng đường:
Đại sư Đạt Ma truyền tâm ấn, hãy xem coi quét sạch đất. Như nay lại có người nào thấy Đại sư Đạt Ma chăng? Nếu thấy được mới biết thừa đương, nếu thấy chưa được rất kỵ nhận lấy. Vì thế, chánh tông đạm bạc, dị đạo tranh vanh. Thuở xưa, Vương Thường Thị tham nơi ngài Mục Châu. Một hôm Mục Châu hỏi: “Hôm nay vì sao vào viện chậm vậy?”. Vương Thường Thị nói: “Vì thấy ngựa đánh cầu nên đến chậm”. Mục Châu hỏi: “Người đánh cầu hay ngựa đánh cầu?”. Thường Thị đáp: “Người đánh cầu”. Mục Châu hỏi: “Người khốn chăng?”. Thường Thị đáp: “Khốn”. Mục Châu hỏi: “Ngựa khốn chăng?”. Thường Thị đáp: “Khốn”. Mục Châu hỏi: “Cây cột khốn chăng?”. Thường Thị thất vọng không đáp được, về đến phòng riêng, đến giữa đêm bỗng nhiên tỉnh được. Sáng hôm sau gặp Mục Châu nói: “Tôi hội được việc hôm quả. Mục Châu hỏi: “Cây cột khốn chăng?”. Thường Thị đáp: “Khốn”. Mục Châu bèn chấp nhận. Đây là tông chỉ của Đại sư Đạt Ma.
Cây cột nào biết đánh cầu? Làm sao lại khốn? Lại có ai sáng được chăng? Ngựa khốn, người khốn chưa phải là khốn, cái khốn của cây cột mới là khốn. Ngay dưới câu này mà chứng vô sanh, chớ hướng vào trong lời nói mà tìm thước tấc. Tổ Bá Trượng nếu không điếc hai tai, thì Lâm Tế đâu hiểu được và đâu lãnh hội được ba đòn? Trọn đem nghiệp thức lưu truyền thì đạo này người thời nay bỏ như phẩn. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường:
Thuở xưa, có hai vị Sử đầu và Sử hạ cùng lúc thờ kính đức Quán Âm. Sử hạ trộm tiền của Sử đầu đem đi. Sử đầu thắp hương khấn vái đức Quán Âm: “Nguyện cho con bắt được Sử hạ. Sử hạ cũng thắp hương khấn vái đức Quán Âm: “Nguyện cho Sử đầu đừng thấy con”. Ngay lúc ấy mà quán sát, thì đức Quán Âm nên cứu xét ai đây? Nếu cứu Sử đầu thì trái lời nguyện của Sử hạ, nếu cứu Sử hạ thì trái lời nguyện của Sử đầu. Còn nếu cứu hết cả hai thì việc này trái lẽ nhau.
Hòa thượng Biện ở Sơn Nam nói: “Nếu muốn đi đường lớn, ba bước làm một nhảy”. Đại chúng! Hay cho lời này, chỉ e người thô tâm, hãy chín chắn tham cứu đó, lại bỏ ra khỏi dòng hay chẳng ra? Sơn tăng vì ông mỗi mỗi phân tích cho thấy, nếu ai muốn hội, trước hết phải biết đức Quán Âm. Muốn biết Quán Âm chăng? Là tâm đại từ đại bi ấy từ đâu lưu xuất? Hiện nay người nghe pháp rõ ràng rành mạch, vốn không tâm mà lưu xuất muôn tông chỉ.
Nếu biết rõ được Sử đầu mới biết làm được Sử đầu. Chẳng những làm được Sử đầu mà còn biết được Sử hạ, Sử hạ này là Sử hạ của Sử đầu, lìa ngoài Sử đầu ra không có Sử hạ nào khác. Nếu biết được Quán Âm rồi, Sử hạ mới biết làm được Sử hạ. Chẳng những làm được Sử hạ mà còn biết được Sử đầu. Sử đầu đây là Sử đầu của Sử hạ, lìa Sử hạ ra không có Sử đầu nào khác. Nếu thấy thế ấy, Sử đầu và Sử hạ chỉ là tên suông, Sử đầu và Sử hạ thảy đều không ỷ lại, tâm đại từ bi xí nhiên riêng thoát vậy.
Đã biết được Sử đầu lại biết được Sử hạ, còn phải biết được tiền vải. Sử đầu thấy đó, là tiền vải của Sử đầu; Sử hạ thấy đó, là tiền vải của Sử hạ. Lìa ngoài Sử đầu và Sử hạ ra, riêng không có tiền vải. Cũng phải biết tiền vải của Sử đầu không liên quan gì đến việc của Sử hạ, và tiền vải của Sử hạ không liên quan gì đến việc của Sử đầu, mỗi bên không đến với nhau. Tuy chẳng đến với nhau nhưng tiền vải của Sử đầu tức là tiền vải của Sử hạ, tiền vải của Sử hạ tức là tiền vải của Sử đầu, cùng là một vật vậy. Nếu thế ấy đã đồng, nếu thế ấy đã khác thì đều là tác dụng của tâm đại từ bi vậy.
Tức biết được tiền vải, lại phải sáng tỏ lấy được và mất. Khi Sử đầu mất tiền là Sử đầu mất, khi Sử hạ được tiền là Sử hạ được. Được mất chẳng ở trên phần của người nào khác. Như vậy thì khi Sử đầu mất là khi Sử hạ được, khi Sử hạ mất là khi Sử đầu được. Được mất tuy khác mà thường đồng. Đâu riêng có một vật nào làm đồng làm khác. Hoặc là Sử đầu, hoặc Sử hạ, hoặc tiền vải, hoặc được mất, mỗi mỗi rõ ràng sáng tỏ mới là Bồ Tát Quán Tự Tại. Người xưa nói: Được mất chẳng phải là trí của chư Phật. Một người không tâm mắt tai điếc.
Sư thượng đường:
Tây Cù Da Ni đánh trống, Nam Thiệm Bộ Châu thượng đường. Đại chúng! Mười phương đều đến cùng nghe. Dã khách khen ngợi, tiếng này vang khắp mười phương, chiếu phá nghe thấy sắc hương. Nực cười ông già Thích Ca, nhàn rỗi động đất phóng quang. Đại chúng về nhà đi!
