TỨ TỔ ĐẠO TÍN NGỮ LỤC

TỨ TỔ THIỀN SƯ ĐẠO TÍN NGỮ LỤC


❓ Đứa bé hỏi rằng: Chư Phật, Thánh hồi xưa ấn chứng thế nào ?

📣 Đạo Tín đáp: Trống không ! Trống không !

❓ Đứa bé nói: Nếu thế thì không có Phật, Thánh gì cả !

📣 Đạo Tín nói: Cũng còn cái màu mè đó !

[Theo Tổ Đường Tập quyển 2]


Triều nhà Đường, Thiền sư Đạo Tín ở núi Song Phong (Kỳ Châu), kế thừa Thiền sư Tăng Xán. Thiền sư Đạo Tín, mở rộng Thiền môn, có soạn quyển Bồ-tát Giới Pháp, lưu hành trong đời. Lại trước tác Nhập Đạo An Tâm Yếu Phương Tiện Pháp Môn vì kẻ hữu duyên căn cơ đã thuần phục. Ngài nói:

Pháp này của ta cốt yếu y theo kinh Lăng Già: “Tâm chư Phật là hơn hết”. Lại theo lời kinh Văn Thù Thuyết Bát-nhã ghi: “Nhất hạnh Tam-muội nghĩa là ngay nơi tâm niệm Phật chính là Phật, còn vọng niệm tức là phàm phu”. Kinh Văn Thù Thuyết Bát-nhã chép: “Văn Thù Sư Lợi nói: “Thưa Thế Tôn ! Tại sao nói nhất hạnh Tam-muội ?”. Phật nói: “Pháp giới nhất tướng, hệ duyên pháp giới, gọi là nhất hạnh Tam-muội. Như các thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn vào nhất hạnh Tam-muội, thì trước hết phải nghe Bát-nhã. Như pháp giới duyên không thoái không hoại, không thể tư nghì, vô ngại, vô tướng. Thế thì vào nhất hạnh Tam-muội liền biết pháp giới của Hằng hà sa chư Phật, không tướng sai biệt. Ôi, thân tâm nhỏ bé này giơ chân hạ chân, đều tại đạo tràng. Thi thiết cử động, đều là Bồ-đề. Kinh Phổ Hiền Quán chép: “Tất cả biển nghiệp chướng đều từ vọng tưởng sinh ra, nếu muốn sám hối thì phải ngồi ngay ngắn mà niệm thật tướng, gọi là đệ nhất. Sám hối trừ sạch cả ba tâm độc là tâm phan duyên, tâm giác quán và tâm niệm Phật. Tâm tâm nối tiếp, bỗng nhiên tịch lặng, rốt cùng không còn sở duyên niệm. Kinh Đại Phẩm chép: “Vô sở niệm, gọi là niệm Phật”. Cái gì gọi là vô sở niệm ? Ngay nơi cái tâm niệm Phật gọi là Vô Sở Niệm. Rời tâm không có Phật nào khác, rời Phật không có tâm nào khác. Niệm Phật tức là niệm tâm. Cầu tâm tức là cầu Phật. Tại sao thế ? Thức vô hình, Phật cũng vô hình, vô tướng mạo. Biết đạo lý đó tức là tâm. Thường nhớ niệm Phật thì phan duyên không dấy, tức lặng lẽ vô tướng, bình đẳng không sai biệt. Vào cảnh vị đó, tâm niệm Phật ngưng, rốt lại không cần (hỏi), liền xem các loại tâm ấy đều là thân pháp tánh chân thật của Như Lai, cũng gọi là Chánh pháp, cũng gọi là Phật tánh, cũng gọi là thật pháp, thật tánh của mọi pháp thật tế, cũng gọi là Tịnh Độ cũng gọi là Bồ-đề Tam-muội, Bản giác v.v… cũng gọi là Niết-bàn giới, Bát-nhã… Tâm tuy vô lượng nhưng đồng một thể, cũng hàm ý vô năng quán sở quán. Các tâm ấy, muôn khiến thanh tịnh thường hiện tiền trước mắt thì tất cả mọi duyên đều không được tán loạn. Tại sao thế ? Bởi vì tất cả mọi sự đều là Pháp thân Như Lai. An trụ trong Tâm này thì các kiết sử, phiền não tự nhiên trừ diệt. Tại một mảy trần, gồm cả vô lượng thế giới. Vô lượng thế giới gom lại trên đầu sợi lông. Mọi sự vật vẫn y nguyên như cũ mà không ngăn ngại nhau. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Có một quyển kinh thì trong mảy bụi, thấy đủ việc tam thiên đại thiên thế giới”. Ở đây chỉ lược nêu an tâm, không thể kể đủ. Trong đó cái thiện xảo xuất phát từ tâm. Lược nêu cũng vì chuyện nghi của kẻ hậu sanh mà tạm đặt ra câu hỏi: “Pháp thân Như Lai đã như thế thì sao lại còn có thân gồm 32 tướng tốt hiện thân thuyết pháp ?”. Và ngài tự đáp: “Chính vì thân pháp tánh của Như Lai, thanh tịnh viên mãn nên mọi loài hình tướng đều hiện ra trong đó, nhưng thân pháp tánh, chẳng có tâm khởi tác, như kiếng pha lê, treo tại nhà chánh, tất cả hình tượng đều hiện trong đó. Kiếng cũng không tâm vậy mà có thể chiếu hiện đủ thứ. Kinh chép: “Như Lai ra đời thuyết pháp là vì vọng tưởng của chúng sanh”. Nay nếu hành giả tu tâm tịnh cả, thì biết Như Lai thường chẳng thuyết pháp, Người mới chính là kẻ cụ túc đa văn. Tất cả nghe đều vô tướng. Do đó mà kinh nói: “Chúng sanh căn vô lượng, cho nên thuyết pháp vô lượng. Do thuyết pháp vô lượng mà nghĩa cũng gọi là vô lượng nghĩa. Cho nên vô lượng nghĩa do một pháp mà sanh ra. Một pháp thì vô tướng vậy. Vô tướng mà không có gì chẳng phải tướng gọi là thật tướng, tức thanh tịnh vậy, nói rõ ra ấy là chứng vậy.

