❓ Có người lại hỏi: Người học tập Phật pháp sao không ở chốn thành thị, tại nơi mọi người tụ tập, mà phải cư trú chốn núi non ?
📣 Sư (Hoằng Nhẫn) đáp:
Cây gỗ dùng để cất nhà lớn, bổn lai phải xuất xứ từ sơn cốc âm u, không thể ở tại nơi người tụ hội mà trưởng thành. Bởi vì xa nhân quần thì không bị dao búa chặt róc tổn thương, có thể từ từ lớn lên thành đại thọ, ngày sau mới có thể dùng làm rường cột. Do đó mà người học tập Phật pháp nên ở tại hang hốc mà di dưỡng tinh thần, xa lánh trần thế phiền não huyên náo, nên tại chôn núi sâu tu dưỡng tính tình, lâu dài từ biệt tạp nhiễm của thế tục. Trước mắt không có tục vật, trong tâm tự nhiên an ninh. Việc học Thiền giống như trồng cây, khiến cho ra hoa kết quả.
Hoằng Nhẫn đại sư lúc ấy thường an nhiên ngồi nghiêm không dùng chữ nghĩa soạn thành sách, chỉ dùng miệng nói thiền lý, điềm nhiên dạy dỗ người khác.
(Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 1)
Tổ thứ năm Hoằng Nhẫn Đại Sư, người Kỳ Châu Hoàng Mai, lúc đầu Tổ là đạo nhân trồng tùng tại núi Phá Đầu.
❓ Ngài có lần bẩm với Tứ Tổ: Con có thể nghe được đạo pháp không ?
📣 Tổ nói: Ông đã già lão, nếu có nghe há có thể truyền bá rộng rãi ư ? Nếu như tái sinh được thì ta sẽ chờ ông.
Ngài nghe xong bèn ra đi, đến bờ sông thấy một cô gái đang giặt đồ.
❓ Hỏi: Tôi xin nghỉ nhờ ở cô được không ?
📣 Cô gái nói: Tôi còn có cha mẹ, ông đến hỏi xem.
- Được, tôi xin đi ngay.
Thấy cô gái gật đầu bằng lòng, ngài liền chống gậy trở đi.
Cô gái là con gái út nhà họ Châu. Sau khi trở về không lâu thì mang thai. Cha mẹ tức giận phải đuổi đi. Cô gái không nơi nương tựa, ban ngày đi phụ đánh sợi mướn, tối đến ngủ nhờ dưới thềm xưởng. Sau đó sinh ra đứa con trai, cho là điềm không may nên quăng xuống sông. Hôm sau ra xem thấy đứa bé nổi trôi ngược dòng nước, trông rất tươi tắn khỏe mạnh, cô hết sức kinh ngạc nên lại bế lấy.
Lớn lên thành trẻ con, đứa bé theo mẹ xin ăn, mọi người trong xóm gọi là thằng nhỏ không họ. Gặp một trí giả, ông ta than rằng:
- Đứa bé này chỉ kém Như Lai có bảy tướng thôi.
Sau đó gặp Đạo Tín Đại Sư và đắc Pháp. Ngài nối giòng truyền bá đạo pháp tại núi Phá Đầu.
Triều Đường, Thiền sư ở chùa U Cư núi Song Phong Kỳ Châu tên húy Hoằng Nhẫn, là người kế thừa thiền sư Đạo Tín. Nhẫn đại sư truyền pháp nhiệm mầu, được người đời tôn kính gọi là pháp môn Đông Sơn. Lại vì đạo tục ở Kinh, Lạc đều ngợi khen Đông Sơn Kỳ Châu có nhiều người đắc quả, nên mới thành tên pháp môn Đông Sơn.
❓ Lại có người hỏi: Kẻ học đạo tại sao không nên ở xóm làng thành thị mà phải trên núi ?
📣 Ngài đáp:
Cây gỗ để dựng nhà lớn, vốn từ rừng sâu mà ra chớ không có nơi nhân gian. Do ở xa con người nên không bị đao búa chặt đẽo thương tổn. Sau khi thảy thảy đã thành cây to mới kham nổi dùng làm rường cột, do đó mới biết rằng gởi thân ở hang sâu là xa lánh bụi bặm. Còn dưỡng tánh nơi núi cao thì tránh xa thói tục. Trước mắt không có vật gì thì tâm tự an ninh. Từ đó cây đạo trổ bông, rừng Thiền ra trái vậy.
Đại sư Hoằng Nhẫn, nghiêm trang tĩnh tọa, không viết sách vở. Miệng nói huyền lý, mặc nhiên truyền trao cho người.
- Chốn nhân gian còn truyền lại một quyển, người đời cho là do Nhẫn đại sư tuyên thuyết, đấy là lời nói ngoa vậy. Theo Hòa thượng ở Thọ Sơn An châu tên húy là Trách soạn sách “Lăng Già Nhân Pháp Chí” chép thì Nhẫn đại sư họ Chu, ông cha là người Tầm Dương đến ngụ ở huyện Hoàng Mai. Cha mất sớm, sư thờ mẹ chí hiếu. Bảy tuổi thờ Đại sư Đạo Tín. Từ khi xuất gia, sư trụ ở chùa U Cư, siêng năng học hỏi, hoài bảo trinh thuần, ngậm kín miệng không nói chuyện thị phi của người, dụng tâm chốn sắc không, lao lực để cúng dường, bạn đạo đều nhờ chỗ đầy đủ của sư. Điều phục tâm để nhằm đầy đủ oai nghi, sư riêng rành quán chiếu, đi đứng nằm ngồi đều là đạo trường. Tam nghiệp đều là Phật ứng tiếp hàng ngàn người, chẳng chiếu theo văn mà nghĩa phù hợp huyền chỉ. Lúc bấy giờ có Thiền sư Thần Tú ở Kinh Châu, vâng làm cao đồ, tự nhận phó chúc.
