Quy nguyên thật tế môn
16. Quy nguyên thật tế môn (Trở về nguồn thật tế)
Phần trên đã trình bày không phải là bản ý của tôi, bởi nghiên cứu tất cả Thánh điển, xem đọc các loại sách vở, nêu việc xưa, chứng nghiệm việc nay, cộng với việc thấy nghe chính xác mới thấy phần nhiều bốn chúng đều dụng tâm sai khác, kiến giải thiên lệch, tà chính không biết, đúng sai chẳng phân. Than ôi! Sinh nhằm đời mạt pháp, cách Phật rất xa, không hiểu trước mắt vạn duyên sai biệt. Do đó chỉ riêng người thực hành công phu, tuy tham câu thoại đầu khác nhau, nhưng chỗ dụng tâm khởi nghi không khác, tất cả thoại đầu cần nên khởi nghi. Thế nên cổ đức nói: “Không nghi, không ngộ”, trước kia đã chẳng nói như thế sao? Chưa ai không nghi mà thành tựu được việc lớn. Vì thế cần đầy đủ chính tri kiến để chẳng bao giờ rơi vào trong hang ổ chồn hoang, mất đi một đời. Đâu chỉ dừng lại một đời mà đến trăm nghìn vạn đời, chủng tử bồ-đề cũng không nảy nầm. Chúng ta ở địa vị người học không nỡ thấy nghe việc này. Giữa hai đường, nên quyết nghi trừ mê hoặc, trước nên đem những lời cảnh chúng, những cơ duyên thí dụ trong kinh giáo và ngữ lục của Phật, tổ cùng chỗ tôi thực hành công phu đắc lực, mỗi mỗi đều đưa ra cho người học đời sau thấy. Như ngay một lời, tâm địa khai thông; nơi một câu, tánh thiên [^27] bừng sáng, mới không phụ chí nguyện tham học một đời. Nếu tâm địa không mở thì tánh thiên không sáng chói, mỗi mỗi nắm chặt đầu dây, rồi như con mèo vọt thẳng. Bỗng nhiên như lại gặp bạn lành chỉ ra nhân trước. Ngay một niệm khế hợp, ngày tiêu muôn lượng vàng ròng. Ngay lúc đó, ba ác đạo đồng chứng Bồ-đề, bốn ân trọng cùng lúc đền 📢.
Trí Triệt tôi cũng chỉ là đồng học, mong các bậc trí quan tâm dìu dắt. Thệ rằng ở đời sau ở chỗ nào cũng đồng là bạn pháp.
Kệ rằng:
Xưa nay hiếu kính, lý sự viên dung,
Thể dụng song tu, thầm giúp Vương hóa [^28]
Lời dạy Ta-la [^29], tứ chúng đều tuân
Pháp môn sám hối, hạnh nguyện Bồ-đề
Nhớ xưa xuất trần nhờ huynh răn nhắc
Lại ngăn biếng trễ, dừng cảnh dứt mê
Xưa nay hiếu kính, lý sự viên dung
Ở trên đã trình bày thứ tự động tịnh của công phu tham thoại đầu, và trình bày chi tiết về sự hoạt động hoặc nghỉ ngơi của tứ chúng mới vào đạo. Dưới đây sẽ trình bày cho người học về căn bản, đầu cuối, nguồn gốc, chỗ đến.
Thế nào là căn bản? Năm giới là căn bản. Thế nào là đầu cuối? Tâm lâu dài không thay đổi là đầu cuối. Thế nào là nguồn gốc? Việc từ kiếp Không trở về trước [^30] là nguồn gốc. Thế nào là chỗ đến? Nơi một việc lớn này dừng là chỗ đến. Người học muốn biết rõ nguồn gốc và chỗ đến của một việc lớn này thì nên kiên trì giữ gìn năm giới, tinh cần tu tập mười thiện, ý không dong ruổi ngoại cảnh, tâm không tán loạn, dù động hay tịnh, nhàn rỗi hay bận rộn, luôn luôn giữ chính niệm, mới có chút phần tương ưng với công phu nêu trên. Ở trên đã nói bốn chúng là tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Trước trình bày hai việc của người tại gia:
1/ Đứng đầu là hiếu thuận cha mẹ, kính trọng, lục thân [^31] quyến thuộc nội ngoại.
