CỨU CÁNH CỦA THIỀN LÀ GÌ?
Cơ sở nhận thức của Thiền
Cứu cánh 究竟 (final destination, in the end, đích đến sau cùng) của Thiền là giác ngộ, sống trong thực tế hiện tiền, nhận ra thế giới chung quanh chỉ là tâm cảnh, không phải là sự thật tuyệt đối, vũ trụ vạn vật chỉ là sự thật tương đối thôi do tâm tạo ra không phải tuyệt đối có thật, các cảnh giới vật chất như núi non, trăng sao, địa cầu, hành tinh, thiên thể, không gian, thời gian chỉ là chủ quan tập thể không phải hoàn toàn khách quan.
Những khái niệm trên đây dựa vào đâu ? Dựa vào kinh điển Phật giáo, dựa vào những nguyên lý mà Phật pháp đã đúc kết như :
Nhất thiết pháp vô tự tính (tất cả các pháp đều không tự có đặc trưng đặc điểm riêng, ví dụ các hạt cơ bản của vật chất không có sẵn những đặc trưng như vị trí trong không gian thời gian, khối lượng, điện tích, số đo spin (độ xoay). Điều này rất khó nắm bắt nên hầu như tuyệt đại đa số nhân loại đều không hiểu, kể cả bậc thiên tài về khoa học như Albert Einstein nên ông đã sai lầm trong cuộc tranh luận khoa học lớn nhất thế kỷ 20 giữa ông và một nhà khoa học hàng đầu khác là Niels Bohr.
Vậy tại sao chúng ta đều thấy mọi sự vật trên đời đều có đặc trưng đặc điểm, chẳng hạn các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron, các hạt quark trong hạt nhân nguyên tử, mỗi loại hạt đều có đặc trưng riêng như vị trí, khối lượng, điện tích, số đo spin . Mặt khác vạn vật trên đời mỗi mỗi đều có đặc trưng đặc điểm như mặt trời, mặt trăng, con sông, quả núi, con người, con vật…từ đó chúng ta mới phân biệt được chúng.
Để giải thích, Phật giáo nêu ra một nguyên lý quan trọng khác : Nhất thiết duy tâm tạo (Tất cả đều là do tâm tạo. Nghĩa là vật không tự có đặc trưng đặc điểm mà chúng đều là do tâm con người tưởng tượng ra chứ không phải tuyệt đối có thật. Điều này thật khó tin nên chỉ có bậc giác ngộ mới thấu hiểu còn người bình thường không thể hiểu kể cả nhiều nhà khoa học cũng không hiểu, không tin.
Một bậc giác ngộ như Huệ Năng đã thể hiện nhận thức đó qua bài kệ nổi tiếng:
Bồ-đề bổn vô thọ Cội Bồ Đề vốn không phải là cây
Minh kính diệc phi đài Tấm gương sáng cũng không phải là kính
Bổn lai vô nhất vật Xưa nay vốn không có vật nào là tuyệt đối có thật
Hà xứ nhạ trần ai? Vậy bụi trần (ý chỉ cuộc sống vui buồn sướng khổ) bám vào đâu ?
Không phải chỉ có người của giới tôn giáo mới có nhận định cuộc sống là huyễn ảo. Giới khoa học cũng có người nêu ra nhận thức này, đó là nhà khoa học nổi tiếng Niels Bhor. Ông nói :
“Tất cả những cái mà chúng ta gọi là có thật được cấu tạo bởi những thứ không thể coi là thật. Nếu cơ học lượng tử không gây sốc cho bạn một cách sâu xa, đó là vì bạn vẫn chưa hiểu về nó.”
Ý ông muốn nói là vật chất, vật thể, vũ trụ vạn vật, đều được con người coi là có thật. Nhưng tất cả những thứ đó được cấu tạo bằng các loại hạt cơ bản. Mà các loại hạt cơ bản không thể coi là thật bởi vì chúng không phải lúc nào cũng có sẵn, chúng chỉ xuất hiện khi có người quan sát.
Một nhà khoa học khác là Heisenberg, người phát minh ra nguyên lý bất định (không thể đồng thời xác định vị trí và vận tốc hay động lượng của một hạt, ví dụ electron) ông nói:
“Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật).
Các nhà khoa học khác cũng nói:
Eugene Wigner viết:
“The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại)
Một nhà khoa học khác là Von Neumann, phát biểu :
“Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).
