GIỚI THIỆU

Sư họ Lý, người Vũ Lăng, trên đảnh đầu có thịt lọn. Sư có tướng trâu đi, voi ngó, từ thuở nhỏ đã nổi tiếng từ bi, dung thứ trong thôn xóm. Sư từng nằm mộng thấy ông tăng Ấn độ khuyên nên xuất gia, bèn từ giã song thân nhập đạo. Sau khi thọ giới cụ túc xong, sư thường tập tọa Thiền, mỗi ngày chỉ ăn một buổi, tụng kinh Pháp Hoa cùng các kinh khác cả ngàn biến. Lại xem kinh Diệu Thắng Định, tán thán công đức Thiền-na, bèn phát tâm lên đường tìm bạn đạo. Lúc đó, Thiền sư Tuệ Văn có môn đồ mấy trăm (Thiền sư Văn nhân chọn mò lấy nhằm quyển Trung Quán Luận này là do Tổ thứ mười bốn ở Tây Thiên là Long Thọ soạn, nên sư đã bẩm báo Tổ từ xa) bèn đến thọ pháp, đêm ngày nhiếp tâm tọa hạ qua năm, ba ngày, thu hoạch được túc trí thông, càng thêm dũng mãnh, về sau, gặp chướng khởi, tay chân mềm nhũn ra không thể đi bộ được, sư nghĩ: ‘Bệnh từ nghiệp mà sanh ra mà nghiệp lại do tâm khởi. Nguồn tâm mà không khởi, ngoại cảnh có làm gì được. Nghiệp với thân như ảnh mây’. Thế rồi tự quán mình, tưởng điên đảo diệt, được khinh an lại như cũ.

Hạ an cư mãn, cũng chưa có gì sở đắc, trong lòng thầm hổ thẹn, buông thân dựa tường. Lưng chưa dựng vách, bỗng nhiên khai ngộ. Môn tối thượng thừa của Pháp Hoa tam-muội chỉ một niệm là minh đạt. Nghiên cứu tập luyện càng lâu, quán lúc trước càng tăng rất nhiều, danh và hạnh của sư đồn xa, người học ngày ngày càng kéo đến, sư kích lệ không biết mệt mỏi. Nhưng do cơ cảm quá nhiều và có phần bề bộn nên sư lấy các pháp định huệ của cả tiểu lẫn đại thừa, tùy căn khí mà dẫn dụ, khiến tập từ nhẫn hạnh, phụng giới Bồ-tát tam tựu, y phục chỉ bằng vải, mùa lạnh thì thêm đốt ngãi.

Khoản niên hiệu Thiên Bảo đời Bắc Tề, sư thống lãnh đồ chúng đi về phương nam. Nhân gặp loạn Hiếu Nguyên đời Lương phải tạm dừng lại ở núi Đại Tô. Kẻ trọng pháp, coi thường mạng sống mạo hiểm đến rất đông, chật cả núi rừng.

Sư thị chúng rằng: Nguồn đạo không xa, biển tánh cũng gần, nhưng phải kiếm nơi mình, đừng tìm bên ngoài. Tìm tức không, mà nếu được cũng chẳng phải thứ thiệt.

Sư có kệ rằng:

Nguyên văn:

頓 悟 心 源 開 宝 藏

隐 現 灵 通 現 真 相

獨 行 獨 坐 常 魏 魏

百 億 化 身 無 數 量

縱 令 偏 塞 滿 虚 空

看 時 不 見 為 塵 相

可 笑 物 兮 無 比 況

口 吐 明 珠 光 晃 晃

尋 常 見 說 不 思 議

一 語 標 名 言 下 當

Phiên âm:

Đốn ngộ tâm nguyên khai bảo tàng

Ẩn hiện linh thông hiện chân tướng

Độc hành, độc tọa thường nguy nguy

Bách ức hóa thân vô số lượng

Túng linh bức tắc mãn hư không

Khán thời bất kiến vi trần tướng

Khả tiêu vật hề vô tỷ huống

Khẩu thổ minh châu quang hoảng hoảng

Tầm thường kiến thuyết bất tư nghị

Nhất ngữ tiêu danh ngôn hạ đương

Tạm dịch:

Đốn ngộ nguồn tâm mở bảo tàng

Dấu lộ linh thông hiện chân tướng

Ngồi đi một mình thường chớn chở

Trăm ức hóa thân khó nổi lường

Nay dù o ép khắp hư không

Lúc nhìn chẳng thấy một trần tướng

Khá cười vật kia không tỷ huống

Miệng nhả minh châu sáng khôn lường

Tầm thường thấy nói chẳng tư nghì

Một tiếng tiêu biểu ngay lời đương.