Từ Công Đại phu vào núi, Sư thượng đường:
Chỗ nào cầu mong cho thông suốt? Gốc nghi tự chẳng phàm. Chóng sáng được tâm tức là Phật, biển giác cao chót vót không mặn. Thiện Tài lầu gác đường, ngày bước đến Đan Tiêu. Phàm phu nói chưa xong, đạo ta thường nói bày. Đại chúng! Thí như mặt mình đâu rõ được mắt mi? Lại như con mắt chẳng tự thấy mắt mặt. Nếu có thấy tức chẳng phải đầu mình. Nếu thấy con mắt thì con mắt thành cảnh. Cho nên Thạch Củng tự bắn tên mà không có chỗ hạ thủ liền chứng toàn thân. Bàng Công hỏi tâm, một miệng hớp sạch liền được chân thật. Đây phải nói là sự nghiệp của đại trượng phu vậy. Chẳng thấy nói:“Đại trượng phu cầm kiếm trí huệ, mũi kiếm Bát Nhã chừ ngọn lửa Kim Cang”. Chẳng phải chỉ phá vỡ đạo tâm bên ngoài mà còn sớm đánh lạc chỗ nhìn của thiên ma đều phải là rõ thấy bản lai diện mục, chứng được pháp nhãn thanh tịnh, cho nên được gọi là đại trượng phu vậy.
Hôm nay cúi mong Đề Cung Đại phu vào núi triều bái, quang lâm Thạch Tuyền. Chốc lát, chốn sơn dã học theo bậc tiên đức, mở pháp lập đạo tràng trụ trì núi này. Trong khoảng vài năm, dựa ở đây thay đổi sửa sang làm chỗ du tâm của thiền giả. Việc làm đã xong, liền lấy công của cây đá liên can tới việc thấy nghe, mong cho được văn chương hùng vĩ để bày tỏ bất hủ và làm lợi ích cho người sau. Cúi mong ban ân huệ mà chẳng chỉ bày cho hân hạnh nào lớn hơn nữa! Sơn tăng tuy chẳng hiểu rõ nghĩa lý, xem việc này lấy làm vui mừng mà gần đây việc này hiếm có ở đời. Đâu riêng may mắn cho núi này, cho ban này, cũng là may mắn cho tòng lâm khắp nơi vậy.
Xưa Hưởng Cư sĩ ăn trái cây uống nước suối, đem chỗ ngộ đạo viết thành văn tự cầu xin Nhị Tổ ấn chứng cho, có nói: “Bóng do hình mà có, vang từ tiếng mà ra. Đùa bóng thì nhọc hình mà chẳng biết hình là gốc của bóng; bày tiếng dừng vang mà chẳng biết tiếng là gốc của vang. Trừ bỏ phiền não mà hướng vào Niết bàn dụ như bỏ hình mà tìm tiếng; lìa chúng sanh mà cầu quả Phật, dụ như bặt tiếng mà tìm vang. Phải biết được không chỗ được, mất không chỗ mất chưa bằng thôi dứt. Con trình bày ý này cúi mong đáp cho. Đại sư Nhị Tổ đáp rằng: Xem qua ý thì đều như thật, lý chân thật sâu kín thì đấu có khác. Vốn lầm ngọc ma-ni mà cho là gạch ngói, hoát nhiên tự biết là chân châu. Vô minh và trí huệ thảy không khác. Phải biết muôn pháp thảy đều như. Thương những bọn nhị kiến này, bày từ gởi bút làm thành sách. Quán thân và Phật chẳng sai khác, đâu cần tìm kia chi cho nhọc mệt?”. Cư sĩ được bài kệ này rồi vui mừng làm theo.
Chư nhân giả! Người xưa ngộ tâm mà văn tự nêu ra đó thật là hiếm có. Lại thấy Đại sư Nhị Tổ và chỗ chứng đắc của Hướng Cư sĩ chăng?
Im lặng hồi lâu, nói: “Muôn kiếp có cùng, văn kia chẳng mất. Phiền đứng lâu.”
Sư thượng đường
Suy nghĩ mà hiểu, tư duy mà biết. Ngọn đèn lẻ loi khó cùng ánh sáng thái dương rực rỡ. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, vì ngươi quét sạch hang ổ của tinh linh lưu lãng; thiên ma diều hâu vào mây bay. Ngàn dặm muôn dặm chỉ một cái bất ngờ. A thích thích. Xuống tòa.
Sư thượng đường:
Chẳng khởi lười biếng, chẳng tiến tu, Thật không lời nói thật không cầu. Đoạt cơm trong miệng của người đói, Giật mất cày trong tay kẻ cày. Thật khoái sống, trăm không lo. Từ đây chẳng về, về liền được. Sóng gió năm hồ vỗ thiên lưu.
Trần Dữ Minh lại mong Phật Đảnh Tâm Kinh, thỉnh Sư thượng đường:
Án xỉ lâm. Án xỉ lâm. Án bộ lâm, Án bộ lâm. Đại chúng! Đây là lời nói gì? Nghĩa lý ra sao? Lại có ai hội chăng? Nếu nói là lời nói, lại chẳng thành lời nói. Còn nói là có đạo lý lại chẳng thành đạo lý. Có thể nói là ngôn thuyên chẳng đến, phân biệt chẳng bì. Thánh trước gọi là Phật ngữ, còn gọi là Chân ngôn. Hết thảy tiếng nói từ đây sanh, hết thảy lời dạy từ đây sanh. Sơn tăng vừa rồi xem trong kinh được Đà La Ni bảy chữ hay diệt hỏa tai, thành tựu muôn đức. Nay đối với mọi người đọc qua - một biến Đà-la-ni bảy chữ này, các vị lắng nghe nhé!
Rồi Sư im lặng, co ngón tay thứ nhất đến ngón tay thứ bảy, nói: “Mọi người có nghe chăng? Sợ mọi người không nghe, liền cử một biến.”
Lại im lặng, co ngón tay thứ nhất đến ngón tay thứ bảy, nói: “Nghe được chăng? Đại chúng! Chỉ có Phật với Phật mới hay biết đó, ngoài ra chúng sánh thảy đều mắc lầm. Có cửa phương tiện gọi là nói lại lời kệ, nay nói rõ ràng về bảy chữ chú này ba lần rằng: “Phật Đảnh Tâm Kinh Tề Nguyện Liễu” (Tâm kinh Phật đảnh đều nguyện rồi). Đại chúng! Hiểu được chỉ thú trong ấy chăng? Đợi Sơn tăng vâng làm giải thích, mỗi một chữ phải biết chỗ rơi. Nếu luận về Phật chỉ là đương nhân liền không có vật. Nếu luận về Đảnh thì ngày đêm phóng quang chiếu soi cảnh ở trước. Nếu luận về Tâm, khi thấy thì không có tướng, khi dùng lại sâu xa. Nếu luận về Kinh, hiểu lời có thể nói chẳng phải là âm thịnh. Nếu luận về Tề, chỗ làm, chỗ tạo tác đều hài hòa, nhịp nhàng. Nếu luận về Liễu thì không suy nghĩ, không nghi ngờ, tâm rộng khắp. Tâm rộng khắp thì tăng thêm phước thọ mà tai ương giảm bớt. Luận về lượng công đức thì rộng khó nghĩ bàn, núi Tu Di chưa lớn bằng và biển cả hãy còn nhỏ.