❓ Hỏi: Thế nào là Thiền sư ?

📣 Đạo Tín đáp: Không bị tịnh loạn làm phiền não, đó là người dụng tâm Thiền tốt. Thường trụ ở tâm định thì hôn trầm, trụ lâu ở quán tâm thì tán loạn. Kinh Pháp Hoa nói: “Phật tự trụ tại đại thừa, pháp sở đắc là sức định huệ trang nghiêm, dùng đó mà độ chúng sanh”.

❓ Hỏi: Làm sao có thể ngộ hiểu pháp tướng, tâm được minh tịnh ?

📣 Đạo Tín đáp: Cũng chẳng niệm Phật, cũng chẳng nắm bắt tâm, cũng chẳng khán tâm, cũng chẳng tính toán, cũng chẳng suy nghĩ, cũng chẳng quán hạnh, cũng chẳng tán loạn, cứ thế vận hành tự nhiên cũng chẳng khiến đi, cũng chẳng khiến dừng, chỉ độc nhất thanh tịnh, rốt cùng là khiến tâm tự minh tịnh. Nếu xem cho rõ, tâm tức được minh tịnh. Tâm như gương sáng, hoặc sau một năm tâm vẫn minh tịnh, hoặc sau năm ba năm, tâm vẫn minh tịnh. Hoặc giả nhân nghe người nói giảng mà được ngộ giải, hoặc giả mãi mãi không cần nói giảng mà vẫn ngộ giải. Kinh nói: “Tâm tánh của chúng sanh, ví như ngọc quý chìm trong nước. Nước đục thì ngọc ẩn, nước trong thì ngọc lộ rõ”. Kẻ hủy báng tam Bảo, phá hòa hiệp Tăng, bị chư kiến phiền não làm ô uế, bị tham sân si điên đảo vì người làm nhiễm bẩn. Chúng sanh không giác ngộ tâm tánh xưa nay vốn thường thanh tịnh, cho nên học chấp ngộ không đồng nhau mới có sai biệt như thế. Nay xin nêu ra sơ lược căn duyên bất đồng. Làm thầy người ta thì phải giỏi phân biệt. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Thân tướng của Phổ Hiền giống như hư không, nương vào như như, không nương vào Phật giới. Khi giải ngộ thì Phật quốc đều Như, tức là quốc độ Như đều không nương”. Kinh Niết-bàn nói: “Có vô biên thân Bồ-tát. Thân lượng như hư không”. Lại nói: “Có ánh sáng rạng rỡ giống như trời hạ”. Lại nói: “Thân vô biên gọi là Đại Niết-bàn”. Lại nói: “Đại Bát Niết-bàn, tánh ấy rộng rãi”. Biết người học có bốn loại người: Hạng thượng thượng nhân có hạnh, có giải, có chứng. Hạng trung thượng nhân vô hạnh, có giải, có chứng. Hạng trung hạ nhân, có hạnh, có giải vô chứng. Hạng hạ hạ nhân, có hạnh, vô giải, vô chứng.