Lại có kệ khác:

Nguyên văn:

天 不 能 蓋 地 不 載

無 去 無 來 無 障 礙

無 長 無 短 無 青 黄

不 在 中 間 及 内 外

超 羣 出 衆 太 虚 玄

指 物 傳 心 人 不 會

Phiên âm:

Thiên bất năng cái địa bất tái

Vô khứ vô lai vô chướng ngại

Vô trường vô đoản vô thanh hoàng

Bất tại trung gian cập nội ngoại

Siêu quần xuất chúng thái hư huyền

Chỉ vật truyền tâm nhân bất hội.

Tạm dịch:

Trời chẳng thể che đất không chở

Chẳng tới chẳng lui chẳng chướng ngại

Chẳng dài chẳng ngắn không xanh vàng

Không ở chính giữa cùng trong ngoài

Siêu quần hơn chúng rất hư huyền

Chỉ vật truyền tâm người không toại.

Ngoài ra thì tùy gõ mà ứng. Lấy tiền của đạo tục thí cúng làm kinh Bát Nhã và Pháp Hoa bằng chữ vàng. Lúc đó chúng thỉnh sư giảng hai bộ kinh ấy, sư theo văn mà lý giải. Lại bảo môn nhân là Trí Húc giảng thay mình, cho đến một tâm muôn hạnh. Có kẻ nghi thỉnh sư quyết. Sư nói:

  • Cái mà ông nghi đó là ý trước sau của đại phẩm kinh chớ không phải chỉ ý đốn tiệm của kinh Pháp Hoa. Ta trước kia trong một hạ niệm liền đốn phát các pháp thấy trước đó. Ta đã thân chứng, chẳng nhọc lòng nghi.

Trí Khải 1 tức tham thủ hành Pháp Hoa, năm bảy ngày liền ngộ.

Ngày 23 tháng 6 năm thứ sáu niên hiệu Đại Quang nhà Trần sư từ núi Đại Tô đem hơn 40 tăng sĩ đi đến Nam Nhạc.

Sư nói: Ta gởi thân núi nầy chỉ 10 năm thôi, về sau tức chỉ chuyên viễn du. Ta hồi kiếp trước từng đạp chân đến đây.

Sư đi tới Hành Dương gặp một chỗ suối, rừng đẹp đẽ dị thường. Sư nói: Đây là chùa xưa mà kiếp trước ta từng ở.

Bèn bảo đào, xem thấy nền móng vẫn còn nguyên. Sư lại chỉ dưới hang núi nói: Khi xưa ta tọa Thiền nơi đó, giặc cướp chém đầu ta.

Mọi người tìm thấy dưới đó có một bộ xương người.

Từ đó hóa đạo càng thêm thạnh. Chúa nhà Trần nhiều lần đến ủy lạo cúng dường, coi là bậc đại Thiền sư.

Sư sắp qua đời, gọi môn nhân nói rằng: Nếu như có mười người không tiếc thân mạng, thường tu Pháp Hoa, Bát Nhã, niệm Phật tam-muội Phương Đẳng, sám hối ở kiến giải, tùy hữu sở tu, ta tự cung cấp. Nếu không có người đó ta tức đi xa vậy.

Lúc ấy đại chúng thấy việc tu khổ hạnh là chuyện khó khăn, nên chẳng có ai đáp lời. Sư bèn gạt chúng ra mà qua đời.

Tiểu sư Vân Biện gào thét, sư mở mắt nói: Ông là ác ma. Ta đang ra đi, sao lại làm kinh động, phương hại đến ta vậy? Kẻ si ngốc đi ra đi.

Nói dứt lời là ra đi mãi. Lúc ấy mùi thơm lạ đầy thất, trán nóng, thân mềm mại, sắc mặt như thường ngày. Đó là ngày 22 tháng 6, nhằm năm thứ chín niên hiệu Thái Kiến. Phàm các trước thuật của sư đều do miệng nói thẳng, chẳng cần sửa chữa gọt giũa lại gì cả, đó là Tứ Thập Nhị Môn 2 quyển, Vô Tránh Hạnh Môn 2 quyển. Thích Luận Huyền Tùy, Tự Ý An Lạc Hạnh và Thứ Đệ Thiên Yếu Tam Trí, Quan Môn Ngũ Bộ mỗi thứ một quyển, đều thạnh hành nơi thế.

NGUỒN

🔗 Thiền sư Nam Nhạc Tuệ Tư (南嶽慧思, Nányuè Huìsī) - Quyển 27 - Cảnh Đức Truyền Đăng Lục


GHI CHÚ

Footnotes

  1. Trí Khải tức Trí Giả đại sư giáo chủ Thiên Thai. ↩