Sơn tăng vừa nói đến việc này, ấy là Chân Ngôn. Người đời chỉ biết có Ngôn mà không biết có Chân. Nếu không biết Chân thì chỗ nói đều vọng. Vì sao gọi là Chân Ngôn? Vì hay xuất ra muôn tông, nên gọi là Chân Ngôn, cũng gọi là Tam Muội Vương, cũng gọi là Vạn Tự Đảnh, cũng gọi là Vi Diệu Chương Cú, cũng gọi là Bí Mật Đại Tổng Trì. Chí tâm thọ trì có nhiều linh nghiệm. Cho nên nói là chú bảy chữ của Sơn tăng vậy.
Sư lại co ngón tay, nói: Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy. Phúng tụng thọ trì đều bí mật. Như người đích thân vào trong núi báu, tất cả trận báu kỳ lạ đều từ trong đây có ra. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường:
Đạo có thể học được chăng? Hay là thật chẳng thể học? Tâm có thể ngộ được chăng? Hay thật chẳng ngộ được? Chẳng học chẳng ngộ, chân cơ toàn bày. Cõi Ta Bà trăng sáng, sớm chiều sống nổi trôi. Mắt nếu chẳng ngủ thì các mộng tự trừ. Xưa nay ra vào không có cửa. Liền gọi đại chúng rằng: “Là cái gì?”.
Sư thượng đường:
Sơn tăng đại khái lên tòa này, đại chúng lâu rồi dứt hoài nghi. Mỗi mỗi là sư tử lông vàng, xưa nay gầm rỗng rất là oai. Lâm Tế cao giọng liền hét. Đức Sơn giơ gậy đánh ngay. Dù có một lời nửa câu trọn chẳng làm khác lối mòn. Đại chúng! Tinh thần của hạnh Đấu đà dính mê ngủ. Thế nào là việc thứ lớp? Tự ông không khéo xếp đặt. Đức Sơn nói thế ấy, cần người đến hay chẳng cần người đến? Thử kiểm điểm xem?
Sư thượng đường:
Hòa thượng Động Sơn (Lương Giới) dạy chúng rằng: “Huynh đệ đầu Thu cuối Hạ, hoặc đi Đông hoặc đi Tây, phải hướng đến chỗ muôn dặm không tấc cỏ mà đi mới được. Lại nói: “Chỉ như chỗ muôn dặm không tác cỏ làm sao đi?”. Thạch Sương (Khánh Chư) nghe được liền nói: “Ra khỏi cửa liền là cỏ”. Tăng nêu lại cho Động Sơn, Động Sơn bảo: “Trong nước Đại Đường có mấy người?”. Sư nói: “Ra khỏi cửa là cỏ, rảnh giết lão Long Môn. Phía Bắc lễ Văn Thù, phía Nam lên Ngũ Lão. Tóc mai đã bạc rồi, nói về thì hận chẳng còn sớm. Một mình đứng trước gió thu, nghĩ nhau trông về Giang Đảo. Hảo hảo, chẳng cần tìm kiếm.
Sư thượng đường:
Vật gì đến như thế? Thôi đem gương sáng treo lên đài cao. Vật gì đi như thế? Rõ ràng đâu cần phải ngẩng đầu? Ngẩng được rõ ràng được càng khó. Đầm lặng chẳng nhận rồng to nằm. Liền thế ấy hội, rất không manh mối. Rồi vỗ tay cười to ha hả nói: “Hoa Tạng Tỳ Lô thế giới khoan” (Thế giới Tỳ Lô ở Hoa Tạng rộng lớn).
Sư thượng đường:
Hay cho một bày, người trong ấy có thấy việc trong ấy chăng? Nếu là người trong ấy, ắt thấy việc trong ấy vậy. Im lặng hồi lâu, rồi cười to ha hả nói: “Hội chăng?”. Nếu chẳng vậy, tuy có việc ấy hóa ra chẳng phải là người trong ấy. Dẫu là người trong ấy hóa ra chẳng rõ việc trong ấy. Rõ được việc trong ấy làm được người trong ấy, còn lo gì nữa? Chẳng thấy Quy Sơn nói: “Câu có câu không như bìm leo cây”. Khi ấy có người hỏi: “Khi cây ngã bìm khô thì thế nào?”. Quy Sơn cười to ha hả. Lại nữa, Càn Phong dạy chúng rằng: “Pháp thân có ba thứ bệnh, hai loại ánh sáng, mỗi mỗi thấu qua mới biết ngồi an ổn”. Vân Môn ra chúng hỏi: “Người trong am vì sao chẳng thấy việc ngoài am? Càn Phong cười to ha hả. Đại chúng! Có người hỏi rằng: “Hai lão túc này ý chỉ thế nào?”.
Im lặng giây lâu, nói: Bọn các ông sao chẳng cùng ta buông cái đẫy da xuống đi, cởi bỏ cái da bụng mà cười lên một tiếng đi.
Sư thượng đường nói:
Đức Thích Ca Thế Tôn đã thành Chánh Giác, Bồ Tát Di Lặc sau này sẽ hạ sanh. Lão Lư (Huệ Năng) cầm lấy đi qua Lãnh Nam, Đạt Ma đem đến Đông Độ. Mỗi vị đều nói độ sanh đã xong, nguyện ta đã khắp. Thì sao sáu đường bốn loài vẫn còn đó? Đất đá, cát núi chưa tan? Cõi nước thanh tịnh nhiệm mầu sao chẳng thấy? Vậy là nguyện lực chưa tròn? Hay nghiệp lực chưa hết? Hay là còn đạo lý nào khác? Có ai đoán được chăng? Nếu chẳng đồng sàng ngủ làm sao biết mặc áo? Về nhà uống trà đi!
Sư thượng đường:
Không Sanh chẳng biết ngồi trong núi, Xuân ấm hoa đào gốc gốc hồng. Để lọt cơ trời không chỗ kiếm, đều do cây cột treo đèn lồng. Đèn lồng, đèn lồng, lại có nếp xưa. Cây cột cây cột, khéo hiểu đưa ra. Một sớm Sư cô là con gái. Đại ngộ trong nhà, uống trà đi.