Cứu cánh của Thiền
Trên đây chúng ta đã nêu những cơ sở rõ ràng trước khi đề cập tới cứu cánh của Thiền. Rõ ràng vật chất không phải là chân lý, vật chất do tâm tạo ra như Phật pháp đã nói từ xa xưa : Nhất thiết duy tâm tạo. Bây giờ chúng ta đề cập tới cứu cánh của Thiền.
Có rất nhiều người nghĩ rằng Thiền quá khó hiểu hoặc không thể hiểu, những phát biểu hay thiền ngữ của các Thiền sư rất phi lô gích nghĩa là không phù hợp với lý luận thường nghiệm của con người. Suy nghĩ như vậy có lẽ là do chưa nắm được cơ sở nhận thức của Thiền.
Chúng ta hãy xem lại một vài phát biểu của các Thiền sư danh tiếng.
Tổ Hoàng Bá Hy Vận黃蘖希運 (?-850CN) nói :
一切世間事 Nhất thiết thế gian sự Tất cả việc thế gian
盡是虛幻 Tận thị hư huyễn Hết thảy đều là hư huyễn
煩惱即菩提 Phiền não tức Bồ đề Phiền não là Bồ đề
煩惱即解脫 Phiền não tức giải thoát Phiền não là giải thoát
Chúng ta cảm thấy rất phi lý không thể hiểu được. Chẳng lẽ thân thể của mình cũng như của thân nhân và mọi người, nhà cửa xe cộ, đất đai sông biển đều là hư huyễn không có thật cả sao ? Nỗi khổ vì nghèo đói bệnh tật, thiên tai, chiến tranh loạn lạc chết chóc là giác ngộ giải thoát sao ? Phải chăng đau khổ hay sung sướng cùng với giác ngộ giải thoát là một và đều do tâm tạo?
Nhưng nếu chúng ta hiểu cơ sở nhận thức của Thiền, hạt cơ bản của vật chất cũng chỉ là hoa đốm trong hư không, nên những vật thể do chúng cấu tạo như vũ trụ vạn vật, không gian thời gian cũng đều là hư huyễn do con người tưởng tượng ra chứ không phải có thật, như vậy đừng quá chấp thật.
Thế thì cứu cách của Thiền là thái độ cởi mở không quá chấp thật bởi vì có cái gì là thật đâu. Nhưng mặt khác Thiền cũng không chấp vào tánh không bởi vì không gian, thời gian, thân tứ đại, nhà cửa xe cộ đều có vẻ rất thật cơ mà, đều là diệu dụng của tâm. Nên Thiền cũng không phủ nhận vũ trụ vạn vật.
Như vậy tâm thái của Thiền là tự do tự tại không có gì ràng buộc nhưng cũng không quá buông thả phóng đãng, hành trạng là tùy duyên, đói thì ăn, mệt thì nghĩ. Nếu không có gì để ăn thì cũng chẳng sao, cứ nhịn đói thôi cũng chẳng phải là khổ mà nếu có chết cũng không thành vấn đề. Khổ chẳng qua là tâm lý cố chấp bám chặt vào một thói quen nào đó như phải ăn mới sống, phải ăn mới có năng lượng hoạt động. Nhưng trong lịch sử có người không ăn uống hơn 700 năm mà không chết cũng không khổ, đó là sư Huệ Trì em trai của Huệ Viễn là người sáng lập Tịnh Độ Tông.
Câu chuyện của Huệ Trì
Pháp sư Huệ Viễn (334-416) đời Đông Tấn là Sơ Tổ của Tịnh Độ Tông, ông là đồng đạo với Đạo An, nhỏ hơn 20 tuổi. Huệ Viễn có em trai là Huệ Trì (慧持337…) cũng là một pháp sư rất nổi tiếng. Huệ Trì tính tình đạm bạc điềm tĩnh, có chí hướng cao xa. Lúc 14 tuổi bắt đầu đọc Thi Thư, học một biết mười, giỏi về văn sử, tinh thông Kinh, Luật, Luận của Phật giáo. Đạo An ở Tương Dương đề nghị Huệ Viễn đi về phía đông hoằng pháp. Huệ Trì cùng đi với anh. Đến Lư Sơn, dãy núi ở phía bắc tỉnh Giang Tây, hai anh em ở chung. Huệ Trì thân cao 8 xích , phong thái tuấn tú, thường mang giày cỏ, áo nạp phủ quá đầu gối. Huệ Viễn mở pháp hội ở Lư Sơn, số người theo học Phật pháp tại đây có hơn 3000 người, nhưng trong đó không ai tuấn tú mẫn tiệp hơn Huệ Trì. Năm Long An thứ ba đời Tấn (399CN), ngài nghe nói đến vẻ đẹp của núi Nga Mi ở Tứ Xuyên và muốn đến thăm. Ông bèn hành cước tới Tứ Xuyên, từ đó không ai còn biết tung tích của ông nữa. Thế nhưng vào năm Chính Hòa thứ 3 đời Tống Huy Tông (công nguyên 1113) người ta lại phát hiện ra ông vẫn còn sống. Thì ra ông đã ngồi thiền định trong một bộng cây lớn. Thầy Duy Lực có kể câu chuyện này như sau:
