THÙY
Thà trầm luân muôn kiếp chứ không cầu pháp giải thoát của Chư Thánh. Đề-bà-đạt-đa thọ lạc tam thiền trong địa ngục Uất Đầu Lam Phật đọa làm thân chồn bay trên Hữu Đảnh Hãy nói: Lợi hại chổ nào?
CỬ - TẮC
Sư Bá Mật và Động Sơn đi, thấy con thỏ trắng chạy qua trước mặt. Mật nói: Thật đẹp.
Động Sơn nói: Là thế nào?
Mật Bá nói: Như tướng bạch y lễ bái
Lão già nói lời nói này.
Ông lại thế nào?
Trâm anh lâu đời, tạm thời nổi trôi.
LUẬN
Sư nêu: Thiền sư Động Sơn và Tăng Mật núi Thần Sơn ở Đàm Châu qua sông. Sơn hỏi: Việc qua nước thế nào?
Mật nói: Không ướt chân Lão già nói lời này Ông lại thế nào?
Chân không ướt
Trong giáo có hai môn Tánh Tu
Động Thượng tên Tu Công minh vị, phần lớn nhờ tu mà ngộ, từ phàm vào Thánh, bạch y thứ dân lễ bái hào tễ. Nếu trước ngộ đạo sau rồi mới tu, từ phàm vào Thánh, nhiều đời trâm anh xưa nay tôn quý tuy phiêu bạt vạn trạng, xương cốt vẫn còn. Cho nên nói: Người cùng khốn rõ đạo này trong kệ hiến châu hiễn bày la liệt, các ông muốn thấy chỗ của hai lão túc không, xem lấy một Thiên Đồng lãnh hội qua.
TỤNG
Sức bằng sương tuyết,
Nhẹ bước núi mây
Hạ Huệ bỏ nước,
Tưởng Như qua cầu
Túc, Tào mưu lược nên nhà Hán
Sào, Hứa thân tâm muốn tránh Nghiêu
Vinh nhục bỏ rồi thêm tự tín
Chân tình theo dấu lão ngư tiều
LUẬN
Sư nói: Cỏ bồng tham mưu đổ, tùng bá chịu gió sương năm lạnh mới biết sức tùng bá. Đây là yếu chỉ tùy duyên bất biến. (23) là lời về trâm anh lưu lạc, có người sức mạnh kham chịu việc này.
Câu “nhẹ bước núi mây”, một khi vượt thì thẳng đến đất Như Lai, đã là rất chậm, thật không biết trâm anh nhiều đời xưa nay phú quý. Luận nói Liễu Hạ Huệ là dẫn đầu các sĩ tốt. Tam Truất Nhân nói: “Ông chưa thể đi được”
Dù nói việc người đâu thường mà không phải Tam Truất, uổng nói mà nhân sự, đâu cần bỏ quê cha mẹ. Tư Mã Tương Như tự Thái Tử cha mẹ mất lúc ông ta mới lên chín tuổi phải đi chăn heo cho người, nghe Lạn Tương Như làm tướng khanh liền bỏ nghề làm thuê theo nghề học, chủ nhà đánh đập. Thầy hỏi nguyên do mới biết ông ta là bậc hiền và cho ở nơi am cỏ ngoài cửa, mười năm không có sách để đọc, ông ta bèn bỏ đi. Qua cầu Thăng Tiên, Đề Trụ nói: Nếu không đi xe ngựa thì không thể qua cầu này. Sau đó gặp được bài phú của Tử Hư. Tướng Quân Dương ông ta rất đắc ý, đêm ngày ở mãi trong điện tụng bài phú này. Vua nói: Trẩm hận mình sống không cùng thời với người này. Tướng Quân tâu: Thần thấy ở đất Thục. Vua sai đến vời ông ta cùng cưỡi xe ngựa, phong cho chức Thị Trung, Tiễu Hà Tào Tham thành nghiệp là Hán Cao Tổ. Cha của Sào Phủ tên Hứa Do vì tránh vua Nghiêu mà rửa tai. Lão Tử nói: Vinh cũng sợ, nhục cũng sợ, được cũng sợ, mất cũng sợ. Bốn cặp tám việc kể trên điều là một câu Lão Mật, một câu Động Sơn. Lành thay! Khuê Phong nêu thí dụ. Thí như kẻ hoàng tộc lưu lạc nơi chỗ tồi tàn học để thành tánh. Sau đó gặp tiến cử tuy là bổn vị, ba đầu mối sáu nghệ, cốt yếu phải đổi sức học tập thì dụng mới toàn vẹn.
Tuy Thiên Đồng Phần Thượng còn rơi vào giai cấp. Không thấy nói “ Vinh nhục bỏ rồi thêm tự tin”.
Chân tình theo dấu lão ngư tiều