Sư thượng đường:
Tâm là căn, pháp là trần, hai thứ giống như vết trên gương. Vết nhơ sạch hết ánh sáng hiện, tâm pháp hai quên, tánh tức chân. Căn trần đã sạch, gương sáng hiện ra. Tâm pháp đều quên, thế nào thì phải? Thân Càn Lịch đỏ không vọng tưởng, mắt nghe tai thấy rời phan duyên.
Sư thượng đường:
Đón mặt trời ra khỏi cửa, đã biết bày mây khói, trăng vội trông núi về. Mây mù thấm áo thiền, tâm buồn rầu, bước chầm chậm. Sáo không lỗ, thổi ba lần, Lý lý la, la la lý. Khách đạo vừa nghe tay áo ướt, giai nhân còn hát mắt xanh khép. Ngươi có nghe, chớ hồ nghi. Là điệu gì. Về nhà đi.
Sư thượng đường:
Kẻ đến nhà chân thật, có rảnh rỗi gì luận bàn nhà cửa? Người quyết định chứng đắc, đâu có mục tiêu gì để chứng? Luận về nhà, bàn về chứng, đều là những bọn ôm thất bại ở cửa Diêm La; không chứng, không nhà thật là kẻ đơn độc như mây phiêu diêu.
Sao chẳng hưng chí quyết liệt lên, ôm lòng cố vượt lên trên (đặc đạt) đi! Đi đứng hãy nhìn xem bậc thượng lưu kìa. Chớ ngã mạn theo bọn xấu tệ. Mỗi mỗi từ nơi hông ngực mình lưu xuất, cùng ta che trời che đất đi mới được. Thảy là phải giống cách tham học như thế ấy của ông, năm lừa đi!
Sư thượng đường:
Núi Hải Môn, đường Trường An, mờ mịt khói nước với cỏ thơm. Khách ở lầu, quan trên ngựa, cùng nghe mai rụng nhớ cố hương. Gió Xuân qua mắt hoa bay hết, bươm bướm tung tăng qua tưởng ngắn. Anh có nghe, là chương gì? Hội chẳng được, tham đường đi!
Chánh Hòa năm thứ 8, tháng 9, phụng sắc trụ ở Hòa Châu, Bao Thiền. Sư thượng đường, tạ ơn xong, có vị tăng ra hỏi: Ngàn dặm xa nghe tin tức tốt, chẳng bước lên đường việc thế nào?
Sư nói: Chẳng dính ba tấc.
Tăng hỏi: Một vầng nhật nguyệt ngay không soi, muôn dặm gió lành vũ trụ rộng.
Sư nói: Lại có thương lượng
Tăng hỏi: Trên đường gặp được thiền nhân hỏi thì thế nào?
Sư nói: Có gì khó đáp? Mây lìa cửa hang, ngàn núi đẹp. Trăng đến giữa trời, bốn biển sáng.
Sư nói: Ai là người thế ấy?
Sư lại nói:
Đại chúng! Hiện tiền há chẳng phải là núi Long Môn ở Thư Châu sao? Vừa có sắc chỉ đâu chẳng phải là chùa Bao Thiền ở Hòa Châu ư? Bảo Sơn tăng đến nơi kia truyền pháp hay trụ trì. Vả lại, cái gì là pháp để truyền? Muốn biết chỉ thú của Phật pháp chăng? Chẳng lìa núi Long Môn, phải thấy chùa Bao Thiền, chẳng nói chùa Bao Thiền, phải thấy núi Long Môn. Núi Long Môn dễ tìm thấy, chùa Bao Thiền khó nhìn ra. Có ai thấy được chùa Bao Thiền chăng? Nếu sáng tỏ được, liền có chỉ thú Phật pháp. Nếu chưa sáng tỏ.
Im lặng hồi lâu, Sư nói: “Sức vua gò núi nặng, ân vua vũ trụ rộng. Bất tài lấy gì báo đáp? Chốn nào được an tâm? Phiền đứng lâu.”
Đến Bao Thiền, vào phương trượng, Sư dựa tòa nói:
Xưa Định Minh Thiền sư ngồi yên ở ngọn núi này, trụ trong đại tam muội, từ bi tế độ, mở rộng thệ nguyện, chọn đến một phương. Sơn tăng thẹn cắt đứt dấu vết trước, mà nối tiếp làm sáng ngọn lửa về sau. Mười phương ngồi cắt đứt, Tổ lệnh đương hành. Trống kêu thì thăng đường, mỗi người hãy lắng nghe.
Sư thượng đường:
Đức vua đã ban cho giang sơn, bề tôi giỏi nên làm theo lệnh vua, khiến cho bần đạo truyền pháp, trụ trì. Trong chúng lại có ai đứng ra gánh vác trách nhiệm chăng? Thử ra khỏi chúng nói xem?
Tăng ra hỏi: Người xưa nói: Tạm nhờ một câu hỏi để làm bóng cỏ. Chưa biết lý này thế nào?
Sư nói: Ông là tâm hạnh gì?
Tăng hỏi: Đáng gọi là tay cầm phù Dạ Minh, chừng nào biết trời sáng?
Sư nói: Từng hỏi mấy người rồi? Đếm trong y bao nhiêu người lầm hội? Xà lê lại thế nào? Ba mươi năm sau có người hội đi. So sánh chút ít.
Tăng hỏi: Khi một trần vừa dấy, cả đại địa gồm thâu, thì thế nào?
Sư nói: Hai trần vậy.
Tăng hỏi: Thế ấy thì cảnh giới vô biên, tự tha chẳng cách một mảy lông; xưa nay mười đời, trước sau chẳng lìa ngay nơi niệm?
Sư nói: Gồm việc trong sơn huyện, làm sao thấy được?
Tăng nói: Núi sông và đại địa, toàn bày thân pháp vương.
Sư nói: Cái ấy xà lê lại thích thương lượng.
Sư lại nói:
Rồng rắn dễ biện, nạp tử khó mù. Biện khác được chăng? Sơn tăng chưa đến trong khoảng này, Pháp tịch núi ấy hư rỗng đã lâu, tòng tâm không chấn hưng. Đương lúc này, lại biết Thiền sư Định Minh là thiện tri thức của mọi người chăng? Sơn tăng đã đến trong khoảng này, pháp tịch mới mở, tòng lâm lại dựng lập và Thiền sư Định Minh cũng là thiện tri thức của mọi người. Cho nên nói: “Có Phật không Phật, tánh tướng thường trụ. Nếu biết khán được như thế ấy thì ta có ánh sáng đạo vậy.”
