GIỚI THIỆU
Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu (947 - 1024) ở Phần Dương.
Sư họ Du quê ở Thái Nguyên.
Thuở bé, Sư bẩm tánh thâm trầm, ít chịu trang sức, có trí tuệ lớn, tất cả văn tự không do thầy dạy mà tự thông hiểu.
Năm 14 tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời, sống trong cảnh cô quả, Sư phát tâm xuất gia.
Sau khi thọ giới cụ túc, Sư quảy gói du phương. Đến nơi nào, Sư dừng lại thời gian ngắn, không thích ngắm sơn ngoạn cảnh, chỉ vì mở sáng mắt đạo mà thôi.
Sư đã tham vấn qua bảy mươi mốt vị tôn đức, rốt sau mới đến Thủ Sơn Thiền sư Niệm.
Thủ Sơn lên tòa. Sư ra hỏi: Bá Trượng cuốn chiếu, ý chỉ thế nào?
Thủ Sơn đáp: Áo rồng vừa phất toàn thể hiện.
Sư hỏi: Ý Thầy thế nào?
Thủ Sơn đáp: Chỗ tượng vương đi bặt dấu chồn.
Qua câu nói này, Sư đại ngộ liền đảnh lễ, rồi thưa: Muôn xưa đầm biếc nguyệt trong không, ba phen gạn lọc mới được biết (vạn cổ bích đàm không giới nguyệt, tái tam lao lộc thủy ưng tri).
Sư dừng lại đây hầu hạ thời gian rất lâu.
Sau, Sư từ tạ Thủ Sơn ra đi, đến khoảng Hành Tương Thái thú Trường Sa là Trương Mậu Tông dùng đủ cách cố thỉnh được Sư ở lại. Song, Sư vẫn một bề từ chối, ban đêm lén trốn đi. Đến Tương Miện, Thái thú Lưu Công Xướng tám phen thỉnh trụ trì Động Sơn, Sư lặng lẽ chẳng đáp.
Niên hiệu Thuần Hóa năm thứ IV (993) Thủ Sơn đã viên tịch, Tăng và cư sĩ ở Tây Hà họp lại hơn ngàn người đồng tâm cử Sa-môn Khế Thông đến thỉnh Sư trụ trì viện Thái Tử chùa Thái Bình ở Phần Dương. Sư đóng cửa nằm yên không tiếp, Khế Thông xô cửa vào thưa:
-
Phật pháp là việc lớn, lui ở yên một chỗ là giữ tiết nhỏ. Hòa thượng Phong Huyệt sợ ứng với lời sấm ký lo tông chỉ diệt mất, may còn có Tiên sư nối nắm. Nay Tiên sư đã tịch, Thầy là người có khả năng gánh vác đại pháp của Như Lai, mà cam nằm ngủ yên sao? Sư hoảng sợ, đứng dậy nắm tay Khế Thông bảo:
-
Nếu không phải Thầy, tôi làm gì được nghe lời này. Chỉnh trang hành lý, tôi cùng đi vậy.
Đến nơi, Sư ở yên đến ba mươi năm không ra khỏi cổng ngoài. Thời nhân kính mộ không dám gọi tên, đồng kêu là Phần Dương.
Tăng hỏi: Thế nào là câu tiếp sơ cơ?
Sư đáp: Ngươi là Tăng đi hành khước.
-
Thế nào là câu biện nạp tăng (Thiền sinh)?
-
Phương Tây mặt trời mọc giờ mẹo.
-
Thế nào là câu chánh lệnh hành?
-
Ngàn dặm đem đến trình mặt xưa.
-
Thế nào là câu lập càn khôn?
-
Bắc câu-lô châu hạt gạo dài, người ăn không sân không hỉ.
Sư lại nói: Chỉ đem bốn chuyển ngữ này nghiệm nạp tăng (Thiền sinh) trong thiên hạ, vừa thấy ngươi đi đến liền nghiệm được rồi.
