Chapter 3

CÁC NI SƯ XUẤT CHÚNG TRONG THIỀN SỬ

Lịch sử Thiền tông Trung Hoa được ghi chép trong các bộ sách như “Cao Tăng Truyện 高僧傳” do Huệ Hiệu 慧皎(497-554CN) biên soạn vào thời Lương, bao gồm nhiều tập.

“Cảnh Đức Truyền Đăng Lục景德傳燈錄” gồm 30 quyển là bộ sách quan trọng nhất của Thiền sử, do thiền sư Đạo Nguyên 道原 (không rõ năm sinh năm mất) sống vào thời Bắc Tống biên soạn vào đời Tống (in lần đầu năm 1004), và “Chỉ Nguyệt Lục 指月錄” do Cù Nhữ Tắc 瞿汝稷(1548-1610CN)biên soạn vào thời nhà Minh, hoàn thành năm 1602.

[hình]

Trong Thiền sử TQ có ghi nhận hơn 5000 vị kiến tánh giác ngộ trong đó có không ít người nữ như Bàng Bà và Linh Chiếu trong gia đình Bàng Uẩn, bà già bán bánh rán trong câu chuyện của Đức Sơn Tuyên Giám (782-865), một vị thiền sư lỗi lạc đời Đường bên Trung Quốc người phương Bắc gánh bộ kinh Kim Cang Sớ Sao đi xuống phương Nam định dẹp tan những người tu Thiền Đốn ngộ, không ngờ gặp bà già bán bánh hỏi trả lời không được. Cuối cùng bà già sau đó chỉ Đức Sơn đến tìm thiền sư Long Đàm và được đại ngộ. Ngoài ra là các vị nữ thiền sư như Ni Liễu Nhiên, Ni Thực Tế.

Xin giới thiệu Liễu Nhiên thiền sư ở núi Mạt Sơn và Ni sư Thực Tế sống vào đời Đường.

MẠT SƠN LIỄU NHIÊN THIỀN SƯ

Chùa Mạt Sơn tọa lạc tại núi Cửu Phong 末山九峰禅寺 huyện Thượng Cao上高县 thành phố Nghi Xuân 宜春市 tỉnh Giang Tây, chùa còn có tên là Sùng Phúc 崇福寺. Trong thời Đường Càn Ninh 唐乾宁(894-897) có người nối pháp của Động Sơn Lương Giới là Phổ Mãn thiền sư đến đây trụ trì. Thiền sư Quán Khê Sĩ Nhàn đến đây có lẽ trong khoảng thời gian trước đó bởi vì ông viên tịch năm 895.

Liễu Nhiên thiền sư nhân Hòa thượng Quán Khê Sĩ Nhàn (灌溪志闲) đi du phương đến núi này (Mạt sơn), bèn nói: “Nếu bằng với ta thì ở lại, nếu không thì ta xô ngã giường thiền”. Nhàn vừa vào Thiền đường, Liễu Nhiên sai thị giả hỏi: “Thượng tọa đi du sơn mà đến hay vì Phật pháp mà đến?”

Nhàn đáp: - Vì Phật pháp đến? Liễu Nhiên lên tòa, Nhàn đến tham dự.

Liễu Nhiên hỏi: Hôm nay Thượng tọa rời khỏi chỗ nào ?

Nhàn đáp: – Theo đường lộ đến.

Liễu Nhiên bảo: Sao không che lại đi ?

Nhàn không có lời đáp, mới lễ bái hỏi: Mạt Sơn như thế nào ?

Liễu Nhiên đáp: – Không lộ đỉnh.

Nhàn lại hỏi: – Mạt Sơn chủ thế nào ?

Sư đáp: Chẳng phải tướng nam nữ.

Nhàn bèn quát : -Sao không biến đi ?

Sư đáp: -Chẳng phải thần, chẳng phải quỉ, biến cái gì? Nhàn mới quy phục, ở lại làm Tri viên (trồng rau) ba năm.

Có vị Tăng đến hỏi thăm, Sư bảo: Rất lam lũ vậy ?.

Tăng đáp: -Tuy nhiên như thế vẫn là sư tử con.

Sư bảo: – Đã là sư tử con, vì sao bị Văn-thù cỡi ?

Tăng không có lời đáp, hỏi: -Thế nào là tâm cổ Phật ?.

Sư đáp: -Thế giới sụp đổ ?

Tăng hỏi: Thế giới vì sao sụp đổ? Sư đáp: – Hẳn là không có thân ta.

THIỀN SƯ CÂU CHI VÀ NI THỰC TẾ

Ni sư Thực Tế là nữ thiền sư nổi tiếng thời Đường được biết đến trong lịch sử Thiền tông nhờ sự giác ngộ tâm linh sâu sắc và trí tuệ sắc bén. Công án thiền nổi tiếng nhất của bà là câu chuyện “Thiền một ngón” với nhà sư Câu Chi trên núi Kim Hoa. Tên thật và tiểu sử của nữ thiền sư này hiện không còn có thể xác minh, nhưng phong cách quyết đoán và sắc bén của bà đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử Phật giáo Thiền tông.

Thiền sư Câu Chi 俱胝 lúc đầu sống trong am, có một vị tỳ kheo ni tên là Thực Tế 實際 đến thăm.

Ni cô đến am, không thông báo cũng không bỏ nón, chống trượng đi quanh thiền sàng của Câu Chi 3 vòng nói: Nếu thầy nói được ta sẽ dỡ nón. Ni cô hỏi liền ba lần, Câu Chi không đáp được một câu.

Ni cô Thực Tế bèn phất áo định đi. Câu Chi nói: Trời gần tối rồi, xin hãy lưu lại một đêm.