❓ Hỏi: Bây giờ lấy gì làm quán hạnh ?

📣 Đạo Tín đáp: Cứ để tự nhiên.

❓ Lại hỏi: Có cần hướng về Tây phương không ?

📣 Đạo Tín đáp:

Nếu biết tâm xưa nay vốn không sanh, không diệt, rốt ráo thanh tịnh, thì đó là quốc độ của tịnh Phật. Rốt lại không cần nhắm Tây phương. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Vô lượng kiếp một niệm, một niệm vô lượng kiếp”. Nếu biết một phương là vô lượng phương. Vô lượng phương là một phương. Phật, vì chúng sanh độn căn mà khiến hướng về Tây Phương, chớ không vì kẻ lợi căn mà nói. Hành sâu hạnh Bồ-tát, vào sanh tử hóa độ chúng sanh mà không ái kiến. Nếu thấy chúng sanh có sanh tử, ta là năng độ chúng sanh là sở độ, không gọi là Bồ-tát. Độ chúng sanh như độ không. Độ không chưa từng có tới lui bao giờ. Kinh Kim Cang nói: “Diệt độ vô lượng chúng sanh mà thật ra chưa có chúng sanh nào được diệt độ”. Đó là sơ địa Bồ-tát, sơ chứng tất cả không, sau chứng đắc nhất thiết bất không, tức là trí vô phân biệt, cũng là sắc tức là không, chẳng phải sắc diệt mới không mà đó là tánh sắc tức không, đó là Bồ-tát tu học lấy không làm chứng. Người học đời nay, thấy thẳng không. Đó là thấy không, chớ không phải là chân không. Kẻ tu đạo đắc chân không, không thấy không cùng chẳng không, chẳng có các kiến chấp, cần phải khéo hiểu nghĩa sắc không, người học cách dụng tâm, cần để tâm minh tịnh, ngộ giải pháp tướng, phân minh rõ ràng, sau đó mới đi làm thầy người ta. Lại phải trong ngoài tương xứng, lý hạnh không trái nhau, nhất quyết phải đoạn tuyệt chữ nghĩa, lời lẽ, vì Thánh đạo, chỉ có một chỗ tịnh là tự chứng đạo quả vậy. Lại cũng có người không hiểu cứu cánh pháp, vì danh mời, lợi rủ giáo dẫn chúng sanh, không biết căn duyên sáng tối khác nhau, đều ấn khả, điều đó thật khổ thay. Khổ thay họa lớn. Hoặc thấy tâm dường đã minh tịnh, liền ấn khả ngay, kẻ đó đại phá hoại Phật pháp, dối mình rồi dối người. Kẻ dụng tâm có giống và khác nhau như thế, đều là tướng mạo vậy. Chưa đắc tâm, hay thật sự đắc tâm nếu tự biết phân biệt, về lâu sau pháp nhãn tự khai, phân biệt rõ ràng hư cùng giả. Hoặc có người chấp thân là chẳng có gì cả, tâm tánh diệt hết. Đó là kẻ đoạn kiến, cùng với ngoại đạo giống nhau, chẳng phải đệ tử Phật.
Lại có kẻ chấp tâm là có, không diệt, đó là hạng thường kiến, lại cũng giống như ngoại đạo. Đệ tử Phật sáng suốt nay thì không chấp tâm tánh trụ hay diệt, thường độ chúng sanh. Chẳng dấy ái kiến, thường học trí tuệ, ngu trí coi ngang nhau, thường tại thiền định coi tịnh loạn như nhau. Thấy chúng sanh chưa từng có, cứu cánh không sanh, không diệt, nơi nơi hiện hình, chẳng có kiến văn, hiểu rõ mọi pháp chưa từng nắm bỏ, chưa từng phân thân mà thân thông khắp pháp giới. Lại khi xưa thiền sư trí Mãn thường dạy: Pháp học đạo thì hiểu biết và hạnh phải phù hợp nhau. Trước phải biết căn nguyên của tâm và các thể dụng, thấy lý rõ ràng không nhằm lẫn thì sau đó công việc mới thanh. “Hiểu một thì mọi cái hiểu theo, mê một thì muôn cái lầm lẫn” không phải là lời nói ngoa. Kinh Vô Lượng Thọ chép: “Pháp thân chư Phật, nhập vào mọi tâm tưởng của chúng sanh”. Tâm này