Chapter 2

THIỀN MÔN PHẬT GIÁO

Phật giáo có rất nhiều tông phái, các tông phái có mức độ rộng hẹp khác nhau tùy đối tượng tín đồ mà tông phái nhắm tới. Nói khái quát nhất thì có hai hệ phái đối lập nhau là Giáo Môn và Thiền Môn.

Giáo Môn dựa vào các kinh điển do chính Đức Phật thuyết giảng được coi như khuôn vàng thước ngọc của Phật giáo nên được tuyệt đại đa số tín đồ Phật tử hết lòng tin tưởng quy y tu tập. Nhưng một câu hỏi cần được nêu ra mà trong thực tế rất ít người dám nêu ra. Đó là: Những người tu tập theo Giáo môn thì có dẫn tới giác ngộ thành Phật không ? Câu trả lời đáng buồn là Không. Những người tu tập theo Giáo môn không thể giác ngộ. Tại sao ? Bởi vì tất cả họ đã rơi vào tà đạo mà Kinh Kim Cang đã cảnh báo từ lâu.

Nhược dĩ sắc kiến ngã,  若以色見我   Nếu dựa vào hình tướng vật chất để thấy ta

Dĩ âm thanh cầu ngã,    以音聲求我   Lấy âm thanh để tìm cầu ta

Thị nhân hành tà đạo,   是人行邪道   Người đó là đang hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai.  不能見如來   Không thể thấy được Như Lai

Nhược dĩ sắc kiến ngã là sao ? Đó là những người ham thích hình tướng với 32 tướng tốt của Phật, vẽ hình Phật treo khắp nơi, tạc tượng Phật khắp các hang núi, xây dựng thật nhiều chùa chiền với hàng lô hàng lốc tượng Phật, đưa hình Phật, Bồ Tát lên khắp các trang mạng, thường xuyên đi chùa lạy tượng Phật…

Dĩ âm thanh cầu ngã là sao ? Đó là những người ưa thích đọc tụng kinh Phật, một ngày mấy thời tụng kinh, mở miệng ra là Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, nghe không biết bao nhiêu băng giảng, video clip thuyết pháp. Có người còn chép bao nhiêu bài thuyết pháp trong điện thoại để nghe tới nghe lui cầu giác ngộ.

Vậy những người đó có thấy được Như Lai tức là giác ngộ giải thoát không ? Câu trả lời là không. Tuyệt đại đa số là không thể giác ngộ. Chỉ có một số cực kỳ ít sau một thời gian dài lạy tượng Phật và tụng kinh, tu theo giáo môn rồi sau đó họ chuyển sang thiền định, chẳng hạn ngài Vĩnh Gia Huyền Giác cuối cùng phải bỏ giáo môn, bỏ tướng mới giác ngộ, mới hiển tánh được.

Tại sao tuyệt đại đa số không thể giác ngộ ? Bởi vì như đoạn kinh trên đã nói, đó là hành tà đạo tức là đi sai đường, đi theo đường cong, đi vòng tròn hết một vòng trở lại chỗ cũ, nên không thể thoát khỏi luân hồi, không thể đến đích sang bờ bên kia được.

Vậy Đức Phật có giảng dạy những kinh điển vượt khỏi giới hạn của Giáo môn không ? Câu trả lời là Có. Tuy nhiên đó là Vi Diệu Pháp, rất khó hiểu khó thâm nhập nên chỉ có bậc đại trí mới có thể tiếp cận. Đó là những vị Tổ Sư họ đã triển khai được Vi Diệu Pháp trong kinh điển nguyên thủy và về sau sáng lập ra Thiền Môn.