Ni cô: Nếu thầy nói được, ta sẽ lưu lại một đêm. Câu Chi lại không đáp được.

Khi ni cô đi rồi Câu Chi than rằng: Ta là nam tử mà không có khí khái trượng phu!

Về sau khi Thiên Long đến đó, Câu Chi mời vào thuật lại chuyện ni cô đã đến thăm. Thiên Long giơ một ngón tay lên khai thị, Câu Chi tức khắc khai ngộ.

Từ đó, hễ có ai đến hỏi pháp Câu Chi đều chỉ giơ một ngón tay lên.

Có một đồng tử, bắt chước Câu Chi, khi ai hỏi chuyện gì đều giơ một ngón tay lên.

Có người mách Câu Chi. Câu Chi nghe rồi giấu dao trong tay áo, gọi đồng tử đến hỏi rằng: Ngươi cũng hiểu Phật pháp rồi có phải không? Dạ! Câu Chi lại hỏi: Phật là gì? Đồng tử giơ một ngón tay lên, Câu Chi liền vung dao lên chặt đứt ngón tay. Đồng tử đau quá vừa khóc, vừa chạy. Câu Chi hét lớn bảo đứng lại, đồng tử quay đầu lại.

Câu Chi hỏi: Phật là gì? Theo thói quen đồng tử lại giơ tay lên, nhưng không thấy ngón tay đâu, bỗng nhiên đại ngộ.

107b Ni Liễu Nhiên và Ni Thực Tế Thầy Duy Lực Thuyết: https://drive.google.com/file/d/1u52OI5DjSTcDv8wwH3f8BmJxOh5IYsvT/view?usp=sharing

Tóm lại trong lịch sử Thiền tông có ghi nhận những Ni sư xuất chúng như đã kể trên. Điều đó chứng tỏ rằng việc tu tập giác ngộ ai cũng có thể thành tựu không phân biệt nam nữ. Mặc dù trong Tiểu thừa có quy định luật Bát kỉnh. Bát Kỉnh Pháp (hay Bát kính giới / Tám quy định Ni phải tôn trọng Tăng) là 8 quy tắc ứng xử và tu tập mà Đức Phật chế định dành riêng cho Ni giới (tỳ-kheo-ni) khi muốn xuất gia, thể hiện sự cung kính và tôn trọng đối với Tăng giới (tỳ-kheo)

Nội dung chính của Bát Kỉnh Pháp. Tám điều tôn kính chủ yếu bao gồm:

Tôn trọng Tỳ kheo: Ngay cả một tỳ kheo ni đã thọ giới trăm năm cũng phải đứng chào một tỳ kheo mới thọ giới, phủ phục chào và mời ngồi. Không quở trách: Tỳ kheo ni không được lăng mạ, phỉ báng hay khiển trách tỳ kheo. Không tố cáo lỗi lầm:Tỳ kheo ni không được chỉ ra lỗi lầm của tỳ kheo, nhưng tỳ kheo có thể vạch lỗi lầm của tỳ kheo ni. Xin thọ giới: Tỳ kheo ni phải xin thọ giới từ Tăng đoàn.

Thú nhận lỗi lầm:Tỳ kheo ni phạm lỗi lầm nghiêm trọng phải thú nhận lỗi lầm của mình trước mặt cả Tăng đoàn và đoàn thể Tỳ kheo ni. Trước khi thọ giới, tỳ-kheo-ni phải học giới trong 2 năm. Trong vòng nửa tháng, Tỳ kheo ni phải thọ giới từ một tỳ kheo và nương tựa vào giới luật của vị ấy mà tu tập. An cư kiết hạ: Trong kỳ an cư kiết hạ, các tỳ kheo ni không được đi xa đến nơi khác để tham gia tu tập trừ khi có tỳ kheo hiện diện.

Tự quán chiếu: Vào cuối kỳ an cư kiết hạ, các tỳ kheo ni phải thực hiện “tự quán chiếu” (tự kiểm điểm lỗi lầm) trước mặt các vị Tăng và các tỳ kheo ni khác. Theo kinh điển Phật giáo, luật này được Đức Phật thiết lập khi dì của Phật là Bà Mahapajapati, dẫn một nhóm người nữ đi bộ cầu xin xuất gia, và đệ tử của Phật là A Nan đưa ra lời khuyên nhằm bảo vệ sự hòa hợp của Tăng đoàn và đoàn thể Tỳ kheo ni khi thành lập.

Mặc dù một số người hiện đại tin rằng những quy định này phản ánh cấu trúc giai cấp xã hội thời đó, nhưng thực ra quy định này nhằm hạn chế và khắc phục những tập quán không hay vốn có của nữ giới. Đây được coi là nền tảng của việc tu tập của Tỳ kheo ni trong truyền thống chế định của Luật tạng. Nhưng một khi đã chứng ngộ thì không còn phân biệt tăng và ni, không áp dụng bát kỉnh.

Chúng ta thấy Ni Thực Tế khi đến gặp sư Câu Chi không dỡ nón chống trượng đi quanh thiền sàng 3 vòng chẳng tỏ ra kính trọng chút nào rồi nói lớn tiếng “Nói được thì ta dỡ nón”.

Như vậy chứng tỏ Thiền rất cởi mở không hề phân biệt trọng nam khinh nữ, chỉ chú trọng giác ngộ mà thôi. Giác ngộ rồi thì ai cũng như ai theo nguyên lý Pháp giới bình đẳng.

Truyền Bình

Nguồn: https://duylucthien.wordpress.com/2026/05/10/cac-ni-su-xuat-chung-trong-thien-su/