Xưa kia, có một vị tôn túc thấy chúng tập định liền đến bên cạnh múa may nói: “Mọi người hội ý này chăng?”. Mọi người không đáp. Tôn túc nói: “Sơn tăng chẳng xả bỏ đạo pháp mà hiện việc phàm phu”.
Sư bèn cười ha hả nói: “Kỳ lạ! Nếu là Bao Thiền tức chẳng phải vậy. Bèn đứng dậy múa và bảo chúng rằng: “Mọi người hội ý ta chăng?”
Im lặng hồi lâu nói: “Thanh bầu trường lạc. Rồi xuống tòa.
Sư tượng đường:
Bao Thiền vừa ở Thái Càn khô. Trăng sáng gió mát vào họa đồ. Người đời dẫu có vui ngàn thứ, chẳng bằng sớm nay mọi việc không. Rồi cười to ha hả, nói: “Hảo đại ca.
Sư thượng đường:
Tháp đá trong mây chạm tới sao, Thiền sư Định Minh miệng mở lớn. Ấy là lời ông nếu biết tham, Chẳng cần bó lưng mọi người chạy.
Rồi đập cây gậy xuống một cái rồi nói: Chim thấy bình minh kêu tự tại, Chó gặp ai rồi liền sủa tới.
Lại đập cây gậy xuống một cái nói: Về nhà đi.
Sư thượng đường:
Chỉ như sáng sớm hôm nay, chẳng biết sáng sớm ngày mai. Mọi việc đều đã an bài, mũi tên tự nhiên trúng đích. Ngọt thì ngọt cả hoàng liên, đắng thì đắng hơn thạch mật. Ai khế hợp được vị này. Bèn đưa tay múa may nói: “Chẳng ngại la la lý lý. Xuống tòa.
Mông Một tháng Giêng thượng đường, Sư lấy cây gậy vạch một vạch nói:
Trời được một sao Đẩu, Ngưu, Hư, Nguy, Thất, Tất; đất được một cỏ, cây, núi, sông, đất, đá. Người được một trên, dưới. Bốn bên không cùng thất.
Sư gọi Đại chúng, nói:
Vạn tượng sum la ảnh hiện trong, một đóa viên minh sáng rõ ràng. Có hoan vinh, có sầu diệt, hoặc oán thân, hoặc thuận nghịch, giàu hãy quý, nghèo hãy xin. Muôn dạng ngàn thứ ai vận làm? Tiếng trong hang trống tùy ứng ra, uyên ương thêu rồi mặc anh xem. Chẳng bày mũi kim miên mật quá, Bao Thiền khuyên bảo người hồi đầu, chớ đợi lâm hành mới kêu ca. Biết lấy Ma Ha Bát Nhã quang. Muôn xưa xa xôi là hôm nay. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường:
Như Lai không hai thứ lời, mọi người làm sao hội được lời của Như Lai? Thế nào là hai thứ lời? Phải sáng tỏ lấy mới được. Một là lời nói ly gián, hai là lời nói hòa hợp, không có hai lời này, ấy là lời nói của Như Lai. Sao gọi là lời nói ly gián? Người hay nghe pháp tuy mong muốn nghe nhận mà điều người nói pháp chẳng khai thị được, ấy gọi là lời ly gián. Nếu người nói pháp tuy muốn khai thị mà người nghe chẳng muốn ghi nhận, ấy là lời ly gián. Tuy nói mà không có hay nói (năng thuyết) để nói, tuy nghe mà không có hay nghe (năng văn) để nghe. Người được như thế mới gọi là lời hòa hợp. Phải quán xét lời nói ly gián này.
Lời nói hòa hợp này là một hay là hai? Là đồng hay là khác? Chứng biết như thế, xóa bỏ lời ly gián, sẽ được lời hòa hợp mà Như Lai thì không có hai lời này, chẳng nói chẳng nghe. Song chẳng nói chẳng nghe, cũng còn hai việc: “Một là phàm phu, hai là Thánh trí. Chánh như phàm phu thì không có chỗ khai thị, không chỗ nghe nhận, mịt mờ chẳng biết, gọi là vô minh cũng gọi là không nói không nghe. Hai là chỗ đến của Thánh trí, đến chỗ không nói không nghe ấy mất chủ khách bằng hành giải, tự ở chỗ rốt ráo chân thật cũng gọi là không nghe không thấy. Người học phải khéo phân biệt, chớ sanh thấy khác, chẳng thể làm mù thô mà chẳng có phần.”
Sư thượng đường, cử:
Hòa thượng Triệu Châu, một hôm vua Triệu đến, chẳng xuống giường liền nói: “Hội chăng?”. Vua đáp: “Chẳng hội”. Triệu Châu nói: “Từ thuở bé giữ thân chay đã già, thấy người không sức bước xuống giường”. Hòa thượng Đằng Đằng triều kiến Tắc Thiên, Ngài nhìn Tắc Thiên hỏi: “Hội chăng?”. Tắc Thiên đáp: “Chẳng hội”. Đằng Đằng nói: “Sơn tăng giữ giới chẳng nói”. Quốc sư Huệ Trung gặp vua Túc Tông lấy tay chỉ cái mão, nói: “Hội chăng?”. Vua đáp: “Không hội”. Quốc sư nói: “Trời lạnh chớ sợ chẳng ngã mão xuống”.
Đại chúng! Sáng tỏ được ý chỉ của ba vị này chăng? Ví như thuyền báu đến bờ, được giàu to mà cứu vớt còn dư, cửa ngọc kéo cổng, lên trên nhà mà vào trong thất. Còn ở ngoài cửa đâu nề hà gì chẳng vào? Khó giữ cô bần, đâu phải lỗi ở châu báu? Lại hội chăng? Biện hòa bị chặt chân. Về nhà đi!
Sư thượng đường:
Trước mặt qua, liền biết là Trương Tam Lý Tứ. Sau lưng qua, vì sao lại chẳng thấy? Ở bên vách liền thấy là ghế dựa của đài, ở bên kia vách vì sao phân biệt chẳng được? Giữa mấy thước còn vậy huống là mười phương thế giới? Người tham học nếu chẳng sáng tỏ phải biết việc tham học rốt cuộc chưa xong. Ngày tháng qua mau vào chùa từ sáng đến tối đã qua chín mươi ngày. Các vị hóa sĩ phát tâm ở các quận hãy mở rộng lòng thu dọn.
