GIỚI THIỆU

Đạt Quán Đàm Dĩnh lả vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Đạt Quán (達觀), người vùng Tiền Đường (錢塘), Hàng Châu (杭州, tỉnh Chiết Giang), họ là Kheo (Khâu) (丘).

Ông theo Đại Dương Cảnh Huyền (大陽警玄) học tông phong của Tào Động, sau đó đến tham vấn Cốc Ẩn Uẩn Thông (谷隱蘊聰) và kế thừa dòng pháp của vị này.

Về sau, ông đến trú tại Kim Sơn (金山) thuộc Nhuận Châu (潤州, Tỉnh Giang Tô). Ông thị tịch vào năm thứ 5 (1060) niên hiệu Gia Hựu (嘉祐), hưởng thọ 72 tuổi.

🌳🌲🌵
  • Xuất gia: Năm 13 tuổi, Ngài đến chùa Long Hưng xuất gia. Đến năm 18 tuổi, Ngài lên kinh đô tham học và sau đó trở thành bậc đại túc trong chốn thiền lâm. Ngài từng trụ trì tại chùa Kim Sơn (nên thường được gọi gắn liền với tên chùa là Kim Sơn Đàm Dĩnh).

  • Đóng góp: Lời dạy và hành trạng của Ngài xuất hiện nhiều trong các tác phẩm thiền học kinh điển, đặc biệt là bộ sách Thiền Lâm Bảo Huấn – một tác phẩm tập hợp những lời răn dạy quý báu của các bậc thiền sư đi trước về cách ứng xử, đức độ và phương pháp quản lý, giữ gìn quy củ nơi tùng lâm.

🌳🌲🌵

Kim Sơn Đàm Dĩnh thiền sư, người tỉnh Chiết Giang, tục tánh Khâu, hiệu Đạt Quán. Năm 13 tuổi đến Long Hưng tự xuất gia. 18 tuổi đến kinh đô trú ở vườn hoa của Thái Úy Lý Đoan Nguyện. Một hôm, thái úy hỏi:

  • Người ta thường nói đến địa ngục không biết là có hay không?
  • Chư Phật Như Lai thuyết pháp hướng vô nói hữu, như mắt thấy không hoa là có mà không; thái úy hiện hướng hữu tìm vô như tay vốc nước sông là trong vô hiện hữu. Thật đáng cười. Như người trước mắt thấy lao ngục, tại sao không trong tâm thấy thiên đường. Vui vẻ hay sợ hãi đều do tâm. Thiên đường địa ngục đều trong một niệm. Thiện ác đều có thể thành cảnh. Thái úy chỉ cần liễu tự tâm thì không bị mê hoặc nữa.
  • Làm sao liễu tâm.
  • Thiện ác đều không nghĩ.
  • Không nghĩ thì tâm về đâu?
  • Tâm không về đâu như kinh Kim Cương nói: “Không trụ vào đâu, thì tâm ấy sanh”.
  • Người ta chết rồi đi đâu?
  • Chưa biết sanh thì sao biết chết?
  • Sanh thì con đã biết.
  • Vậy sanh từ đâu tới?

Thái úy trầm tư, thiền sư đập tay vào ngực bảo: Chỉ tại chỗ này, suy nghĩ cái gì?

  • Biết rồi chỉ vì tham trình nên khốn đốn

  • Trăm năm một giấc mộng.

Thái úy ngay đó khai ngộ nói bài kệ:

三 十 八 歲 懵 然 無 知

Tam thập bát tuế mông nhiên vô tri

及 其 有 知 何 異 無 知

Cấp kỳ hữu tri hà dị vô tri

滔 滔 汴 水 隱 隱 惰 堤

Thao thao biện thủy ẩn ẩn đọa đê

師 其 歸 矣 箭 浪 東 馳

Sư kỳ quy hĩ tiễn lãng Đông trì

Ba mươi tám tuổi, chẳng biết gì

Dù có biết khác gì vô tri

Sông Biện cuồn cuộn, đê lười ẩn

Sư nếu quay về, giống tên đi.

