GIỚI THIỆU
Giữa thế kỷ thứ sáu sau Phật Niết-bàn. Ngài cũng có tên là Long-Thắng,dòng Phạm-Chí ở miền Tây-Ân.
Thuở nhỏ, Ngài bẩm tánh thông minh;vừa nghe Phạm-Chí tụng bốn kinh Phệ-Đà là Ngài thuộc lòng văn nghĩa. Ngài đi châu du khắp các nước tìm học các môn thiên văn, địa lý,toán số,sấm ký và các học thuật của ngoại đạo.
Môn nào Ngài học đến đều xuất sắc hơn mọi người. Nhơn một cơ duyên chẳng lành. Ngài nhận thực được các pháp là vô thường đau khổ nên vào núi ở ẩn. Số người tìm đến cầu học với Ngài rất đông.
Sau khi gặp Tổ Ca-Tỳ-Ma-La cảm hóa, Ngài xin xuất gia được Tổ độ cho và truyền cả tâm ấn.
Từ đó, Ngài vân du thuyết pháp khắp nơi, lần lượt đến miền Nam-Ấn. Dân chúng xứ nầy chỉ sùng phước nghiệp, từ Ngài đến đem pháp yếu chỉ dạy, họ tự bảo nhau.
Ngài nhơn đó bảo họ: Các ngươi nếu muốn thấy được Phật tánh thì trước hết phải bỏ tâm ngã mạn đi, mới có thể thấy được.
Họ hỏi Ngài: Phật tánh lớn hay nhỏ?
Ngài đáp: -Chẳng nhỏ chẳng lớn, không rộng không hẹp, không phước không báo, chẳng chết chẳng sống. Dân chúng nghe Ngài nói tột lý,vui mừng nguyện học pháp ấy.
Ngài liền ngay trên tòa hóa thân như vầng mặt trăng. Dân chúng tuy nghe thuyết pháp mà không thấy có hình Ngài. Trong ấy có con một ông nhà giàu tên là Ca-Na-Đề-Bà, khi thấy thế liền cảm ngộ.
Đề-Bà bảo dân chúng: Biết tướng nầy chăng?
Dân chúng thưa: Chúng tôi không thể phân biệt được
Đề-Bà nói: Đây là Bồ-Tát thị hiện để biểu thị Phật tánh, muốn chúng ta hiểu rỏ vậy. Vô tướng tam muội giống như mặt trăng tròn là nghĩa Phật tánh rỗng rang sáng suốt.
Đề-Bà nói dứt lời thì vầng trăng ẩn mất, Bồ-Tát hiện ngồi an nhiên chỗ cũ, nói kệ:
Dịch
Thân hiện tướng trăng tròn,
Để nêu thể các Phật,
Nói pháp không hình ấy,
Dùng rõ phi thinh sắc
Toàn chúng nghe xong, đều cảm ngộ, cầu xin xuất gia.
Ngài triệu tập các bậc thánh tăng đến truyền giới. Trong số xuất gia nầy, Đề-Bà là người dẫn đầu.
Một quốc gia ở gần miền Nam-Ấn,có đến năm ngàn người tu theo ngoại đạo được nhiều phép lạ, Vua và quốc dân đều thọ giáo nơi họ, khiến đạo Phật mờ tối.
Ngài thấy thế cảm động, bèn đổi hình thức, mặc áo trắng đợi mổi khi vua ra thành, Ngài cầm cây cờ đi trước, hoặc ẩn hoặc hiện. Làm như thế đến bảy lần.
Hôm nọ, vua lấy làm lạ kêu lại hỏi: -Ngươi là người gì dám đi trước ta, mà bắt không được,thả chẳng đi?
Ngài đáp: Tôi là người trí,biết tất cả việc. Vua nghe ngạc nhiên,muốn thí nghiệm nói: Chư thiên nay đang làm gì?
Ngài đáp: Chư thiên đang đấu chiến với A-Tu-La. Vua hỏi: Làm sao được biết?
Ngài đáp: Nếu bệ hạ muốn biết chốc lát sẽ thấy chứng nghiệm. Quả nhiên, phút chốc thấy gươm giáo tay chơn ở trên không rơi xuống.
Vua và quốc dân rất kính phục Ngài,nhơn đó,Ngài chuyển họ trở lại quy y Tam-Bảo.
Hôm nọ, Ngài gọi Ca-Na-Đề-Bà đến dặn dò: Như-Lai lấy đại pháp nhãn tạng trao cho Tổ Ca-Diếp,cho đến đời ta, nay ta trao cho ngươi
Hãy nghe kệ:
Dịch
Vì sáng pháp ẩn hiển,
Mới nói lý giải thoát,
Nơi pháp tâm chẳng chứng,
Không sân cũng không hỷ
Dặn dò xong, Ngài nhập nguyệt luân tam muội rồi hiện tướng thần biến vào Niết-bàn.