Liền giơ cây gậy lên nói: “Đông Tây Nam Bắc, người bốn phương. Đất rộng trời xa rất là thân. Xung Nhạc, Thiên Thai cùng Ngụy Khuyết.
Rồi khảy móng tay một cái nói: Nhẹ nhàng khảy tay chẳng nhọc thân”.
Lại giơ cây gậy lên nói: Sơn hà, đại địa, nhật nguyệt, tinh tú, cỏ cây, lùm bụi thảy đều ở trên đầu cây gậy. Lại thấy chăng?
Im lặng hồi lâu nói: Lưng ràng mười muôn xấu, cưỡi hạc lên Dương Châu. Phiền đứng lâu.
Sư thượng đường:
Triệu Châu có nhân duyên ăn cháo. Hay cho một tắc nhân duyên này. Vị tăng ngay đó ngộ. Hội được chăng? Khi ông cầm đến chén bát đũa muỗng thì chẳng hội ý của người xưa rồi vậy. Tổ sư nói gió phướn, còn các ông trong 24 giờ làm sao cho giống như đại trùng xem thủy ma? Quốc sư có vô tình thuyết pháp mà bọn các ông hợp với sáng được, vì sao lại chẳng nghe? Nếu mỗi mỗi sáng tỏ được thì chính là bạn thiền có khắp nơi. Về nhà đi.
Cầu mưa, Sư thượng đường:
Định Minh Diệu Ứng Thiền sư nói pháp như mây như mưa, chẳng phải người đương thời không nghe, mà là chẳng khéo nói. Một vị linh thông thế ấy, qua rồi mấy phen nóng lạnh, dẫu gặp hư mầm hại giống, phương tiện một thời cứu lấy.
Tri phủ Tằng Công xá nhân vào núi cầu mưa, Sư thượng đường, cử:
Lưu Ngẫu Đoan Công hỏi Vân Cư: “Mưa từ đâu đến?”. Đáp: “Từ chỗ Đoan Công hỏi đến”.
Sư nói:
Mưa từ đâu đến? Chẳng cần tìm kiếm, khắp cả hư không, rưới thấm chỗ khô. Định Minh Diệu Ứng linh thông, tri phủ xá nhân mới tạo. Thật đúng là làm mưa, làm sương. Đều là làm vui làm tốt. Hãy hỏi mọi người là mưa Định Minh hay mưa Xá Nhân? Hay mưa bá tánh? Nhất định sẽ được chăng?
Im lặng giây lâu, Sư cầm cây gậy đập xuống một cái, nói: Ba. Xuống tòa.
Sư thượng đường, đập cây gậy xuống một cái nói:
Đại chúng! Bọn các ông vì sao tối hôm qua ẩn thân trong cây cột? Và khi trời đã sáng, ăn cháo xong lên đây nghe tham thiền, vì sao lại đứng trên lan can? Thấy chăng? Cho dù thần thông biến hóa như thế, cũng phải hỏi thầy trong tháp Khởi Vân.
Sư thượng đường
Chỉ vì chết mà phải lang thang đi hành cước, vừa mới cầu ngộ được tâm xưa nay bị rắn vẽ thêm chân làm nhọc nhằn gân xương và cô phụ núi xanh nước sâu. Há chẳng thấy lão già Đức Sơn hỏi ông rằng: “Khi chưa bước xuống thuyền là đã cho ăn ba mươi hèo rồi”. Mọi người cũng dính cái phong thái (tinh thần) này, cái túi cơm cũng bị ăn ba mươi gậy.
Rồi Sư đập một gậy, xuống tòa.
Lui về Bao Thiền, Sư thượng đường:
Một đi một lại hạc trên tùng, nửa mở nửa che mây đỉnh núi. Chống tre đứng riêng ngoài ngàn ngọn, chủ đem Nam Sơn chúc nhà vua.
Tri phủ Tiền Công Phụng thỉnh ở lại Bao Thiền, Sư thượng đường:
Đại chúng! Lệnh vua nặng truyền xuống Bích La, chẳng cho chỗ tình, tát-bà-ha. Lan, sam, chiếu, mão lạnh lùng lắm, hướng trước người xướng lý la, lý la.
Vỗ một cái, nói: Lý la.
Lại vỗ một cái nữa, nói: Mai năm ngoái, liễu năm nay, nhan sắc hương đưa vẫn như cũ. Người già chậm, nước chảy mãi. Đạo vô tâm hợp đầu. Xuống tòa.
Sư thượng đường, cử:
Am chủ Liên Hoa Phong đưa cây gậy lên dạy chúng: Người xưa đến trong ấy vì sao chẳng chịu dừng? Rồi tự nói: Vì đường kia chẳng đắc lực. Hai mươi năm như thế, không ai hội được lời này. Sau có vị lão túc nghe cử nói: “Phải tức phải, ít tiến ngữ”. Có vị tăng hỏi: “Tiến ngữ thế nào?” Lão túc nói: “Chỉ hỏi rốt ráo là sao?”. Tăng đem cầu này hỏi am chủ, am chủ nói: “Tất lật gánh ngang chẳng đoái người, lại vào ngàn ngọn, muôn ngọn đi. Sư để cây gậy ngang trên vai lớn tiếng gọi: “Hòa thượng! Hòa thượng! Lại nói: Người Hạp Quốc tuy chẳng đến nữa, ngàn xưa muôn xưa nhớ tướng không.”
Sử thượng đường, cử:
Tôn giả Nghiêm Dương hỏi Triệu Châu: “Khi vật không đem đến thì thế nào?”. Triệu Châu bảo: “Buông xuống đi”. Tôn giả ngay đó liền đại ngộ.
Sư nói:
Hay cho đại chúng! Lại thấy được chỗ ngộ chăng? Hết sức buông chẳng xuống, dính sức gánh chẳng lên, định bảo một vật không, hóa ra của nhà mình. Thấy được nhà của mình, trong tâm rất vui vẻ, từ đây nghiệp nhà hưng, một nhấc chín muôn dặm.
Mồng Một tháng Chạp, Sư thượng đường. Tăng ra hỏi: Muôn pháp là ánh sáng tâm, các duyên do tánh mà hiểu rõ. Thảy đại địa là sắc, cái nào là tâm?
Sư nói: Chẳng nên làm mù lão Tăng. Thảy đại địa là sắc, cái nào là tâm? Xà-Lê nghĩ đến chừng bao nhiêu lúc? Chỉ như hai chữ sắc và tâm làm sao thấu qua được? Chỉ như qua sông, ai dè ướt lưng. Kia đây không tiện nghi. Cùng mặc tình ăn uống.
