Quyển Thượng
- 1. TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
- 2. QUYỂN THƯỢNG
- 3. Câu chuyện #1
- 4. Câu chuyện #2
- 5. Câu chuyện #3
- 6. Câu chuyện #4
- 7. Câu chuyện #5
- 8. Câu chuyện #6
- 9. Câu chuyện #7
- 10. Câu chuyện #8
- 11. Câu chuyện #9
- 12. Câu chuyện #10
- 13. Câu chuyện #11
- 14. Câu chuyện #12
- 15. Câu chuyện #13
- 16. Câu chuyện #14
- 17. Câu chuyện #15
- 18. Câu chuyện #16
- 19. Câu chuyện #17
- 20. Câu chuyện #18
- 21. Câu chuyện #19
- 22. Câu chuyện #20
- 23. Câu chuyện #21
- 24. Câu chuyện #22
- 25. Câu chuyện #23
- 26. Câu chuyện #24
- 27. Câu chuyện #25
- 28. Câu chuyện #26
- 29. Câu chuyện #27
- 30. Câu chuyện #28
- 31. Câu chuyện #29
- 32. Câu chuyện #30
1. TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
Thiền sư Vô Uấn (1309 - 1386), tự Thứ Trung hiệu Không Thất. Thầy họ Trần, người huyện Lâm Hải, tỉnh Chiết Giang, nối pháp Thiền sư Diệu Đạo, hiệu Trúc Nguyên.
Thầy trụ trì qua các ngôi chùa nổi tiếng như: Linh Nham, Thụy Nham. Người học tin tưởng hướng về, tông phong chấn hưng mạnh mẽ.
Sau đó Thầy lui về ở nơi Tùng Nham. Năm thứ VII niên hiệu Hồng Vũ (1374), Thầy lấy cớ già bệnh từ chối lời mời sang nước Nhật, rồi đến ở chùa Thiên Giới. Tống Cảnh Liêm là vị quan ở viện Hàn lâm có hiệu là cư sĩ Vô Tướng, do mến mộ đạo đức của Thầy, nên thường đến thăm hỏi bàn Thiền.
Năm thứ XVII niên hiệu Hồng Vũ, đệ tử của Thầy là Cư Đảnh đón Thầy về Thúy Sơn để phụng dưỡng. 2 năm sau Thầy thị tịch.
Quyển Sơn Am Tạp Lục được soạn thành vào những năm cuối đời, khi Thầy cất am tranh ẩn cư trên núi Thái Bạch.
Nội dung ghi lại những cơ duyên để xướng của các bậc cao đức, chuyện nhân quả báo ứng, cùng nhiều hạnh nết lành dữ đáng làm gương cho đời sau, là kim chỉ nam cho người tu đạo, cho nên được khen ngợi là một trong 7 quyển sách hay của Thiền môn.
2. QUYỂN THƯỢNG
3. Câu chuyện #1
NGÀI ĐỊNH THỦY BẢO DIỆP
Hòa thượng Bảo Diệp ở viện Định Thủy, người Tây Minh, đến tham học với Thiền sư Trí Ngu hiệu Hư Đường ở Kính Sơn. Thông thường, nếu như chưa thể thông suốt thoại đầu trong Tông môn, thầy nhất định phải thưa hỏi các bậc lão thành, bao giờ hiểu mới thôi.
Một hôm, thầy đi đến chỗ Hư Đường, hỏi: Câu sau cùng của Đức Sơn nếu cho là có, Đức Sơn đâu thể chẳng hiểu? Nếu bảo là không, sao Nham Đầu lại nói Đức Sơn chưa hiểu? Mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy
Hư Đường nói: Ta chẳng hiểu, ông nên đi hỏi Thủ tọa Vân
Thầy đi hỏi Thủ tọa Vân. Đúng lúc Thủ tọa dạo núi về, xách nước rửa chân. Thầy liền đưa nước, cúi mình lấy tay kì cọ, lại ngước đầu hỏi: Câu sau cùng của Đức Sơn, con chưa biết là có hay không, mong Thủ tọa chỉ dạy
Thủ tọa Vân dùng hai tay vốc nước rửa chân tạt vào mình thầy, nói: Có câu sau cùng nào đâu!
Thầy không hiểu ý chỉ. Sáng hôm sau thầy đến gặp Hư Đường.
Hư Đường hỏi: Tôi bảo ông hỏi Thủ tọa Vân câu sau cùng, ông ta nói thế nào?
Thầy nói: Con theo lời dạy của Hòa thượng đến hỏi Thủ tọa, bị ông ta lấy nước rửa chân tạt vào mình
Hư Đường nói: Ông ta không nói gì khác sao?
Thầy đáp: Ông nói: “Có câu sau cùng nào đâu”
Hư Đường nói: Thế thì ta nói cho ông biết là ông ta hiểu được
Thầy do đó thông suốt. Thủ tọa Vân là Hòa thượng Nhàn Cực, đệ tử đứng đầu của Ngài Hư Đường, có đạo hạnh cao, trụ ở Hổ Khâu rồi mất.
🔖 Thoại đầu: Thoại là một lời nói, khi chưa khởi niệm muốn nói gọi là thoại đầu, chính là chỗ vô thì vô minh. Tham thoại đầu, còn gọi là Khán thoại đầu, tức là nhìn ngay chỗ vô thỉ vô minh, không biết đó là cái gì, vừa nhìn vừa hỏi, càng hỏi càng cảm thấy không biết, ấy gọi là phát nghi tình. (Từ Điển Thiền Tông)
4. Câu chuyện #2
NGÀI NHÂN ĐẠI PHƯƠNG
Nhân Đại Phương trụ trì chùa Định Huệ ở Bình Giang, là người ở Thiên Thai, nối pháp ngài Cổ Lâm. Thầy không quan tâm đến việc nhỏ nhặt, cuộc sống phóng khoáng tự tại, thường qua lại thân thiết với Quận thú Chu Hầu Nghĩa. Đại Phương giao lại tất cả công việc trong viện, đến ở phòng của Lão Túc Hoa tại Linh Nham.
Ngày 8 tháng 9 năm Mậu Tuất, niên hiệu Chí Chánh, Chu Hầu Nghĩa có việc vào núi thăm hỏi. Đại Phương nói với Hầu Nghĩa: Tôi vào ngày 14 trong tháng này sẽ hỏa thiêu tại núi này. Mong ông chứng minh cho tôi.
Hầu Nghĩa vui đùa chấp nhận, rồi từ biệt ra đi. Đến ngày 13, thầy viết kệ gửi Hầu Nghĩa nói:
Vách núi hôm qua nhặt củi khô,
Sáng nay chất huyễn hóa thành tro,
Ân cần nhắn gởi Hiền hầu bạn,
Mây tan trời thẳm một vầng trăng.
Tạc nhật nham tiền thập đắc tân,
Kim triệu huyễn chất hóa vị trần,
Ân cần ký ngữ Hiền hầu đạo,
Bích lạc vân thu nguyệt nhất ngân.
Hầu Nghĩa nhận được bài kệ, cũng chưa tin chắc. Đêm ấy, thầy xin Lão Túc Hoa dùng củi khô làm một sàng cao và mượn cái khám để ngồi Lão Túc Hoa nói: Củi thì sẽ cho, còn khám thì không có.
Thầy mới chỉ cái giường Lão Túc Hoa ngồi nói: Cái này cũng đủ rồi.
Lão Túc Hoa đồng ý như lời.
Đến sáng ngày 14 thầy lên điện lễ Phật xong, nói lời từ biệt với tăng chúng, lại nói kệ:
Thân trước vốn tăng ở Thạch Kiều,
Cố đến nhân gian thương ghét nhiều,
Thương ghét hết rồi toàn thể hiện,
Rắn sắt nhai băng trong lửa thiêu.
Tiền thân bổn thị thạch kiều tăng
Cố hướng nhân gian cung ái tắng,
Tắng ái tận thời toàn thể hiện,
Thiết xà hỏa lý tước hàn băng.
Thầy liền cầm củi khô đi lên sàn gỗ, tự châm lửa đốt, củi bén lửa cháy bùng hừng hực. Ở trong lửa, thầy nguyện hương rằng:
Mầm linh chẳng phải giống thường đâu,
Cội gốc vốn từ kiếp ngoại lâu,
Chẳng phải ở yên đã nói rõ,
Sao dám đem trồng trong lửa sâu.
Tiền thân bổn thị thạch kiều tăng
Cố hướng nhân gian cung ái tắng,
Tắng ái tận thời toàn thể hiện,
Thiết xà hỏa lý tước hàn băng.
Khoảng niệm một xâu chuỗi, thầy nói với Tôn Túc Hoa: Ngài nên dặn dò lại. Chỗ lửa đốt cháy được rất nhiều xá lợi. Chu Hầu Nghĩa nghe được tin này, giật mình than thở mãi. Thế rồi ông xây tháp thờ xá lợi thầy ở Linh Nham, lại làm thơ để tỏ lòng thương tiếc.
5. Câu chuyện #3
THẦY TRÒ NGÀI VIÊN NGỘ, ĐẠI HUỆ VÀ PHẬT TRÍ
⚠️ Trong Tùng lâm, những lời rao truyền không đáng tin tưởng. Đời sau cho rằng Đại Huệ và Phật Trí đồng tham học ngài Viên Ngộ, nhưng Viên Ngộ chỉ thương Phật Trí, vì thế Đại Huệ thường không bằng lòng.
Về sau Phật Trí trụ chùa A Dục Vương. Đại Huệ nối tiếp trụ trì pháp tịch của Viên Ngộ, lấy cớ phong thủy không tốt mà khai quật ngôi tháp của Viên Ngộ. Khi tháp xới lên, thấy thân thể của Viên Ngộ không hư hoại, Đại Huệ lấy cuốc to đánh vỡ não, rồi tưới dầu đốt rụi. Nếu đúng như vậy, có thể nói quá thê thảm. Người bình thường còn không nỡ làm, mà Đại Huệ nhẫn tâm làm ư.
Tôi đã từng đọc bài Minh ở tháp của ngài Viên Ngộ, khi Ngài mất, đem hỏa táng chôn cất xá lợi, không có chuyện nhập tháp toàn thân.
⚠️ Lại chê cười thấy Phật Trí trụ trì chùa Dục Vương, sai thợ đập phá xây dựng không ngày rảnh. Đến khi chùa Thiên Đồng không có người coi sóc, Đô Đường Tỉnh vâng lệnh vua dời thầy đến bổ nhiệm trụ trì. Thầy lấy cớ chùa Dục Vương xây dựng chưa xong, dâng thơ lên Tể Tướng xin được miễn theo lệnh. Trong thơ có câu: “Thiên Đồng là Dục Vương, Dục Vương là Thiên Đồng”. Do vì thầy trụ trì thanh quy nghiêm ngặt, tăng sĩ có sai phạm đều không dung thứ, cho nên ai cũng sợ.
Khi thấy thầy từ chối lệnh đến trụ trì chùa Thiên Đông, một số người ganh ghét hợp lại chê bai, cho là thầy “đem tiền mười vạn mua chùa Thiên Đồng”. Đến hiện nay, những bọn không biết gì truyền nhau cho là sự thật.
Vào niên hiệu Chí Nguyên, vua Thuận Đế nhà Nguyên, tôi có hỏi Nhạ Cảnh Văn ở chùa Phổ Phước Giáo. Cảnh Văn đưa xem bản thư thấy dâng cho quan Tể Tướng, nét mực vẫn rõ ràng mới chứng tỏ lời chê bai trước là sai lầm. Lại đọc bài Minh ở ba ngôi tháp và hành trạng trong Văn Tập của ngài Vô Văn, thuật chuyện thầy từ chối đến chùa Thiên Đồng đều cùng ý trong thư.
Nói về đạo đức của hai thầy, giống như mặt trời, mặt trăng trên cao, nơi đâu cũng được chiếu soi, mà vẫn có những lời chê bai không căn cứ. Tuy không thể làm ô uế hai thầy, nhưng cũng không thể không nói rõ để biết.
6. Câu chuyện #4
NGÀI LINH ẨN THIÊN LẠI
⚠️ Hòa thượng Thiên Lại ở chùa Linh Ẩn, người Xế Hữu, nối pháp ngài Ngu Cực. Thầy thích đọc sách làm văn, xem thường tất cả trên đời, có trước tác quyển Phù Tông Hiển Chánh Luận, phân tích tà chánh, xét định phải trái, rất là đáng xem.
Tuy nhiên, trong bản luận lại cho vvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvvcác tông sư giả chùy, dựng phát là trò đùa, rồi dẫn việc “Vương Diễn nhà Tấn cầm cán ngọc trần giống như cánh tay” để làm chứng.
Nói về các bậc tông sư giơ chùy dựng phất là nêu lên cơ hướng thượng, há lại là việc nhỏ sao? Mà Thiên Lại cho là trò đùa, không những làm mờ đi con mắt chánh của chính mình, mà còn gây nghi ngờ lầm lẫn cho người sau.
7. Câu chuyện #5
Nhà Nguyên diệt nhà Tống, cử Dương Liên Chơn Gia làm Thích Giáo Đô Tổng thống ở Giang Hoài, ông vâng lệnh đến Sơn Âm, đất Việt, khai quật những lăng tẩm của các vua Tống khi đến phương nam dựng kinh đô, nhưng chỉ cốt lăng nhục thi thể của vua Lý Tông mà thôi. Điều này nhất định là do oán thù lúc trước. Trụ trì chùa Diễn Phước là Thích Vân Mộng cũng đi cùng Chân Gia. Ý của Vân Mộng muốn a dua theo Chân Gia, nên lấy chân trái đá vào hông thi thể.
Không lâu sau, ở Dương Châu có người bị bệnh chết thình lình, đến cõi vua Diêm La, nghe lính âm phủ báo: “Thiên tử ở dương gian đến”.
Diêm vương xuống điện nghênh tiếp. Người ấy thấy mui xe vàng, cờ tiết mao cắm bên trái, ngựa xe rầm rộ, không khác gì nghi thức đưa đón bậc vua chúa ở nhân gian. Họ mới ngồi ổn định xong, lát sau có một lính quỷ xiềng trói một vị tăng, dẫn đến trước điện.
Vị vua ở dương gian trách rằng: “Trẫm ở ngôi 40 năm, lo nước trị dân, không có lỗi lầm to lớn. Đối với giáo pháp của thầy, chưa bao giờ ngăn cấm không cho truyền bá, cũng không có thù oán gì với thầy, sao thầy lại hùa theo Chân Gia, đến làm nhục Trẫm”.
Nói xong, sai 2 lực sĩ dùng dùi sắt dùi ngón chân cái bên trái, giơ lên cao rồi đánh. Tiếng la đau đớn của thầy kia chua xót thê thảm nghe thật đáng sợ. Lát sau, tất cả đều đi hết.
Người chết kia thấy lạ mới hỏi: Vị thiên tử ở dương gian là ai? Có người đáp là Hoàng đế Tống Lý Tông. Còn vị tăng bị đánh là ai? Được trả lời là Thích Vân Mộng trụ trì chùa Diễn Phước ở Hàng Châu. Người kia tỉnh lại, nhân đó đi đến chùa Diễn Phước, hỏi việc ấy để xem có đúng điều mình thấy hay không. Đến nơi biết được Vân Mộng bị thương ở ngón cái chân trái không thể trị, vì thế đã chết rồi.
8. Câu chuyện #6
Gần đây trong Tông môn của ta có nhiều bậc trác tuyệt, gặp lúc thi triển tài năng, không dẫm theo vết cũ của người xưa, có thể vận dụng trí tuệ của mình để mở mang lòng người, làm cho giáo pháp tăng cao giá trị. Nhưng sao hiện nay ít thấy những vị như thế!
