TRÍCH THIỀN SỬ TRUNG QUỐC
Phật giáo du nhập Trung Quốc
Theo sách “Phật tổ thống kỷ”. Tướng Hoắc Khứ Bệnh (霍去病) nhà Tiền Hán trong cuộc chinh phạt quân Hung Nô (120-121 tr CN) “tìm thấy một tượng người bằng vàng đem về dâng Hán Vũ Đế, nhà vua cho là tượng bậc Thánh đem thờ trong cung Cam Tuyền, sớm tối đốt hương lễ kính”
Hiện tại các nhà nghiên cứu đã xác định rõ bức tượng vàng này là biểu tượng của một vị thần tộc Hung Nô. Cho nên, thuyết này cũng không đủ cơ sở để chứng minh niên đại du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc.
Thuyết Hán Minh Đế cầu pháp được tìm thấy trong sách Hậu Hán thư. Sách này chép rằng niên hiệu Vĩnh Bình thứ tám (65 CN), vua Minh Đế nhà Hậu Hán ra chiếu chỉ người phạm tội lẫn trốn phải dâng một số tơ lụa tốt để chuộc tội. Sở Vương Anh, huynh đệ của Minh Đế, đóng đô ở Bành Thành, tự xét rằng trong nhà có người phạm tội nên dâng ba mươi bốn xấp lụa để chuộc tội cho người thân. Minh Đế xem trường hợp này không đáng xử tội với lý do: “ Sở Vương tụng lời lẽ vi diệu của Hoàng Lão và sùng thượng đức nhân từ của Phù Đồ (chỉ Phật giáo)” (楚王誦黃老之微言尚浮屠之仁祠) nên hẳn nhiên là người tốt, cho nên vua đem tơ lụa hoàn trả lại cho Sở Vương.
Sau đó, Vương làm lễ sám hối, ăn chay ba tháng và tổ chức cơm chay thịnh soạn cúng dường Tăng môn (桑門) và cư sĩ (伊蒲塞 y bồ tắc Upāsaka sau phiên âm là 优婆塞 ưu bà tắc = cư sĩ nam). Chiếu văn của Minh Đế hiện nay vẫn còn. Nhưng câu hỏi về thầy của Sở Vương Anh là ai vẫn còn là một nghi vấn. Văn kiện lịch sử này là một chứng cứ xác thực chứng minh sự có mặt của Phật giáo vào thời Hậu Hán.
Sau đó Hán Minh Đế nằm mơ thấy người vàng tỏa hào quang, vua bèn sai người đi Tây Vực để tìm. Năm 67CN (niên hiệu Vĩnh Bình thứ 10), sứ giả mang kinh Phật từ Tây Vực về cùng hai vị hòa thượng Ca-diếp-ma-đằng Kāśyapa Mātaṇga và Trúc-pháp-lan Dharmaratna mà sứ giả đã gặp trên đường đi khi các vị này đi từ Đại Nguyệt Chi (nay thuộc Tân Cương) mang kinh Phật đi về phía Đông. Vua cho xây dựng chùa Bạch Mã (ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo TQ) tại kinh đô Trường An cho hai vị ở và dịch kinh.
Quyển kinh Phật đầu tiên được dịch ra tiếng Trung là Tứ Thập Nhị Chương Kinh (Sutra of 42 Chapters). Đây là bản dịch sơ khai nhằm giới thiệu các giáo lý cơ bản của Phật giáo đến với TQ do Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan thực hiện.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam sớm hơn TQ khoảng hai thế kỷ do đi bằng đường biển dễ đi hơn. Vua A Dục (Ashoka Đại Đế) trị vì Ấn Độ từ năm 273 đến 232 trước CN là một trong những vị hoàng đế kiệt xuất trong lịch sử Ấn Độ.
Vua A Dục (Asoka) đã cử 9 phái đoàn đi truyền giáo sau Đại hội kết tập kinh điển lần thứ III (do Ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu chủ trì) đến nhiều vùng thuộc Ấn Độ và các quốc gia lân cận như Tích Lan (Sri Lanka), Hy Lạp, Miến Điện vùng Đông Nam Á, và vùng Himalaya.
Đoàn của Sona và Uttara: Truyền giáo tại Suvannabhumi (vùng Đông Nam Á, có thể là Miến Điện). Trong phái đoàn này có thể có một vị đã đến VN lúc đó gọi là nước Văn Lang dưới triều đại Hùng Vương cuối cùng thứ 18, đến bằng đường biển có thể qua một cảng ở Miền Trung VN. Cảng Óc Eo ở VN thời còn nước Phù Nam có di tích của đồng tiền La Mã chứng tỏ đây là con đường tơ lụa trên biển mà TQ giao thương với Ấn Độ và cả Châu Âu.