Sư lại nói:
Một năm chỉ có ngày Ba Mươi này, tháng Hai Dương phát sanh. Người học Bát nhã cùng đạo tình của ông tương ưng chăng? Nay có hai câu hỏi, hỏi mọi người: một câu hỏi người chấp nhận, một câu hỏi người chẳng chấp nhận. Trước hỏi người chấp nhận rằng: Ông đến như thế khi nào vậy? Ông phải nói nhiều lúc. Hỏi ông đã nhiều lúc thì đối với hai thinh, sắc ở trước mắt và ông làm não hại chăng? Nếu cùng ông làm não hại, thì thượng tọa chưa có như thế. Nếu chẳng cùng ông làm não hại ấy là soi thấy rõ, về sau chẳng làm não hại hay chẳng cần soi thấy rõ mới thấy chẳng bị não hại, tức gọi là soi thấy tâm. Chưa gọi thế ấy. Nếu chẳng dùng soi thấy tâm, làm sao biết được không não hại? Dựa chỗ thấy rõ này ta hỏi chẳng được. Kế là hỏi người chẳng chấp nhận rằng: Ông chẳng đến thế ấy được khi nào? Sư cười to nói: Hay cho một câu hỏi! Ông xuất gia làm Sa môn, đệ tử Phật đầy tuổi đủ tóc, vòi vọi rõ ràng. Làm sao lại chẳng thể ấy? Được khác gì với người đời? Dù cho ông ngay đây chẳng thế ấy đi nữa, thì cũng do thế ấy. Về sau có cái không thế ấy. Dựa vào cái thấy này cũng rõ, ta hỏi chẳng được. Chẳng thấy Đại sư Thạch Đầu nói: Thế ấy cũng chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy cũng chẳng được. Còn có người nói chẳng được, bị Mã Đại sư nói: Ta có lúc giương mày chớp mắt, có lúc chẳng giương mày chớp mắt. Có lúc giương mày chớp mắt là phải, có lúc giương mày chớp mắt là chẳng phải. Sư im lặng giây lâu nói: Lại biết chăng? Bùn nhiều Phật lớn. Nước lớn thuyền cao. Xuống tòa.
Sư thượng đường:
Chưa đạt cảnh duy tâm, thì khởi trùng trùng phân biệt. Đạt cảnh duy tâm rồi, phân biệt liền chẳng sanh. Phân biệt đã không sanh liền xả tướng trần ngoài.
Rồi giơ cây gậy lên, bảo chúng: Chẳng thể chẳng gọi là cây gậy vậy. Thế thì làm sao nói tới cái đạo lý xả này? Có người nào ở đây nói: gọi cái gì là cây gậy, liền trái với Phật xưa kia nói: chẳng hoại giả danh mà nói thật tướng. Lại nói còn có cây gậy gì, thì muôn pháp ở thế gian chẳng thành an lập. Lại nói y như cũ gọi là cây gậy, thì hết thảy phàm phu chẳng ai chẳng may mắn lắm. Đại chúng! Đến trong ấy, làm sao tức phải? Phải tin rằng tháp đá trong mây chẳng phải là nhân gian. Núi mây ngoài lan can chẳng phải do tâm biến hiện. Gió chạm mưa quét, mặt trời soi, khói mờ, dọc ngang diệu dụng, ẩn hiện một mé. Tự mình khả dĩ đường chim sâu lặng, mở toát hông lòng, diệu khế chân quy, mười phương soi suốt. Dù được như thế, còn phải biết có lỗ hổng của nạp tăng? Chao! Giơ cây gậy lên rồi xuống tòa.
Sư thượng đường cử:
Có lần Hòa thượng Quy Sơn đang ngồi, thấy Ngưỡng Sơn đi qua trước phương trượng, Quy Sơn nói: nếu là Tiên sư Bá Trượng thì con đã bị ăn một gậy đau điếng mới được”. Ngưỡng Sơn hỏi: “Hôm nay việc thế nào?”. Quy Sơn bảo: “Ngậm lấy hai miếng da có phần”. Ngưỡng Sơn nói: “Ân này khó đến”. Quy Sơn nói: “Quy Sơn tuổi già, chẳng phải con bất tài”. Ngưỡng Sơn nói: “Hôm nay con đích thân thấy được Sư ông Bá Trượng”. Quy Sơn nói: “Con hướng vào trong câu nào mà thấy được Sư ông?”. Ngưỡng Sơn nói: “Chẳng nói thấy, chỉ là không khác”. Quy Sơn nói: “Trước sau tác gia”.
Sư nói:
Từ trên lên đến Bá Trượng có lệnh chẳng phạm. Quy Sơn thâm đắc ý chỉ này, có thể hướng trên đao bén mà đi. Ngưỡng Sơn hớp hơi phò trì, còn chẳng phạm mũi kiếm làm bị thương tay. Có một bọn người chỉ biết giơ gậy hét toáng, mà có sáng tỏ chẳng phạm lệnh của kia chăng? Chẳng thấy nói: Trước sau tác gia, mọi người mỗi ngày đến đi, chỗ nào thấy được Bá Trượng?
Sư thượng đường:
Tạm thời thúc liễm niệm, chỗ ấy là Từ Thị, cửa cửa là Thiện Tài. Ranh giới có tâm, đất đá núi sông, gạch ngói, gai góc. Đại chúng! Làm Thánh làm phàm, hay nhiễm hay tịnh, có oai thần như thế, có diệu dụng như thế, dù được như thế, khách dưới cửa Tào Khê, khi thấy còn chưa phải là tin tức của Thiếu Lâm. Chỉ như tin tức của Thiếu Lâm, khách dưới cửa Tào Khê ông hợp thế nào? Xuống tòa.
Sự thượng đường:
Tô Võ chăn dê bị nhục mạ không bị khuất, Lý Lăng trông về Hán, vui mà quên về. Ấy là ở ngoài nước hay ở tại nước? Trong các đệ tử của Phật có người hai chân vượt qua hầm? Có người nghe đàn đứng dậy múa, có người thân chôn trong đám phân, có người quở mắng thần sông. Ấy là tập khí hay là diệu dụng? Cho đến cầm nạng đánh đất, dựng phất tử, gõ giường thiền. Mục Châu một bề đóng cửa, Lỗ Tổ quanh năm ngó vách, ấy là vì người hay chẳng phải vì người? Biết chắc hết thảy phàm phu chôn vùi trong kho báu, đâu chẳng phải trượng phu? Mọi người sao chẳng lay chèo trương buồm, vượt sông qua bờ nghỉ đi mà thả neo cột cọc biết ngày nào đến nhà? Đã là người Tào Khê, lại làm người trong nhà, có thấy việc trong nhà chăng?