là Phật. Tâm này làm Phật. Nên biết Phật tức là tâm. Ngoài tâm không có Phật nào cả. Đại lược mà nói có năm loại. Thứ nhất: Biết thể của tâm, thể tánh thanh tịnh, thể cùng Phật đồng nhau. Thứ hai: Biết dụng của tâm, dụng sanh pháp bảo, làm mọi việc mà vẫn hằng tịnh, muôn hoặc đều như như. Thứ ba: Thường giác không ngừng. Giác tâm trước mặt, giác pháp vô tướng. Bốn là: Thường quán thân không tịch, nội ngoại thông đồng. Nhập thân vào trong pháp giới, chưa từng ngăn ngại. Thứ năm: Nắm cái duy nhất không dời đổi, động tịnh thường trụ, hay khiến kẻ học, thấy rõ Phật tánh, sớm vào cửa định. Cái thấy nghe ban ngày, đều là việc ngoài thân còn trong thân thường không tịch. Giữ chuyên nhất không dời là lấy tịnh nhãn không tịch này chú ý tham cứu, chẳng là lúc đêm ngày, chuyên chú bất động, tâm nọ muốn lăng xăng phải mau mau nắm lại. Lấy dây cột chân chim nó, muốn bay thì ghì lại, suốt ngày nhìn chừng không thôi, đương nhiên tâm tự định. Như người học bắn, trước nhắm bắn đại chuẩn, kế đó là nhắm tiểu chuẩn, kế đó nhắm đại đích, kế đó là nhắm tiểu đích, kế đó nhắm một sợi lông, kế đó phá sợi lông làm trăm phần, kế đó nhắm bắn 1/100 của sợi lông, kế đó mũi tên sau ghim mũi tên trước, thẳng băng nằm vững một hàng không để mũi tên nào rơi xuống. Các điều trên để ví dụ người tập luyện đạo, niệm niệm trụ tâm, tâm tâm kế tiếp thau, không tạm gián niệm, chánh niệm bất đoạn, chánh niệm hiện tiền. Lại Kinh chép: “Lấy mũi tên trí huệ bắn ba cửa giải thoát”. Mũi, mũi, mũi giữ nhau, không cho rơi xuống đất. Lại cũng như dùi cây để lấy lửa, nếu lửa chưa phừng lên mà đã ngừng tay, thì tuy mong có lửa, lửa nào có được. Lại như trong nhà có ngọc như ý, muốn cầu gì cũng được nấy, bỗng nhiên làm rơi mất, tiếc nhớ không lúc nào nguôi. Lại như tên độc ghim vào thịt, thân tên tuy rút ra mà mũi tên còn nằm trong đó. Như vậy thì phải chịu đau nhức không lúc nào nguôi được. Niệm niệm tại tâm, tình trạng cũng như thế. Phép bí yếu này không được truyền cho kẻ không ra gì, chẳng phải tiếc sẻn pháp không truyền nhưng chỉ sợ người trước không tin mà rơi vào tội hủy báng pháp, tức phải chọn lựa người, không được cẩu thả đụng ai cũng truyền. Phải cẩn thận, cẩn thận lắm vậy ! Biển pháp tuy vô lượng, tu hành chỉ tại một lời nói, được ý phải quên lời. Một lời thôi cũng không bám mà dùng, từ xưa tới nay vốn không tịch, không sanh không diệt, bình đẳng không hai. Từ xưa tới nay vốn không có, rốt cùng tịch diệt. Từ xưa tới nay, thanh tịnh giải thoát. Chẳng kể đêm ngày, đi đứng nằm ngồi luôn chiếu cố, tức biết được tự thân như bóng trăng trong nước, như ảnh trong gương, như nóng trong ngọn lửa như tiếng vang nơi hang trống. Nếu nói là có, mà sao tìm nơi nào cũng không thấy. Nếu nói là không, thì sờ sờ tại trước mắt đó. Pháp thân chư Phật, đều là như thế. Tức biết rằng tự thân từ vô lượng kiếp đến giờ, rốt ráo chưa từng sanh. Từ nay trở đi, rốt ráo cũng không sanh tử. Nếu mà hay hành được như thế thì đó là chân thật sám hối. Dù ác nghiệp chất chồng từ ngàn kiếp, muôn kiếp, cũng tự tiêu diệt. Duy trừ nghi hoặc rồi mà cũng không thể sanh lòng