NỀN GIÁO DỤC PHỔ QUÁT
Nền Giáo dục phổ thông của nhân loại hiện nay là giáo dục thiên lệch, chấp thật
Nền giáo dục phổ thông mà nhân loại đang tiến hành hiện nay không phải là nền giáo dục phổ quát của Tam giới bởi vì nó còn lệch một bên có thể nói đó là nền giáo dục tà kiến (nghĩa là cái thấy bị méo lệch, cong vẹo). Đối với người bình thường thì đó là nền giáo dục tốt đẹp phổ biến của nhân loại, nhưng đối với Phật pháp, đó là nền giáo dục điên đảo mộng tưởng, nó chỉ dạy cho trẻ em và người lớn chấp thật, chấp vào chủ nghĩa duy vật khách quan, cho vật chất là có thật, cho vật chất là nền tảng của vũ trụ vạn vật. Nó tôn sùng những nhà khoa học như Albert Einstein thiên lệch về quan điểm duy vật khách quan mà thực tế thì quan điểm này đã bị phá sản từ năm 1982 khi Alain Aspect tại Paris qua thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) đã chứng tỏ rằng vật chất, cụ thể là những hạt cơ bản như photon, electron, quark…không phải là vật thật, chúng chỉ xuất hiện trong tâm niệm của người quan sát. Và chính những hạt không phải vật thật đó cấu tạo nên thế giới vật chất như núi non, trăng sao, sơn hà đại địa, vũ trụ vạn vật.
Heisenberg, người phát minh ra nguyên lý bất định (không thể đồng thời xác định vị trí và vận tốc hay động lượng của một hạt, ví dụ electron) nói: “Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật).
Niels Bohr cũng đã nhận ra các hạt cơ bản không phải là vật thật. Ông đồng tình với Phật pháp. Kinh Phật nói rằng các hạt vi trần (ý chỉ các hạt cơ bản) chỉ là hoa đốm trong hư không. Niels Bohr cũng phát biểu rất rõ ràng rằng:
“Mọi thứ mà chúng ta gọi là thật được cấu tạo bởi những vật không thể coi là thật (hạt cơ bản). Nếu cơ học lượng tử không gây sốc cho bạn một cách sâu xa, bạn chưa hiểu gì về nó.”
Nếu những hạt cơ bản của vật chất và những cấu trúc của nó như nguyên tử, phân tử, vật thể, vật chất, sinh vật, con người, vạn vật…cũng chẳng phải là vật thật mà chỉ là những vọng tưởng trong tâm thức của con người. Thế thì việc Phật nói chúng sinh điên đảo mộng tưởng chẳng có gì sai, chẳng có gì là quá đáng.
Nền giáo dục chấp thật của nhân loại giỏi đào tạo các kỹ sư và những nhà quản lý. Họ chế tạo ra đủ loại sản phẩm phục vụ cho đời sống vật chất của con người : nhà cao cửa rộng, ăn ngon mặc đẹp, tiện nghi vật chất thật đầy đủ, giao thông tiện lợi, liên lạc viễn thông kỳ diệu…Nhưng nhân loại chưa bao giờ được hoàn toàn thái bình hạnh phúc trọn vẹn. Tranh giành, chiến tranh loạn lạc, nghèo đói, thiên tai…luôn luôn rình rập khiến nhân loại vẫn luôn sống trong lo lắng sợ hãi, bệnh tật…chẳng mấy ai được hạnh phúc trọn vẹn cả.
Nền giáo dục phổ quát phải dạy những điều gì ?
Phật pháp chính là một nền giáo dục phổ quát, nó nêu lên những nguyên lý phổ quát của tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới), vũ trụ vạn vật, mà những nguyên lý đó nền giáo dục phổ thông của nhân loại không biết tới nên cũng chẳng bao giờ đề cập. Những nguyên lý đó là vô cùng quan trọng, nó đem lại sự giác ngộ và giác ngộ mới thật sự là hạnh phúc vĩnh hằng, nó không tùy thuộc vào tiền tài, vật chất, danh vọng, mà tùy thuộc vào sự nhận thức của mỗi cá nhân. Ai nhận thức được thì sẽ điều chỉnh cuộc đời của mình theo những tiêu chí phổ quát đó thì chắc chắn đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Phật giáo có rất nhiều tông phái, lời dạy của các tông phái khác nhau có thể trái ngược, mâu thuẫn nhau bởi vì sự rộng hẹp khác nhau. Phật giáo giáo môn thì cũng chẳng khác gì nền giáo dục phổ thông của nhân loại, nó có thể dùng những danh từ, thuật ngữ khác nhưng chung quy thì vẫn thiên lệch một bên gọi là biên kiến. Biên kiến tức là tà kiến. Người tu theo giáo môn sống trong tà kiến, hành tà đạo nên trong hàng mấy trăm triệu hay cả tỷ tín đồ Phật tử chẳng có mấy ai giác ngộ cả.