Và tín đồ Phật giáo đầu tiên người VN chính là Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa của vua Hùng thứ 18. Sư Phật Quang người Ấn Độ đã truyền tam quy ngũ giới cho họ tại núi Quỳnh Viên (gần cửa biến Sót giáp với Chiêm Thành) có thể vào khoảng năm 240 trước CN. (Triều đại Hùng Vương thứ 18 diệt vong vào năm 208 trước CN).
Nếu sư Phật Quang không nằm trong phái đoàn của Sona và Uttara thì là một nhà truyền giáo đạo Phật đi theo các nhà thương buôn đường biển đến nước Văn Lang vào giai đoán cuối của thời đại Hùng Vương.
Thiền du nhập Trung Quốc
Thiền du nhập TQ cùng với Bồ Đề Đạt Ma (470-543CN), ông là Tổ thứ 28 và cuối cùng của Thiền tông Ấn Độ và trở thành Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc. Bồ-đề-đạt-ma là đệ tử và truyền nhân của Tổ thứ 27 Thiền Ấn Độ, Bát-nhã-đa-la (sa. prajñādhāra). Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề-đạt-ma đi thuyền qua Miền Nam Trung Quốc năm 520. Sau khi yết kiến Lương Vũ Đế vào năm 527CN nhưng không đủ cơ duyên để tiến hành truyền pháp. Cuộc gặp gỡ giữa Bồ-đề-đạt-ma và Lương Vũ Đế được các ngữ lục ghi lại như sau:
Là một người thành tâm phụng sự đạo Phật, Lương Vũ Đế đã cho xây trong nước mình nhiều chùa chiền, bảo tháp. Vũ Đế hỏi nhà sư Ấn Độ: “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?”
Đạt Ma đáp: “Không có công đức.”
– “Tại sao không có công đức?”
– “Bởi vì những việc vua làm là nhân “hữu lậu”, chỉ có những quả nhỏ trong vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật.”
– “Vậy công đức chân thật là gì?”
Sư đáp: “Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được.”
Vua lại hỏi: “Nghĩa tối cao của thánh đế là gì?”
– “Một khi tỉnh rõ, thông suốt rồi thì không có gì là thánh.”
– “Ai đang đối diện với trẫm đây?”
– “Không biết.” Đó là những lời khai thị về yếu tính Phật pháp rất rõ ràng, nhưng Vũ Đế không lĩnh hội được. Sau cuộc gặp với Lương Vũ Đế cho Bồ-đề-đạt-ma thấy rõ là chưa đến thời truyền pháp tại Trung Quốc. Nhận thấy Lương Vũ Đế chưa đủ trí tuệ để truyền bá thiền pháp. Ông từ giã nhà vua. Sau đó Bồ-đề-đạt-ma đến Lạc Dương, sư vượt Trường Giang bằng một nhánh cây (nhánh cây vượt sông về sau trở thành một đề tài của hội họa Thiền), để đến chùa Thiếu Lâm ở Bắc Trung Quốc.
Người ta không biết rõ sư mất tại đó hay rời Thiếu Lâm sau khi truyền pháp cho Huệ Khả. Theo một truyền thuyết thì Bồ-đề-đạt-ma về lại Ấn Độ sau chín năm lưu lại Trung Quốc. Ông ở tại chùa Thiếu Lâm trên rặng Tung Sơn. Nơi đây, Bồ-đề-đạt-ma ngồi thiền định, 9 năm quay mặt vào vách đá không nói chuyện. Cũng tại đây, Huệ Khả (487–593CN) đã gặp Bồ-đề-đạt-ma để được truyền pháp với một câu chuyện phi thường về việc quyết tâm học đạo của mình.
惠 可 斷 臂 — Huệ Khả đoạn tý. Huệ Khả chặt cánh tay
Sơ Tổ Ðạt Ma nhân có một vị tăng tên Thần Quang đến tham vấn, Tổ ngồi nghiêm trang. Quang chẳng nghe dạy bảo điều chi, cố gắng đứng ngoài sân chờ đợi. Gần đến sáng, tuyết rơi ngập đến gối của Thần Quang. Tổ thương xót mới hỏi:
– Ngươi đứng trong tuyết rất lâu, ý muốn cầu việc gì?