Pháp sư Nghi ở Phụng Sơn, trụ trì chùa Hạ Thiên Trúc ở Hàng Châu, vào đầu niên hiệu Diên Hựu, thời Tiền Nguyên, thầy được đến gặp vua và được ban cho danh hiệu Tam Tạng Hồng Lô Khanh, nhưng thầy không chịu nhận bổng lộc ấy. Trong Giáo môn có chút việc không thích hợp, thầy nhất định chỉnh sửa.
Phò mã nước Cao Ly là Thẩm Vương được sắc chỉ đến lễ Bồ tát Quán Âm ở núi Phổ Đà. Đi qua Hàng Châu, Phò mã xuất tiền trong túi, đến chùa Minh Khánh để thiết trai, cúng dường các vị trụ trì trong núi. Từ quan tỉnh trở xuống đến các quan Ngọ môn, đều đích thân đôn đốc việc này. Đến khi sắp chỗ ngồi, đặt Thẩm Vương ngồi trên pháp tòa giữa giảng đường. Các quan theo thứ bậc ngồi dưới pháp tòa, các vị trụ trì ngồi hai dãy nhà hai bên.
Ổn định chỗ ngồi xong thầy mới đến, thấy thế thầy liền đi thẳng lên tòa hỏi Phò mã: Trai hội ngày hôm nay là thế nào?
Phò mã đáp: Cúng đường các vị trụ trì
Thầy nói: Đại vương đã nói cúng dường các vị trụ trì, ngồi ở chỗ tôn quý, các vị trụ trì lại ngồi ở hai mà chủ nhân hiện không có chỗ. Còn đại vương. dãy nhà bên, có người còn ngồi dưới đất, chẳng khác gì đi xin các nơi, e rằng không hợp là pháp.
Phò mã nghe nói, hốt hoảng xin lỗi, liền xuống pháp tòa, đến trước vái tạ các vị trụ trì, phân ngôi chủ khách, các vị quan xuống ngồi chỗ hai dãy nhà. Buổi cúng dường xong, Phò mã nắm tay thầy nói: Nếu không có thầy, e rằng không thành lễ.
Ôi! Nếu cho là gặp lúc thi triển tài năng, có thể mở mang lòng người. Thầy Phụng Sơn chính là người như thế.
9. Câu chuyện #7
Hòa thượng Hư Cốc, giã từ Ngưỡng Sơn, đi đến Kính Sơn. Khi đến trong thành Viên Châu, đàn tín ở bốn phương xa xôi đến đưa tiễn và tặng phẩm vật, tiền bạc, chất đầy trước mặt. Hư Cốc từ chối nói: “Ta không sáng suốt, các vị trụ trì ở Lưỡng Chiết cho ta có chút am hiểu tông thú. Nơi Kính Sơn không ai trụ trì, cho nên mời ta đến ở, muốn ta mở nhà giảng nói pháp, nêu bày ý chỉ, chẳng lẽ cho nơi ấy là nghèo khó mà chê bai. Những vật tặng của các vị xin được trả lại, mới mong tránh được sự chê trách của Tân Hoa Nghiêm”. Ra đi thầy dặn dò vị thị giả chỉ mang theo vật dùng cần thiết bên mình mà thôi.
10. Câu chuyện #8
Tôi vào khoảng niên hiệu Thiên Lịch đến tham học với Thiền sư Nhất Nguyên Linh ở núi Phụng tại Hồ Châu, do nghiền ngẫm không vỡ lẽ công án Triệu Châu khám phá lão bà ở Đài Sơn. Một hôm đang đứng hầu, tôi nêu ra để hỏi thầy. Thầy nói: “Ta lúc trẻ ở chỗ Hòa thượng Phương Sơn, chùa Thụy Nham tại Đài Châu làm Duy na, cũng từng đem công án này hỏi Hòa thượng. Hòa thượng Sơn nói: “Duy na Linh, ông nói một lời xoay chuyển xem”. Ta khi ấy mở miệng nói liền: “Hết thảy người trên trái đất không có ai làm gì được lão bà này.” Hòa thượng Sơn nói: “Ta thì không như vậy. Hết thảy người trên trái đất không có ai làm gì được lão Triệu Châu”.
Khi ấy, ta như người đói được ăn, như bệnh được xuất mồ hôi, tự cảm thấy khoan khoái”. Kể chuyện ấy xong, thầy bảo: Thị giả, ông hãy nói một lời xoay chuyển riêng xem. Lúc ấy, tôi chỉ như một kẻ đến thăm hỏi xong liền đi. Nhớ lại khi mới vào viện, thầy lên nhà giảng, nêu công ăn: “Thế Tôn lên tòa, Văn Thù đánh kiền chùy”. Niêm rằng: “Thế Tôn vì thế nói sai, Văn Thù vì thế truyền lầm, Tân Phụng Sơn ngày nay vì thế nêu lầm. Hiểu chăng? Một chữ chép lại ba lần, chữ ô, yên trở thành chữ mã”. Lúc ấy, Trúc Nguyên tiên sư ẩn cư ở tháp Lục Hòa nghe chuyện này, hâm mộ vui thích nói: “Viện Tuyên Chánh cử lên bao nhiêu Trưởng lão, chỉ được có Phụng Sơn”.
Thầy là đệ tử xuất gia của Thiền sư Diệu Cao, hiệu Vân Phong ở Kính Sơn, ra hoằng hóa nối pháp Phương Sơn. Thầy là người có lòng từ nhẫn bao dung, chỉ dạy người học tận tình không mệt mỏi. Khi thầy thị tịch, người dù lạ hay quen, không ai chẳng thương tiếc.
11. Câu chuyện #9
Kinh Phật nói: “Trong biển có cá to như núi, trên lưng mọc cây lớn, ngày đêm bị gió nghiệp thổi lay động, đau đớn khó diễn tả". Trang Chu cũng nói: “Biển bắc có loại cá gọi là Côn, lớn không biết là bao nhiêu dặm”.
Năm Quý Mão, niên hiệu Chí Chánh, có người nói từ Nô Nhi Vu đến, họ bảo nơi ấy gần đây có cá to giống như núi, ở trong biển dương vây kỳ, nổi lưng và đuôi trên mặt nước, lội từ phương Bắc qua phương Nam, lặng lẽ như thế đến bốn ngày bốn đêm mới hết thân hình. Thật đúng là chúng sanh có loài thân lớn, do vì nghiệp xưa chiêu cảm mà phải thọ thân như thế.
Song, vua A Tu La đứng trong biển lớn, thân ngang với núi Tu Di, dùng tay lay động mặt trời, mặt trăng. Nếu vua Tu La xem lại cá kia thì thấy nhỏ thôi. Người đời chỉ giới hạn ở những điều tai nghe mắt thấy, ngoài ra đều cho là hư dối. Ôi!
12. Câu chuyện #10
Quyển Thiền Môn Tông Yếu, là tác phẩm do Thiền sư Tuyết Sơn Đàm ở Tân An trước tác Tuyết Sơn vào niên hiệu Thuần Hựu thời Tống, nương học với Thiền sư Phương Sơn ở Thụy Nham tại Đài Châu. Trong thời gian đó là thầy hoàn thành tập sách này, chẳng lẽ lại cẩu thả sao? Tôi lúc nhỏ, từng nương học với Thiền sư Nhất Nguyên Linh ở Phụng Sơn. Đang buổi tham vấn ban đêm, Ngài bỗng nói đến quyển Tông yếu này, trong đó trích nêu vài chỗ người xưa chưa trọn vẹn, ngoài ra thì người nay chẳng thể theo kịp. Vì thế thầy đưa cho tôi một quyển bảo đọc. Hơn 40 năm sau, Thanh Nghiệp Hải ở chùa Thiên Y khắc bản lại, chí ấy thật đáng quý. Nghiệp Hải đã đích thân ghi lời tựa, lại tìm đến ngài Chương Tuấn nhờ ghi lời tựa, nhưng cả hai vị đều nói Tuyết Sơn lấy trộm văn của người chép lại thành tập, để làm quyển ấn hành của mình. Chỉ lời nói “Đoạn giang” của ngài Giác Ân để làm chứng, lại còn phân làm 10 quyển, mỗi thiên lại lấy một lời trong thiên làm đề mục, chia chẻ vụn vặt, sắp xếp rời rạc, mất đi yếu chỉ rất nhiều. Tôi sợ người sau không rõ được nguyên do, trở lại cho Nghiệp Hải là đúng mà xem thường Tuyết Sơn, cho nên ghi lại việc này.
13. Câu chuyện #11.
Thiền sư Thọ Vĩnh ở núi Hổ Khâu tại Đông Châu và Thiền sư Thuần Bằng hiệu Độc Cô ở núi Linh Ẩn, Hàng Châu, là người cùng quê cùng chung học, tình nghĩa qua lại sâu xa. Ngày Thọ Vĩnh ở Hổ Khâu, lúc ấy ở chùa Vạn Thọ trong thành thiếu trụ trì, các Sơn môn đều định cử Thiền sư Thuần Bằng làm trụ trì. Khi ấy Thuần Bằng đang ở chùa Thiên Ninh tại Hồ Châu.
Đây cũng là chuyện tiến thân từ nấc, chứ không phải nhảy vọt, nhưng Thọ Vĩnh lại ra sức cản trở. Thuần Bằng nghe được điều này, cũng chẳng để ý. Qua năm sau, Thọ Vĩnh có duyên giáo hóa đến Hồ Châu muốn gặp Thuần Bằng. Nhưng vì xấu hổ trong lòng nên không đến gặp, sợ Thuần Bằng oán giận mình, làm hư duyên sự của mình, cho nên đợi lúc Thuần Bằng đi vắng mới tìm đến.
Thuần Bằng được báo tin, nhanh chóng trở về, rất lễ phép mời Thọ Vĩnh ở lại, tiếp đãi ăn uống trọng thể, còn đem của riêng làm quà kính biếu, thong dong kể lại nghĩa thâm giao như xưa không chút thay đổi. Đến khi Thọ Vĩnh trở về Hổ Khâu, đêm khuya trong gác Trí Sảng nơi phương trượng, vừa đi vừa nói: “Thuần Bằng rộng lượng, Thọ Vĩnh hẹp hòi”.
Tôi thấy những người làm bạn trong chốn tùng lâm hiện nay, hơn nhau từng lời nói, giành giật từng chút lợi, dẫn đến chê bai, thù hằn hãm hại nhau, hận chẳng thể giết ngay cho hả dạ. Tìm người khoan hậu như Thuần Bằng, ăn năn như Thọ Vĩnh, thật là hiếm có.
Thông thường, đệ tử đối với thầy mình, phải che cái xấu mà nêu cao cái tốt, thuận theo điều phải chứ không làm điều trái, như thế mới gọi là đệ tử hiếu. Nếu che tốt nêu xấu, bỏ điều phải làm điều trái thì là bất hiếu. Nếu thầy không có điều tốt nào để nêu lên, thì nên im lặng. Còn đặt điều khen ngợi, làm cho mọi người bàn trộm chê thầm, trở lại công kích là bất thiện. Như thầy không có điều tốt nào để thuận theo, phải nên hết lòng khuyên can. Nếu gượng cho là phải rồi dua theo, làm cho mọi người bàn trộm chê thầm, trở lại chê trách là sai lầm. Như thế cũng không phải hiếu. Xem thấy gần đây, các vị Tôn túc nổi tiếng thị tịch, hàng đệ tử ghi lại hành trạng, tìm người có tiếng tăm làm bài văn khắc vào bia tháp, nhất định nói khi sanh cha mẹ thấy mộng lạ, khi chết hỏa táng xong răng, xâu chuỗi đều không hoại, xá lợi vô số. Nếu không có những điều này, không trở thành một Tôn túc. Đó đều là kẻ chẳng ra gì, không hiểu được chánh lý, bịa ra lời dối làm ô nhục thầy mình, có thể gọi là hiếu sao?
Trong bộ Lục Truyền Đăng có 1700 Thiện tri thức, số người thiêu được xá lợi, chỉ 14 người mà thôi. Trong Tăng Bảo Truyện của Tôn giả Tịch Âm có 81 người, thiêu được xá lợi, vài người mà thôi. Vả lại, tông ta quý trọng, chỉ là tông thông thuyết thông, có nanh vuốt hướng thượng, nhổ đinh tháo chốt cho người, gọi là truyền pháp độ sanh, ngoài ra đều là chuyện nhỏ.
Đến như hỏa thiêu mà có vị các căn không hoại, xá lợi như hạt châu, bởi do các vị thường ngày tu hành thuần tịnh, cũng đâu phải dễ được? Tôi sợ người sau cứ bắt chước lẫn nhau, bịa ra những lời dối, khen bậy thầy mình, rồi khắc vào trong đá, làm cho người ở Tông giáo khác đọc được, nghi ngờ các bậc tiên triết có điều linh dị thật, cũng thành ra giả dối rồi. Để lại tại hại cho Giáo môn không phải là nhỏ. Đau đớn thay!
14. Câu chuyện #12.
Thiền sư Đức Huy Đông Dương trụ trì chùa Đạo Tràng, bị tăng hành lang bịa chuyện vu cáo, kiện lên viện Tuyên Chánh, nên trên viện đưa công văn ủy cho ngài Bản Giác trụ trì Liễu Am cùng quận điều tra đúng sai. Liễu Am nói: “Đông Dương rất giữ quy củ, kìm kẹp chúng nghiêm túc, kẻ ở dưới không được tự do, cho nên đặt điều thưa kiện, muốn đuổi ông đi thôi. Nay cũng đồng hàng với nhau, Hữu ty ngồi nhởn nhơ trên sảnh đường, còn Đông Dương phải chịu cúi mình uẩn khúc. Ta sao có thể nhịn được”. Ngài liền lui về ở Nam Đường.
Thiền sư Phạm Kỳ Sở Thạch trụ trì chùa Thiên Ninh ở Gia Hưng. Gặp lúc Hữu ty xây dựng dinh quan, thiếu cây đá, muốn lấy những am không có Tăng coi sóc trong thôn xóm để bù vào, vì thế tập họp các vị trụ trì để bàn luận. Lúc ấy, Sở Thạch cố sức trình bày những điều không thể để ngăn cản, Hữu ty không nghe, thầy liền đánh trống thoái lui, trở về chùa Thiên Ninh ở Hải Diêm.
Hai Lão túc này đều dũng cảm làm điều nghĩa, xem việc bỏ ngôi vị thầy tôn quý như vứt bỏ đôi dép rách. Hiện nay có một số người tuy biết họa hoạn vây quanh mình, mà vẫn chần chữ luyến tiếc, biết làm thế nào đây?
15. Câu chuyện #13.
Hòa Thượng Vân Ngoại, người Xương Quốc, sinh ra thân hình nhỏ nhắn, nhưng sáng suốt năng động có thừa. Thầy nói pháp có nhiều ví dụ hay khéo, trích dẫn gần gũi, chủ yếu muốn thân thiện người học để uyển chuyển làm thành cho họ. Đến như sự tài ba lỗi lạc của thầy, dù cho người có con mắt sắc sảo, cũng không thể thấy được. Sự truyền thừa tông Tào Động tất cả trông nhờ vào thầy.
Tuổi về già, thầy đến ở chùa Thiên Đồng, các vị tăng tài ở khắp nơi đều tụ hội. Thầy không có cao ngạo, không ham cất chứa, chẳng ăn riêng chúng, khi được cúng dường, đều đem cho mọi người. Thấy người mới học, thầy rất quý mến, mong mỏi họ có khả năng gánh vác Tông môn. Mỗi ngày hai thời cơm cháo thầy đều cầm bát đi đến trai đường.