Trong Tam Tạng Kinh của Phật giáo nguyên thủy bao gồm Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng. Luận Tạng (Adbidamma Pitaka_A Tỳ Đàm hay A Tỳ Đạt Ma) còn gọi là Thắng Pháp Tạng, đó chính là Vi Diệu Pháp gồm 7 bộ sau:

  1. Dhammasaṅgaṇi (Bộ Pháp Tụ 法聚論/法集論 Pháp Tụ Luận hay Pháp Tập Luận) 2- Vibhaṅga (Bộ Phân Tích 分別論 Phân Biệt Luận)
  2. Dhātukathā (Bộ Chất Ngữ 界論 Giới Luận) Luận các cõi giới từ đâu đến
  3. Puggalapaññatti (Bộ Nhơn Chế Ðịnh人施設論 Nhân Thi Thiết Luận) Luận về các chủng người khác nhau do đâu mà có, nói về 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, 4 đế…phân biệt các hạng người.
  4. Kathāvatthu (Bộ Ngữ Tông 論事 Luận Sự) do Moggaliputta Tissa làm trong lần kết tập thứ ba mục đích là bài bác tà kiến của ngoại đạo xâm nhập vào tăng đoàn.
  5. Yamaka (Bộ Song Ðối 雙論 Song Luận) Luận về chỗ đồng dị của từng cặp mệnh đề.
  6. Paṭṭhāna (Bộ Vị Trí 發趣論 Phát Thú Luận). 6 bộ luận đầu chủ yếu luận về danh (tên gọi) và tướng (hình trạng) của các pháp. Còn bộ luận thứ bảy còn gọi là Đại Luận 大論 chủ yếu nói về 24 mối quan hệ của các pháp, hệ thống hoá chúng. Do đó bộ luận này rất lớn và phức tạp. Bản dịch tiếng Việt gồm 7 quyển, mỗi quyển dày khoảng 350 trang.

Ngôn ngữ được dùng để ghi chép là tiếng Pali, vốn là ngôn ngữ Paishachi ở phía Tây Ấn Độ, phát triển thành tiếng Pali sử dụng phổ biến trên cao nguyên Decan và Nam Ấn, cũng là ngôn ngữ của Mahinda đến Tích Lan từ mấy trăm năm trước công nguyên. Đây là kinh điển Phật giáo nguyên thủy (Theravada) thuộc truyền thống Nam Tông, được truyền bá ở các nước phía nam nên còn gọi là Nam Truyền, như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Kampuchia, phía nam Việt Nam.

Luận Tạng hay Vi Diệu Pháp đúc kết vạn pháp thành 4 pháp cứu cánh 四種究竟法 hay Chân đế (Paramattha) là Tâm心, Tâm Sở 心所, Sắc 色, và Niết Bàn 涅槃

Xem qua Luận Tạng hay Vi Diệu Pháp tuyệt đại đa số Phật tử chúng ta đều thấy rất xa lạ khó hiểu khó vào không thể thâm nhập nổi. Do đó đa số mọi người chỉ dừng lại ở Giáo môn mà thôi.

Các bậc đại trí phát huy Vi Diệu Pháp, sau này trở thành các vị Tổ Sư, họ sáng lập ra Thiền Môn. Tại VN Thiền Môn được thầy Duy Lực truyền bá khoảng từ năm 1977 cho đến khi thầy viên tịch vào năm 2000. Thiền Môn do thầy Duy Lực thuyết giảng được gọi là Tổ Sư Thiền vì nó được các vị Tổ Sư Ấn Độ và TQ sáng lập. Tại Ấn Độ có 28 vị Tổ Sư tiếp nối sự nghiệp hoằng pháp của Đức Phật, khởi đầu là Ma ha Ca Diếp làm Tổ Sư Thứ nhất, Đến Tổ Sư thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨bodhidharma) bắt đầu đi về phương đông đến TQ để truyền Đạo Thiền. Ông đã trở thành Tổ Sư thứ nhất của Thiền tông TQ và truyền đến Tổ thứ 6 tại TQ là Lục Tổ Huệ Năng慧能 thì Thiền môn trở nên hưng thịnh có rất nhiều người kiến tánh giác ngộ.

Bộ sách lịch sử Cảnh Đức Truyền Đăng Lục 景德傳燈錄 thống kê có 1701 vị tổ sư và hành giả tham thiền kiến tánh giác ngộ. Còn theo một số sách lịch sử Thiền tông Trung hoa khác mà thầy Duy Lực đã đọc và đưa ra con số người kiến tánh giác ngộ là khoảng 5000 người.