Sư rơi nước mắt nói:
– Ngưỡng mong Thầy từ bi mở cửa cam lộ, rộng độ quần sinh.
Tổ nói:
– Diệu đạo vô thượng của chư Phật, phải là người nhiều kiếp siêng năng hết sức, làm được những cái khó làm mới đạt được, há có thể đem tiểu đức, tiểu trí, khinh tâm, mạn tâm, để cầu đạo chân thừa ư?
Sư nghe xong, tự lấy dao bén chặt đứt cánh tay trái của mình dâng lên Tổ rồi nói:
– Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?
Tổ đáp:
– Pháp ấn của chư Phật chẳng phải từ người khác mà được.
Quang nói:
– Tâm con chưa an, xin Thầy an tâm cho con.
– Ðem tâm ra đây, ta an cho.
– Con tìm tâm không được.
– Ta an tâm cho ngươi rồi đó!
Tổ lại dạy:
– Ngươi chỉ cần ngoài dứt các duyên, trong không nghĩ tưởng, tâm như tường vách khả dĩ vào đạo.
(Theo: Hội Nguyên, quyển 1.)
Theo một truyền thuyết thì Bồ-đề-đạt-ma về lại Ấn Độ sau chín năm lưu lại Trung Quốc. Sư có ý muốn hồi hương, trước khi về, gọi đệ tử trình bày sở đắc: “Thời khắc ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình“.
Đạo Phó, Ni Tổng Trì, Đạo Dục lần lượt trình bày cái thấy của mình và đều được chứng nhận. Cuối cùng, đến phiên Huệ Khả. Huệ Khả lễ bái sư rồi đứng ngay một chỗ, không bạch không nói gì cả. sư bảo: “Ngươi đã được phần tuỷ của ta.“
Rồi ngó Huệ Khả, sư nói tiếp: “Xưa Như Lai trao ‘Chánh pháp nhãn tạng’ cho Bồ tát Ca Diếp, từ Ca Diếp chánh pháp được liên tục truyền đến ta. Ta nay trao lại cho ngươi; nhà ngươi khá nắm giữ, cùng với áo cà sa để làm vật tin. Mỗi thứ tiêu biểu cho một việc, ngươi nên khá biết.”
Huệ Khả bạch: “Thỉnh sư chỉ bảo cho.“
Sư nói: “Bên trong, truyền pháp ấn để khế chứng tâm; bên ngoài, trao cà sa để định tông chỉ. Đời sau, trong cảnh cạnh tranh, nếu có người hỏi ngươi con cái nhà ai, bằng vào đâu mà nói đắc pháp, lấy gì chứng minh, thì ngươi đưa bài kệ của ta và áo cà sa ra làm bằng. Hai trăm năm sau khi ta nhập diệt, việc truyền y dừng lại. Chừng ấy, đâu đâu người hiểu đạo và nói lý rất nhiều, còn người hành đạo và thông lý rất ít, vậy ngươi nên cố xiển dương đạo pháp, đừng khinh nhờn những người chưa ngộ. Bây giờ hãy nghe bài kệ của ta:“
吾本來玆土
傳法救迷情
一華開五葉
結果自然成
Ngô bản lai tư thổ
Truyền pháp cứu mê tình.
Nhất hoa khai ngũ diệp
Kết quả tự nhiên thành.
Ta xưa đến đất này,
Truyền pháp cứu người mê.
Một hoa nở năm cánh,
Kết quả tự nhiên thành.
Sư lại nói thêm: “Ta có bộ kinh Lăng Già bốn cuốn, nay cũng giao luôn cho ngươi, đó là đường vào tâm giới, giúp chúng sanh mở được cửa kho tri kiến của Phật. Ta từ Nam Ấn sang đến phương Đông này, thấy Xích Huyện Thần Châu có đại thừa khí tượng, cho nên đi qua nhiều nơi, vì pháp tìm người. Nhưng bao nhiêu cuộc gặp gỡ không làm ta hài lòng, bất đắc dĩ phải ừ hử vậy thôi. Nay được ngươi để truyền thọ y pháp, ý ta đã toại!“
Nhưng về sau Thiền tông Trung Quốc chỉ phát huy rực rỡ với Huệ Năng, vị Tổ thứ sáu của Thiền TQ. Cũng từ đời Huệ Năng, Thiền không còn truyền y bát衣鉢 (áo cà sa và chén ăn cơm) nữa mà chỉ lấy tâm truyền tâm tức là truyền pháp ấn.