2/ Phải biết thứ bậc cao thấp, quí tiện trong phố phường, hàng xóm; khiêm nhường, nhân từ, trên dưới hòa kính.
Đây là tấm lòng người con hiếu thuận đối với cha mẹ. Người đời thường nói đến hai chữ hiếu thuận này, mà không biết lý đó rất ưu việt, rất rộng lớn.
Đối với thân thì cung cấp ăn uống, y phục, giường chiếu, thuốc men, còn đối với tâm thì phải kính trọng, phụng dưỡng, hầu hạ, đó là hiếu.
Thuận là tùy thuận nét mặt và ý thích hợp lý của cha mẹ, làm những việc không trái ý cha mẹ. Nếu có tâm hiếu thuận như thế, thì trên dưới hòa kính và cha mẹ an lòng.
Đây là đạo hiếu kính tốt đẹp ở thế gian, cũng đâu có khác lẽ trời? Nếu lại thêm trì trai, giữ giới, niệm Phật, tham thiền, cầu pháp Đại thừa để liễu sinh thoát tử, thì thật là đại hiếu, đại thiện, thuộc về đạo xuất thế gian. Bốn ân đã báo 📢, ba cõi đã cứu giúp thì lo gì không báo 📢 công ơn cha mẹ một đời sao? Dưới ✅ Đây giải thích năm giới phối hợp với năm thường. (Ngũ thường của Nho giáo)
①. Không sát sinh nên gọi là nhân
②. Không trộm cắp nên gọi là nghĩa
③. Không tà dâm nên gọi là lễ
④. Không uống rượu nên gọi là trí
⑤. Không vọng ngữ nên gọi là tín.
Bốn chúng đã muốn niệm Phật, tham thiền, nên kiên trì giữ gìn năm giới này. Về giới tà dâm, trong giáo lý của Đức Phật cho rằng hai chúng tại gia không thể giữ gìn trọn vẹn, nên chỉ nói giới tà dâm, để tùy thuận tu hành.
Kinh Lăng-nghiêm ghi: “Người đời không cầu xuất gia, không thể xả bỏ ân ái đối với thê thiếp, nhưng tâm không nên khởi tà dâm. Nếu tâm lặng trong sáng tỏ, khi mạng chung được sinh về cõi trời Tứ Thiên Vương. Nếu có thể giữ gìn trọn vẹn, không phạm, tinh tấn niệm Phật, khi lâm chung chắc chắn sẽ hóa sinh trong hoa sen ở cõi Cực Lạc, quyết không nghi ngờ”. Giới dâm dục này hai chúng xuất gia không dám trái phạm. Những người xuất gia thoát ly thế tục, đầu tròn áo vuông, nhập thánh siêu phàm, gọi là Tăng bảo. Nói là “bảo”, bởi vì như châu ma-ni trong sáng, khiến người thấy thì mắt thanh tịnh, nghe thì tai thanh tịnh, nói đến thì lưỡi thanh tịnh, chạm đến thì thân thanh tịnh, còn gọi là Phúc điền tăng. Nếu có người tán thán, cúng dường thì được phúc báu vô lượng. Thí như một hạt giống gieo xuống ruộng tốt, thì thu hoạch vạn hạt, cho nên Tăng bảo là ruộng phúc tốt cho chúng sinh. Do đó, người xuất gia, khởi tâm động niệm liền gọi là phá giới, kể cả giới tà dâm.
Năm giới đứng đầu là sát sinh, còn năm thường đứng đầu là nhân, cho nên không sát sinh có thể gọi là nhân. Nhân là từ, là nhẫn nại, là bác ái, thích sự sống, ghét sự chết, cho nên nói: “Thấy nó sống không nỡ thấy nó chết, nghe tiếng nó không nỡ ăn thịt nó”. Thế nên bậc quân tử xa rời nhà bếp là chỗ sát sinh. Đây là lời răn về nhân.