Sư thượng đường:
- Phàm một câu nói phải đủ ba huyền môn, một huyền môn phải đủ ba yếu. Cái gì là câu ba huyền ba yếu? Khéo hội là tốt, mỗi người tự suy nghĩ, lại được ổn đáng hay chưa? Cổ đức xưa đi hành khước nghe một nhân duyên mà chưa liễu ngộ, thì ăn uống không biết ngon, nằm ngủ chẳng yên, gấp rút giải quyết chớ cho là việc nhỏ. Vì vậy mà Đại Giác lão nhân vì một đại sự nhân duyên xuất hiện ra đời. Xét ra các ngài từ trước đến nay đi hành khước, chẳng phải vì du sơn ngoạn thủy, xem những vẻ đẹp của châu phủ, thọ dụng manh áo chén cơm, đều vì tâm thánh chưa thông. Do đó, mà ruổi rong hành khước, quyết trạch chỗ sâu kín truyền bá phô trương, rộng hỏi các bậc tiên tri (đã liễu ngộ) gần gũi những vị cao đức. Bởi vì muốn tiếp nối ngọn đèn Phật tâm, kế thừa chư Tổ làm rạng rỡ hạt giống thánh để tiếp dẫn kẻ hậu la, tự lợi và lợi tha vậy.
Hiện nay có người thương lượng chăng? Có thì bước ra cùng toàn thể thương lượng.
Có vị Tăng ra hỏi: Thế nào là chỗ gắng sức của con?
Sư đáp: Gia Châu đánh voi lớn.
-
Thế nào là chỗ chuyển thân của con?
-
Thiểm phủ tấm trâu sắt.
-
Thế nào là chỗ thân thiết của con?
-
Tây Hà đùa sư tử.
Sư lại nói: Nếu người hội được ba câu này là đã biện được ba huyền, lại còn ba yếu ngữ cần phải tiến lấy, không thể rảnh rang, cùng đại chúng tụng ra:
Tam huyền tam yếu sự nan phân
Đắc ý vong ngôn đạo dị thân
Nhất cú minh minh cai vạn tượng
Trùng dương cửu nhật cúc hoa tân.
🌑 Dịch
Ba huyền ba yếu việc khó phân
Được ý quên lời đạo dễ gần
Một câu rành rõ gồm vạn tượng
Trùng dương ngày chín cúc hoa tươi.
Vì ở Tịnh Phần quá lạnh nên Sư cho bãi giờ tham vấn ban đêm. Có vị Tăng lạ chống gậy đi đến bảo Sư rằng: “Trong hội có sáu vị Đại sĩ, tại sao không nói pháp?” Nói xong Tăng ấy đi mất, Sư mật ký một bài tụng:
Hồ tăng kim tích quang
Vị pháp đáo Phần Dương
Lục nhân thành đại khí
Khuyến thỉnh vị phu dương.
🌑 Dịch
Tăng hồ cầm gậy vàng
Vì pháp đến Phần Dương
Sáu người thành pháp khí
Nhắc thỉnh vì tuyên dương.
Sư thượng đường:
Phàm một câu nói phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ ba yếu.
Có chiếu có dụng, hoặc trước chiếu sau dụng, hoặc trước dụng sau chiếu, hoặc chiếu dụng đồng thời hoặc chiếu dụng chẳng đồng thời.
Trước chiếu sau dụng, vẫn cần cùng ngươi thương lượng.
Trước dụng sau chiếu, ngươi phải là cá nhân mới được.
Chiếu dụng đồng thời ngươi làm sao ngang nhau?
Chiếu dụng chẳng đồng thời, ngươi làm sao dồn lại?
Tăng hỏi: Thế nào là nguồn đại đạo?
Sư đáp: Đào đất tìm trời.
-
Sao được như vậy?
-
Chẳng biết u huyền.
-
Thế nào là khách trong khách?
-
Chấp tay trước am hỏi Thế Tôn.