Khi thị tịch, thầy không để lại tài sản gì, người học gom tiền lo việc tống táng. Về sau có các đệ tử Sính Đại Phương, Dư Độc Mộc, Tỉnh Ngu Am, Chứng Vô Ấn bốn người, đủ mở rộng Tông phong, nhưng do đức độ không xứng ngôi vị, nên không có người nối pháp. Riêng ngài Vô Ấn chỉ được 1, 2 người tiếp nối thôi.
16. Câu chuyện #14.
Ôn Nhật Quán, không biết người ở đâu, có hiệu là Tri Quy Tử. Thầy sớm đặt chân đến chỗ học giáo lý, lại tìm vào nơi tập thiền, tánh phóng khoáng vui đạo, chẳng câu nệ hạnh vụn vặt, tâm luôn nguyện sinh về nước An Dưỡng. Dù cho hoàn cảnh lênh đênh khốn đốn, thầy chưa bao giờ quên tâm niệm. Hai bài Hỷ Lâm Tấn Thiếp, Tả Bồ Đào do thầy làm đều đạt đến chỗ kỳ diệu.
Thông thường, thầy đi đến các chùa, khi từ biệt nhất định đòi tiền, được bao nhiêu đi mua rượu thịt uống một mình, tiền còn dư ném cho trẻ con ven đường, bảo chúng phải dẫn đi trước, cùng nhau la to: “Tướng công đến”. Cho nên trẻ em thấy thầy liền đuổi theo thành đoàn. Thầy làm thi kệ còn hay hơn các bài xưa. Về sau thầy mất ở chùa Tây Hồ Giáo, có người cho thầy thác sanh vào nhà Bạch Trạm Uyên. Chẳng lẽ duyên đời chưa xong, thầy đến để giải quyết cho xong ư?
17. Câu chuyện #15.
Trúc Trang Nham, ở chùa Đâu Suất tại Đài Châu. Thầy sống có độ lượng, nhưng xem thường các bậc đi trước, cho nên có nhiều người ghét. Vào tiết Thiên Thọ triều đại trước, các châu huyện phải chọn một người trong số các vị trụ trì để nói pháp. Trúc Trang đúng lúc lãnh trách nhiệm này.
Những kẻ không ưa thầy phần đông cấu kết với các vị khách thiền để ra đặt câu hỏi, muốn bắt bẻ cho thầy không trả lời được. Vị tri sự biết việc này, mới nói hết cho thầy rõ. Trúc Trang nói: Trách nhiệm trong chùa, người tri sự phải làm. Lên tòa nói pháp chính là trách nhiệm của trụ trì. Ông đừng có nhiều lời.
Hôm sau, thầy đến Thiên Ninh, ngồi tại chỗ tiếp khách trong phương trượng, cùng các vị trụ trì nói chuyện vui vẻ bình thường. Đến khi chuông trống vang lên, thầy được cung nghinh đến Pháp đường, đối các quan chỉ vái chào rồi bước lên tòa. Nguyện hương xong, thầy vén y đến tòa ngồi.
Chúng tăng nêu ra câu hỏi liên tục, Trúc Trang trả lời như nước chảy, lại có thể vặn ngược lời hỏi, có người phải tự chịu thất bại rút lui. Bốn năm người ra hỏi như thế, các quan chán đứng lâu, ngăn những người khác không cho hỏi tiếp. Thầy liền cử thoại, nêu lên cương yếu, giống như gió giăng sấm chớp, điện xẹt sao băng, mọi người đều bị uy hiếp. Những kẻ ghen ghét dầu cho mỗi người có cả trăm ngàn đầu lưỡi, cũng không thể hơn được miệng của những người khen ngợi. Tiếc là thầy thọ mạng không lâu, chẳng phải phước của Tùng lâm.
18. Câu chuyện #16.
Tân Cổ Phàm ở viện Linh Thạch tại Hoàng Nham. Buổi đầu, thầy yết kiến Đông Châu ở Hổ Khâu, được giao cho chức Tri tạng. Sau đó, yết kiến Tiên sư Trúc Nguyên ở Hồng Phước. Một hôm thầy lên phương trượng thưa hỏi: Con nghiền ngẫm câu thoại “Con chó không tánh Phật”, không có chỗ tỏ hiểu. Mong Hòa thượng thương xót chỉ dạy.
Tiên sư lớn tiếng quát: Đêm khuya rồi, hãy đi xuống.
Cổ Phàm trở về tăng đường, phiền trách rằng: Không nói cho tôi thì thôi, sao lại tức giận?
Có người thưa lại với Tiên sư, Tiên sư nói: Ông ấy về sau tự hiểu ra thôi.
Cổ Phàm nghe được, liền đó tâm tư rỗng rang. Khi ra lãnh chùa hoằng hóa, thầy dâng một nén hương lên Tiên Sư.
19. Câu chuyện #17.
Thích Tử Văn tự Tông Chu ở chùa Bảo Vân tại Minh Châu, người Tượng Sơn. Thầy am hiểu rộng về Giáo quán, giữ giới rất nghiêm. Bình thường tiếp chuyện với người, thầy nói năng chậm chạp ấp úng, đến khi lên tòa nêu bày nghĩa lý, thầy giảng thuyết ngôn từ cuồn cuộn, như nước trên cao đổ xuống, không ai chế phục được. Đến khi lâm chung, thầy lên tòa giảng Thập Lục Quán Kinh. Giảng đến quyển cuối, thầy muốn nói lời từ biệt với chúng.
Các vị tăng tiến lên bạch: Thưa Hòa thượng, việc sau này thầy chưa có dặn dò, sao lại nói thị tịch?
Tông Chu nói: Hàng tăng áo vá, cần đi liền đi, có việc sau gì để nói chứ !
Mọi người thưa thỉnh rất khẩn thiết, vì thế thầy xuống tòa trở về phương trượng, ghi lời dặn lại từng điều một, rồi chắp tay niệm thánh hiệu Tây Phương, hồi hướng phát nguyện xong liền nhập diệt. Khi thiêu được xá lợi sáng rõ.
20. Câu chuyện #18.
Tiên sư Trúc Nguyên, nghe Như Nhất Am mua nhiều sách từ Chiết Tây trở về Thái Bạch, liền gửi thư cho Nhất Liễu Đường, có đoạn nói: “Nghe Nhất Am mua nhiều sách vở, tôi nghĩ không có chuyện gì riêng khác, thầy ấy chỉ muốn dạy cho vài vị tăng còn trẻ con thôi. Ông hãy nói với thầy ấy, sao chẳng tự lo tỏ hiểu ý chỉ thiền đi. Ví như con chó đuổi bắt thỏ, suốt ngày bám sát không để mất dấu vết. Nhưng khi đến nửa đường, lại thấy con nai, rồi bỏ thỏ đuổi theo nai, rốt cuộc không bắt được con nào. Thật là xấu hổ! Lúc tôi ở Mông Đường tại Kính Sơn, có lần gửi thư hỏi Tiên sư về cuộc sống hằng ngày, Ngài đáp đơn giản rằng: “Ông ở Mông Đường giữ nhiệm vụ coi sóc bếp lửa, thì ngay lần giơ đũa bếp, lúc nói năng cười đùa, lúc uống trà uống nước, đều là chính ông, không phải người nào khác. Công phu thẳng tắt không ngoài điều này”. Tôi nghĩ Tiên sư khi ấy cho tôi là hèn kém, không đủ khả năng nhận chịu những đấm đá cay độc, cho nên uyển chuyển dạy điều này, chính là dùng lá cây làm vàng để vui lòng trẻ thơ. Nếu không như vậy, sao lại lôi thôi dài dòng như thế. Than ôi! Tiên sư nhập diệt đã hơn 30 năm rồi, nay thuật lại lời chỉ dạy này, giống như đang đối diện ”.
21. Câu chuyện #19.
Thành Đạo Nguyên, khi còn ở thế tục, qua lại thân thiết với Tiên sinh Thạch Đường Hồ. Đến lúc xuất gia, thầy tham học ngài Hư Cốc ở Kính Sơn, có trước tác Tánh Học Chỉ Yếu 10 quyển, rất bổ ích cho tư tưởng và lễ giáo hiện đời. Năm Bính Thân, niên hiệu Chí Chánh, vị Cao sĩ ở Hỷ Hòa là Minh Biên Thứ khắc bản lưu hành. Bấy giờ, Trương Sĩ Thành chiếm đóng Tô Châu, chuyên quyền xưng vua, có Trịnh Minh Đức, Trần Kính Sơ, Nghê Nguyên Chấn phò tá. Các nhà nho đem quyển sách ấy phản đối với ngài Hội Am, cho rằng luận về tánh không đúng, rồi trình với Sĩ Thành. Sĩ Thành ra lệnh hủy bỏ bản in.
Nói về tánh là vắng lặng rỗng rang, mênh mông không dấu vết, há có thể phân thiện ác? Thiện ác lẫn lộn phân làm ba phẩm, nếu đem so với khí chất mà bàn luận, thì sự phân tích của Đạo Nguyên cũng thật thích hợp. Tôi nghe rằng vua Vũ nghe được lời thiện thì vái lạy; Nhan Tử nghe được một điều thiện thì cúi mình vâng theo. Ngày nay các vị học nho đều tôn sùng vua Vũ, Nhan Tử nhưng việc làm không như hai Ngài, là tại sao vậy?
22. Câu chuyện #20.
Hòa thượng Cổ Lâm trụ trì chùa Bảo Ninh, đạo hạnh trang nghiêm kính trọng, khi ấy dầu những người đã ở ngôi vị thầy cũng phải kiêng nể. Tuy các nơi có nhiều chỗ thiếu người coi sóc, nhưng ít ai chịu đề cử thầy. Đến khi Thiên Đồng Vân Ngoại chết, ngài Viên Văn Thanh đang ở Hàn Lâm đặc biệt gửi thư đến Trang Tuyết Nhai ở Vạn Thọ, Minh Châu, nói: “Thầy Cổ Lâm lúc trước tại Hổ Khâu tôi có biết một lần.
Cơ phong của thầy cao vót, nghị luận sắc bên rõ ràng, đủ khả năng vực dậy những phong tục suy bại. Nay chùa Thiên Đồng không người trụ trì, Tuyết Nhai nên mời thầy ra chống đỡ một phen”. Văn Thanh tuy là người thế tục, nhưng rất để tâm lo lắng cho sự hưng suy của giáo pháp, vì thế thầy được dự vào số người được tuyển chọn, nhưng không được trúng tuyển. Tiếc thay!
23. Câu chuyện #21.
Tạng chủ Thường Thông ở Tuyết Đậu, là đệ tử của Hoành Sơn. Dung mạo thầy khắc khổ xấu xí, không biết đến một chữ, chỉ chuyên tập thiền định. Nhưng những bài kệ tụng do thầy làm, sự lý viên dung đầy đủ, âm luật nhịp nhàng rất hay, có nhiều chỗ khơi mở cho người, vì thế người bấy giờ đều gọi thầy là Thường Đạt Ma. Tôi lúc nhỏ ở Kính Sơn có biết thầy, nay còn ghi được 4 bài tụng của thầy làm là: Trâu Sắt, Cửa Biển, Măng Đắng, Am Nghỉ.
Trâu Sắt
Nung luyện trăm lần mới thành hình,
Vun vút đầu sừng thân sạch tuênh,
Đánh mãi không đi, lôi chẳng động
Được như thế ấy chẳng thai sinh.
Âm:
Thiết Ngưu
Bách luyện lô trung cổn xuất lai,
Đầu giác tranh vanh thể tuyệt ai,
Đã hựu bất hành khiên bất động,
Giá hồi đoan bất nhập bào thai.
Cửa Biển
Gió nghiệp thổi sóng tợ núi cao,
Cũng lắm ông câu khó bước vào,
Vứt mạng bỏ thân mới được đến,
Hay ra của ngọc vẫn mở thường,
Âm:
Hải Môn
Nghiệp phong xuy khởi lãng như sơn,
Đa thiểu ngư ông trước khước nạn,
Khí mạng xả thân ai đắc nhập,
Phương tri ngọc hộ bất tằng quan.
Măng Đắng
Áo tím cởi ra, da trắng ngần,
Trong nước sôi trào chuyển được thân,
Tâm khổ một mình ai tin được,
Bỗng dưng cắn vào ngon mười phần.
Âm:
Khổ Duẩn
Tử y thoát tận bạch như ngân
Bách phí oa trung chuyển đắc thân,
Tự thị khổ tâm nhân bất tín,
Đẳng nhàn giáo trước vị toàn trân.
Am Nghỉ
Đầu sào trăm thước thôi hỏi han,
Cô phong tuyệt đỉnh dưỡng thân nhàn,
Dẫu nhà rách nát không che đậy,
Chuyện riêng đem nói khó muôn vàn
Âm:
Tức Am
Bách xích can đầu bãi vấn tân, Cô phong tuyệt đỉnh dưỡng nhàn thân, Tuy nhiên phá ốc vô già cái, Nan bả gia tư thuyết hướng nhân.
24. Câu chuyện #22.
Thông thường người trụ trì cần phải kiềm chế kẻ nô bộc, cũng nên thường chỉ dạy cho họ điều tốt lành, mới mong chúng không làm ác và gây liên lụy đến mình.
Thiên Lại trụ trì chùa Thiên Ninh ở Gia Hưng. Người làm công trong chùa bắt trộm chó của người trong xóm, đem giết nấu thịt ăn, do việc đó mà Thiên Lại bị gọi là thầy nấu chó. Kinh Thạch trụ trì chùa Thừa Thiên ở Cô Tô, nhân lời mời đi thuyền đến nhà đàn việt. Qua một làng quê, người làm công bắt trộm dê của dân đem giết nấu ăn, vì thế mà Kinh Thạch bị gọi là thầy nấu dê.
Nếu xét việc trộm chó, trộm dê, đối với hai thầy đâu có can dự gì mà phải chịu tiếng xấu như thế. Bởi lúc thường không có kiềm chế răn dạy kẻ làm công mới đến nỗi như vậy đấy. Người sau nên lấy hai thầy này để răn mình.
25. Câu chuyện #23.
Nói về trụ trì là trụ cảnh giới trí tuệ của tất cả Bồ Tát, giữ gìn bánh xe chánh pháp của chư Phật, vì thế gọi là Phật tử trụ trì, mà thiền sư Bách Trượng lập nên tên này, chẳng lẽ là chuyện ngẫu nhiên sao? Gần đây người làm trụ trì chỉ lo về tiếng tăm lợi dưỡng, chẳng biết trọng trách của mình mang lấy, lại có kẻ ưa qua lại với người tục, lo tiếp đãi ăn uống. Ôi, đáng tiếc thay!
Sâm Thạch Sơn ở Hồng Phước, Đài Châu, cùng người gần chùa là Phương Công Quyền qua lại, hay bày tiệc mời nhau, cả ngày thường tổ chức ăn uống nói chuyện. Trong chùa có Giám tự Phương muốn làm chức Chưởng khố. Thạch Sơn đã chấp nhận nhưng Công Quyền do oán thù riêng, khởi chuyện xấu nói ra để cản trở. Giám tự Phương căm giận trong lòng, đem đồ vật cho người làm công ở phương trượng, rồi sai họ bỏ thuốc độc trong trà, định làm hại Công Quyền, Vì Công Quyền kính trọng Thạch Sơn nên đem chung trà của mình dâng cho Thạch Sơn uống trước, vì thế Thạch Sơn trúng độc chết. Phương Giám vì hạ độc lầm Thạch Sơn, lòng luôn lo buồn. Một hôm, nghe chim Hỗ cất tiếng hót, tự phối tiếng chim giống như nói: “Phương Giám giết ta". Vì thế sầu lo càng nặng rồi ngã bệnh, sợ thấy ánh sáng, cuối cùng ăn rơm khô mà chết.