Những điểm nổi bật của Thiền Môn

Thiền môn đề cập đến những nguyên lý cốt lõi của Phật pháp như:

Nhất thiết pháp vô tự tính.

Nhất thiết duy tâm tạo.

Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.

Sác bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc. Ngũ Uẩn Giai Không. Bản lai vô nhất vật, Hà xứ nhạ trần ai; Quá khứ Tâm bất khả đắc, Hiện tại Tâm bất khả đắc, Vị lai Tâm bất khả đắc…

Chúng ta hãy nghe lại một câu thuyết giảng của thầy Duy Lực:

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay- Ý nghĩa của thời gian

Câu thuyết giảng này nói rằng không gian, thời gian chỉ là những khái niệm không có bản thể.

0795 Câu chuyện về pháp sư Huệ Trì nhập định 700 năm ở Tứ Xuyên

Câu này là một bằng chứng lịch sử chứng tỏ thời gian chỉ là tâm niệm không phải là một thực tại khách quan. Khi nhập định sâu Huệ Trì có thể không ăn uống vẫn sống hơn 700 năm, cảm nhận 700 năm chỉ là chốc lát.

1242 Xin SP Giải thích bài kệ của Ngài Động Sơn Lương Giới

Động Sơn Lương Giới là một hành giả triệt ngộ làm chủ được vận mệnh, làm chủ sinh tử, sống chết tùy ý.

Ông đưa ra bài kệ nói về kinh nghiệm giác ngộ của mình. Ông sống vào đời Đường ở tại Hội Kê Chư Tế 会稽诸暨 nay thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, thọ cụ túc giới năm 21 tuổi. Sư từng gặp Nam Tuyền Phổ Nguyện 南泉普願, thiền sư lĩnh hội ý chỉ Thiền.

Ngài Động Sơn Lương Giới (807-869), khi kiến tánh có làm bài kệ:

切忌从他觅    Thiết kị tòng tha mích (mịch)   Rất kị tìm cầu ở người khác

迢迢与我疏    Điều điều dữ ngã sơ             Như vậy là xa với chính mình

我今独自往    Ngã kim độc tự vãng             Nay ta tự mình đến

处处得逢渠    Xứ xứ đắc phùng cừ              Khắp nơi đều gặp nó

渠今正是我    Cừ kim chính thị ngã            Nó chính là mình đây

我今不是渠    Ngã kim bất thị cừ              Mà mình không phải là nó

应须恁么会    Ưng tu nhẫm ma hội              Phải ngộ được như thế

方得契如如    Phương  đắc khế như như         Mới khế hợp với chân như

Cái tôi của mình là biểu hiện của Tâm, của Phật tánh, nhưng cái tôi của mình không phải là Phật tánh mà chỉ là một ảo tưởng của Tâm thôi. Giác ngộ kiến tánh là trực ngộ cái thực tại kỳ diệu mà thuật ngữ gọi là vô sinh pháp nhẫn đó 無生法忍(anutpattika-dharma-kṣānti).

Tóm lại Thiền trực tiếp hội nhập vào bản thể chân như vô hình vô tướng mà thuật ngữ Phật giáo gọi là Vô Sinh Pháp Nhẫn, đó là kiến tánh giác ngộ, diệu dụng được sức mạnh vô biên của bản tâm mà biểu hiện thường thấy trong hành trạng của các vị thiền sư kiến tánh là sinh tử tự do, có người còn để lại nhục thân bất hoại hiện còn lưu giữ tại chùa Nam Hoa gần thành phố Thiều Quan 韶关tỉnh Quảng Đông. Đó là nhục thân của Lục Tổ Huệ Năng, sư Hám Sơn và sư Đơn Điền.

Chùa Nam Hoa tọa lạc tại thị trấn Tào Khê (漕溪), huyện Khúc Giang (曲江), cách thành phố Thiều Quan (韶关市) 25km về phía Đông nam, thuộc tỉnh Quảng Đông.

Truyền Bình

Nguồn: https://duylucthien.wordpress.com/2026/07/22/thien-mon-phat-giao/