-
Thế nào là khách trong chủ?
-
Đối diện không bạn bè.
-
Thế nào chủ trong khách?
-
Hàng mây ngang trên biển, tuốt kiếm quậy Long Môn.
-
Thế nào là chủ trong chủ?
-
Ba đầu sáu tay giở trời đất, nổi giận Na Tra đập chuông vua.
Sư thượng đường:
- Phần Dương có ba quyết,
Nạp tăng khó biện biệt.
Lại nghĩ hỏi thế nào?
Cây gậy trên đầu bổ.
Khi ấy có vị Tăng ra hỏi: Thế nào là ba quyết?
Sư liền đập. Tăng ấy lễ bái.
Sư bảo: Cùng ngươi một lúc tụng ra:
Đệ nhất quyết:
Tiếp dẫn vô thời tiết,
Xảo ngôn bất năng thuyên
Vân đính thanh thiên nguyệt.
Đệ nhị quyết:
Thơ quang biện hiền triết
Vấn đáp lợi sanh tâm
Bạt khước nhãn trung tiết.
Đệ tam quyết:
Tây quốc Hồ nhân thuyết
Tế thủy quá Tân La
Bắc địa dụng tấn thiết.
Dịch
Thứ nhất quyết:
Tiếp dẫn không thời tiết,
Lời khéo không thể bày
Mây che trời trong nguyệt.
Thứ hai quyết:
Phóng quang biện hiền triết
Hỏi đáp tâm lợi sanh
Nhổ ra đinh trong mắt.
Thứ ba quyết:
Cõi tây người Hồ thuyết
Sông Tế sang Triều Tiên
Đất Bắc dùng sắt thép.
Sư lại hỏi: Lại có người hội chăng? Hội được hãy ra báo tin tức, cần biết xa gần. Chớ ghi ngôn ghi ngữ thế ấy, thì hiện đời có gì lợi ích. Đứng lâu, trân trọng.
Tăng hỏi: Người chân chánh tu hành chẳng thấy lỗi thế gian, chưa biết chẳng thấy lỗi gì?
Sư đáp: Tuyết chôn đêm trăng sâu ba thước, trên đất thuyền đi muôn dặm trình.
-
Hòa thượng là tâm hạnh gì?
-
Lại là tâm hạnh của ngươi.
-
Thế nào là gia phong của Hòa thượng?
-
Ba huyền mở đạo chánh, một câu phá tà tông.
-
Thế nào là kế sống của Hòa thượng?
-
Bình thường tay chẳng nắm, cúng dường Tăng ngũ hồ.
-
Chưa biết ăn cái gì?
-
Cơm thiên hòa đà chưa thịnh soạn. Một vị canh ngon no liền thôi.
Phủ Long-Đức Y Lý Hầu cùng Sư có tình quen xưa, thỉnh Sư trụ trì chùa Thừa Thiên, sai sứ đi ba lần mà Sư vẫn không đến. Sứ giả bị phạt. Y Lý Hầu lại sai sứ đi một phen nữa. Sứ giả đến thưa: “Quyết thỉnh Thầy đồng đi, nếu Thầy không đi tôi liều chết mà thôi.” Sư cười bảo: “Bởi nghiệp già bệnh không thể xuống núi, giả sử đi phải có trước sau, tại sao quyết đồng?” Sứ thưa: “Thầy chịu thì trước sau, tùy lựa chọn.”
Sư bảo chúng sửa soạn hành lý xong, Sư gọi chúng lại bảo: “Lão tăng đi có người nào theo được?” Có vị Tăng ra thưa: “Con theo được.” Sư hỏi: “Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?” Tăng thưa: “Năm mươi dặm.” Sư bảo: “Ngươi theo ta chẳng được.” Lại có vị ra thưa: “Con theo được.” Sư hỏi: “Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?” Tăng thưa: “Bảy mươi dặm.” Sư bảo: “Ngươi theo ta cũng chẳng được.” Thị giả ra thưa: “Con theo được, chỉ Hòa thượng đến đâu thì con đến đó.” Sư bảo: “Ngươi theo Lão tăng được.”