0795 Câu chuyện về pháp sư Huệ Trì nhập định 700 năm ở Tứ Xuyên: https://1drv.ms/u/s!Aj63Gr7WfWk6hIYojJspOVrn_-MY_Q
Bộ Sách Gia Thái Phổ Đăng Lục do Chính Thọ (Vân Môn tông) viết vào đời Nam Tống, quyển 22 có ghi lại một câu chuyện sau : Năm Chính Hòa thứ ba đời Tống Huy Tông (công nguyên 1113), tại Gia Châu Tứ Xuyên (nay là huyện Lạc Sơn nơi có tượng Phật điêu khắc vào vách núi đá cao nhất thế giới) quan địa phương có biểu tâu lên triều đình : Có cây cổ thụ bị gió thổi gãy, bên trong có một lão tăng đang nhập định, râu tóc che phủ thân thể, móng tay dài bao quanh người. Hoàng đế giáng chỉ dùng cáng khiêng lão tăng đó đưa về kinh đô (thời đó là Biện Kinh, kinh đô của nhà Bắc Tống, nay là thành phố Khai Phong tỉnh Hà Nam). Do vị sư người Tây Thiên (Ấn Độ) là Tổng Trì Tam Tạng dùng chiếc khánh đồng đánh lên để làm cho lão tăng xuất định, mới biết đó là em trai của pháp sư Huệ Viễn ở Lư Sơn, tên là Huệ Trì, nhân đi du lãm núi Nga Mi, ngồi nhập định trong bộng cây. Hoàng đế ra lệnh cho họa sĩ vẽ hình của lão tăng, và tự mình làm ba bài kệ.
Ba bài kệ của vua Tống Huy Tông hiện nay vẫn còn, chứng tỏ rằng đây là câu chuyện có thật chứ không phải bị đặt. Xin trích một bài :
七百年來老古錐 Thất bách niên lai lão cổ trùy
定中消息許誰知? Định trung tiêu tức hứa thùy tri ?
爭如只履西歸去 Tranh như chích lý Tây quy khứ
生死何勞木作皮 Sinh tử hà vinh mộc tác bì
Dịch nghĩa: Lão tăng sống hơn bảy trăm năm, căn cơ bén nhọn như cái dùi. Lúc nhập định có lẽ không ai biết tin tức gì của ông. Có thể sánh với Bồ Đề Đạt Ma quảy một chiếc giày về Tây Thiên. Sống chết có vinh hoa gì khi lấy gỗ làm da.
Sự tự do tự tại của Thiền là cứu cánh không có gì ràng buộc.
Trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng, đạo sư Guru Rinpoche (Liên Hoa Sinh 蓮華生 Padmasambhava, không biết rõ năm sinh năm mất, chỉ biết ông từ Ấn Độ đến Tây Tạng dưới triều đại Trisong Detsen, 742 đến 797CN ). Ông và người phối ngẫu là Đức bà Yeshe Tsogyal (757-817CN) là những nhân vật nổi tiếng nhất trong phép nam nữ song tu của Mật tông, họ không nhất thiết phải giữ dâm giới. Bởi vì nam nữ là do tâm thức phân biệt vọng tưởng chứ không phải tuyệt đối có thật.
Câu chuyện Giới Đồ Lê戒阇黎
Trong triều đại nhà Tống có nhà sư, được coi là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, đó là nhà sư nổi tiếng Giới Đồ Lê 戒阇黎 quê ở Lâm Hải, Thai Châu 台州临海 thời Nam Tống (1127–1279). Trước khi xuất gia Giới Đồ Lê họ Lâu, cha là Lâu Nguyên Hựu 娄原佑, nổi tiếng là người tốt trong vùng. Cả đời ông Lâu Nguyên Hựu làm từ thiện, thích trai tăng (làm tiệc chay đãi các vị tăng) chỉ tiếc là vợ chồng ông sau nhiều năm chung sống vẫn chưa có con. Ông đã cầu khấn và bà vợ có lần chiêm bao thấy ôm vầng trăng vào lòng, sau đó có mang sinh được con trai đặt tên là Đốn Cát 顿吉.