Kinh Kim Cang có đề cập tới vấn đề này trong bài kệ :
Nhược dĩ sắc kiến ngã, 若以色見我 Nếu dựa vào hình tướng vật chất để thấy ta
Dĩ âm thanh cầu ngã, 以音聲求我 Lấy âm thanh để tìm cầu ta
Thị nhân hành tà đạo, 是人行邪道 Người đó là đang hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai. 不能見如來 Không thể thấy được Như Lai
Nhược dĩ sắc kiến ngã là sao ? Đó là những người ham thích hình tướng với 32 tướng tốt của Phật, vẽ hình Phật treo khắp nơi, tạc tượng Phật khắp các hang núi, xây dựng thật nhiều chùa chiền với hàng lô hàng lốc tượng Phật, đưa hình Phật, Bồ Tát lên khắp các trang mạng, thường xuyên đi chùa lạy tượng Phật…
Dĩ âm thanh cầu ngã là sao ? Đó là những người ưa thích đọc tụng kinh Phật, một ngày mấy thời tụng kinh, mở miệng ra là Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, nghe không biết bao nhiêu băng giảng, video clip thuyết pháp. Có người còn chép bao nhiêu bài thuyết pháp trong điện thoại để nghe tới nghe lui cầu giác ngộ.
Vậy những người đó có thấy được Như Lai tức là giác ngộ giải thoát không ? Câu trả lời là không. Tuyệt đại đa số là không thể giác ngộ. Chỉ có một số cực kỳ ít sau một thời gian dài lạy tượng Phật và tụng kinh, tu theo giáo môn rồi sau đó họ chuyển sang thiền định, chẳng hạn ngài Vĩnh Gia Huyền Giác cuối cùng phải bỏ giáo môn, bỏ tướng mới giác ngộ, mới hiển tánh được.
Tại sao tuyệt đại đa số không thể giác ngộ ? Bởi vì như đoạn kinh trên đã nói, đó là hành tà đạo tức là đi sai đường, đi theo đường cong, đi vòng tròn hết một vòng trở lại chỗ cũ, nên không thể thoát khỏi luân hồi, không thể đến đích được.
Tà đạo là gì ? đó là con đường cong, con đường xiên lệch. Hành tà đạo là đi con đường lệch lạc, đi vòng vòng hết vòng này tới vòng khác nên chắc chắn là không thể đến đích. Chẳng hạn một người mê thích hình tướng Phật, ngày nào cũng vào chùa lạy tượng Phật. Hoặc một người khác mê thích tụng kinh, ngày nào cũng tụng Bát Nhã Tâm Kinh suốt đời như mấy ông thầy cúng đám ma chẳng hạn, thì có thể giác ngộ không ? Tụng kinh suốt đời cũng không thể giác ngộ.
Để có thể giác ngộ người tu cần phải tham thiền. Thế nào là tham thiền chân chính? Đó là phải ngưng dấy sinh vọng tưởng. Nghĩ thiện nghĩ ác đều là vọng tưởng cả, nghĩ đúng nghĩ sai cũng đều là vọng tưởng. Không dấy sinh vọng tưởng mới thực sự là tham thiền. Để thực hành tham thiền hành giả cần nắm được những nguyên lý cốt lõi của Đạo Phật.
Nguyên lý thứ nhất mà Phật pháp nêu ra
Nhất thiết pháp vô tự tính nghĩa là tất cả các pháp đều không có thật tức là chúng không có đặc trưng đặc điểm gì cả, không có bất cứ tính chất nào cả. Kinh điển có đề cập tới hoa đốm trong hư không. Vậy hoa đốm là gì ? Đó chính là những loại hạt cơ bản của vật chất như photon, electron, quark…Những hạt cơ bản cũng không hề có sẵn đặc trưng đặc điểm gì cả. Vậy tại sao chúng ta đều thấy mọi vật đều có đặc tính, chẳng hạn vật thể thì cứng, có màu sắc hoặc không màu, có khối lượng, có vị trí trong không gian và thời gian. Thậm chí những hạt cơ bản cấu tạo nên vật thể (elementary particles of matter) cũng có đặc tính đặc trưng như nói trên. Để trả lời, Phật pháp nêu ra :
Nguyên lý thứ hai