Nguyên do đầu tiên, chỉ vì Thạch Sơn không giữ chức phận, qua lại với người thế tục rồi nghe lời của họ, mới làm chết bản thân một cách quá rẻ. Người sau há chẳng răn mình ư? Chim Hỗ, người thôn quê gọi là chim Đoán Luyện, thường kêu vào cuối mùa xuân. Thông thường tiếng kêu nó như “Trương lam đoán ma”. Vị tăng này lại cho là “Phương Giám sát ngã” (Phương Giám giết ta). Như Đề hồ lô, Bà bính tiêu, Thoát bố khố, Nê hoạt hoạt... đều do tiếng mà có tên.
26. Câu chuyện #24.
Đại sư Hợp Tôn là Doanh Quốc Công, vị ấu chúa của nhà Tống. Khi ngài trở về quy thuận với Đại Nguyên, Hoàng đế Tát Thiền ra lệnh cho Ngài cạo tóc làm tăng, thầy của vua đích thân xoa đầu, trao cho giới pháp bí mật. Đại sư tinh luyện vững chắc, đã được nhiều ứng nghiệm. Đến triều đại Anh Tông, Đại sư cao hứng ngâm thơ rằng:
Nói với Lâm Hòa Tịnh, Mấy độ mai nở hoa, Khách trên đài Hoàng kim Không thể trở về nhà.
Âm:
Kí ngữ Lâm Hòa Tịnh, Mai khai kỉ độ hoa, Hoàng kim đài thượng khách, Vô phục đắc hoàn gia.
Người dò thám cho rằng ý bài thơ làm rúng động lòng người Giang Nam, việc thấu đến tai Hoàng thượng, lệnh bắt Ngài về chém. Khi đầu Đại sư bị chém đứt, sữa trắng từ nơi cổ chảy tràn. Hoàng thượng thấy thế trong lòng hối hận, xuất vàng ròng trong kho mài làm bột, ra lệnh cho những vị tăng và nho sĩ có nét chữ đẹp ở miền Giang Nam ghi lại toàn bộ Đại tạng, mong tạo thêm phần phước thầm kín. Đầu mùa hạ vua xa giá lên Kinh đô, giữa đường nghỉ tránh nắng thì bị giết. Kinh sách mới ghi chưa được nửa tạng, rồi thôi.
27. Câu chuyện #25.
Năm Tân Sửu, niên hiệu Chí Chánh, ở Hiệp Tây có đứa bé con nhà dân vừa mới được 3 tuổi. Một hôm, bé ấy gặp quan huyện đi trên đường làng, lính hầu hò hét dẹp đường. Đứa bé xông thẳng đến trước gọi tên quan huyện, vái chào nói: Cách biệt đã lâu, Ngài vẫn bình yên chứ.
Quan huyện kinh ngạc nói: “Đứa bé này sao biết tên ta”. Rồi tiến lên hỏi, đứa bé mới thuật lại tên họ đời trước, lại đọc liên tiếp mấy bài thơ mà khi xưa cùng quan huyện thù xướng, quan huyện mới tin là bạn cũ. Đứa bé lại nói với quan huyện: Từ khi giã biệt ngài đến nay, được làm thân người, là đã trải qua ba đời rồi. Ban đầu sanh làm chó, nhưng thấy đời sống đó đáng chán làm sao, cho nên tôi cắn con của chủ nhà, chủ nhà tức giận giết chết tôi. Tôi lại sanh làm chim Am Thuần. Làm chim cũng chán, lao xuống sông chết chìm. Nay được thân người, cùng ngài gặp lại nhau, thật là may mắn!
Nghe đứa bé này vào đời trước thích xem Kinh Dịch, rất có thọ dụng với việc trước khi chưa dấy động, cho nên vào sanh ra tử mà chẳng chịu sanh tử dời đổi. Ma Y gọi Dịch (sự thay đổi) là Tâm dịch (thay đổi nơi tâm); Từ Hồ gọi là Kỷ dịch (thay đổi nơi mình), đều có ý nghĩa vậy.
28. Câu chuyện #26.
Hòa thượng Phá Am rời khỏi chùa Tư Phước đi đến Kính Sơn, ngài Mông Am mời đến đây giao cho chức Thủ tọa”. Có Thượng tọa Bảo đủ sự thấy hiểu sâu rộng. Gặp khi trụ trì, Thủ tọa khai đường, thầy nhất định xuất cơ chớp nhoáng, đón chặn giành lấy phần thắng. Một hôm, Phá Am mở thất, Thượng tọa Bảo đến, Phá Am liền nói: Trong càn khôn, giữa vũ trụ, ở giữa có.
Bảo suy nghĩ, liền bị đánh đuổi ra. Lúc ấy, Bảo đợi Phá Am nêu hết lời, liền nói: Đã ở chỗ chính giữa có, bị đánh đuổi ra. Đó là Phá Am cố ý bắt bẻ ta.
Thế rồi thầy trở về đắp y ngồi tại đơn mà tịch. Sau khi hỏa thiêu, người làng nhặt lấy xá lợi đem trình Phá Am, Phá Am giơ xá lợi lên nói: Thượng tọa Bảo, dẫu ông có bốn đấu tám học xá lợi để đầy trên vách, nhưng hãy trả lại ta một lời xoay chuyển lúc còn sống.
Nói xong Phá Am ném xá lợi xuống đất, chỉ thấy toàn là máu mủ. Tôi nghe được điều này ở các vị trước.
29. Câu chuyện #27.
Năm Bính Thân, niên hiệu Chí Chánh đời Nguyên, Trương Sĩ Thành phá thành Tô Châu. Người em là Cửu Lục vào thành trước, chọn dinh thự để ở. Thấy chùa Thừa Thiên thoáng rộng sáng đẹp, trong lòng thích thú, muốn đổi làm cung thất. Cửu Lục ra lệnh cho binh sĩ phá tượng Phật trong điện, binh lính sợ tội phước chẳng dám theo lệnh. Cửu Lục tức giận, tự kéo cung bắn vào mặt đấng Trung Tôn, tượng liền bị phá hủy hết, rồi đón Sĩ Thành vào ở nơi đó. Đến năm Đinh Dậu, đại binh triều đình đánh Hoàng Đại Lã Khẩu, Cửu Lục dẫn binh ra chiến đấu, thua trận bị bắt, bị chặt tay phải, rồi sau đó bị giết chết.
Năm Mậu Tuất, Phương Quốc Trân làm Tham chánh cơ quan Phần Tỉnh ở tỉnh Chiết Giang tại Hành Giang, đóng binh tại Minh Châu. Quan tả Hữu ty là Lưu Nhân Bổn ưa thích văn học, biên những thơ văn của mình làm lúc bình thường thành tập, rồi khắc bản ấn hành. Ông lấy kinh ở chùa tăng trong thành, dán làm bìa ngoài. bôi bỏ hết văn kinh để chép thơ văn của mình. Chúng tôi thấy điều đó, tuy trong lòng rất chua xót, nhưng không làm sao được. Đến năm đầu nhà Ngô, đại binh đánh lấy Minh Châu. Quốc Trân ra đầu hàng, triều đình xét Nhân Bổn có tội bất trung, đánh roi vào lưng, lở thịt lòi gan rồi chết.
Cửu Lục là một người dũng mãnh, do không biết tội phước còn có thể khoan dung. Nhân Bốn học theo Khổng Tử mà nỡ làm thế. Khổng Tử nói “Kính Thần như Thần đang hiện tại.” Huống chi đức Phật là bậc đại Thánh trong ba cõi. Cho nên hai người, một người phá hủy hình tượng; một người phế bỏ kinh sách, không lâu phải chịu quả báo cực hình. Quả báo có thể đáp ứng lại, thật là do sự đáp trả của tự thân, chứ không phải Thánh nhân nào gây cho.
30. Câu chuyện #28.
Chỗ diễn giảng ở thành Ngân, có hai vị tăng cùng ở. Một vị rất khổ vì chuột, lấy hai cái thùng lớn nhỏ chế làm cái bẫy để đập chuột. Bẫy bật là chuột bị đánh, vị tăng liền đem lôi nước, muốn dìm cho chết. Vị tăng cùng ở thấy thế không nỡ lòng, lên giở bẫy thả đi. Sáng hôm sau, vị tăng bắt chuột có việc đi ra ngoài. Đêm đó, vị kia ngủ một mình, thấy bầy chuột ồn ào là thường, vị tăng chán quá nói: “Đêm trước ta thả các ngươi, các ngươi trở lại làm ồn ta". Sáng thức dậy, thầy nhặt được một sợi dây tơ xanh ở trước giường, lòng rất nghi ngờ. Vài ngày sau, vị tăng ấy lấy dây buộc lưng, vị tăng bên cạnh chỉ nói: “Dây này của tôi, bị mất ở chỗ nằm, thầy nhặt được nó ở đâu vậy?”. Vị tăng kia thuật lại nguyên do, mới biết đêm ấy, chuột gom cả đàn lại lấy trộm sợi dây của vị tăng cài bẫy để đáp trả ân đức của vị tăng thả mình, cho nên ồn ào.
31. Câu chuyện #29.
Quyển Tăng Bảo Truyện của Thiền sư Giác Phạm, lúc đầu gọi là Bách Thiền Sư Truyện (Truyện trăm vị thiền sư). Đại Huệ gặp, mới lấy đọc qua một lượt, rồi chọn ra 19 người đem đốt. Sau đó, Giác Phạm gởi thư cho Hòa thượng Tri ở núi Hoàng Bá nói: “Tông Cảo xem trộm Truyện Trăm Vị Thiền Sư của tôi, liền đốt đi 19 người, chẳng biết là ý gì?”. Giác Phạm tuy không được vui một lúc, nhưng cuối cùng 19 người kia không đưa vào trong sách. Thấy nhiều người bàn luận quyển Tăng Bảo Truyện chỉ có 81 vị, là muốn đúng theo con số chín lần chín. Đó là lối nói của người Yên giơ đuốc.
32. Câu chuyện #30.
Hòa thượng Thiết Kính ở Hà Sơn, dưới tòa có thị giả Cung Đô là người Tây Minh, giữ mình ngay thẳng không tham lam, chuyên tu phạm hạnh, mỗi ngày tụng một bộ kinh Pháp Hoa. Đến khi lâm chung không có đau đớn, thầy thay đổi y rồi ngồi tịch. Khi thiêu xong, cuống lưỡi không hư hoại. Người ở khắp nơi làm hệ tiếc nhớ, đến nay có người hay nhắc lại. Vào một buổi ngồi thiền ban đêm, thầy có làm bài kệ:
Thắp hết chén dầu nơi chắn song, Lò tàn không lửa lạnh hắt hiu, Thoại đầu để lại ngày mai nói, Ông đạo đánh chuông rồi lên lầu.
Âm:
Điểm tận sơn song nhất trản du, Địa lô vô hỏa lãnh tưu tưu, Thoại đầu lưu hướng minh triêu cử, Đạo giả xao chung hựu thướng lâu.
Hòa thượng Thiết Kính lên pháp tòa rất khen thưởng thầy.
33. Câu chuyện #31.
Tôi thưa hỏi ngài Nam Đường ở chùa Bản Giác. Trong buổi ngồi nói chuyện lúc đêm, thầy bàn đến làm thơ văn có sự khuôn khổ bó buộc và tự do phóng khoáng khác nhau. Lại nêu bài kệ Đưa Tiễn Tăng của Tiên Hưu Cư:
Như tằm kéo kén buộc lấy thân-, Trăm vòng ngàn lớp quấn chặt dần, Xé toạt ra rồi toàn thể hiện, Cả nhà đưa lên thuyền bến sông.
Âm:
Như tàm tác kiển tự bao triển, Bách tạp thiên trùng tại diện tiền, Liệt đắc phá thời toàn thể hiện, Hồn gia tống thượng độ đầu thuyền,
Đông Châu Hòa rằng:
Động tịnh đâu từng trói buộc chi, Thấu rõ chưa sanh, có cần gì? Vườn xưa ngàn dặm nay về lại, Dưới sông có thuyền, trên lối đi.
Âm:
Động tịnh hà tằng thiệp cái triền, Hà tu cánh thấu vị sinh tiền, Cố viên thiên lý kim quy khứ, Lục hữu chỉnh đồ thủy hữu thuyền.
Ngài nói Hưu Cư tuy tính nghiêm nhưng dường như có cảm giác ràng buộc, chẳng bằng Đông Châu tự do thỏa thích.
34. Câu chuyện #32.
Tôi thuở nhỏ ở liêu Thị giả tại Phụng Sơn. Sau khi ăn cơm xong để giải buồn, cùng bạn bè thi ném chọn hình Phật. Hòa thượng Nhất Nguyên nghe được, sai người dọn vệ sinh nhà bếp đưa đến bài kệ:
Chúng sanh, chư Phật cả trăm ngàn, Hình vẽ thôi mà chớ thua hơn, Tâm ấn nhẹ nhàng ném trước mặt, Chễm chệ ngồi cao chốn tịch quang.
Âm:
Bách thiên chư Phật cập chúng sinh, Hưu hướng đồ trung cưỡng giảo lường, Tâm ấn đương dương khinh trịch xuất, Đường đường cao tọa tịch quang trường.
Sáng hôm sau tôi hỏi, Ngài mới nói: “Người xưa học đạo không rảnh cắt móng tay, ông là hàng sanh sau mà nỡ uổng phí thời gian. Hơn nữa ném chọn hình Phật, đến lúc cuối cùng ném ra được một cái ấn, liền vui vẻ nói: Ta thành Phật rồi. Đâu biết rằng nơi nào, lúc nào cũng là chỗ ông thành Phật, ông lại chẳng biết".
35. Câu chuyện #33.
Hòa thượng Trọng Mưu, ở Tiên Nham tại Ôn Châu. Cuộc sống đang lúc bình yên, hàng tăng sĩ áo vá nghiên cứu thưa hỏi không có ngày rảnh. Tôi và Minh Tánh Nguyên, Thụy Oánh Trung ba người đồng đến Tiên Nham. Tánh Nguyên, Oánh Trung còn làm thị giả, tôi đã giữ chức Tri tạng. Đúng ngày 15, thầy lên nhà giảng nói: “Một lúc im lặng để trả lời tăng, sấm rền điện xẹt; Ba lần nói nhận hiểu ý chỉ, ngọc chuyển châu xoay. Bảy mươi ba, tám mươi bốn, lảm nhảm không thôi, bất ngờ tỏ ngộ cái xưa nay, ngăn lấp chết người. Giơ cây gậy, đêm qua gió Tây gối đầu chiếu thu, trên cây cao tiếng ve ngân vang vang". Về sau người kết tập đổi ba chữ “Ngăn lấp chết” thành “Có được mấy”. Vì họ không biết sự tạo lập ngôn ngữ khó khăn, cho nên theo cái nhìn nông cạn sửa đổi lời của bậc đi trước, giống như đổi “cơ chư Phật” thành ra “con cò nước”
36. Câu chuyện #34.
Đinh An Nhân ở Hào Đầu tại Hoàng Nham, húy là Giác Chân, hiệu Trúc Tâm. Ban đầu cô tham học với Điển Tuyệt Canh ở Uy Vũ Sơn, có chỗ tỉnh ngô, liền từ bỏ nhà cửa quyến thuộc, cất am ở một mình. Cô đến yết kiến Cổ Ngu ở Dũng Tuyền.
Cổ Ngu nói: Con gái nhà tử tế, chạy đông chạy tây làm gì?
Cô đáp: Chỉ đến gặp gỡ Hòa thượng.
Ngu nói: Ta ở đây chứa cô không được.
An Nhân vỗ tay một cái, nói: Chỗ dùng 30 năm, sáng nay thất bại. Ngu liền thôi.
Cô đến yết kiến Vô Tế ở am Xuân Vũ tại Nhạn Sơn, khi vào cửa cô nói: Mưa xuân như thấm ướt, người đi ghét bùn lầy.
Vô Tế nói: Chẳng phải, chẳng phải.