Nói xong, Sư bảo sứ giả: “Ta đi trước nghe!” Sư dừng lại rồi tịch. Thị giả đứng khoanh tay tịch theo, Sư thọ bảy mươi tám tuổi.
NGỮ LỤC
Sư thượng đường:
Dưới cửa Phần Dương có con sư tử Tây Hà ngồi xổm tại cửa. Có người đến nó liền cắn chết. Vậy có phương tiện gì vào được cửa Phần Dương, thấy được người Phần Dương. Nếu thấy được người Phần Dương kham cùng Phật, Tổ làm thầy, chẳng thấy được người Phần Dương trọn là kẻ chết đứng. Hiện nay có người vào được chăng? Cần vui vẻ vào, khỏi phải cô phụ bình sanh. Nếu không phải là khách Long Môn, tối kỵ sẽ bị điểm trán. Cái gì là khách Long Môn một loạt chỉ ra.
Sư đưa gậy lên, nói: lui mau! lui mau! trân trọng.
Sư thượng đường:
- Người thuyết pháp phải đủ mười trí Đồng chân. Nếu chẳng đủ mười trí đồng chân thì tà chánh chẳng rành, Tăng tục khó phân, không thể vì trời người làm mắt sáng để quyết đoán phải quấy. Như chim bay trong hư không mà gãy cánh, như bắn tên mà dây cung đứt. Vì dây cung đứt nên bắn không trúng đích. Vì cánh gãy nên chim không thể bay trong không. Dây cung chắc, đôi cánh cứng thì đích và hư không đều đạt được. Thế nào là mười trí đồng chân, sẽ cùng các Thượng tọa nêu ra: một đồng nhất chất, hai đồng đại sự, ba tổng đồng tham, bốn đồng chân trí, năm đồng biến phổ, sáu đồng cụ túc, bảy đồng đắc thất, tám đồng sanh sát, chín đồng âm hẩu, mười đồng đắc nhập.
Cùng người nào đồng đắc nhập? Cùng ai đồng âm hẩu? Thế nào là đồng sanh sát? Những vật gì đồng đắc thất? Cái gì đồng cụ túc? Là cái gì đồng biến phổ? Người nào đồng chân trí? Ai hay tổng đồng tham? Cái gì đồng đại sự? Vật gì đồng nhất chất? Có người nào điểm ra được chăng? Điểm ra được thì chẳng tiếc lòng từ bi. Điểm ra chẳng được thì chưa có con mắt của kẻ tham học. Cần phải biện lấy. Cốt biết thị phi, mặt mày thấy còn chẳng được. Đứng lâu, trân trọng.
Thiền sư Thiện Chiêu ở viện Thái tử tại Phần dương vốn con dòng họ Du ở Thái nguyên, khí độ nhận biết trầm lắng sâu xa, ít duyên phù sức, có trí tuệ lớn, đối với tất cả các thứ văn tự chẳng do thầy chỉ dạy mà tự thông hiểu. Năm mười bốn tuổi, song thân lần lượt qua đời, Thiện Chiêu đơn chiếc khổ não, nhàm chán thế tục trần lao, nhân đó mà xuống tóc xuất gia thọ giới cụ túc, đeo mang trượng sách du phương, đến đâu cũng ít dừng ở lại, không thích tham quan, tùy cơ gõ mở, giẫm trải tham tầm Tri thức ở các phương có cả thảy bảy mươi mốt vị. Cuối cùng đến Thủ Sơn.