(Tinh Vân Thiền Thoại)

Sinh từ đâu tới, chết đi về đâu? Đó là vấn đề mà người ta thường bàn luận nhưng chẳng có ai tìm ra câu trả lời. Thích Ca Mâu Ni và lịch đại tổ sư đều nói ra nguyên ủy nhưng không dễ cho người ta hiểu vì có cách âm, nghĩa là thay đổi thân thể rồi không nhớ gì được quá khứ nữa. Vì thế từ ngàn xưa, khởi nguyên của sinh mạng nhiều người nói lung tung, mỗi người một cách. Thật ra, sinh mạng hình tướng tuy ngàn sai biệt nhưng lý tánh thì đồng.

Nếu thông đạt tam pháp ấn, nghiệp thức nhân quả của Phật giáo thì sinh từ đâu, tử về đâu không hỏi cũng biết.

🌳🌲🌵

Thiền sư Đàm Dĩnh - Đạt Quán ở Kim Sơn tại Nhuận châu, vốn người dòng họ Khâu ở Hàng châu. Mới đầu, Sư đến bái yết Thiền sư Huyền ở Đại Dương, mà hỏi: “Động sơn thiết đặt thiên về chánh quân thần, ý muốn làm sáng tỏ việc gì?” Đại Dương đáp: “Việc lúc cha mẹ chưa sinh”. Sư hỏi: “Làm sao hiểu rõ?” Đại Dương đáp: “Nửa đêm chánh sáng tỏ, trời sáng chẳng lộ bày”.

Sư mờ mịt không hiểu gì, bèn đến bái yết Thiền sư Thông ở Cốc ẩn và nêu câu thoại trước. Thiền sư Thông bảo: “Đại Dương không nói chẳng phải bởi chỉ là cửa miệng hẹp đầy miệng nói chưa hết, Lão Tăng đây thì không như vậy”. Sư hỏi: “Thế nào là việc lúc cha mẹ chưa sinh?” Thiền sư Thông đáp: “Đồ phẩn đất”. Sư hỏi: “Thế nào là nửa đêm chánh sáng tỏ, trời sáng chẳng lộ bày?” Thiền sư Thông đáp: “Dưới hoa mẫu đơn mèo con ngủ”. Sư lại càng nghi ngờ kinh sợ.

Một ngày nọ, thỉnh bảo khắp tất cả, Thiền sư Thông bảo: “Ngày nay chuyển vận củi ư?” Sư đáp: “Đúng vậy”. Thiền sư Thông bảo: “Vân môn hỏi vị Tăng”.

Người dọn củi, củi dọn người “làm sao hiểu?” Sư im lặng không trả lời. Thiền sư Thông bảo: “Việc này như người học sách, chấm vẽ có thể so sánh khả năng là khéo hay vụng, bởi chưa thể quên pháp vậy, ngay khi nắm bút quên tay, tay quên tâm mới có thể được vậy”.

Khi đó, Sư có chút khế hội. Ngừng giây phút, Sư nói: “Như Thạch Đầu nói chấp sự vốn là mê, khế lý cũng chẳng ngộ”. Thiền sư Thông bảo: “Ông lấy câu thuốc làm câu bệnh”. Sư nói: “Ây là câu thuốc”.

Thiền sư Thông quở trách bảo: “Ông lấy bệnh làm thuốc, vậy sao có thể được ư?” Sư nói: “Sự việc ấy như hộp được đậy. Lý ấy như mũi tên bắn thẳng Phong diệu, sao lại có thêm mà còn cho là bệnh, thật chưa hiểu ý chỉ!”

Thiền sư Thông bảo: “Khéo đến là cũng chỉ gọi là Lý Sự. Với ý chỉ của Tổ sư thì trí thức không thể đến được, huống gì sự lý cao hết ư? Nên Đức Thế Tôn là “Lý chướng ngại Chánh biến tri, Sự chướng tiếp tục mọi sinh tử”. Bỗng nhiên, Sư như người tỉnh mộng, hỏi: “Thế nào là thọ dụng?”