An Nhân định nói thêm, liền bị hét đuổi ra.
Tuổi về già, cô ở bên cạnh chùa Minh Nhân trong ấp để tiếp đón người học. Có vị tăng cầm gói đồ đi thẳng vào trong chỗ cô nằm.
Cô hỏi rằng: Ông là tăng thế nào?
Vị tăng ấy đáp: Tăng hành khước.
Cô hỏi: Giày cỏ dưới chân ông bị đứt, sao ông không biết?
Tăng không thể trả lời, cô liền ném gói đồ ra ngoài, nói: Ở đây không có chỗ cho ông dừng chân.
Lại có vị tăng vừa vào cửa, An Nhân hỏi: Đại sư Đạt Ma đến.
Tăng nói: Tôi không phải.
An Nhân nói: Phải thì phải, chỉ là lỗ mũi không giống.
Một hôm gặp gỡ Trưởng lão Như Khuê ở chùa Nhân Minh, cô hỏi: Nghe Trưởng lão hôm qua sanh được đứa con phải không?
Như Khuê hỏi lại: Hãy nói là trai hay gái?
An Nhân nói: Gà ngậm đèn dầu chạy, rùa cắn cần câu cá.
37. Câu chuyện #35.
Thị giả Miễn ở chùa A Dục là cháu họ của tôi, tuổi còn nhỏ nhưng có chí học hỏi, không may mạng sống ngắn ngủi chết rồi. Miễn có làm bài kệ đưa tiễn một Thị giả dạo ở Đài Nhạn rằng:
Điểu khòa thổi lông vải, Thị giả liền ngộ ngay, Tuy không có lời nói, Nhưng đã thành phơi bày, Mây trên đỉnh Thiên thai, Cây trong núi Nhạn Đăng, Chuyến này khéo thương lượng, Đừng chạm điều cấm kỵ.
Âm:
Điểu khòa xuy bố mao, Thị giả tiện ngộ khứ Tuy bất thiệp ngôn thuyên Tảo dĩ thành lộ bố Thiên thai lãnh thượng vân Nhạn đãng sơn trung thụ Thử khứ hảo thương lượng Mạc xúc đương đầu húy.
Khi mất ghi kệ rằng:
Sống vốn chẳng sống, Chết cũng chẳng chết, Bí Ma chống nạn, Câu Chi giơ tay.
Âm:
Sinh bổn bất sinh, Tử diệt phi tử, Bí ma kình xoa, Câu chi thụ chỉ.
Tôi có lần gạn hỏi nguyên do tỏ ngộ. Miễn trả lời: “Con lúc ở chùa Ngọc Cơ, ngồi bên bàn để kinh tại Chiên Đàn Lâm, tình cờ thấy Tạng chủ Khuê giảng luận cho tăng. Vị tăng hỏi: Thế nào là việc hướng thượng? Tạng chủ Khuê nắm hai tay thành đấm để trên đầu, rồi chắp tay lại nói: Tổ ra, tố rô. Con nhân đó có được niềm vui, vội vàng đi đến Mông Đường, thuật lại với Thủ tọa Đạt, ông cười nói: “Ông lại đến rồi! Từ đó trong hông ngực tự tỉnh giác rõ ràng”.
Tôi về sau gặp Tạng chủ Khuê hỏi lại việc ấy, chỉ thấy mặt ông ta hai gò má đỏ hồng không dám trả lời. Tôi từ từ hỏi tiếp, Tạng chủ mới nói: “Tôi khi ấy làm điệu bộ như thế để đùa vị tăng, thật chẳng tự biết là thế nào”.
Mới hay việc này chẳng ở trên lời nói. Đến như gió thổi bụi dấy, mây trôi chim bay, đều là chỗ dẫn người vào đạo, nhưng thông thường đối mặt lầm bỏ qua. Nay thấy Tạng chủ Khuê đùa cợt vị tăng, mà thị giả Miễn có được niềm vui. Ngay như trong hội của Phật, có vị sa di tuổi nhỏ lấy trái cầu da ném vào đầu vị tỳ kheo già, làm cho vị ấy chứng A La Hán, việc này có thể làm chứng.
38. Câu chuyện #36.
Hòa thượng Phương Sơn, khi về trụ trì chùa Tịnh Từ, đến pháp đường giảng dạy chúng Tăng, ngài hỏi vị tăng: Khi Nam Tuyển chém đôi con mèo thì thế nào? Các vị tăng trả lời đều không hợp, có một vị làm thuê ở bên cạnh nói: Con chuột ra vẻ vênh váo. Phương Sơn nói: Lời nói xoay chuyển hay, nhưng không đáng phát ra từ miệng ông.
Hòa thượng Đông Tự trụ trì chùa Linh Ẩn, khi ngài ra thất có lời chỉ dạy: Cá lấy nước làm mạng sống, vì sao chết ở trong nước? Có vị tăng nói: Mất tiền ở dưới sông, phải nhặt ngay dưới sông. Thầy rất chấp nhận.
Hòa thượng Thạch Thất trụ ở chùa Tuyết Đậu, ngài ra thất chỉ dạy đại chúng, chẳng cho người nói năng.
🔖 Ba vị Tôn túc vì người tuy có chỗ không đồng mà chẻ tim phơi gan thật giống nhau. Người sau khi xem lại điều này, nên có cái nhìn thấu suốt trọn vẹn.
39. Câu chuyện #37.
Có vị họ Trương làm nghề hớt tóc, tên là Đức, người ở Hạ Thủy, huyện Ngân, gia đình nhiều đời thờ Phật. Trương Đức rất thích tập Thiền, thường theo chúng nghe pháp, tự biết có chỗ tỉnh ngộ, mà mọi người không ai nhận ra. Một hôm trời đổ tuyết, có đứa bé gom tuyết làm tượng Phật. Các bạn thiền đồng làm kệ vịnh, Trương Đức sau đó ngâm kệ: Một đóa hoa nở một Như Lai, Sáu cánh tròn trịa, mặt cười say, Biết được đầu lâu vốn là nước, Trong cung Ma Da chẳng đầu thai.
Âm:
Nhất hoa kình xuất nhất Như lại Lục xuất đoàn đoàn tiếu kiểm khai, Thức đắc độc lâu nguyên thị thủy, Ma Da cung lí bất đầu thai.
Có vị họ Đinh làm nghề thợ may, người Thiên Thai, tham học với Hòa thượng Phương Sơn ở Thụy Nham, đã được ấn chứng chấp nhận, có làm bài kệ vịnh Lưu Ly rằng:
Buông xuống, buông xuống, Nhấc lên, nhấc lên, Một điểm sáng suốt, Soi thấu đất trời.
Âm:
Phóng hạ phóng hạ, Đề khởi đề khởi, Nhất điểm linh quang, Chiếu phá thiên địa.
🔖 Hai bài kệ mượn sự để hiển bày lý, đều thân thiết thấu tột. Tôi ghi tất cả lại đây, bởi lẽ không vì người mà bỏ đi lời nói.
40. Câu chuyện #38.
Khải Địch Nguyên ở chùa Hộ Thánh Vạn Thọ tại núi Đạo Tràng, người gốc Lâm Hải. Khi còn làm thư sinh, Địch Nguyên đến thăm hỏi người chú là Thượng nhân Kiên ở chùa Bảo Tạng trong làng. Tình cờ xem qua kinh Thủ Lăng Nghiêm để trên bàn, đến đoạn “Núi sông, quả đất đều là vật trong tâm chân thật diệu minh hiển hiện”, đặt quyển kinh xuống suy gẫm kỹ, giây lâu tự chấp nhận, trở về nhà thưa với cha mẹ xin được xuất gia.
Sau khi được xuất gia, Địch Nguyên đến lễ Thiền sư Tịch Chiếu ở Kính Sơn làm thầy, thực hành theo hạnh Đầu đà, về lâu sự tu tập càng thêm siêng năng. Sau thầy ra giáo hóa trụ trì chùa Thánh Giáo, nhưng nhân duyên không thuận, thầy lui về ở Đông Đường bảy năm. Thầy viết những sách như Đại Phổ Huyễn Hải, Pháp Vận Thông Lược, Chuế Đàm, Vưu Thuyết, Nho Thích Tinh Hoa, Đại Mai Sơn Chí, tất cả bấy nhiêu quyển. Lại làm Phật Tổ Đại Thống Phú, do đó tâm lực nhọc nhằn nên bị bệnh rồi mất. Thầy sống được 43 tuổi.
41. Câu chuyện #39.
Hòa thượng Tây Nham ở chùa Thiên Đồng, là người nước Thục. Thầy đi về phương nam, tham học khắp các bậc danh đức. Đến Kính Sơn được gặp Thiền sư Vô Chuẩn, lời nói cơ phong khế hợp, Vô Chuẩn chấp nhận thầy vào thất, muốn giao cho chức Tạng chủ, nhưng có người ra sức đoạt lấy. Hôm sau, khởi khám cho Thị giả Nột đã mất, người kia làm kinh hãi đại chúng mà vẫn im lặng không nói một lời. Vô Chuẩn liền sai Duy na mời Thị giả Huệ khởi khám. Huệ đến trước khám, liên tiếp gọi Thị giả Nột ba tiếng, mọi người cũng lấy làm khiếp sợ. Huệ liền nói: “Ba lần gọi không trả lời, quả nhiên là nói năng chậm chạp (nột), trên đầu vụt bay ra chim hạc”. Vô Chuẩn bãi chức người kia, chọn thị giả Huệ thay vào đó. Thị giả Huệ chính là thầy vậy. Thầy trước nương ngài Diệu Phong ở Linh Ấn, trong chùa họa vẽ lại bức tranh đồng từ Thiện Tài tham vấn 53 Thiện tri thức ở hai dãy nhà hai bên, các thiền sinh đều làm kệ chúc mừng. Thầy cũng làm một bài kệ, nhưng có người tật đố không cho viết vào sách. Diệu Phong đọc lại thấy thiếu bài của thầy, mới hỏi: Thị giả Huệ tại sao không có làm? Đáp: Có làm, nhưng không đủ tiêu chuẩn đưa vào sách.
Diệu Phong nói: Thử đọc ta xem.
Khi đọc xong, Diệu Phong đích thân ghi ở đầu quyển, từ đó tiếng tăm thầy rực rỡ. Khi thầy về trụ chùa Thiên Đồng, cất am tranh gọi là Huyễn Tri, dự định làm chỗ chôn thân sau khi mất. Riêng sắp đặt một bàn thờ ngài Diệu Phong để đáp lại ân tình người đã hiểu rõ mình. Thầy làm bài kệ mừng rằng:
May thay mười phương không vách ngăn, Ai lấy năm màu vẽ hư không? Trong mắt Thiện Tài nổi hoa đốm, Một lớp tháo ra, một lớp thêm.
Âm:
Hạnh thị thập phương vô bích lạc, Thùy tương ngũ thái hội hư không Thiện tài nhãn lý sinh hoa ế, Khứ khước nhất trùng thiêm nhất trùng.
42. Câu chuyện #40.
Hạo Linh Giang là đệ tử của Hòa thượng Cổ Lâm. Khi Cổ Lâm trụ ở chùa Vĩnh Phước tại Nhiêu Châu, Linh Giang làm Đệ nhất tòa (Thủ tọa). Trong mùa Kiết hạ, thầy vì đại chúng nói pháp. Có vị tăng đưa ra câu hỏi: Tiến một bước thì thế nào? Đáp: Đụng tường đụng vách. Hỏi: Lui một bước thì thế nào? Đáp: Rơi hầm sụp hố. Hỏi: Không tiến không lui thì thế nào? Đáp: Kẻ chết đứng.
Có người đến phương trượng khen ngợi: “Thủ tọa thuyết giảng đáp thiền khách ba lời xoay chuyển đều ứng hợp căn cơ, giỏi thật!" Cổ Lâm nói: Giỏi ở chỗ nào? Chẳng thấy nói: “Một câu lời phù hợp, muôn kiếp là cọc cột lửa”. Tuy nhiên cần nhất không thể hiểu như thế.”
43. Câu chuyện #41.
Trạm Thiên Uyên, vào năm Thiên Lịch cải nguyên, ở trong hội của Hòa Thượng Nhất Nguyên, giữ địa vị Tiền bản cầm phất thuyết pháp. Thầy chuẩn bị lời đề xướng có nói rằng: “Dạo trước núi Phượng Hoàng, thấy mây trắng chợt cuốn chợt xả; ngồi trên đình Ngu Tuyền, nghe nước chảy hoặc trầm hoặc bổng. Con mắt làm Phật sự lỗ tai, lỗ tai làm Phật sự của mắt, liền thấy không chỉ Quán Thế Âm, ta cũng từ trong ấy chứng được ”. Nhất Nguyên chỉ hai chữ “liền thấy” nói: “Có hai chữ này, là nói với người khác, không có hai chữ này mới là nói với chính mình”. Thiên Uyên bất ngờ tránh khỏi chỗ ngồi, lui lại bảo với mọi người: “Một viên hoàn đan điểm sắt thành vàng, đó là nói ngài Đường Đầu vậy”.
Thiên Uyên là bậc Long tượng trong thất của Hòa thượng Đông Tự. Thấy giữ quy tắc. nghiêm khắc, mọi người đều kính sợ. Về sau, thấy ra giáo hóa trụ trì chùa Minh Nhân ở Chi Đường rồi qua đời, tiếng tăm ngang với Mãn Trọng Khiêm. Trọng Khiêm đạo đức thù thắng, là người Năng Hạ, thầy ra giáo hóa ở chùa Thúy Phong tại Động Đình rồi thì tịch. Giả như tạo vật tặng thêm tuổi cho hai thầy, nhất định khôi phục lại tông Song Thanh, như ngài Hối Đường có Từ Tâm và Linh Nguyên vậy.
44 Câu chuyện #42.
Dịch Hưu Am, người Dương Châu. Lúc còn nhỏ dạo đến Hoài Điện, Yến Kinh, Ngũ Đài. Gặp năm mất mùa đói kém, thầy đi nhờ thuyền buôn đến Minh Châu, làm khách ở tạm chùa Thiên Đồng. Thầy mặc áo mục rách, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, ban đêm không ngủ, rất có phong cách của bậc Cổ đức. Khi chùa Tuyết Đậu ở huyện Phụng Hóa không có người coi sóc, mọi người dâng thơ mời thầy về trụ trì. Dịch vui vẻ mang nón lá ra đi.
Khi đến nơi, thầy lên ở trên phương trượng, nắm giữ kho thóc, tiền vàng. Không tròn một năm, thầy đã thay đổi tất cả hạnh nết: Khi xưa mặc áo rách, ngày nay mặc áo lông nhẹ; khi xưa ăn một bữa, ngày nay mâm cao cỗ sang. Người bên cạnh có chút vi phạm, liền nổi giận đứng dậy đánh người ấy ngã xuống đất, rồi tay đấm, chân đạp đến khi hả dạ mới thôi.
Thế rồi thầy vơ vét những tài vật của thường trụ, đến thành Ngân mua nhà dân sửa lại làm am để ở. Hàng ngày lấy việc mua bán làm chính, rồi cùng với vị tăng ở chùa Trúc Lâm tranh giành nhà cửa. Thưa kiện đến quan, đối lý không ngay thẳng, bị bắt giam mà chết trong ngục.
Ngày nay trong hàng mặc áo giải thoát, kẻ mượn lấy hạnh lành muốn cho mình vinh đạt, để lại sự ô nhục cho giáo pháp, đâu chỉ có một Hưu Am mà thôi. Kinh Thi nói: “Không có sự khởi đầu tốt đẹp, ít khi kiên trì đến cuối cùng”, có thể không răn ngừa sao?