Một ngày nọ, Thủ Sơn lên pháp tòa, Thiền sư Thiện Chiêu bước ra thưa hỏi rằng: “Bách Trượng cuốn chiếu, ý chỉ ấy như thế nào?” Ngài Thủ Sơn đáp rằng: “Áo rồng phẩy mở, toàn thể hiện”. Thiện Chiêu lại hỏi rằng: “Ý Sư đó là thế nào?” Ngài Thủ Sơn đáp: “Hành xứ của Tượng vương, tuyệt không vết tích”. Thiện Chiêu nhân lời nói ấy mà đại ngộ, bèn kính bái mà nói rằng: “Muôn xưa đầm xanh trăng giữa trời, ba phen mò lặn mới nên hay”. Có người hỏi rằng: “Ông thấy đạo lý gì mà bèn tự bằng lòng như vậy?” Thiện Chiêu đáp: “Chính là nơi ta buông xả thân mạng vậy”.
Về sau, đến Hành Tương và Tương Cái, từng vì Quận thú dùng danh lợi và sức lực thỉnh mời trước sau tám lầu, song Thiện Chiêu cố nằm yên không ứng đáp. Mãi đến lúc Thủ Sơn thị tịch, các hàng Đạo tục ở Tây hà đề cử Sa-môn Khế Thông đến nghinh thỉnh Thiện Chiêu về trú trì. Thiện Chiêu đóng cửa nằm yên, Sa-môn Khế Thông vén cửa bước vào mà trách rằng: “Phật pháp là đại sự, tỉnh nghỉ là tiểu tiết, Phong huyệt sợ ứng sấm lo tông chỉ diệt mất, may có được Tiên sư, nay Tiên sư đã xả bỏ cuộc đời, ông là người có khả năng gánh vác Đại pháp của Đức Như Lai, vậy mà nay là lúc nào mà muốn ngủ yên ư?” Thiện Chiêu vụt nhiên ngồi dậy nắm tay Khế Thông nói rằng: “Chẳng phải ông thì không được nghe lời nói ấy. Thú biện nghiêm là hạnh của tôi vậy”. Thế rồi nằm yên nơi một chiếc giường, suốt ba mươi năm, chân chẳng vượt qua đố cửa. Các hàng Đạo tục đều xưng gọi là Phần Dương mà không dám gọi tên Thiện Chiêu.
Lúc lên giảng đường, Thiện Chiêu bảo đại chúng rằng: “Dưới cửa Phần dương có sư tử Tây hà đang ngồi xổm giữa cửa, chỉ cần có người lại tức liền cắn giết hại.
Vậy có phương tiện gì để được vào cửa Phần dương, thấy được người Phần dương? Nếu thấy được người Phần dương tức có thể cùng Phật Tổ làm thầy, không thấy được người Phần dương thì đều là đứng chết đất Hán. Vậy nay có người vào được đó ư? Chẳng phải vào lấy để khỏi bị cô phụ bình sinh. Còn không như vậy thì khách Long môn đều kỵ gặp điểm ngạch?” Chỉ chốc lát, khách Long môn một loạt đồng điểm xuống. Thiện Chiêu đứng dậy chống tích trượng bảo rằng: “Nhanh lui, nhanh lui, vô cùng trân trọng!”
Sau đó lại lên giảng đường Thiện Chiêu bảo rằng: “Phàm một câu nói phải đầy đủ ba Huyền môn, mỗi một Huyền môn đủ ba yếu điểm. Thế nào là câu có đủ ba Huyền môn và ba yếu điểm? Khéo nhanh hiểu lấy tốt lành, mỗi tự tư duy, lại được ổn đáng đó chưa?