Ngài sáng tác rất nhiều bộ luận để xiển dương giáo pháp Đại-Thừa:
-
Trung luận,
-
Thuận trung luận,
-
Thập nhị môn luận,
-
Đại. Thừa phá hữu luận,
-
Lục thập tụng như lý luận,
-
Đại Thừa nhị thập tụng luận,
-
Thập bát không luận,
-
Hồi tránh luận,
-
Bồ đề tư lương luận,
-
Bồ đề tâm ly tướng luận,
-
Bồ đề hạnh kinh,
-
Thích ma ha diễn luận,
-
Khuyến phát chư vương yếu kệ,
-
Tán pháp giới tụng,
-
Quảng đại pháp nguyện tụng.
Bồ-Tát Mã-Minh là người khêu mồi ngọn đèn chánh pháp đại-thừa; chính Ngài là người thắp sáng và truyền bá khắp nơi cho đến vô tận ngọn đuốc Đại-Thừa, Những tác phẩm của Ngài,bộ Trung-Luận có giá trị nhất, đến hiện nay đã dịch ra nhiều thứ chữ để truyền bá khắp thế giới
NGỮ LỤC
Hoàng hậu cũng quý kính Long Thọ hết mực. Ngày nọ, bà thỉnh cầu ngài vào cung. Long Thọ đến. Hoàng hậu xin ngài một đặc ân.
Long Thọ nói:
- Hoàng hậu muốn gì?
Bà nói:
- Ta muốn cái bát khất thực của ngài.
Long Thọ đưa bát cho hoàng hậu. Đó là vật duy nhất ngài có. Cái bát khất thực. Rồi hoàng hậu đưa cho Long Thọ một cái bát bằng vàng nạm kim cương.
- Bây giờ ngài hãy giữ cái bát này. Ta sẽ thờ cái bát khất thực mà ngài đã mang theo bao lâu nay. Nó có năng lượng gia trì của ngài. Giờ nó trở thành đền đài của ta. Một người như ngài không nên dùng cái bát khất thực bằng gỗ tầm thường. Hãy giữ cái bát bằng vàng này. Ta đặc biệt làm nó tặng ngài.
Cái bát thực sự rất quý giá. Nếu Long Thọ là một hành giả tâm linh bình thường, hẳn ngài đã nói “Ta không dùng nó. Ta đã từ bỏ thế tục”. Nhưng đối với ngài, mọi thứ không khác gì nhau, nên ngài đã nhận chiếc bát vàng.
Khi ngài rời cung điện, một tên trộm nhìn thấy. Hắn không thể tin vào mắt mình. Một người trần trụi như ông ta mà lại có thứ bảo vật quý giá như vậy? Ông ta có thể bảo vệ nó được bao lâu? Vậy là tên trộm đi theo ngài.
Long Thọ đang trú trong một ngôi đền cổ đổ nát ngoài thị trấn, không cửa đóng then cài. Nó chỉ là một đống đổ nát. Tên trộm vui mừng nghĩ “Chẳng bao lâu nữa ông ấy sẽ đi ngủ và mình sẽ chôm cái bát không mấy khó khăn”.
Khi tên trộm đang nấp sau bức tường ngay bên ngoài cửa, Long Thọ ném cái bát ra. Hắn không thể tin được những gì đang xảy ra. Long Thọ ném nó đi vì ngài biết tên trộm đang theo mình. Ngài biết rõ hắn theo ngài không phải vì ngài mà vì cái bát. Vậy tại sao phải để hắn đợi. Giải quyết cho xong để hắn còn đi, mình còn ngủ.
Tên trộm nghĩ “Một cái bát quý như vậy mà ông ta lại ném nó đi quá dễ dàng. Mình không thể đi mà không cám ơn một tiếng”. Hắn biết chắc cái bát được ném cho hắn.
Hắn nhìn vào và nói:
- Thưa ngài, xin hãy nhận lời cảm ơn của tôi. Ngài là một người hiếm có. Tôi không thể tin vào mắt mình. Và một ao ước to lớn đã phát sinh trong tôi. Tôi đang lãng phí đời mình khi làm một tên ăn trộm. Cũng có những người như ngài chăng? Tôi có thể bước vào và sờ chân ngài một chút được không?
Long Thọ cười và nói:
- Đó là lý do tại sao ta ném cái bát ra ngoài. Để anh có thể vào bên trong.
Tên trộm đã mắc bẫy.
Hắn bước vào, sờ bàn chân của Long Thọ. Ngay lúc ấy, hắn thấy lòng rộng mở và hoan hỉ. Hắn nhận ra con người này không phải là người bình thường. Hắn khép nép, chân thành, biết ơn, thấy kỳ diệu và choáng váng. Khi chạm vào bàn chân của Long Thọ, lần đầu tiên trong đời hắn cảm nhận được sự hiện diện của đấng thiêng liêng.
Hắn hỏi Long Thọ:
- Phải mất bao nhiêu kiếp để tôi được như ngài?
Long Thọ nói:
- Bao nhiêu kiếp ư? Có thể ngay hôm nay và bây giờ!