45. Câu chuyện #43.
Ngạn ngữ nói: “Người có phước do tu tập có thể kéo dài mạng sống”. Đó là nói trong một đời thôi, chưa xét thấu nguồn cội. Nếu như xác thật bàn về ba đời, mới là thấu tốt nguồn gốc, nhưng vẫn chưa thông suốt được sự biến hóa. Trong sự biến hóa, một đời có thể bao quát ba đời, ba đời có thể hiện hành ngay một đời. Vả lại, nhân quả trong ba đời và nhân quả trong một đời, tuy có khác nhau về thời gian lâu mau, nhưng chẳng ra ngoài sự tạo tác và nhận chịu của một tâm. Vì sao vậy? Phần nhiều thấy người đời làm thiện lại bị nghèo hèn chết sớm, làm ác lại hưởng phước sống lâu. Bởi vì họ ở đời trước làm điều thiện nhiều, đời nay tuy làm ác, nhưng ác không hơn thiện, cho nên được giàu sang, sống lâu. Người vào đời trước làm việc ác nặng, đời nay tuy có làm thiện, nhưng thiện ít hơn ác, cho nên nghèo hèn chết yểu, mà sự thiện ác của đời này thì lại xảy ra vào đời sau. Hoặc như đời trước làm thiện làm ác chẳng nặng lắm, đời nay gây tạo có phần vượt trội thì có thể thay đổi nghèo hèn chết yểu thành giàu sang sống lâu hay từ giàu sang sống lâu thành nghèo hèn chết yểu. Vì thế người nên thông hiểu sự biến đổi của nhân quả, đừng cách ngại ba đời mà lười tu thiên ngay hiện tại. Đó là không hiểu được sự tạo tác và nhận chịu của một tâm.
Hòa thượng Cổ Đỉnh ở Kính Sơn, sanh ra thân thể lùn nhỏ, môi túm, răng hô, tiếng lại ồ ô, da thịt khô nứt. Thầy tướng xem nói: “Thầy có bốn tướng thấp hèn, kết hợp với thân hình nhỏ bé, bình sanh tôi không nói ra, nhưng thầy có thể biết!”. Thầy nhân đó lập thệ, cầu nguyện đức Đại sĩ Quán Âm, mỗi ngày niệm danh hiệu không tính kể, ban đêm lễ hình tượng có ngàn hơn. Tu như thế trong 20 năm, bỗng tướng thấp kém chuyển thành tướng phước báo. Môi giãn tự nhiên, răng ẩn kín, tiếng đầy đặn lưu loát, da dẻ trơn láng.
Về sau gặp lại vị thầy tướng, ông ta chúc mừng nói: “Tướng Thầy hôm nay chẳng phải như xưa, đường âm chất đã hiện, tức phải ở địa vị vinh hiển, làm chấn hưng Tông phong”. Năm ấy thầy ra giáo hóa, trụ trì chùa Long Giáo. Từ chùa Long Giáo chuyển đến chùa Bảo Đà. Từ chùa Bảo Đà chuyển chuyển lên Trung Trúc Kính Sơn, không đầy 5 năm mà chuyển đổi ba nơi. Thầy ở Kính Sơn 12 năm, thọ 79 tuổi.
Thầy tu hành cầu nguyện được cảm nghiệm, không chỉ có thể tăng phước thọ, lại có thể biến đổi hình hài. Như đem vật đến gởi nhà người, rồi đến lấy một cách dễ dàng. Nhưng điều đó cũng có thể là cả một sự bị cố gắng của những người lười biếng như chúng ta!
46. Câu chuyện #44.
Thiền sư Hỗn Nguyên ở núi Tử Thác. Khi thầy giữ chức vụ Khố ty, có ghi trên vách tường một bài văn, đoạn sau ghi rằng: “Giọt nước hạt gạo đều thuộc của chúng Tăng, muốn dùng của ấy để vui lấy tình người, đúng lý không thể đem cho. Phải nghĩ đến lúc mang lông đội sừng, chịu khổ năm tháng dài lâu. Người hiểu nhân quả, cần nên biết rõ.” Khi thầy tịch, bài văn ấy giữ lại một thời gian lâu, nét mực đã phai rất khó đọc. Về sau Hòa thượng Nhất Sơn đến tiếp nhận ngôi chùa ấy, liền cho tô phết lại bức tường, đích thân ghi lại bài văn, đến nay vẫn còn. Những người chỉ toan tính việc danh lợi đọc qua đoạn này không thể chẳng tự tỉnh ngộ ?
47. Câu chuyện #45.
Thủ tọa Lão Tố, cả đời đóng cửa thất ẩn mình, ở đời không ai biết đến. Khoảng niên hiệu Thiên Lịch đời Nguyên, có vị thiền nhân được ba bài kệ, nét mực do chính thầy ngẫu hứng ghi lại việc ở ẩn nơi rừng núi. Vị ấy đem đến, thỉnh Tiên sư Quy Nguyên có lời bình. Tiên sư nói: “Tùng Lâm buồn vì thầy không ra đời nói pháp, nay đọc ba bài kệ này, như cái chuông vàng một khi giống lên, những âm thanh khác đều im bặt. Như thế mà cho rằng thầy không nói pháp được ư!”.
Bài kệ sợ lâu rồi không ai được nghe, vì thế tôi theo chỗ thấy ghi lại:
Đọc xong Truyền Đăng tóc bạc rồi, Công nghiệp còn giành mấy vạn thôi, Ngủ trưa tỉnh giấc bàn đầy bụi, Nửa thềm ánh nắng rọi hoa sân.
Âm:
Truyền đăng độc bãi tấn tiên hoa, Công nghiệp do tranh kỉ lạc xoa, Ngọ thụy khởi lai trần mãn án, Bán thiểm nhàn nhật lạc đình hoa.
Mái thất nhô lên không mấy cao, Trên có rừng xanh dưới có ao, Đêm sâu gió mạnh thổi lá úa, Tợ dưới cánh buồm khi mưa rào.
Âm:
Tiêm đầu ốc tử bất hiềm đê, Thượng hữu trường lâm hạ hữu trì, Dạ cửu kinh tiêu kinh hoàng diệp, Kháp như bồng để vũ lai thì.
Đời tạm thời gian có dài xa, Đề thơ đáp lại năm tháng qua, Sáng nay ta dưới áng tùng lớn, Đứng khuất gió thu đếm quạ bay.
Âm:
Phù thế quang âm nhật bất đa, Đề thi liêu phục đáp niên hoa, Kim triều ngã tại trường tùng hạ Bối lập tây phong sổ loạn nha.
Thủ tọa Chứng ở chùa La Hán tại Phan Sơn, tuy đôi mắt mù lòa, nhưng thấy Đạo rất sáng tỏ. Mỗi sáng lấy việc quét đất làm Phật sự, có vị tăng hỏi rằng: “Mảnh đất này quét sạch chưa?". Chứng giờ cây chổi lên để trả lời. Lại có tăng hỏi: “Trong thế giới chân tịnh, vốn không một hạt bụi, thì quét đất làm gì?”. Chứng cũng giữ cây chổi trả lời.
Ở Lạc Thanh có ngọn núi gọi là Cửu Ngưu, thầy có làm bài vịnh rằng:
Vài con thành đàn bao năm qua, Xuân đến thu đi no gió mây, Áo trong có nước chưa từng uống, Ruộng hoang chẳng xới nằm ngủ dài,
Mỗi mỗi gót chân đều chấm đất, Nơi đâu lỗ mũi cũng thấu trời, Bình thường ở tại ngàn đỉnh núi, Cả người đại địa kéo làm sao?
Âm:
Tứ ngũ thành quần tri kỉ niên, Xuân lai thu khứ bão phong yên, Thanh trì hữu thủy hà tằng ẩm, Lục đã bất canh trường tự miễn,
Cá cá cước cân giai điểm địa, Đầu đầu tị khổng tận liêu thiên, Tầm thường chỉ tại thiên phong đỉnh, Đại địa nhân lai tác ma khiên?
Thiền sư Quy Nguyên ở chùa Tiến Phước, một hôm cùng các vị tăng trong chùa uống trà nói chuyện, thầy nêu: “Đông Pha thưa hỏi Thiền sư Phật Huệ Tuyền ở Tương Sơn. Tuyền hỏi rằng: Họ của vị Đại nho là gì? Đông Pha đáp: Họ Xứng (cái cân). Tuyền hỏi: Là cân gì? Đông Pha nói: Là cái cân để cân đầu lưới của các Hòa thượng trong thiên hạ. Tuyền hét một tiếng hỏi: Hãy nổi tiếng. hết này nặng bao nhiêu? Đông Pha không đáp được.
Thầy bảo các vị tăng mỗi người nói thay một lời xoay chuyển. Bấy giờ không có người đây lại, chỉ có Tạng chủ Nguyên đứng lên làm thế ngồi xếp gối, Thị giả Nhất tằng hắng một tiếng.
Thầy cười nói: Tạng chủ Nguyên ngồi xếp gối, Thị giả Nhất tằng hắng.
Rồi có Tạng chủ Định thỉnh thấy tự nói thầy bảo: Có lẽ chẳng hơn thế.
Tạng chủ Nguyên là Thiền sư Nguyên ở Biệt Nguyên tại Thọ Xương, Ôn Châu; Thị giả Nhất tức thiền sư Nhất ở Liễu Đường tại Thiên Đồng, Minh Châu. Hai người đều nối pháp Thiền sư Quy Nguyên. Tạng chủ Định, tức Thiền sư Định ở Thiên Ninh, Đại Từ, xuất thân từ cửa của Thiền sư Diệu Thản hiệu Trúc Tây ở núi Thiên Đồng.
Khoảng niên hiệu Chí Chánh nhà Nguyên, quan Thừa tướng của Hành Tỉnh ở Giang Chiết là ngài Đạt Thế Thiết Mục Kì, kiêm xử lý việc của viện Hành Tuyên thuộc chi nhánh của viện Tuyên Chánh, ra lệnh cho người thi hành công vụ đặc biệt hai lần đưa văn thư, muốn mời thầy trụ trì chùa Thiên Đồng và Thiền tự Hưng Thánh ở Vạn Thọ tại Kính Sơn, thầy đều lấy cớ gì bệnh để từ chối.
Thiền sư Biệt Nguyên ở chùa Thọ Xương, Ôn Châu, người Phụng Hóa. Thầy tham học với Thiền sư Quy Nguyên đã lâu, để chí vào việc gánh vác trọng trách, không dẫm theo vết của những người khác. Thiền sư Bổn hiệu Vô Tế trụ trì chùa Giang Tâm, về già phân tòa cùng thầy tiếp dẫn tăng chúng. Đến khi thầy ra giáo hóa trụ trì chùa Bạch Địch, Vô Tế đối xử rất hậu muốn thầy làm người nối pháp, thầy chỉ cười mà thôi. Một cây hương dâng lên để đáp lại thâm ân, cuối cùng thầy nối pháp Quy Nguyên. Trong Tùng lâm đều phục thái độ xử thế của thầy.
Thầy chuyển dời đến ba nơi, vào đạo tràng nào trước hết là thầy sửa sang lại nhà khách, thường chuẩn bị tất cả vật dụng cần thiết, tăng chúng đi đến như trở về nhà của mình. Khi thầy 67 tuổi, có chút ít bệnh, cùng đệ tử là Trưởng lão Hạo ở Tiên Nham vặn hỏi vài lời, bỗng nhiên thị tịch.
Hòa thượng Giác Am ở chùa Thừa Thiên tại Cô Tô. Về lý lẽ và biện thuyết, thầy đều thông suốt. Mọi người khen là tiểu Đại Huệ Khoảng niên hiệu Chí Nguyên, nhà Nguyên, có một vị giảng chủ của Tông Hoa Nghiêm tâu lên vua xin đổi các chùa nổi tiếng ở vùng lưỡng Chiết Giang Nam làm chùa của giáo phái Hoa Nghiêm, đưa tư cách và địa vị giáo phái lên trên Thiền Tông. Khi nhận lãnh sắc chỉ trở về Nam, ông liền đến ở chùa Thừa Thiên. Ngày hôm sau, Giác Am lên pháp tòa nói pháp cho ông ta, dẫn rộng Tông chỉ của kinh Hoa Nghiêm mặc tình ngang dọc, phân tích chỗ luận giải đúng sai của chư sự rõ ràng mạch lạc. Khi ấy, Giảng chủ Hoa Nghiêm nghe được những điều chưa nghe, thấm nhuần sự lợi ích của giáo pháp, cho là Trưởng lão của ngôi chùa nhỏ Thừa Thiên còn như thế, huống chi bậc Tông sư ở các ngôi chùa lớn Hàng Châu. Liền trở về tâu lên vua, xin rút lại sắc chỉ trước. Đó thật nhờ vào công của Giác Am.
Tăng Đạo, người Ngô Hưng. Khi quân Nguyên đánh phá Giang Nam, cha bị giết chết, mẹ bị bắt về phương bắc làm nô lệ. Tăng Đạo không có ai cho bú mớm, vì thế người bác nhận về nuôi dưỡng. Đến khi tuổi được 14, Đạo hỏi bác rằng: Ai cũng có cha mẹ, sao con không có?
Người bác kể lại hết nguyên do, vì thế thầy quyết tâm đi tìm mẹ, lại hỏi bác: Gương mặt của mẹ con như thế nào?
Bác nói: Ông giống hệt mẹ vậy.
Tăng Đạo liền mang theo một hộp gương lên đường tìm mẹ, dọc đường làm nghề chải tóc để có thức ăn, áo mặc. Suốt mười mùa lạnh nóng mà vẫn không tìm gặp. Tình cờ đến huyện Trạng Nguyên, phủ Hà Giang gặp người lính già chăn ngựa, cùng nói chuyện với ông ấy, mới biết đó chính là người bắt mẹ mình. Ông liền dẫn Đạo về nhà, ngồi chưa yên, liền có bà cụ từ ngoài đi vào mang giọng nói miền Nam. Đạo lấy gương ra xem, thấy hình dáng mình giống như bà cụ, vừa hay vừa gọi: “Mẹ! Mẹ!”. Bà cụ mới hỏi quê ở đâu, tên tuổi cùng năm tháng sinh không sai, thế là mẹ con ôm nhau khóc lớn, người trong làng tụ lại xem.
Qua mười ngày, Đạo muốn đưa mẹ trở về Nam, cả nhà lớn nhỏ không cho, vì thế Đạo dẫn mẹ bỏ trốn. Đi đến Dương Châu, Tăng Đạo đặt mua một chiếc kiệu nhỏ, để mẹ ngồi trong, tự thân gánh đi, mười bước để xuống một lần, qua lại bốn phương, sau đó lạy mẹ. Đi thẳng đến núi Phổ Đà ở Tây Minh, cầu nguyện Bồ Tát Quán Âm hiện hình, mới trở về cố hương.
Sau đó Tăng Đạo xin phép xuất gia, mẹ cũng xuất gia theo. Không lâu mẹ mất, đem thiêu, trong tro cốt nhặt được một tượng Quán Âm bằng ngọc, đến nay vẫn lưu lại ở Tinh xá ngoài cửa nam thành Nghi Hưng để cúng dường. Tinh xá này do Tăng Đạo xây dựng
Pháp sư Ngã Am Bổn Vô ở chùa Thượng Thiên Trúc, người Hoàng Nham. Thầy theo Hòa thượng Phương Sơn xuống tóc, nương học với Ngài Tịch Chiếu ở chùa Trung Trúc, được theo hầu lo việc văn thư. Thầy có người cậu là bậc dày dạn kinh nghiệm trong Giáo môn, bắt kéo thầy đổi tông phái. Thế là thầy đến yết kiến Trạm Đường ở Diễn Phước, nghiên cứu thành thạo giáo điển.
Tịch Chiếu tiếc cho thấy bỏ đi, mới làm bài kệ:
Xưa nay lắm kẻ giáo vào thiền, Từ thiền đến giáo trước giờ không, Một tâm ba quán môn tuy khác, Nước đầy ngàn sông, một vầng trăng.