Thiền sư ngộ đạo làm chủ sinh tử là thế nào?
Những người tu tập Thiền kể cả tu sĩ và cư sĩ khi chứng ngộ họ thường làm thơ hay kệ để mô tả việc ngộ đạo. Chẳng hạn thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác 永嘉玄覺 (665-713 đời Đường) có làm Chứng Đạo ca 證道歌 Thiền sư Động Sơn Lương Giới 洞山良价 (807-869 cuối đời Đường) có làm bài kệ không tên mà câu đầu là Thiết kị tòng tha mịch 切忌從他覓.
Trong thiền sử có ghi chép những câu chuyện về các vị ngộ đạo làm chủ sinh tử, tu sĩ có mà cư sĩ cũng có. Thiền sư thì có các vị như :
Thiền sư Động Sơn Lương Giới 洞山良价(807-869 CN)
Ông sống vào đời Đường ở tại Hội Kê Chư Tế 会稽诸暨 nay thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, thọ cụ túc giới năm 21 tuổi. Sư từng gặp Nam Tuyền Phổ Nguyện 南泉普願, thiền sư lĩnh hội ý chỉ Thiền. Ngài Động Sơn Lương Giới (807-869), khi kiến tánh có làm bài kệ :
切忌从他觅 Thiết kị tòng tha mích (mịch) Rất kị tìm cầu ở người khác
迢迢与我疏 Điều điều dữ ngã sơ Như vậy là xa với chính mình
我今独自往 Ngã kim độc tự vãng Nay ta tự mình đến
处处得逢渠 Xứ xứ đắc phùng cừ Khắp nơi đều gặp nó
渠今正是我 Cừ kim chính thị ngã Nó chính là mình đây
我今不是渠 Ngã kim bất thị cừ Mà mình không phải là nó
应须恁么会 Ưng tu nhẫm ma hội Phải ngộ được như thế
方得契如如 Phương đắc khế như như Mới khế hợp với chân như
Thầy Duy Lực đã giảng như sau (câu 1242)
1242 Xin Sư Phụ giải thích bài kệ của Ngài Động Sơn Lương Giới: https://drive.google.com/file/d/1Bj3fZsF_pG0zLfhZyCefM3aYNO5VdCpl/view?usp=sharing
Vào cuối năm Đại Trung (847-860 Công nguyên là niên hiệu của Đường Tuyên Tông Lý Thầm, 唐宣宗李忱) sư thực hành thiền pháp tại Nông Sơn. Ngày 21 tháng 3 năm Hàm Thông 咸通 thứ 10 (Hàm Thông 860-874CN là niên hiệu của Đường Ý Tông Lý Thôi 唐懿宗李漼), sư bảo đệ tử cạo tóc đắp y cho sư và đánh chuông tập họp đồ chúng. Khai thị xong, sư ngồi kiết già nhập định và lặng lẽ viên tịch.
Thấy vậy các đệ tử khóc lóc không ngớt. Sư Lương Giới bỗng nhiên mở mắt ngồi dậy nói với họ : “Một người xuất gia tâm lý phải thuần tĩnh không phiền tạp, siêu nhiên không ngưng trệ ở một vật mới đúng là người tu hành chân chính. Bây giờ ta muốn đi mà các ngươi tỏ ra bi ai thảm thiết như thế, chẳng phải quá phàm tục sao ?” Nói xong ông bèn gọi vị tăng chủ sự lại, bảo ông ta chuẩn bị cơm chay. Một lát sau cơm chay được dọn ra, sư mời các đệ tử cùng dùng bữa. Rồi sư lại nói : “Ăn cơm chay xong ta lại đi các ngươi đừng có khóc nha !”
Nhưng tâm lý của mọi người vẫn ái mộ sư Lương Giới, mọi người đồng lòng cầu xin sư một cách khổ não bi ai, xin sư sống thêm một thời gian. Sư miễn cưỡng trước sự cầu xin bi thiết đó nên ở lại bảy ngày. Sau bảy ngày sư Lương Giới lại bảo chủ sự chuẩn bị cơm chay đãi tiệc đồ chúng. Tại bàn ăn sư chỉ vào thức ăn chay nói lớn : “Bữa tiệc chay này gọi là bữa cơm chay ngu si”. Trong lời nói có ý trách đồ chúng không lo tu hành đạt tới trí bát nhã, không thâm ngộ giáo pháp của Như Lai, rằng không thật có sanh tử, không đi không đến.