Các bậc Cổ đức xưa trước hành cước, nghe một nhân duyên ngay giữa khoảng thời gian chưa thấu rõ thì ăn uống không cảm biết mùi vị, ngủ nghỉ không yên, lửa gấp thúc giục chẳng cho là việc nhỏ. Do đó, đấng Đại Giác Lão nhân vì đại sự nhân duyên mà xuất hiện nơi đời. Nghĩ tưởng Lão nhân từ trên lại chẳng vì rảo núi chơi sông, trông xem mọi xa hoa châu phủ, mảnh áo miếng ăn đều vì chưa thông Thánh tâm, do đó rong ruổi hành cước, tìm chọn nơi sâu mầu, truyền xướng phu dương, rộng hỏi các bậc tri thức, thân gần cao đức, bởi vì nối tiếp đèn tâm chư Phật, sáng ngời các đời Tổ, sùng hưng Thánh chủng, tiếp dẫn hàng hậu có, tự lợi lợi tha. Như nay có người thương lượng ư? Có tức ra lại Đại gia thương lượng”. Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là câu tiếp nối dẫn dắt hàng sơ cơ?” Thiện Chiêu đáp: “Ông là vị Tăng hành ước”. Lại hỏi: “Thế nào là câu Biện nạp Tăng?” Thiện Chiêu đáp: “Mặt trời xuất hiện ở phương Tây lúc giớ Mão”. Lại hỏi: “Thế nào là câu Chánh lệnh hạnh?” Thiện Chiêu đáp: “Ngàn dặm mang lại trình mặt xưa”. Lại hỏi: “Thế nào là câu lập càn khôn”. Thiện Chiêu đáp: “Bắc câu lô châu phát triển giống gạo canh, người ăn không sân cũng không mừng”. Thiện Chiêu mới nói rằng: “Đem bốn chuyển ngữ này chiêm nghiệm nạp Tăng trong thiên hạ, mới thấy người từ khi xuất hiện trở lại nghiệm được trọn vậy”. Lại hỏi rằng: “Thế nào là nơi người học dốc hết sức lực?” Thiện Chiêu đáp: “Gia châu đánh voi lớn”. Lại hỏi: “Thế nào là nơi người học chuyển thân?” Thiện Chiêu đáp: “Thiểm phủ tưới trâu sắt”. Lại hỏi: “Thế nào là nơi người học thân thiết?” Thiện Chiêu đáp: “Hà tây bông đùa sư tử”. Thiện Chiêu mới bảo rằng: “nếu người hiểu được ba câu này tức là biện rõ ba Huyền môn, lại có ngôn ngữ ba cốt yếu tại đó. Thiết tưởng phải dâng lấy, chẳng là ngang bằng”. Và vì đại chúng tụng kệ rằng:
“Ba Huyền ba yếu sự khó phân
Được ý quên lời, Đạo dễ gần
Một câu rành rành gồm muôn tượng
Ngày chín tháng chín cúc rộ bày”.
Thiện Chiêu vì ở tỉnh phân rét lạnh mới bỏ sự tham xét ban đêm. Có vị Tỳ-kheo khác lạ chống tích trượng đến bảo rằng: “Trong chúng hội có sáu vị Đại sĩ, cớ sao lại không vì giảng nói pháp?” Nói xong bèn bỏ đi.
Thiện Chiêu mới kín ghi với kệ tụng rằng:
“Phạm Tăng gậy vàng sáng
Vì pháp đến Phần dương
Sáu người thành Đại khí
Khuyên thỉnh vì tuyên dương”.
Lúc lên giảng đường, phàm một câu nói phải đầy đủ ba Huyền môn, mỗi một Huyền môn phải đầy đủ ba cốt yếu, có chiếu có dụng, có trước chiếu sau dụng, có trước dụng sau chiếu, hoặc chiếu dụng đồng thời, hoặc chiếu dụng không đồng thời, trước chiếu sau dụng, thả cốt yếu cùng ấy mà thương lượng. Trước dụng sau chiếu, ấy cũng phải là một cá nhân mới được, chiếu dụng đồng thời, ấy làm sao sinh đáng đến, chiếu dụng chẳng đồng thời, ấy lại làm sao sinh ghé họp.
Có vị Tăng hỏi rằng: “Thế nào là nguồi Đại đạo?”
Thiện Chiêu đáp: “Đào bới đất tìm Trời”.
Lại hỏi: “Làm sao được như vậy?”
Thiện Chiêu đáp: “Không nhận biết sâu cao”.
Lại hỏi: “Thế nào là khách trong khách?”