Âm:
Tùng giáo nhập thiền kim cổ hữu Tùng thiền nhập giáo cổ kim vô, Nhất tâm tam quán môn tuy biệt, Thủy mãn thiên giang nguyệt tự cô.
Về sau, thầy ra giáo hóa trụ trì, đã nối ngài Trạm Đường, nhưng vẫn dâng một nền hương để báo ân Tịch Chiếu. Bởi vì thấy không vì sự phân chia Tông phái khác biệt mà có hai lòng. Khi Tịch Chiếu thị tịch, thấy đang trụ trì chùa Diên khánh núi Tứ Minh. Tịch Chiếu để lại thư căn dặn thấy ra sức hoàng truyền Tông thú hai nhà Đại Tô và Thiếu Lâm mà thôi, ngoài ra không có lời nào nữa. Trong buổi lễ cúng tế Tịch Chiếu, thầy niêm hương rằng:
Diệu Hỷ năm đời truyền rực rỡ, Một đời Tịch Chiếu mở cam lồ, Bỗng dưng chạm đến gan não nát, Băng giá chợt ấm hơi xuân sang, Tôi nghĩ đến ngày vuột chóp mũi, Mùi vị nào đâu nay vẫn còn, Gió bấc thổi đến năm đã cuối, Chớp nhoáng bàn chi dấu trong không.
Âm:
Diệu hỉ ngũ truyền tối quang diệm, Tịch chiếu nhất đại cam lộ môn, Đẳng nhàn xúc trước can não liệt, Băng tuyết hốt tác dương xuân ôn Ngã tư đã thất tị khổng nhật, Thị hà khí tức kim do tổn, Thiên phong bắc lai tuế vẫn mộ, Xế điện thảo thậm không trung ngân.
Thầy sống không biết được bao nhiêu tuổi, không bệnh ngồi tịch ở nhà Bạch Vân.
Hòa thượng Đông Nham, người Giang Tây. Vào tuổi 81, bốn chúng cử thấy trụ trì chùa Thiên Đồng. Khi ấy ngoài chùa Thiên Đồng ra còn có nhiều chùa hư nát. Thầy nghĩ mình tuổi đã già, gánh vác trách nhiệm nặng nề này chẳng nên nhàn nhã yên ổn, liền gọi ba đệ tử là Đông, Viên, Khánh mà phân lệnh rằng: “Ông Đông! Ta cùng với người dân ở Giang Nam này có duyên, ông đến đó nói rõ chí Ta, nếu hóa duyên được tài vật thì xây dựng Bảo các chùa Càn Nguyên, chùa Vạn Thọ; đúc đồng thành ngàn tượng Như Lai và những đồ thờ cúng. Ông hãy nhận lấy trách nhiệm này. Còn ông Viên, ông biết rõ việc quan, nên lo quan hệ với quan phủ trong thành. Ông Khánh, ông kỹ lưỡng cẩn thận, khéo điều hòa trên dưới kiểm tra cân nhắc dư thiếu, chỉ có ông là có khả năng, ông hãy giữ Y các”.
Không đầy 5 năm mà gác xây dựng được thành, hình tượng Phật đều đầy đủ. Thầy lại đem tài vật còn dư đến vùng Đề Hải Điền ở Tượng Sơn tổ chức một buổi trai lễ. Quan phủ rất vui lòng, người trên kẻ dưới hòa thuận kính trọng. Tuy công việc thành tựu là nhờ sức của 3 người, nhưng nếu không do quy củ và sự chỉ dạy của thầy đầy đủ, làm sao có thể đạt được như thế.
Gần đây, thấy những bậc làm thầy, chỉ cốt lo tốt cho Tông phái mình, mà xem chùa chiền hư sụp giống như người đi đường thấy nhà hoang bên lề, chẳng thèm để tâm đến. Thật đáng trách vậy!
Hòa thượng Đoạn Kiều là người cương nghị. Đối với hàng tăng sĩ, thầy cẩn thận trong việc chấp nhận về khả năng của họ. Ngày thầy trụ trì chùa Quốc Thanh, Vĩnh Tượng Đàm làm Thủ tọa, Cấu Cổ Điền làm Thư ký, Tạng chủ thì không rõ tên họ.
Trong mùa an cư, thầy thuyết pháp cho đại chúng, lên tòa nói ra những điển thiếu sót, thầy nói: “Thủ tọa thấy bậc tiền bối đến chủng khéo khen ngợi. Thư ký nói lời đề xướng giống như vẽ hình người, vóc dáng đầy đủ tất cả, chỉ thiếu chấm con mắt thôi. Tạng chủ nói lời đề xưởng thì chẳng biết là nói cái gì. Sau này các vị lại bảo là đã làm chức sự trong hội của Lão tăng.”
Đó là thấy nhận lấy trách nhiệm làm chủ pháp, chẳng chịu tổn giảm một chút uy quang làm mê lầm cho người sau. Tuy nói là nhấn dìm nhưng thật sự muốn nâng đỡ họ. Người chủ pháp hiện nay, con mắt của mình còn chưa sáng, chỉ dùng nước mật đường ngon làm vui lòng người, mong họ cảm động làm người nối pháp. Than ôi! Nếu để cho thầy Đoạn Kiều thấy chuyện hoa hòe này, đâu chỉ có mắng chửi mà thôi!
Hạ Kiết Tường ở chùa Phổ Chiếu tại Trấn Giang, người Đông Sơn, đen đủi gầy ốm, thân hình giống như vị tăng Ấn Độ. Lúc nhỏ thầy có thưa với cha mẹ xin phép xuất gia, cha mẹ trách không có người nối dõi là lỗi lớn. Vì thế thầy lấy vợ theo ý song thân, sinh được hai con, mới được rời nhà làm Sa môn, nghiên cứu giáo pháp Duy thức.
Đến niên hiệu Chí Nguyên thứ 25, Hoàng đế Tất Thiền lập ra 36 nơi giảng pháp ở Giang Hoài, chùa Phổ Chiếu là một chỗ. Vua ban chiếu mời thấy làm vị chủ giảng nơi ấy. Ngoài lúc diễn giảng ra, mỗi ngày thầy đọc kinh Hoa Nghiêm mười quyển là thời khóa thông thường.
Thầy kết bạn với Đoan Vô Niệm ở Vân Nam. Vô Niệm là người giỏi có tiếng của tông Duy Thức. Khi cùng thấy bàn luận kỹ về lý Phật dạy, Vô Niệm đôi lúc có chút sơ suất, thầy nói thẳng để sửa lại, Vô Niệm hết lòng nể phục. Thầy tịch, thiêu xong được xá lợi rất nhiều, học trò giữ lấy xương đá ấy cất trong hộp sơn, kính thờ hơn 20 năm mới xây tháp ở Vu Sơn tại Đan Tỉ. Đến ngày đưa vào tháp, mở hộp ra xem chỉ thấy xá lợi kết dính vào tấm vải bọc như ong bu kiến tụ, chạm vào thấy lóng lánh. Người dân ở Trấn Giang phần nhiều có vẽ hình của thầy để thờ, gọi là Phật Kiết Tường.
Tăng Tử An ở chùa Hải Hội tại Minh Châu. Mùa thu năm Bính Mão, niên hiệu Chí Chánh nhà Nguyên, thầy cất am trên Bảo Phan Thị tại Mãi Sơn. Khi dọn nền, thấy ba ngôi mộ chôn cất đã lâu, thầy lấy đất lấp lại. Lúc am cất xong thì thầy mắc bệnh.
Một hôm thầy nằm mộng thấy đi vào Phong Đô, có ba người mặc áo mão rất xưa đồng quỳ trước ngục để kể tội An “An vào một đời nọ họ là Triệu, tên Sĩ Hoàng, từng làm quan, lấy lý riêng ép buộc đày tôi đi xa. Đồng chịu oan khuất có 4 người, sau đó được ân xá trở về. Một người do khi sống tu nghiệp lành, chết liền được thoát khổ siêu sanh, chỉ có 3 người chúng tôi, chết có trước sau, nhưng đồng chôn ở chỗ này. Nay An lại phá hoại mồ mả chúng tôi, sự oán hận thêm sâu nặng, cho nên chúng tôi cùng ra sức làm hại chết, nhưng nghĩ ông ta khi làm quan có lần cũng đường cho 80 vị tăng, hôm nay mới được làm tăng vì thế chẳng dám”. Vua Diêm La gọi An đến trước, yêu cầu bảo phải trả lại đất cho họ.
An nhận lời rồi chợt tỉnh giấc, vẫn còn nghe nói rõ ràng ba tiếng: “Chớ sai lời”. Hôm sau, thầy sắm sửa trai phạn, bảo Vinh Khô Mộc vì mình nói giới, bệnh của thầy theo đó cũng khỏi, liền dỡ am rào kín lại phần mộ rồi đi.
Sử Thiêm Sự, người ở thành Đan, tên Thuyên, tự là Hoành Phủ, cha Hiến Phu, là bậc trượng phu ở Nam Đài. Vào năm Tân Sửu, niên hiệu Chí Chánh, tôi gặp ông ở huyện Mân. Ông rất khen ngợi việc trì tụng của nhà Phật có công đức rất lớn, đồng thời kể lại 2 việc mà chính ông chứng kiến, xác thật không bịa đặt.
Ở Yến Kinh có người thường tụng chú Chi Thiên. Bỗng một đêm có ông già lông mi rậm đến gõ cửa và nói: Tôi không phải người mà là Rồng, nhân vì làm mưa không đúng thời bị Thượng đế khiển trách, mong ông che chở một phen. Người ấy nói: Tôi đâu phải là Thánh mà có thể che chở cho ông. Ông già nói: Ngài trì chú Chi Thiên, công đức vô lượng. Nói xong, không thấy ông già đâu. Vài hôm sau, người ấy bỗng cảm thấy dưới móng tay cái bên trái hơi đau âm ỉ, xem lại thấy có một vật. nhỏ như sợi tơ dài ba bốn phân, màu hồng, hình dáng như Rồng. Người ấy vẫn trì chú như trước. Vào đêm đó, ông già lại đến cảm tạ rằng: “Nhờ ông che chở nên được khỏi, giờ đây xin ông duỗi tay. ra ngoài cửa sổ.” Người ấy làm theo lời, phút chốc mưa giông rất lớn, chỉ thấy một con Rồng từ ngón tay cái vọt lên trời bay đi.
Tế Ninh có một cư sĩ hay thích ngồi thiền, trải qua thời gian hơn 20 năm. Một hôm, ông nói với người nhà: “Tôi đi vậy”. Thế rồi ngồi ngay đó qua đời. Người nhà lật ngã thân ông ta nằm xuống gối, ông la lên: “Không được như thế, không được như thế". Liền đứng dậy nhảy xuống hồ chết. Về sau hễ gặp người quen đến, ông gọi tên họ người ấy, cùng nói chuyện như lúc sống, có khi đòi uống rượu, người ta lấy rượu đổ xuống ao, ông liền cảm ơn: “Được rồi”. Xảy ra như thế suốt nửa năm. Sau đó có vị tăng đi khất thực đến nhà ấy, nghe trong ao có tiếng người, vị tăng lớn tiếng hét: “20 năm ngồi thiền công sức tu tập ở chỗ nào?" Nhờ vậy trong ao từ đó im bặt.
Sử Thiêm Sự tuổi về già, thời khóa ngồi thiền, tụng tập giữ gìn rất cẩn thận, đó là nhờ hai việc này mà phát khởi niềm tin.
Niên hiệu Hồng Vũ, năm thứ năm, tôi ở tạm nơi Thượng Ngu, nhập Hạ ở Tinh xá Tích Khánh tại Cái Hồ. Tình cờ một hôm, có người phụ nữ họ Du vợ của một vị quan chức, từ chợ Bách Quan đi đến, quỳ trước mặt tôi mà thưa rằng: Con với chồng con không thuận nhau, nên con phát tâm tu Tịnh độ đã 7, 8 năm rồi. Một hai năm gần đây, mỗi khi lắng lòng ngồi yên, tiền nghe trong hư không có tiếng nhạc du dương và tiếng chim hót văng vẳng. Con cho là cảnh thù thắng hiện tiền, nhưng có người lại nói là cảnh ma, xin Thiền sư giải mối nghi.
Tôi nói: Đó là do cô nghe trong kinh có đoạn gió thổi hàng cây 7 báu, tiếng như trăm thứ âm nhạc và tiếng các loài chim đồng thời vang lên. Niềm tin của cô chân thành, trồng sâu vào ruộng thức thứ tám không thể dứt trừ, nên trong khi yên tĩnh, liền hiện lên thôi.
Về sau, nếu cô thấy lại cảnh này, chẳng được nghĩ là thù thắng, cũng không được nghĩ là cảnh ma, đối diện dứt tuyệt với nó, liền thấy Tịnh độ chỉ do tâm, Phật Di Đà ngay nơi bản tánh. Toàn thể đều là phải, há lại ở cách ngoài mười vạn ức cõi nước xa xôi!
Cô Du lấy tay chỉ vào hông ngực nói: Từ đây nghi ngờ trong con đã tiêu tan rồi.
Thiền sư Thu Giang Trạm ở chùa Quảng Hiếu tại Đài Châu, là người Đoạn Giang nơi Hoàng Nham. Thuở nhỏ đến chùa Hóa Thành trong làng xuống tóc xuất gia. Bên phải chùa có vách đá cao vót gọi là Tùng Nham, trên đỉnh có nền chùa Pháp Luân do Thiền sư Cân sáng lập thời Ngũ đại nhà Đường đã hoang phế lâu rồi. Nền cũ chìm khuất trong cỏ rậm. Một hôm thầy đến chỗ này, dõi mắt nhìn chung quanh, bất chợt trong lòng nổi lên niềm thương cảm như người xa quê đã lâu mới trở về, lưu luyến không nỡ bỏ đi. Thế là thầy đến tảng đá to bên cạnh để thiền định, người dân trong làng nghe được, bảo nhau đưa thức ăn lên cho thầy, rồi cùng đem của cải ra mướn thợ xây lại ngôi chùa. Không được mấy năm trở thành một Tùng lâm. Lại ở khu đồi phía sau chùa xây ngôi tháp dự tính làm nơi chôn thân sau khi mất.
Bỗng một hôm, thầy giục đệ tử mở tháp, rồi sai người mời khắp cả những người thường lui tới chùa, hẹn ngày cùng đến núi để từ biệt. Đến kỳ hẹn, Tăng Ni, cư sĩ tụ tập đông đảo. Do đó, thầy bảo trụ trì chùa Pháp Luân là Tín Đạo Nguyên sắp đặt bữa cơm để cúng tế thầy khi còn sống, ai nấy đều kinh sợ, cho thầy tuổi già lẩm cẩm. Thầy thúc giục càng gấp, họ mới đem thức ăn sơ sài đến tế cúng. Thầy ngồi ăn ở nhà trên, thức ăn dư đem cho đồ chúng ai cũng nếm qua. Các vị Tín Đạo Nguyên đọc văn tế mà khóc ròng, thầy cũng rơi lệ, thế rồi thấy đứng dậy đi vào trong hang tháp ngồi yên. Bấy giờ đàn việt Chu Hành Chỉ đem tượng Quán Âm cầu thầy làm lời tán, và chúng tăng xin để lại kê. Thầy đưa bút viết nhanh, chốc lát thì dứt hơi thở, vào ngày 23 tháng 4 năm ấy. Thầy căn dặn lại đệ tử là sau khi thầy chết, thi thể chưa lạnh lập tức lấp đất lại. Chúng không đành lòng, nên đến hôm sau mới lấp, rồi xây tháp ở trên. Tên họ của thầy cùng việc nối pháp và ra trụ trì được thấy trong truyện do ngài Dụng Chương Tuấn trước tác.