Đứa trẻ này ngay khi mới sinh ra đã biết nói: “Lành thay cha mẹ, đã cưu mang sinh ra tôi, đã cứu giúp nhiều người, là dị nhân hiếm có trên đời.” Sự kiện này khiến vợ chồng ông Lâu vừa mừng vừa lo, mừng là đứa trẻ vừa sinh ra đã biết nói, nhưng họ lại lo xuất thân phi phàm của nó,họ lo lắng là bốn câu này mang đầy ý nghĩa Phật giáo, sợ rằng con sớm muộn cũng bỏ cha mẹ theo đạo Phật tu hành.
Quả vậy đứa trẻ về sau trở thành nhà sư lỗi lạc Giới Đồ Lê. Nhưng ông ta không tuân theo các quy tắc như các nhà sư bình thường, trái lại, ông ta không bao giờ tuân thủ giới luật, ông ta không ăn chay mà hay ăn đầu heo và uống rượu ngon. Ông được người ta gọi là “Nhà sư đầu lợn” (Trư đầu hòa thượng 猪头和尚). Giới Đồ Lê không hề khó chịu khi nghe tai tiếng này mà còn bật cười khoái trá.
Nhà sư ăn thịt uống rượu cũng chưa đủ kinh dị, càng bại hoại tăng đoàn hơn chính là việc Giới Đồ Lê không sợ thiên hạ dị nghị, thu nữ đệ tử, và hai người thường đi chung, ở chung với nhau. Nữ đệ tử này tên là Chu thất nương 周七娘, và lai lịch của cô ấy cũng khá phi thường. Cô sinh ra trong một gia đình thuần thành Phật giáo, cô từ nhỏ đã thông minh đĩnh ngộ tuyệt vời, nhưng cô phát nguyện khi lớn lên sẽ không lấy chồng, hàng ngày đi xin ăn trên đường phố và hát nhạc Phật giáo.
Mọi người đều nghĩ chắc cô ấy bị điên, nhưng Giới Đồ Lê lại rất ngưỡng mộ cô và thu nhận cô làm đệ tử.
Một lần, Giới Đồ Lê và Chu Thất nương ra ngoài phố và ăn một bữa no nê món tôm luộc tại một quán ăn trên phố, khi họ lấy tiền ra trả thì thấy ví không có tiền, chủ quán rất tức giận và không cho họ đi. Nhưng rồi, Giới Đồ Lê cười nói: “Không có tiền, nhưng thí chủ muốn vật gì?” Chủ quán nói: “Ta muốn ngươi bồi hoàn tôm sống cho ta!”
Giới Đồ Lê và Chu Thất nương nhìn nhau cười, xong họ ngồi xuống, và không ngừng phun ra từ miệng những con tôm còn sống tươi rói, chủ quán và những người xung quanh sợ hãi, đồng loạt quỳ xuống và kêu lên “Thần tiên ! Thần tiên !”. Giới Đồ Lê cười nói, “Bây giờ tôi đã trả lại tôm sống cho ông rồi đó.” Sau đó, ông và nữ đồ đệ vừa đi vừa hát mà không nhìn lại.
Khi Giới Đồ Lê viên tịch, những người khác đã báo tin này cho Chu Thất nương, nữ đệ tử biết tin không buồn chút nào, ngược lại, cô ấy vừa hát vừa cười. Hát xong, cô an tọa dưới dạ cầu Phổ Tế mà tịch luôn.
Câu chuyện Bàng Uẩn (龐蘊 740-808 đời Đường)
Câu chuyện nổi tiếng về gia đình Bàng Uẩn (龐蘊 740-808 đời Đường) người ở Tương Châu 襄州 nay là thành phố Tương Dương 襄陽 tỉnh Hồ Bắc 湖北 cũng chứng tỏ sinh tử tự do, không bị trói buộc. Sự trói buộc chỉ là thế lưu bố tưởng (thói quen tưởng tượng đã phổ biến qua nhiều đời) chứ không phải tuyệt đối chân thật.
Bàng Uẩn là một người giàu có, có vợ cùng với một gái tên Linh Chiếu 靈照 và một trai tên Bàng Đại 龐大. Ông cảm thấy tài sản là trói buộc, giống như cục nợ, nên đã đem toàn bộ tài sản đổ hết xuống sông Tương, không giữ lại chút gì, hàng ngày chẻ tre đan sáo cho con gái đem ra chợ bán sống qua ngày. Suy nghĩ của ông thật khác với thói quen trọng tiền bạc, vật chất của con người thời nay. Cả gia đình bốn người đạt được sinh tử tự do, hãy nghe thầy Duy Lực kể trong link dưới đây.