Tên trộm nói:
- Ngài đùa chắc. Sao mà được? Tôi là một tên trộm, một tên trộm khét tiếng. Cả thị trấn đều biết tôi, mặc dù không thể bắt tôi. Ngay cả nhà vua cũng sợ. Tôi đã ba lần đột nhập hoàng cung ăn cắp kho báu. Họ biết mà không có bằng chứng. Tôi là một tên trộm bậc thầy. Ngài không biết tôi, vì ngài là người xa lạ với mấy chuyện này. Làm sao một kẻ như tôi lại có thể chuyển hóa ngay bây giờ?
Long Thọ nói:
- Trong một ngôi nhà cổ, bóng tối đã ngự trị ở đó trong nhiều thế kỷ và anh mang đến một ngọn nến. Liệu bóng tối có nói với anh là “Ta đã ở đây hàng ngàn thế kỷ. Ta không thể biến mất chỉ vì anh đã mang đến một ngọn nến. Ta đã sống rất lâu ở đây”? Bóng tối có năng lực phản kháng không? Có khác biệt gì giữa bóng tối một ngày và bóng tối một triệu năm?
Tên trộm nhận ra vấn đề. Bóng tối không thể chống lại ánh sáng. Khi ánh sáng đến, bóng tối bị xua tan.
Long Thọ nói:
- Anh có thể ở trong bóng tối hàng triệu kiếp. Điều đó không quan trọng. Nhưng ta có thể cho anh một bí mật. Anh có thể thắp sáng một ngọn nến trong chính con người anh.
Tên trộm nói:
- Còn nghề của tôi? Tôi có phải từ bỏ nó không?
Long Thọ nói:
- Việc đó phải tự do anh quyết định. Ta không quan tâm anh là ai, làm nghề gì. Ta chỉ có thể cho anh một bí quyết thắp sáng ngọn nến trong con người anh, và sau đó mọi việc đều tùy thuộc vào anh.
Tên trộm nói:
- Nhưng bất cứ khi nào tôi đến hỏi các bậc thánh thiêng, họ đều bảo phải ngừng ngay việc ăn trộm, sau mới có thể khai thị cho tôi.
Long Thọ cười và nói:
- Phải đến hỏi mấy tên anh trộm ấy, đừng hỏi mấy ông thánh kia. Họ không biết gì đâu. Anh chỉ cần theo dõi hơi thở của mình. Một phương pháp cổ xưa của Đức Phật. Anh chỉ cần quan sát hơi thở vào, hơi thở ra. Bất cứ khi nào anh nhớ, hãy quan sát hơi thở của mình. Ngay cả khi đi ăn trộm, khi anh đột nhập nhà người trong đêm, hãy tiếp tục theo dõi hơi thở của mình. Khi mở rương báu, thấy kim cương lấp lánh trong đó, cứ tiếp tục theo dõi hơi thở của mình. Muốn làm gì làm, nhưng đừng quên theo dõi hơi thở.
Tên trộm nói:
- Nghe có vẻ đơn giản. Không cần đạo đức, không cần nhân cách, không đòi hỏi gì khác ư?
Long Thọ nói:
- Hoàn toàn không. Chỉ cần dõi theo hơi thở.
Sau mười lăm ngày, tên trộm quay lại. Hắn giờ là một người hoàn toàn khác.
Hắn quỳ mọp dưới chân ngài và nói:
- Ngài đã bẫy tôi. Ngài bẫy khéo đến nỗi tôi không mảy may nghi ngờ. Trong mười lăm ngày qua, tôi đã cố gắng, nhưng không thể. Nếu theo dõi hơi thở, tôi không thể ăn trộm. Nếu ăn trộm, tôi không thể theo dõi hơi thở. Khi theo dõi hơi thở, tôi thấy mình rất lặng yên, tỏ tường và tỉnh giác đến mức ngay cả những viên kim cương khi đó cũng không khác sỏi đá. Ngài đã tạo ra cho tôi một tình trạng khó khăn, một tình thế khó xử, tiến thoái lưỡng nan. Giờ tôi phải làm sao?
Long Thọ nói: Cứ lạc trôi đi, cứ làm bất cứ điều gì mình muốn. Nếu vẫn muốn sự tĩnh lặng, sự an bình, sự hỷ lạc, vốn khởi sinh trong anh khi anh theo dõi hơi thở của mình, thì hãy chọn nó. Nếu anh nghĩ rằng tất cả kim cương và vàng bạc có giá trị hơn thì chọn vàng bạc kim cương. Cái đó là do anh chọn. Ta là ai mà bàn tính cho cuộc đời anh?
Tôi không thể để mình chọn sự si mê không tỉnh giác một lần nữa. Tôi chưa bao giờ được trải qua những khoảnh khắc như vậy. Xin ngài hãy nhận tôi làm đệ tử. Xin hãy điểm đạo khai mở cho tôi.
Ta đã điểm đạo khai mở cho anh rồi.