Thiền sư Cập Am Tín ở chùa Đạo Tràng, người Vụ Châu, nối pháp Thiền sư Tuyết Nham ở Ngưỡng Sơn. Thầy có đạo hạnh chân thật, kẻ tu Thiền khắp nơi hễ ai tha thiết với việc nghiên cứu sáng tỏ sự sanh tử, đều vui vẻ theo học. Có vài cô ni cũng xin được ở tạm trước tăng đường để theo chúng nghe pháp. Những kẻ bất đắc chí muốn cầu chức vị, nhưng thầy không bằng lòng, vì vậy họ ganh ghét vu cáo thầy cợt nhã các cô, cùng các cô quan hệ thầm lén, nên thầy bị quan phủ đuổi đến Hàng Châu, giam giữ ở nhà Ngũ Mạch. Một hôm, thấy không bệnh mà qua đời, đem thiêu được xá lợi óng ánh, kẻ cáo oan trở lại bị mắc tội. Thầy Bình Sơn ở chùa Linh Ẩn là người nối pháp.
Hòa thượng Tuyết Nham ở Ngưỡng Sơn người Vụ Châu (nay thuộc vùng Kim Hoa, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc) lập chí cao vời, nếu không phải người hợp ý nguyện thì không qua lại. Lúc nhỏ đến vết kiến Thiền sư Vô Chuẩn ở Kính Sơn. Gặp lúc đúc chuông, Vô Chuẩn bảo thầy làm lời sớ, thầy làm bài kệ:
Toàn thân chỉ là miệng rộng tuênh, Nung nấu trăm lần mới làm nên, Đưa tiễn chiều tà về chốn cũ, Lại giục trăng sáng bước lên thềm.
Âm:
Thông thân chỉ thị nhất trương khẩu Bách luyện lô trung cổn xuất lại, Đoạn tống tịch dương quy khứ hậu, Hựu thôi minh nguyệt thướng lâu đài.
Thế rồi Vô Chuẩn bảo thấy giữ nhiệm vụ Thị giả. Thời gian nhậm chức đã hết, Vô Chuẩn sắp người khác thay vào. Thầy không muốn giao cho người này, nên khi thấy Vô Chuẩn đưa người ấy vào cửa, thầy gập người vào khung cửa sổ, phát tiếng nôn mửa rất dữ dội. Vô Chuẩn biết ý, cho nên chỉ thấy nói: “Ông này không có phước, vừa giải chức thôi mà bị bệnh nôn máu rồi.” Vô Chuẩn rất tức giận việc ấy, nhưng thầy hoàn toàn không để ý. Đến khi ra giáo hóa trụ trì, cây hương chứng tỏ sự nối pháp tuy nhiều lần dâng lên, nhưng không đề cập đến người nào trao truyền. Thầy có bài kệ: “Trên bồ đoàn rách, đất trời sụp đổ, chẳng được từ người....”. Lại ôm nén hương đi trụ trì, đến Ngưỡng Sơn mới vì Vô Chuẩn thắp lên, còn có lời “Có chuẩn mực, Không chuẩn mực (vô chuẩn)”.
Tôi cho là Tuyết Nham tuổi nhỏ bị khí phách hào hùng sai khiến, còn Vô Chuẩn là bậc thầy của một đời mà không thể nhịn chịu, làm cho tình cha con trở nên bất thường như thế. Nói chung người nắm giữ một phương, cầm phất trần giáo hóa, cũng đủ để tự soi xét.
Hòa thượng Trung Phong, người Hàng Châu. Khi đã được cạo tóc xuất gia thọ giới cụ túc, thầy quyết chí đi tham cứu học hỏi, không đến chỗ sâu xa của người xưa dứt khoát chưa thôi. Bấy giờ, Hòa thượng Cao Phong được sự ấn chứng của Thiền sư Ngưỡng Sơn, và Thiền sư Tổ Khâm ở Tuyết Nham. Ngài lên ngọn Sư Tử ở núi Thiên Mục, dựng cánh cửa chết, thệ không tiếp độ tăng chúng; nhưng khi lần đầu thấy thầy, Cao Phong liền trao cho thầy câu tham cứu. Thầy cố gắng chuyên tâm thưa hỏi quyết trạch, nhân tụng kinh Kim Cang, đến chỗ “gánh vác quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác của Như Lai", liền tỏ hiểu thấu suốt. Từ đó, trí tuệ biện tài vô ngại. Trên vua quan, tể tướng, cho đến những bậc anh tuấn trong ba giáo, đều hết lòng hỏi đạo. Sách và Ngữ lục bao nhiêu quyển do thầy trước tác, đệ tử là Thiên Như gom lại tất cả, tâu lên vua đưa vào Đại tạng. Vua ban tặng thầy hiệu là Quốc sư Phổ Ứng. Thầy vóc dáng vạm vỡ, cúi đầu một chút thì hơi thở hổn hển, nên thường ngồi yên nhìn thẳng, hễ có người xin lời pháp, nhờ hai vị Đầu đà nâng giấy, thầy cầm bút ghi cho.
Thiền sư Bố Nạp, người Định Hải, Minh Châu. Thầy nhận được yếu chỉ nơi Ngài Cao Phong, đã từng làm tiếp bài thơ “Ở Núi” (Sơn Cư) của ngài Vĩnh Minh, về ý tứ chẳng thua kém gì, nhưng câu cú thuần thục, ít có người hơn được. Đến lúc tịch, thầy ghi lại kệ, ngồi mất ở Quế Tử Đường chùa Trung Thiên Trúc. Khi thiêu xong, được xá lợi rất nhiều.
Thành Chỉ Nham, trụ ở Hổ Bào tại Hàng Châu. Lúc đầu, thầy tham học với Thiền sư Bố Nạp, kế đến gặp Nguyên Ông Tín ở núi Thiên Trì có sự tỉnh ngộ, rồi nối pháp ngài. Ở Hổ Bào, tài vật không nhiều, có vài mươi vị tăng. Thầy mỗi ngày ôm bát khất thực để cung cấp, dù lạnh cắt da, hay nóng bức thân, cũng không chút lơi mỏi. Đến lúc già, thầy biểu lộ bệnh tật, rồi ngồi tịch.
Củng Thạch Úc đến yết kiến Thạch Am nơi chùa Đạo Tràng, sau đó ở ẩn tại núi Hà Phổ thuộc vùng Ngô Hưng, tự giữ lấy cuộc sống thiếu thốn, chẳng liên hệ đến đàn việt. Nếu khi hết thức ăn, chỉ uống nước mà thôi. Tính tình thầy hiền lành thương vật, làm kệ tụng phần nhiều là những lời cảnh tỉnh. Thầy đúng là bậc Thiện tri thức thời mạt thế.
Thiền Sư Vô Kiến, con họ Diệp ở Tiên Cư, gia thế nghiệp Nho, do có tài năng nên nắm giữ chức Nội ký (ở chùa Cổ Điền tại Thiên Ninh. Thầy tham học với Thiền sư Phương Sơn ở Thụy Nham, thấu suốt hết yếu chỉ, liền tức tốc kéo Tạng chủ Khả Đồng đến Hoa Đảnh tìm nền thất cũ của ngài Cao Am đời Tống cất am để ở. Thế rồi đạo đức giáo hóa truyền rộng, người học tụ về đông đảo. Tăng tục cho rằng nếu không ruộng, không thể nào nuôi chúng được. Nhưng thường thường có người đem ruộng đến cúng, thầy đều từ chối. Mùa đông hay hạ, thầy chỉ mặc một chiếc áo vá, ăn cốt để no lòng, chẳng phải biệt ngon dở. Khi thầy mất đem thiêu, bất chợt trong hông ngực, nước trong vọt ra như cầm bình rót, được xá lợi lớn như hạt đậu, lấp lánh chóa mắt, đến nay vẫn giữ trong núi để thờ cúng.
Thủ Tọa Nghĩa ở Đoạn Nham, tham học với ngài Cao Phong. Nhân lời nói không hợp bị đẩy ra, lại bị rơi xuống đáy vực rất sâu. Đêm ấy có tuyết to, mọi người cứ ngỡ là thầy đã chết. Hôm sau tuyết tạnh, những người cùng học mang củi lửa tìm đến chỗ ấy, định đến thiêu thi thể thầy, nhưng thấy thầy ngồi ngay thẳng trên tảng đá dưới cội cây lớn. Họ đến lay động, thầy liền mở mắt nhìn bốn phía, thật tình là không biết có việc bị đẩy rơi xuống vực tuyết lạnh. Thầy trở về yết kiến Cao Phong, Cao Phong thầm lấy làm lạ. Từ đó tiếng tăm, đạo đức ngày càng nổi lên, hàng tăng tục quay về nương tựa. Thường nếu có người thưa hỏi, thầy chỉ lấy gậy đánh, chẳng có nói lời gì, chỉ muốn họ tự nhận hiểu. Gần đây các bậc thầy phần nhiều dùng lời nói chỉ dạy người, mà thầy thì không như thế, thật đáng quý.
Hòa thượng Bổn Nguyên ở Kính Sơn, lên húy là Thiện Đạt, xuất thân họ Tử ở Tiên Cư. Lúc nhỏ thầy cùng Thiền sư Cập Am Tín đi khắp nơi học hỏi, thề không nhận giữ chức vị. Đến khi trụ ở Tây Giang, yết kiến Tuyết Nham, theo chúng vào thất. Một hôm, Tuyết Nham thấy thầy là người đặc biệt, cử chỉ có mực thước, muốn trao cho chức Đường ty. Thầy về bàn với Cập Am. Cập Am nói: “Tôi với huynh trước có lời thề, nay có thể trái sao? ”. Thầy liền thôi không nhận.
Sau trở về Tiên Cư, người trong làng thỉnh thầy làm chủ chùa Đa Phước. Thầy bỏ đi, dạo đến Hồ Nam, trụ trì chùa Phước Nghiêm. Phước Nghiêm vào thời Đường là nhà thờ của đạo sĩ đến Thiền sư Tư Đại mới đổi thành chùa. Đạo sĩ phần nhiều không thích thiền, Thiền sư phát thệ khiến cho bọn họ về sau đều làm trụ trì. Trong số đạo sĩ đó có một người họ Mộc, tên Đạt Thiện phù hợp với tên của thầy hiện nay, chỉ đảo ngược thôi. Mọi người vì thế biết thầy là đời sau của Đạo sĩ Mộc.
Sau đó thầy trở lại Triết Tây, yết kiến Tuyết Phong ở Kính Sơn, vào thất thưa hỏi có tỉnh ngộ. Vừa lúc ấy chùa Huệ Vân thiếu trụ trì, thầy được cử bổ vào đó. Một nén hương dâng lên cho Vân Phong. Về sau thầy trụ trì chùa Bảo Ninh, Tịnh Từ, Kính Sơn, đều có những thành tựu đáng ghi nhớ. Thường chỗ thầy ở, không đặt giường nằm. Ban đêm thì cầm đuốc đốt nhang ngồi yên, đến sáng sớm đi vào chúng, đã trở thành lệ thường. Lại thân thể thầy khác với người, gặp lúc lạnh buốt thì mặc áo thô mỏng, khi nóng bức lại mặc áo bông dày. Thầy lấy của dư lập ra viện Đại Viên giữa lưng chừng núi, nơi con đường phía đông của Kính Sơn, tiếp đãi các vị tăng đi tham học. Bỗng một hôm, tự biết thời giờ đã đến, thầy nhóm họp chúng tăng thuật lại việc tham học từ trước đến nay, xong giây lát thị tịch.
Trong Tùng lâm có kẻ cho thầy không giữ qua chức vụ mà xem thường. Nhưng khi ngài Bách Trượng chưa lập ra danh chức, ai cũng hết lòng lo cho đạo, đến khi tỏ sáng tâm địa, dốc sức ra gánh vác đại pháp, giống như mặt trời rực rỡ trên cao, như sét nổ rung rinh quả đất, mọi loài hàm thức đều được chiếu soi thức tỉnh. Chẳng biết lúc đó họ đã trải qua chức vụ gì, mà cũng có thể xem thường người khác?
Thủ tọa Dịch, tên chữ Vô Tượng, họ Hạ, dòng dõi nhà tướng đời Tống. Thầy có sức khỏe hơn người, võ nghệ rất thành thạo, đã từng nối theo chức vị của cha, nhưng không vui thích chốn quan trường, nên từ quan đi đến chùa Phụng Quốc ở Thượng Ngu cạo tóc xuất gia. Vị thầy sai thầy đọc Tâm Kinh, suốt 3 ngày mà không nhớ một chữ, vì thế vị thầy rất ghét. Bất chợt có vị tăng tên Thiện Diệu Phong đi qua chùa, nói với thầy của thầy: “Người này đã chẳng biết chữ, chỉ thích ngồi ngay ngắn, e là người trong thiền định đến, có thể giao cho tôi không?” Vị thầy vui về chấp nhận, bảo thầy đi theo Diệu Phong.
Đầu tiên đi đến Tuyết Đậu, xin được ở học. Thầy rất chăm chỉ tham cứu, không bao giờ đặt hông xuống chiếu. Bỗng một hôm nhập định, ngồi sừng sững như cây khô. Đơn bên cạnh có Thủ tọa Chánh thường để ý đến thầy. Trải qua 7 ngày, thầy từ từ xuất định, như có niềm vui. Đến đêm vắng vẻ, thầy đi bộ thong thả ngoài hành lang, Chánh nói: “Chúc mừng, việc lớn xong rồi”. Dịch không trả lời, lấy tay chỉ lầu chuông trước. mặt, ứng khẩu nói kệ... Lại do lời nói của Chánh, sáng hôm sau thầy chống tích trượng nhanh chóng bỏ đi.
Qua 2 ngày, thầy đi đến Hoa Đảnh, yết kiến Hòa thượng Khê Tây, gặp lúc trời tối, cửa chùa đã đóng, thầy mới ngủ qua đêm ở ngoài cổng. Mờ sáng hôm sau cửa mở, thầy vào yết kiến Khê Tây, đối đáp kiểm xét qua lại, thầy tỏ hiểu ý chỉ, đạp ngã bàn hương liền bỏ đi. Khê Tây gọi trở lại, thầy không đồng ý, rốt cuộc đi xuống núi, liền đi đến Thiên Mục ở Hàng Châu yết kiến Thiền sư Cao Phong. Lời nói cơ phong rất khế hợp, Cao Phong bảo thầy làm thủ tọa.
Đầu niên hiệu Chí Chánh, pháp hội to lớn được mở tại Lai Minh, thầy ở riêng một ngôi thất, dứt hẳn mọi duyên, hình dáng không ra khỏi cửa, 3 y bình bát không rời bên thân, ai cũng đều kính mến. Tháng giêng năm Giáp Ngọ niên hiệu Chí Chánh, bất ngờ thầy bảo vị tăng thị giả: “Ta đến ngày 24 tháng sau tạm thời dạo chơi đến Giang Đông”. Đến kỳ, thầy tắm rửa thay y, tìm tấm vải bó chân buộc vào, sai tăng dìu đến trước tượng Phật, lễ 3 lạy rồi lui về ngồi kiết già, nói với mọi người: “Ta ngày trước đâu chẳng nói với các ông là ngày hôm nay ta dạo chơi". Thế rồi, thầy điềm tĩnh qua đời, sống được 99 tuổi. Kim quan lưu lại 7 ngày, dáng vẻ vẫn tươi sáng, tay chân mềm mại như lúc sống. Khi đem thiêu, chỉ thấy ánh lửa túa ra, như những viên ngói tung tóe, không có một chút khói. Lửa tàn thu tro cốt, nhặt được xá lợi nhiều vô cùng
HẾT QUYỂN THƯỢNG