Qua ngày thứ tám sư Lương Giới lại tắm rửa sạch sẽ, ngồi ngay ngắn mà tịch.
Đó là câu chuyện sinh tử tự do, tùy ý sống chết của thiền sư Động Sơn Lương Giới chứng tỏ sự giác ngộ giải thoát.
Ngộ An thiền sư 遇安禅师(924-995CN)
Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên 五灯会元 quyển 7 kể về Ngộ An thiền sư 遇安禅师 ở chùa Thụy Lộc 瑞鹿寺 chuyện xảy ra vào đời Bắc Tống năm 995 Công nguyên.
Ngộ An không rõ tục danh, ông là thiền sư người Phúc Châu, là một tu sĩ thuộc phái Pháp Nhãn thời Bắc Tống, là người kế thừa của Đức Thiều quốc sư 德韶国师, ông có sự khai ngộ rất đặc biệt, rất hữu duyên với Kinh Lăng Nghiêm. Ông được xưng tụng là người “Đọc kinh Lăng Nghiêm mà giác ngộ”.
Ngộ An thiền sư trước khi lâm chung tự mình tắm rửa thật sạch sẽ, thay quần áo sạch. Sau khi tĩnh tọa một hồi bèn tự mình vào nằm trong quan tài, đậy nắp lại. Qua ba ngày, các đệ tử muốn tưởng niệm sư phụ bèn mở nắp áo quan, thấy sư phụ đã chết rồi, mọi người đau buồn khóc lên thống thiết. Lúc đó bỗng nhiên sư phụ ngồi dậy rồi thăng đường nói với đại chúng : “ Nếu lần sau mà có người nào còn lén mở nắp áo quan thì không phải là đệ tử của ta” Nói xong lại tự vào trong áo quan nằm và lần này thì viên tịch thật. Sư Ngộ An không chỉ đạt được sinh tử tự tại, tức muốn đi lúc nào thì đi, mà còn có khả năng sau khi nhập quan ba ngày, vẫn có thể tùy ý sống lại, điều đó chứng tỏ sống chết chỉ là hiện tượng giả tạo không phải có thật.
Câu chuyện Gia đình cư sĩ Bàng Uẩn
Gia Đình Bàng Uẩn có 4 người, ông Bàng Uẩn 龐蘊, bà vợ Bàng Bà 龐婆, con gái Linh Chiếu 靈照, con trai trai tên Canh Hoạch 耕获, tên chữ là Bàng Đại Chính 龐大正 gọi tắt là Bàng Đại 龐大 Họ muốn tịch lúc nào tùy ý. Cư sĩ Bàng Uẩn 龐蘊 khi ngộ đạo ông có làm bài kệ mô tả gia đình mình.
有男不婚 Hữu nam bất thú Có con trai không cưới vợ
有女不嫁 Hữu nữ bất giá Có con gái không gả chồng
大家團樂頭 Đại gia đoàn lạc đầu Cả nhà vui đoàn tụ
共說無生話 Cộng thuyết vô sinh thoại. Cùng nói pháp vô sinh.
Câu chuyện nổi tiếng về gia đình Bàng Uẩn (龐蘊 740-808 đời Đường) người ở Tương Châu 襄州 nay là thành phố Tương Dương 襄陽 tỉnh Hồ Bắc 湖北 cũng chứng tỏ sinh tử tự do, không bị trói buộc. Sự trói buộc chỉ là thế lưu bố tưởng (thói quen tưởng tượng đã phổ biến qua nhiều đời) chứ không phải tuyệt đối chân thật.
Thầy Duy Lực có kể về gia đình Bàng Uẩn như sau :
1128 Người tại gia cũng có thể kiến tánh- Kể chuyện gia đình Bàng Uẩn: https://1drv.ms/u/s!Aj63Gr7WfWk6hIZg4f5aWFq5D4zhlA
Những câu chuyện về làm chủ sinh tử hay về sự không tuyệt đối chân thật của không gian thời gian ghi trong thiền sử thì có thể tin được. Có những người không tin bởi vì họ không hiểu sâu về khoa học. Có những nhà khoa học chính hiệu thậm chí được xưng tụng là số 1 thế giới, chẳng hạn Albert Einstein, có thể vẫn còn có nhiều chỗ chưa hiểu hết về khoa học nên vẫn phạm sai lầm rất cơ bản.