Thiện Chiêu đáp: “Chấp tay trước am hỏi Thế Tôn”.
Lại hỏi: “Thế nào là chủ trọng khách?”
Thiện Chiêu đáp: “Mêy trận giăng ngang trên biển, rút kiếm quẩy cửa rồng”.
Lại hỏi: “Thế nào là chủ trong chủ?”
Thiện Chiêu đáp: “Ba đầu sáu tay chống đất trời, giận thương Na-tra gõ chuông vua”.
“Phàm những lúc lên pháp đường, tại Phần dương có ba yếu quyết, các nạp Tăng khó rành phân biệt, lại càng phỏng hỏi thế nào. Thiện Chiêu chống tích trượng bỗng nhiên đầu chống đỡ.”
Khi ấy có vị Tăng hỏi rằng: “Thế nào là ba yếu quyết?”
Thiện Chiêu bèn đánh vị Tăng ấy lễ bái. Thiện Chiêu bảo rằng: “nay vì ông mà đồng một lúc nói bày. Yếu quyết thứ nhất là tiếp dẫn không thời tiết, khéo nói chẳng thể giải. Mây đầy trăng trời xanh. Yếu quyết thứ hai là Thư Quang biện Hiền triết, hỏi đáp Tâm lợi sinh, nhổ bỏ nêu trong mắt. Yếu quyết thứ ba là người Hồ ở nước phương Tây nói vượt nước đến Tân La, đất Bắc dùng khóa sắt”. Lại bảo rằng: “Vậy có người hiểu chăng? Nếu hiểu thì từ trước xuất hiện trở lại thông hiểu tiêu tức, cần phải biết gần xa, chớ chỉ mặc tình ghi lời ghi ngữ, vì ngay đời này có lợi ích gì chẳng dùng. Đứng lâu trân trọng”.
Có vị Tăng hỏi rằng: “Thế nào là ý chỉ của Tổ sư (Bồ-đề Đạt-ma) từ Tây vức lại?” Thiện Chiêu đáp: “Quạt lụa quyên xanh đủ gío mát”.
Lại hỏi: “Bố cổ đáng treo hiên, ai là người biết âm?”. Thiện Chiêu đáp: “Dừng bữa cơm mạch, nằm cỏ chẳng nâng đầu”.
Lại hỏi: “Thế nào là Đạo tràng”.
Thiện Chiêu đáp: “Hạ gót chân chẳng được”.
Lại hỏi: “Thế nào là ý chỉ của Tổ sư từ Tây vức lại?”
Thiện Chiêu đáp: “Triệt cùng cốt tủy”.
Lại hỏi: “Ý ấy như thế nào?”
Thiện Chiêu đáp: “Khắp trời cùng đất”.
Lại hỏi: “Người chân chánh tu đạo chẳng thấy lỗi quá ở thế gian, chưa xét chưa thấy cái gì lỗi quá?”
Thiện Chiêu đáp: “Tuyết chôn trăng đêm sâu ba thước, đất liền đi thuyền dài muôn dặm”.
Lại hỏi: “Hòa thượng là tâm hành gì?” Thiện Chiêu đáp: “Tức là tâm hành của ngươi vậy”.
Lại hỏi: “Thế nào là gia phong của Hòa thượng?” Thiện Chiêu đáp: “Ba Huyền môn mở chánh đạo, một câu phá tà tông”.
Lại hỏi: “Thế nào là kế sống của Hòa thượng?” Thiện Chiêu đáp: “Bình thường chẳng nắm tay, cúng dường năm Phạm Tăng”.
Lại hỏi: “Chưa xét biết là ăn vật gì?” Thiện Chiêu đáp: “Cơm trời Tô-la chẳng phải thức ăn ngon lành, một chút mùi vị ngon lành ng liền nghỉ”.
Lúc lên giảng đường, Thiện Chiêu bảo đại chúng rằng: “Phàm người nói pháp phải đầy đủ mười Trí đồng chân.