Sư thượng đường, cử:
Tiền sư ở trong hội Bạch Vân làm Ma đầu (xay lúa). Một hôm, Sư ông Đoan xuống nói: “Ông có biết chuyện này chăng?”. Tiên sư nói: “Không biết”. Sư ông bảo: “Gần đây có một số thiền khách từ Lô Sơn đến, hỏi họ, họ đáp là đều có chỗ ngộ nhập. Bảo họ nói cũng nói được nguyên do. Cử nhân duyên cho họ, họ cũng sáng tỏ được. Bảo họ hạ ngữ, họ cũng hạ ngữ được”. Rồi Sư ông Đoan im lặng hồi lâu, bảo Tiên sư: “Ma đầu! Chỉ là chưa có, ông nói thế nào?”. Tiên sư nghe rồi, tâm hạ chẳng an. Được bảy ngày bảy đêm chẳng thành, đang trong lúc nhàn rỗi, Tiên sư bèn suy nghĩ rằng: “Đã ngộ rồi, nói cũng nói được, sáng cũng sáng được, làm sao lại chưa có?”. Bỗng nhiên trong đêm ấy hội được, gậy báu một thời buông xuống. Liền đến bạch Sư ông Đoan. Sư ông liền đứng dậy tay múa chân đạp. Ta từng hầu hạ bên Tiên sư, nghe Tiên sư cử nhân duyên này bảo với ta rằng: Tham học phải là một lúc buông xuống mới được an lạc.
Đại chúng! Lại thấy được chăng? Buông xuống được khéo thoát rượu, buông chẳng xuống như trâu kéo cày. Nực cười cho lão cổ chùy ở các nơi đánh trống nói thiền không có chuôi dao. Không có chuôi dao chẳng kinh sợ, chẳng kinh sợ. Đáng ngạc nhiên. Biết đạp trên đảnh Tỳ Lô đi, chẳng nói cũng chẳng truyền thiên hạ. Hảo đại ca!
Sư thượng đường:
Thiền sư Bá Trượng Đại Trí bảo chúng: “Dẹp bỏ cổ họng môi miệng, hãy nói một câu xem”. Quy Sơn nói: “Xin Hòa thượng nói”. Ngũ Phong nói: “Hòa Thượng cũng nên dẹp bỏ”. Vân Nham nói: “Hòa thượng có chưa?”.
Sư nói:
Đây là việc lưu truyền trong lòng tâm, Thiền sư Tuyết Đậu sau này bình phẩm lời của ba vị, mỗi người có cạn có sâu. “Lại xin hòa thượng nói, đầu cọp mọc rừng ra cỏ hoang; “Hòa thượng cũng nên dẹp bỏ”, trên bầy rồng rắn xem mưu lược; “Hòa thượng có chưa?”, sư tử lông vàng chẳng ngồi đất. Như nay trong chúng hoặc bỏ thỉnh ích hoặc bỏ qua thoại. Có người bảo: Ba câu nói này chưa khế hợp với Bá Trượng, gọi là ức mà chẳng dương. Lại, Thỉnh Hòa thượng nói, Bá Trượng nói: “Chẳng từ nói cho ông ấy, chỉ sợ ngày sau mất con cháu của ông”. Đây há chẳng phải là ức mà chẳng dương sao? Hòa thượng cũng nên dẹp bỏ, Bá Trượng bảo: “Chỗ không người vạch trán ông”, chỗ nào là chấp nhận cho kia? Chắc là ức mà không dương. “Hòa thượng có chưa?” Bá Trượng nói: “Mất con cháu ông”. Chính là chẳng chấp nhận vậy. Chỉ như Bá Trương nói: “Dẹp bỏ cổ họng môi miệng”, hãy nói một câu xem rất sanh việc thứ lớp. Đã dẹp bỏ cổ họng môi miệng, sáng tỏ việc bên cái gì nào, cũng nên giữ gìn lấy. Xuống tòa.
Trở về viện, từ giã chúng, Sư thượng đường:
Đại sư Lục Tổ chỉ dạy chúng: “Các ông mau sắm thuyền bè, ta muốn trở về Tân Châu”. Đệ tử nói: “Hòa thượng đi rồi, chừng nào trở lại?”. Lục Tổ bảo: “Lá rụng về cội, lúc đến không lời”. Sư nói: Ấy là lời nói gì? Đi rồi còn đến làm gì? Chẳng thấy Tiên sư Đông Sơn nói chư đại Tổ sư lớn nhỏ còn lần lần ngộ đó. Sư cười to ha hả nói: Mọi người lại hội chăng? Hãy nghe lấy một bài tụng:
Quy căn đắc chỉ phục hà luận?
Đông khẩu tần nhân bán yểm môn
Hoa lạc dĩ tùy lưu thủy viễn,
Không lưu bát bạt dã vân đồn.
Tạm dịch
Về nguồn được chỉ còn bàn chi?
Kẻ tần miệng rộng nửa che cửa.
Hoa rụng trôi xa theo dòng chảy,
Trời mây đầy ắp như tấm màn.
Đến Tương Sơn, Sư thượng đường:
Huyền Sa giấy trắng uổng bao đề, cùng nghe tiếng sấm muôn vạn nhẫn. Ủy thích lòng riêng đã vô lượng, đâu kham mà xướng la la lý? Bèn cười to ha hả nói: Người xưa nói: “Cười phải ba mươi lăm năm”. Đúng thay lời nói này. Ta hồi ở chỗ Bạch Vân cùng với nhà sư huynh Phật Quả học đạo, niềm vui ấy không bờ bến. Đến nay niềm vui ấy vẫn còn mãi chưa thôi. Lại cười to ha hả nói: Một tay chẳng siêng vỗ, hai tay kêu bốp bốp, cử ý vượt tình niệm, xem nhau đồng một đường. Sờ mây chuông to cao, khắp cõi chim vòng đỏ. Diệu cơ sấm điện chớp, Thần Châu chẳng ở trán. Trân trọng đại đạo sư người trời. Nạp tăng vừa thấy táng hồn phách, sao vậy? Ai lấy con mắt chánh nhìn xem? Xuống tòa.
(CỔ TÔN TÚC NGỮ LỤC QUYỂN 29 )