Nhất thiết pháp duy tâm tạo. Tất cả các pháp đều do tâm tạo, nghĩa là tâm tưởng tượng ra các pháp chứ cả vật chất, không gian, thời gian, hay tinh thần đều không tuyệt đối có thật. Các pháp xuất hiện là do duyên nghiệp, do thói quen (tập khí) hình thành từ vô lượng kiếp. Tâm theo định nghĩa của Duy Thức Học Phật giáo bao gồm Bát thức là : 5 thức cơ bản : thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác thân thể tiếp xúc (xúc giác). 3 thức tổng hợp là Ý thức, Mạt na thức và A lại da thức. Từ tín hiệu của 5 thức cơ bản, bộ não tổng hợp và phân tích để nhận biết các đối tượng của các cơ quan chức năng. Mắt (nhãn căn) có đối tượng là hình dáng, màu sắc, to nhỏ, xa gần. Tai (nhĩ căn) có đối tượng là âm thanh, tiếng động. Mũi (tị căn 鼻根) có đối tượng là mùi hương thơm hoặc mùi xú uế (thúi). Lưỡi (thiệt căn 舌根) có đối tượng là các vị mặn, ngọt, chua, cay, đắng, lạt…của thức ăn. Thân thể (thân căn 身根) có đối tượng là cảm giác tiếp xúc của cơ thể như : cứng, mềm, trơn láng, sần sùi, nhám, êm ái, đau rát; nam nữ ân ái giao hợp chính là phát huy tác dụng của thân căn. Còn 5 thức cơ bản và Ý thức thì nền giáo dục phổ thông đều biết. Còn Phật giáo thì đề cập thêm 2 thức tổng hợp khác là Mạt na và A lại da. Mạt na là thức chấp ngã và chấp pháp. Ý thức nhận biết các đối tượng từ 5 giác quan từ đó nó tạo thành thói quen chấp trước cho là những cảm giác mà nó kinh nghiệm là có thật và giữ chặt những kinh nghiệm đó thành cái tôi, cái ta Phật pháp gọi là ngã chấp. Còn những thứ bên ngoài cái ta như các loại pháp trần : sông núi, cỏ cây, sinh vật, trăng sao, vạn vật; ý thức cũng cho là có thật, Phật giáo gọi là Pháp chấp. Cái thói quen lâu đời chấp ngã và chấp pháp đó hình thành nên Mạt na thức. Còn A lại da hay Tàng thức là thức ghi nhớ. Tất cả những gì mà một chúng sinh kinh nghiệm trong vô lượng kiếp đều được khắc ghi trong Tàng thức mà tiếng Phạn gọi là Alaya thức. Giữa Mạt na và A lại da có sự khác nhau. Mạt na phân biệt kinh nghiệm thành từng cặp phạm trù đối lập nhau : ưa ghét, tốt xấu, thiện ác, sáng tối, sướng khổ, vinh nhục…và nó có khuynh hướng chạy theo những gì mà nó ưa thích. Còn A lại da thì chỉ chất chứa lưu giữ kinh nghiệm thôi nhưng không phân biệt.
Nguyên lý thứ hai nhất thiết pháp duy tâm tạo nói lên rằng toàn bộ vũ trụ vạn vật, không gian, thời gian, số lượng vật chất, tam giới, đều là vọng tưởng, tưởng tượng của tâm chứ không phải là tuyệt đối có thật. Chúng ta hãy nghe lại thầy Duy Lực nói về vấn đề này.
1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay: http://sonhaiquan.podbean.com/mf/web/mfhcew/1401Viectransakiepcungnhuviechiennayynghiacuathoigian.mp3
Hành giả tham thiền không dấy sinh vọng tưởng có mục đích là phát sinh nghi tình, nghi rằng không gian, thời gian, số lượng vật chất cũng chỉ là vọng tưởng của tâm không phải sự thật khách quan. Từ nghi tới ngộ, nhận ra, phát hiện bản tâm vô sinh pháp nhẫn mới thực sự là mình cũng là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, của tam giới. Tự mình chứng ngộ Tam giới duy tâm, Vạn pháp duy thức. Tất cả chúng sinh đều có chung một tâm vô sinh pháp nhẫn ấy.
Một khi triệt ngộ thì hành giả làm chủ được thân tâm, làm chủ được sinh tử. Nói theo giáo môn là thoát khỏi sinh tử luân hồi. Sinh tử luân hồi cũng chỉ là vọng tưởng chứ không phải tuyệt đối chân thật. Thoát khỏi sinh tử luân hồi là nhận ra, thấu triệt sinh tử luân hồi cũng là vọng tưởng không phải hoàn toàn có thật.
Hành giả triệt ngộ thì làm chủ được sinh tử như trường hợp của sư Động Sơn Lương Giới (洞山良源 807-869 Công nguyên) hoặc gia đình 4 người của Bàng Uẩn Cư Sĩ (龐蘊居士 740-808 Công nguyên).
Bàng Uẩn Cư Sĩ. Nhất gia tứ khẩu câu đăng vô thượng giác (Một nhà 4 người đều đạt được vô thượng giác)
Hay người bình thường như chúng ta chưa triệt ngộ, chưa làm chủ được sinh tử, ít ra cũng làm chủ được cuộc đời và vận mệnh của mình, sống khỏe mạnh, không quá nghèo đói, không bị tai nạn nghiêm trọng, không bệnh nặng, suốt đời không bao giờ nằm bệnh viện.
Truyền Bình
Nguồn: https://duylucthien.wordpress.com/2025/09/07/nen-giao-duc-pho-quat/