Nghĩa là lễ nghi, bình đẳng, đại dụng. Việc thích hợp, nên làm thì làm; vật đáng dùng, nên lấy thì lấy.
Việc bất nghĩa thì không làm, vật phi nghĩa thì không lấy, cho nên bậc quân tử thấy lợi thì nghĩ đến nghĩa.
Vào thời của Khổng Tử, người ta đi trên đường không lượm của rơi. Khổng Tử nói: “Bất nghĩa mà giàu, đối với ta như mây trôi”. Đây là lời răn về nghĩa.
Lễ là trung, là noi theo, là đại lễ. Gia Ngữ nói: “Xưa ở nước Lỗ, có một người nam sống độc thân, người góa phụ ở gần cũng sống một mình, vào một đêm gió mưa bão bùng, ngôi nhà người góa phụ sụp đổ, bà ta chạy đến xin trú nhờ nhà người nam.
Người kia đóng cửa không cho vào, người góa phụ oán trách: “Sao ông bất nhân không cho tôi vào?”. Người kia trả lời: “Ta nghe rằng nam nữ chưa tới 60 tuổi không được ở chung, nay cô còn trẻ, ta cũng còn trẻ. Đó là lý do ta không cho vào”. Người góa phụ so sánh: “Sao ông không bằng Liễu Hạ Huệ vậy?”. Người kia nói: “Liễu Hạ Huệ thì được, còn ta thì không được. Ta muốn lấy cái không thể của ta mà học cái có thể của Liễu Hạ Huệ”. Khổng Tử nghe lời đó nói: “Hay thay! Người muốn học theo Liễu Hạ Huệ, chưa có ai giống như vậy”. Thế thì đâu có việc tà dâm! Đây là lời răn về Lễ.
Trí là huệ, là minh, là cao siêu; tri là hiểu biết, giống như mặt trời vậy. Người có hiểu biết, như trên hư không có mặt trời.
Dưới chữ tri (知), viết chữ nhật (日) là chữ trí (智). Mặt trời trí huệ trên không, soi sáng tất cả chỗ tối tăm. Vì thế, do uống rượu làm hôn loạn chân tánh thì tâm trí huệ không tỏ. Mây che thì mặt trời trí huệ không sáng.
Cho nên, kinh nói: “Uống rượu là phạm 36 trường hợp mất công đức”. Cho nên, trong kinh Thư cũng nghiêm cấm uống rượu. Hi Hòa [^32] đam mê rượu, làm nhục thân bại đức, cho nên vua Vũ ghét rượu ngon mà thích nghe điều thiện.
Lương Võ Đế, 46 năm không nếm ngũ tân [^33] và rượu nồng. Vua cho rằng: “Không uống rượu thì không bị hôn mê làm chướng”.
Khổng Tử nói: “Không bị rượu làm khốn đốn”. Tất cả đều cho rượu làm mờ tâm, loạn tánh. Các bậc thánh đều ngăn uống rượu. Đây là lời răn về trí.
Tín là thành, thật, chân. Xưa có hai bậc hiền sĩ họ Phạm và họ Trương, trên đường đi xa nghìn dặm, ước hẹn với nhau nửa năm gặp lại.
Họ Phạm nói: “Ngày 15 tháng 9 sẽ đến hầu chuyện”. Họ Trương chuẩn bị tiệc đãi khách. Đúng ngày họ Phạm đến, là bậc quân tử chân thành, nên không nói dối. Đây là lời răn về tín.
Lời răn về năm thường là điều thiện để sửa trị thế gian, thuận theo lẽ trời mà làm, giữ đạo thiện đến chết. Nếu có chút sai lầm thì tán thân mất đức, không có đạo thiện xứng đáng để làm gương cho người đời sau. Huống gì trong giáo pháp của ta, bốn chúng đều niệm Phật, tham thiền, muốn cầu diệu đạo vô thượng! Đó là đại thiện, đại nhân duyên xuất thế gian, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, đến bờ niết-bàn đại an lạc. Nếu người không tuân thủ năm giới này mà muốn thoát luân hồi đến bờ niết-bàn thì không thể nào được.