Thiền sư Thông bảo: “Ngôn ngữ chẳng lìa lỗ cối, sao có thể ra khỏi che đậy buộc ràng”. Sư than rằng: “Mới trải qua môi mép liền rơi vào ý tư. Đều là cửa chết, chưa phải là đường sống!”

NGỮ LỤC

Ngừng ở lâu sau, Sư chỉ dạy đại chúng rằng: “Vừa mới trải qua môi mép liền rơi vào ý tư, đếu là cửa chết, chưa phải là đường sống. Ngay nhiều thấu thoát còn tại trầm luân, chớ bảo cô phụ úc bình sinh, để uổng qua đời này”. Cần được chẳng cô phụ lúc bình sinh ư?”

Sư nhón lấy gậy chống cao xuống một cái, bảo: “Phải là chẳng bị gậy chống lừa dối mới được. Hãy xem xem gậy chống xuyên qua đầu lâu các người, nhảy nhót vào trong lỗ mũi các ông đi”.

Sư lại đứng xuống.

Có vị Tăng hỏi: “Hai chữ đầu tiên trong kinh văn là chữ gì?” Sư đáp: “Chữ dĩ”. Lại hỏi: “Có gì giao thiệp?”

Sư đáp: “Chữ Bát”.

Lại hỏi: “Khéo lừa dối người ư?” Sư đáp: “Phỉ báng kinh ấy nên bị tội như vậy”.

Lại hỏi: “Thế nào là một trăm hai mươi căn sắt bảo A-nan gánh lấy?” Sư đáp: “Lão Tăng”.

Lại hỏi: “Thế nào là tự tác tự thọ?” Sư đáp: “Khổ, khổ”.

Lại hỏi: “Hòa thượng có từng niệm Phật không?” Sư đáp: “Chẳng từng niệm Phật”.

Lại hỏi: “Thế nào là chẳng niệm Phật?” Sư đáp: “Sợ dơ bẩn miệng người”.

Có lúc lên giảng đường, đại chúng đang hành tập Thiền định, vị Thủ tòa ra lễ bái, Sư bảo: “Tốt, tốt, hỏi xem!”

Vị Thủ tòa cúi đầu hỏi câu thoại, tiếp theo Sư bảo: “Ngày nay không đáp câu thoại”. Bèn trở về phương trượng.

Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Sân cửa của Sơn Tăng có riêng khác, đã cải đổi dấu vết các phương vì Văn Thù nhổ nêm trong mắt ra, bảo Phổ Hiền nghỉ nhai sắt trong miệng, khuyên người buông mở tay cách xà, cho các người bẻ ngay cọc buộc lừa, chú ý phỏng nghĩ tư lương”.

Và Sư hét một tiếng, bảo: “Nắm, nắm, tham”.

Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Bình sinh ý Sơn Tăng thích cùng đánh, chỉ là không có người phụ đối, ngày nay thử cùng thủ tòa phụ đối”. Rồi Sư đứng dậy treo móc áo ca sa mà xuống khỏi tòa, đòi Thủ tòa ra cùng đánh. Thủ tòa vừa mới bước ra Sư bảo: “Trên đất bằng ăn giao”. Rồi bèn trở về phương trượng.

Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Chư Phật ba đời là đứa tôi tớ, một Đại tạng giáo điển là đàm dãi”. Ngừng giây lâu, Sư bảo: “Vả lại, chư Phật trong ba đời là tôi tớ của ai?” Và Sư nắm lấy phất trần họa vẽ một đường, bảo: “Chư Phật ba đời qua bên ấy. Hãy tạm nói một Đại tạng giáo điển là đàm dãi của ai?” Và Sư mới tự khạt nhổ một cái.

Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Quả cân trong đáy giếng bỗng nhiên nổi trên mặt nước, chuột già nhiều năm biến thành trâu, Tuệ không thấy xong vỗ tay cười, Hồ tôn ba cẳng khác biệt Hầu”.

Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Năm ngàn giáo điển, chư Phật thường đám nói, tám vạn trần lao, chúng sinh khéo dùng, còn chưa là ở tròng mắt Kim cang, vậy thế nào là tròng mắt Kim cang?” Ngừng giây lâu, Sư bảo: “Kẻ mù”.

Lại có lúc lên giảng đường, đại chúng đang hành tập Thiền định, có vị Tăng vừa mới ra lễ bái, Sư bảo: “Muốn biết được nghĩa Phật pháp, phải quán chiếu thời tiết nhân duyên”.

Có vị Tăng liền hỏi: “Thế nào là thời tiết nhân duyên?”. Sư bèn bước xuống khỏi tòa. Lại hỏi: “Thế nào là hướng đi đến người?” Sư đáp: “Theo về trong núi xanh, chẳng ra mây trắng lại”. Lại hỏi: “Thế nào là liền lại đến người? Sư đáp: “Theo về trong núi xanh, chẳng ra mây trắng lại”. Lại hỏi: “Thế nào là liền lại đến người?” Sư đáp: “Tự theo đi bờ đê tía, ai chịu ẩn trong núi biếc”. Lại hỏi: “Thế nào là đoạt lấy người không đoạt lấy cảnh?” Trong nhà đã không có tin ngày trở về, bên đường trống có văn bia nhớ ngóng quê hương”. Lại hỏi: “Thế nào là đoạt lấy cảnh chẳng đoạt lấy người?” Sư đáp: “Biển xanh hết giáo cây khô đến đáy, núi biếc thẳng được nghiền làm bụi trần”. Lại hỏi: “Thế nào là người và cảnh đều đoạt lấy?” Sư đáp: “Trời đất còn không ngày tháng Tần, núi sông chẳng thấy vua tôi Hán”. Lại hỏi: “Thế nào là người và cảnh đều chẳng đoạt lấy?” Sư đáp: “Chim oanh ríu rít ngàn từng hoa đầy đất, khách đi ba tháng cỏ lước trời”. Lại hỏi: “Thế nào là gia phong của Hòa thượng?” Sư đáp: “Duỗi tay chẳng thấy bàn tay”. Lại hỏi: “bỗng gặp khách Tiên Đà đến lại làm sao sống?” Sư đáp: “Đối diện ngàn dặm”. Lại hỏi: “Sư xướng hát khúc nhạc nhà ai? Tông phong ấy, ai người nối dõi?” Sư đáp: “Lâm Tế”. Lại hỏi: “Thế nào là Đích tử của Cốc ẩn?” Sư đáp: “Đức sơn”. Lại hỏi: “Thế nào là pháp thân dài?” Sư đáp: “Gậy chống sáu thước”. Lại hỏi: “Thế nào là pháp thân ngắn?” Sư đáp: “Toán tử ba tấc”. Lại hỏi: “Thế nào là pháp thân có hai?” Sư đáp: “ại có ở vuông tròn”.

Lại có lúc lên giảng đường, Sư bảo: “Các nơi cần câu lại cong, bánh mồi lại thơm, đua nhau chạy đến như ong, ôm Thánh nhân vương.

Trong ấy cần câu lại thẳng bánh mồi lại không giống như đáy nước treo hồ lô”. Và Sự nâng gậy chống làm thế như đang câu cá và bảo: “Nước sâu bắt cá lớn tin mạng, chẳng từng đem rượu tế thần sông”. Rồi Sư ném gậy chống và xuống khỏi tòa.

NGUỒN

🔗 phatgiao.org.vn

🔗 1194. Trăm năm như một giấc mộng - NHỮNG ĐOÁ HOA THIỀN

🔗 QUYỂN 4 - TỤC TRUYỀN ĐĂNG LỤC

🔗 QUYỂN 4 - TỤC TRUYỀN ĐĂNG LỤC


GHI CHÚ