1128 Người tại gia cũng có thể kiến tánh- Kể chuyện gia đình Bàng Uẩn: https://1drv.ms/u/s!Aj63Gr7WfWk6hIZg4f5aWFq5D4zhlA
Tóm lại cứu cánh của Thiền là tự do tự tại không bị ràng buộc bởi bất cứ thứ gì kể cả sinh tử luân hồi, Các thiền sư triệt ngộ có thể đạt tới sinh tử tự do. Chẳng hạn trường hợp của thiền sư Động Sơn Lương Giới.
Thiền sư Động Sơn Lương Giới 洞山良价(807-869 CN)
Ông sống vào đời Đường ở tại Hội Kê Chư Tế 会稽诸暨 nay thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, thọ cụ túc giới năm 21 tuổi. Sư từng gặp Nam Tuyền Phổ Nguyện 南泉普願, thiền sư lĩnh hội ý chỉ Thiền.
Vào cuối năm Đại Trung (847-860 Công nguyên là niên hiệu của Đường Tuyên Tông Lý Thầm, 唐宣宗李忱) sư thực hành thiền pháp tại Nông Sơn. Ngày 21 tháng 3 năm Hàm Thông咸通thứ 10 (Hàm Thông 860-874CN là niên hiệu của Đường Ý Tông Lý Thôi 唐懿宗李漼), sư bảo đệ tử cạo tóc đắp y cho sư và đánh chuông tập họp đồ chúng. Khai thị xong, sư ngồi kiết già nhập định và lặng lẽ viên tịch.
Thấy vậy các đệ tử khóc lóc không ngớt. Sư Lương Giới bỗng nhiên mở mắt ngồi dậy nói với họ : “Một người xuất gia tâm lý phải thuần tĩnh không phiền tạp, siêu nhiên không ngưng trệ ở một vật mới đúng là người tu hành chân chính. Bây giờ ta muốn đi mà các ngươi tỏ ra bi ai thảm thiết như thế, chẳng phải quá phàm tục sao ?” Nói xong ông bèn gọi vị tăng chủ sự lại, bảo ông ta chuẩn bị cơm chay. Một lát sau cơm chay được dọn ra, sư mời các đệ tử cùng dùng bữa. Rồi sư lại nói : “Ăn cơm chay xong ta lại đi các ngươi đừng có khóc nha !”
Nhưng tâm lý của mọi người vẫn ái mộ sư Lương Giới, mọi người đồng lòng cầu xin sư một cách khổ não bi ai, xin sư sống thêm một thời gian. Sư miễn cưỡng trước sự cầu xin bi thiết đó nên ở lại bảy ngày. Sau bảy ngày sư Lương Giới lại bảo chủ sự chuẩn bị cơm chay đãi tiệc đồ chúng. Tại bàn ăn sư chỉ vào thức ăn chay nói lớn : “Bữa tiệc chay này gọi là bữa cơm chay ngu si ” Trong lời nói có ý trách đồ chúng không lo tu hành đạt tới trí bát nhã, không thâm ngộ giáo pháp của Như Lai, rằng không thật có sanh tử, không đi không đến.
Qua ngày thứ tám sư Lương Giới lại tắm rửa sạch sẽ, ngồi ngay ngắn mà tịch.
Đó là câu chuyện sinh tử tự do, tùy ý sống chết của thiền sư Động Sơn Lương Giới chứng tỏ sự giác ngộ giải thoát.
Trong mười bức tranh chăn trâu, Thập mục ngưu đồ 十牧牛圖 của Thiền, bức tranh thứ 10 nhập triền thuỳ thủ 入廛垂手 (buông tay vào chợ) nói lên cứu cánh của Thiền.
露胸跣足入廛來 Lộ hung tiển túc nhập triền lai Chân trần lộ ngực bước vào thành
抹土涂灰笑滿腮 Mạt thổ đồ hôi tiếu mãn tai Đất lấm than lem tiếu liên thanh
不用神仙真秘訣 Bất dụng thần tiên chân bí quyết Bí quyết thần tiên đâu cần đến
直教枯木放花開 Trực giao khô mộc phóng hoa khai Cây khô cũng khiến nở hoa lành
Bức tranh mô tả tâm trạng của một người giải thoát, tự tại, vào chốn hồng trần hỗn tạp, không còn vướng bận bởi bất cứ chân lý hay giáo điều nào, vì đã trực ngộ tánh không của vạn pháp.
Truyền Bình
Nguồn: https://duylucthien.wordpress.com/2025/11/09/cuu-canh-cua-thien-la-gi/