Những điều vượt ra ngoài quy luật thông thường, thật ra đó chính là vô sở trụ, người đời quen với thế lưu bố tưởng không hiểu rằng không gian, thời gian, số lượng của hạt vật chất không phải tuyệt đối có thật. Sau này nhiều nhà khoa học đã làm thí nghiệm cho thấy có hiện tượng liên kết lượng tử (quantum entanglement).
⭐️ Hiện tượng này về sau được khoa học xác định rõ ràng chính xác hơn thời của Einstein nhờ vào những công cụ hiện đại hơn:
- Năm 1967 John Clauser người Mỹ chế tạo được cái máy nó có thể làm cho một photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau với khoảng cách xa.
- Năm 1982 Alain Aspect dùng cái máy đó làm thí nghiệm tại Paris, ứng dụng bất đẳng thức của John Bell, người Ireland, đã chứng minh hiện tượng liên kết lượng tử là có xảy ra thật.
- Năm 2008 Nicolas Gisin ở tại đại học Geneva Thụy Sĩ làm lại thí nghiệm với hai photon cách xa nhau 18km, kết quả vẫn đúng.
- Năm 2016, TQ đã phóng vệ tinh lượng tử đầu tiên trên thế giới mang tên Mặc Tử (Micius)và năm 2017 họ làm lại thí nghiệm này với hai hạt photon cách xa nhau 1200km, kết quả vẫn đúng như vậy.
⭐️ Hiện tượng này cho thấy rõ không gian, thời gian, số lượng, đều không phải tuyệt đối chân thật. Các nhà khoa học đã rút ra 3 kết luận rất cơ bản, rất quan trọng:
Vật không có thật (non realism): cụ thể là các hạt cơ bản như photon, electron không phải lúc nào cũng hiện hữu có sẵn, chúng chỉ xuất hiện khi tâm khởi niệm hoặc có thiết bị cảm biến (sensor), tóm lại vật là do tâm tạo.
Không gian thời gian không có thật (non locality = vô sở trụ): Không gian thời gian cũng chỉ là tâm niệm chứ không phải là thực tại khách quan luôn sẵn có để cho vật xuất hiện.
Số lượng không có thật (non quantity): Thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) chứng tỏ rằng một hạt cơ bản (chẳng hạn photon) có thể xuất hiện đồng thời ở vô số vị trí khác nhau.
Và tất cả vị trí đều liên kết với nhau (entangled) bất kể khoảng cách bao xa vào bất cứ thời gian nào.
Năm 2012 Maria Chekhova đã thực hiện được thí nghiệm cho một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau và tất cả vị trí đều liên kết với nhau.
Và khoa học đã ứng dụng nguyên lý này để chế tạo ra máy vi tính, mạng internet, điện thoại thông minh (smartphone). Các công cụ này giúp chúng ta triệt tiêu được khoảng cách không gian, không bị hạn chế về thời gian và số lượng.
Và tới một lúc nào đó trong tương lai có thể con người sẽ thực hiện được viễn tải lượng tử (Quantum teleportation) là sự kiện chuyển một vật thể hay một con người đi xa khoảng cách không giới hạn và tức thời không mất thời gian.
Ngày 30-03-2025 TQ đã thực hiện được truyền thông lượng tử xa nhất thế giới với khoảng cách 12.900 km, kết nối giữa Bắc Kinh (Trung Quốc) và Stellenbosch (Nam Phi) thông qua vệ tinh Jinan-1 Tế Nam 濟南-1 (济南轨道交通1号线Tế Nam Quỹ đạo Giao thông Nhất Hiệu Tuyến= Đường truyền thông số 1 qua quỹ đạo vệ tinh Tế Nam).
Đường truyền này sử dụng công nghệ QKD (Quantum Key Distribution= Phân phối khóa lượng tử) để đảm bảo an toàn thông tin tuyệt đối không thể hacked (bị nghe lén) được. Đây là bước đi đầu tiên của viễn tải lượng tử.
Tóm lại Thiền sử cung cấp cho chúng ta nhiều tư liệu quý giá và chân thực về hành trạng và pháp ngữ của các vị thiền sư có thể giúp ích chúng ta rất nhiều trên con đường tu tập để đạt được lợi ích thiết thực cho bản thân và người chung quanh, tiến tới cứu cánh giác ngộ.
Truyền Bình
Nguồn: https://duylucthien.wordpress.com/2026/02/12/trich-thien-su-trung-quoc/