Năm đầu niên hiệu Hàm Đình, Huyền Trách đến núi Song Phong, tuân thừa dạy dỗ. Vâng theo sai bảo, trước sau hết năm năm, ba lần tới lui hầu hạ, đạo tục đều tề tựu, chung sức cúng dường, mong chờ khai thị nghĩa kinh Lăng Già rằng: “Kinh này chỉ có tâm chứng mới biết, chẳng phải chữ nghĩa chú giải được”. Tháng hai niên hiệu Hàm Hanh thứ năm, Sư bảo nhóm Huyền Trách xây tháp, cùng các môn nhơn vận chuyển đá vuông ở thiên nhiên, chồng chất lên đẹp đẽ to lớn. Ngày mùng 4 tháng 10 sư hỏi tháp xong chưa. Môn nhân đáp xong rồi, sư liền nói:
- Không thể tịch cùng ngày với Phật nhập Niết-bàn.
Bèn lấy tháp làm chùa. Lại nói:
- Như ta đây một đời dạy biết bao nhiêu người, kẻ giỏi giờ đã mất hết. Sau này truyền đạo ta, chỉ có mười người thôi. Ta cùng Thần Tú, luận kinh Lăng Già, huyền lý đều thông suốt, tất lợi ích rất nhiều.
Trí Sân ở Tự châu, Lưu chủ bạ ở núi Bạch Tòng đều gồm đủ văn tính. Tuệ Tạng ở Tân Châu. Huyền Ước ở Tùy Châu, tiếc không thấy đâu. Lão An ở Tung Sơn, có đạo hạnh thâm sâu. Pháp Như ở Lộ Châu. Huệ Năng ở Thiều Châu, tăng nước Cao Ly Trí Đức ở Dương Châu, đều có thể làm thầy người nhưng mà mỗi nhân vật ở một phương. Nghĩa Phương ở Việt Châu, có khả năng giảng nói. Lại nói với Huyền Trách rằng:
- Ông gồm đủ hạnh, nên tự khéo bảo trọng. Sau khi ta tịch, ông cùng Thần Tú, nên làm cho Phật nhựt rạng ngời trở lại. Tâm chứng trùng chiếu.
Ngày 16 tháng đó hỏi:
- Ông nay đã hiểu tâm ta chưa ?
Huyền Trách kính cẩn bạch:
- Không biết.
Đại sư liền dùng tay chỉ mười phương, nhất nhất thuật cách chứng tâm xong, trong ngày 16, ngồi xây mặt về hướng Nam, nhắm mắt qua đời, hưởng thọ 74 tuổi. Di thể chôn trong tháp ở núi Phùng Mậu, đến nay hãy còn như xưa. Lư Tử Sản ở Phạm Dương, họa hình sư trên vách chùa An Châu. Binh bộ thượng thư Lý Huỳnh Tú ở Lũng Tây làm bài tán rằng: “Ôi thôi thượng nhân. Khế ngộ chân đạo, Nhiếp tâm tuyệt trí, cao ngộ thông thần, chứng quả vô sanh, Hiện diệt đồng trần. Nay đã đổi thay. Bao giờ gần gũi”.
Đại sư nói:
- Có một căn nhà, bên trong toàn cứt đái cỏ rác dơ bẩn, thì đó là vật gì ?
Lại nói:
- Quét dọn mọi thứ cứt đái, cỏ rác dơ bẩn, không thứ gì còn, thì đó là vật gì ?
Lại nói:
- Chính lúc ông chứng đại Pháp thân, thì ai kiến chứng ?
Lại nói:
- Có 32 tướng tốt của Phật. Bình nước có 32 tướng tốt đó không ? Cây lộ trụ cũng có 32 tướng tốt đó không ? Cho đến đất, cây, ngói, đá cũng có 32 tướng tốt đó không ? Nếu đem lửa đốt, dài ngắn gì đốt quách thì thử hỏi cái gì là dài, cái gì là ngắn chớ ? Lại thấy người đốt đèn, tạo tác mọi vật đều hỏi: “Kẻ đó tạo mộng hay tạo thật ?”. Hoặc có khi nói không tạo, không tác thì mọi vật đều Đại Bát Niết-bàn.
Lại nói:
- Hiểu rõ sanh tức là pháp vô sanh, chẳng phải ly sanh mới có pháp vô sanh. Ngài Long Thọ nói: “Chư pháp không tự sanh mà cũng chẳng từ cái khác sanh ra, chẳng cộng sanh mà cũng chẳng không có nhân, cho nên biết vô sanh”. Nếu các pháp theo duyên sanh thì là không có tự tánh. Mà nếu không có tự tánh thì làm sau có pháp ?
Lại nói:
- Hư không chẳng ở giữa và hai bên. Thân chư Phật cũng thế. Ta ấn khả ông thấy rỗ chỗ Phật tánh là thế.
Lại nói:
- Trong lúc ông đang tọa Thiền trong chùa, thì ở dưới tàng cây trong rừng núi cũng có thân ông tọa thiền không ? Tất cả đất, cây, ngói, đá cũng có thể tọa thiền không ? Đất cây ngói đá cũng có thể thấy sắc nghe tiếng, mặc y, ôm bát không ? Kinh Lăng Già nói: “Cảnh giới Pháp thân là đây vậy”.
[Theo Lăng Già Sư Tư Ký]