Nếu chẳng đủ mười Trí đồng chân thì tà chánh chẳng biện rành, trắng đen không phân rõ, chẳng thể cùng người trời mà làm mắt mũi, quyết đoán phải quấy, như chim bay giữa khoảng không mà bẻ gãy cánh, như tên bắn đến đích mà đứt dây, dây đứt nên bắn không trúng đích, cánh bẻ gãy nên chẳng bay được giữa khoảng không. Dây mạnh cánh bền, khoảng không và mục đích đều thấu triệt, làm sao sinh là mười trí đồng chân, cùng các Thượng tọa mà nêu bày: Một là đồng một chất. Hai là đồng đại sự. Ba là tất cả đồng tham. Bốn là đồng chân trí. Năm là đồng khắp cùng. Sáu là đồng đầy đủ. Bảy là đồng được mất. Tám là đồng sinh sát. Chín là đồng tiếng rống. Mười là đồng được vào”.
Thiện Chiêu lại bảo: “Cùng hạng người nào đồng được vào? Cùng với ai đồng tiếng rống? Làm sao sống là đồng sinh sát? Với vật gì là đồng được mất? Cái gì đồng đầy đủ? Cái gì khắp cùng? Người nào đồng chân trí? Ai có thể gần đồng tham? Cái gì đồng việc lớn? Vật gì đồng một chất? Có nêu ra được hết cả chăng? Nếu người nêu được hết cả thì chẳng keo lậu từ bi. Nếu nêu cúng dường ra thì từ trước trở lại chưa có mắt tham học, thiết tưởng phải biện biệt rành rẽ lấy, cần phải nhận thức mặt mắt phải quấy sao không thấy được? Đứng lâu trân trọng!”
Long đức phủ doãn Lý Hầu cùng Thiện Chiêu có quen biết xưa cũ, nhân rảnh rỗi từ chùa Thừa thiên đến, kẻ sứ ba lần trở về mà Thiện Chiêu chẳng đến.
Kẻ sứ bị trách phạt lại sang thưa cùng Thiện Chiêu rằng: “Hẳn muốn được Sư cùng đến, nếu không như vậy thì chỉ có chết mà thôi”. Thiện Chiêu cười đáp: “Nghiệp lão bệnh đã chẳng ra khỏi núi. Nhờ đến, đáng nên đi trước hay sau, sao hẳn đều tà?”
Kẻ Sứ thưa: “Chỉ cần Sư vâng thuận thì trước hay sau chỉ tùy sự quyết chọn”. Thiện Chiêu mới bảo thiết trai tiếp đãi, vả lại chuẩn bị hành trang tề chỉnh xong, bảo cùng đại chúng rằng: “Lão Tăng đi đây, ai là người có thể cùng theo được?”
Có một vị Tăng ra thưa: “Con đây có thể theo được!” Thiện Chiêu đáp: “Ông theo ta không thể được”.
Lại có một vị Tăng khác ra thưa rằng: “Con đây có thể theo được”. Thiện Chiêu hỏi: “Một ngày ông đi được mấy dặm?” Vị Tăng ấy đáp: “Bảy mươi dặm”. Thiện Chiêu bảo: “Ông theo ta chưa thể được”.
Khi ấy vị Thị giả bèn bước ra thưa rằng: “Con đây có thể theo được! Chỉ cần Hòa thượng đến đâu thì con đến đó”. Thiện Chiêu bảo: “Ông có thể theo kịp Lão Tăng”. Nói xong, Thiện Chiêu bèn bảo kẻ sứ rằng: “Tôi đi trước vậy!” Bèn dựng đưa mà thị tịch. Vị Thị giả cũng đứng bên cạnh cùng đồng thị tịch. Đại chúng trà tỳ thâu nhặt xá-lợi dựng tháp tôn thờ!
NGUỒN
🔗 QUYỂN 1 - TỤC TRUYỀN ĐĂNG LỤC