tin, người mà như thế thì không thể ngộ nhập. Nếu hành giả sanh lòng tin y theo đây tu hành thì không ai không được nhập vào chánh lý vô sanh. Lại nữa, nếu tâm duyên dị cảnh, lúc tâm duyên sanh chẳng từ mười phương đến, mà đi cũng chẳng có chỗ đi. Thường quán theo duyên, giác quán vọng thức tư tưởng tạp niệm loạn tâm không dấy, tức là đắc vô trụ. Nếu đã trụ tâm thì không còn duyên lự, tùy phần tịch định, tức được tùy phần ngừng các phiền não, do đó mà không tạo danh mới, được giải thoát. Nếu tâm kết phiền nhiệt, muôn loạn hôn trầm, cũng theo đó mà tan hết thì được thư thích, từ từ an ổn, khiến được tiện nghi, tâm tự an tịnh, chỉ cần tinh tấn mại mẽ như cứu lửa cháy đầu vậy, không được biếng trễ mà phải gắng sức, gắng sức. Mỗi khi tâm tánh tịch diệt thì tâm Thánh lộ rõ. Tánh tuy vô hình nhưng chí tiết luôn có mặt. U minh không cạn kiệt, thường tồn tại sự trong sáng, đó gọi là Phật tánh. Kẻ thấy Phật tánh, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, gọi là người xuất thế. Do đó Kinh Duy Ma nói: “Bỗng nhiên quay trở về gốc tâm”, lời ấy đáng tin thay. Kẻ ngộ Phật tánh, gọi là Bồ-tát nhân, cũng gọi là người ngộ đạo, cũng gọi là người thức lý, cũng gọi là người đắc tánh. Do đó mà Kinh nói: “Một câu liễm thần, bao kiếp không hoại”. Đây là phương tiện đầu tiên của người mới học cho nên biết rằng tu đạo có phương tiện. Đó là chỗ hiểu của Thánh tâm. Phàm phép xả thân, trước định cái tâm không không, khiến tâm cảnh tịch tịnh, ý tưởng vắng lặng sâu xa, khiến tâm không dời đổi. Tâm tánh tịch tịnh, tức chặt đứt phan duyên, xa xăm mịt mờ, ngưng tịnh tâm lự, lặng bặt vui vẻ biết bao, hốt nhiên khí dứt, trụ trong Pháp thân thanh tịnh, không thọ thân đời sau nữa. Nếu khởi tâm đánh mất chánh niệm, chẳng khỏi thọ sanh. Đó tức là trước định tâm cảnh, là phép phải như thế. Ấy là tác pháp. Pháp bổn không pháp, pháp không pháp, mới gọi là pháp. Pháp thì vô tác, pháp vô tác ấy là pháp chân thật. Do đó Kinh nói: “Không, vô tác, vô nguyện, vô tướng là giải thoát chân thật”. Do nghĩa đó nên pháp chân thật thì vô tác. Pháp xả thân tức giả tưởng thân hoành khán, tâm cảnh minh địa, tức dùng tinh thần sáng suốt thôi thúc, đòi hỏi.

Đại sư Tín nói:

Trang Tử nói: “Trời đất là một ngón tay, vạn vật là một con bọ ngựa”. Kinh Pháp Cú chép: “Một cũng chẳng là một, chỉ là muốn phá ý niệm về số mà thôi”, kẻ trí cạn nghe nói cho một là một, do đó mà Trang Tử hãy còn vướng về một vậy. Lão Tử nói: “Xa xăm thay, mịt mờ thay, bên trong có tinh túy. Bên ngoài tuy mất tướng mà bên trong còn tồn tâm”. Hoa Nghiêm nói: “Không vướng nhị pháp, vì không có một, hai”. Kinh Duy Ma nói: “Tâm không ở trong mà cũng không ở ngoài không ở trung gian, tức là chứng”. Cho nên biết Lão Tử vướng ở hiểu biết về tinh túy vậy. Kinh Niết-bàn chép: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Nói như thế thì tường vách, ngói, đá, nếu không phải Phật tánh, làm sao có thể thuyết pháp. Lại Thiên Thân Luận chép: “Ứng hóa không phải chân Phật, cũng không phải người thuyết pháp”.

[Theo Lăng Già Sư Tư Ký]


NGUỒN

🔗


GHI CHÚ

📂 Danh sách trống