PHẦN TỰA

Theo chú giải xưa, Lăng-già (Lanka) là tên núi, Trung Hoa dịch “Chẳng Thể Đến” (Bất Khả Vãng). Cũng gọi Lăng-già là tên thành, vì trên đỉnh núi có thành vua Dạ-xoa (Yaksha). Núi này nằm ở bờ biển phía Nam. A-bạt-đa-la (Avttara) dịch là Vô thượng. Bảo là nghĩa quý trọng. Dùng những nghĩa trên để dụ rằng kinh này là kinh quý báu vô thượng chẳng thể đạt đến. Không hẳn như vậy.

Thọ Công nói cảnh giới tự giác thánh trí không phải tà trí có thể đến được, nên nói chẳng thể đến; hạt châu ma-ni tùy sắc không có trân bảo thế gian nào sánh được nên nói Vô thượng, nghĩa là ở chỗ chẳng thể đến ấy có báu vô thượng này. Cũng chưa hết ý.

Luận Hoa Nghiêm nói: Thế Tôn thuyết pháp trong thành Lăng-già, đảnh núi Ma-la-đa, biển Nam. Núi ấy cao 500 do tuần, nhìn xuống biển lớn, không có đường lên.

Thành Lăng-già làm bằng các trân bảo, sáng chói như mặt trời mặt trăng, không cửa vào, người có thần thông mới có thể bay đến; biểu thị pháp môn tâm địa, vô tu vô chứng mới có thể đến. Lời này chắc chắn như thế.

Tôi (Đức Thanh) khi ở Ngũ Đài từng gặp một Phạm tăng người nước Vu Điền 1, tóc dài hơn một trượng 2, không nói tuổi, chỉ nói vào Trung Hoa hơn 30 năm.

Sư tinh thông thiền quán, gồm rành rõ giáo thừa, giỏi tiếng địa phương. Tôi thỉnh Sư đồng ngụ tại chùa khoảng 3 năm 3.

Mỗi lúc đàm luận tôi đưa ra những Phạn ngữ trong Kinh đã dịch mời Sư xem thử, lời Sư đều hợp với chỗ dịch xưa.

Nhân đó, tôi đề cập đến kinh Lăng Già, Sư kinh ngạc nói: “Nơi đây cũng có kinh này ư? Đây là pháp vô khả thuyết vô khả đắc, là quốc bảo của vua nước tôi”.

Sư hỏi có bao nhiêu quyển.

Tôi đáp: “Truyền sang 4 quyển”.

Sư cười nói: “Đem sang chưa hết, kinh này 40 quyển, đây mới một phần mười”.

Sư nói gọn chỉ thú trong Kinh, mỗi lời đều phát minh cảnh giới ly tâm ý ý thức. Đây không thể thuật đủ.

❔ Tôi hỏi núi Lăng-già ở chỗ nào?

⚡️ Sư bảo núi này ở trong biển Nam nước Thiên Trúc.

❔ Lại hỏi vì sao gọi tên Lăng-già?

⚡️ Sư đáp:

Lăng-già là tên ngọc, hình tám cạnh tròn đều, chất rất cứng chắc không thể xuyên thủng, thường phát ánh sáng, các loại ngọc báu thế gian không thứ nào hơn, nên chữ A-bạt-đa-la (Avatāra) dịch là Vô thượng, do núi toàn bằng ngọc báu này, nên núi lấy tên ngọc, gọi là “Núi báu Lăng-già A-bạt-đa-la”. Trên đỉnh núi có thành, thành trời báu này không cửa vào, là chỗ ở của vua quỷ Dạ-xoa (Yaksha). Phật ở trong thành trên đỉnh núi mà nói kinh này, nên kinh lấy tên của núi.

❔ Tôi hỏi người có thể đến núi này chăng?

⚡️ Sư đáp:

“Người không đến được vì núi này trên lớn dưới nhỏ. Mỗi lúc đêm tới mây mù, hoặc sóng lớn dồn dập thì hình núi càng hiển lộ rõ, ánh sáng chấp phát huy, bằng như biển lặng trời trong thì chẳng thấy núi đâu. Tăng tham thiền của nước ấy thường kinh hành ở mé biển, nhìn về núi để nhập quán”.

Như thế, theo Hoa Nghiêm Luận và căn cứ lời vị Phạm tăng, thì núi lấy tên của ngọc báu, và kinh lấy tên núi, ý thật sâu kín.

⚡️ Kinh Duyên Khởi nói:

“Khó vào trong hội Vị tằng hữu, giảng thuyết trí Đà-la-ni duyên khởi, gọi là thức Lăng-già vương”.

Mượn nơi chốn để tiêu biểu pháp, lại càng thấy thâm huyền. Bên Giáo dùng các từ trí hải, tánh hải, giác hải, tâm hải cho đến bảo minh không hải; Kinh đây nói tạng thức hải.

Rồi lại lấy biển để dụ sanh tử, biển cũng dụ cho Niết-bàn; cũng dùng núi để thí dụ ngũ uẩn.

Huống chi, Dạ-xoa dịch là quỷ Khả Úy, là loài bay trên không ăn thịt chúng sanh, song đức Thế Tôn đặc biệt ở trong thành vua Dạ-xoa tại núi này biến này mà nói kinh này, hiển thị cảnh giới tự giác thánh trí.

Chỗ kinh nói về 5 pháp 3 tự tánh 8 thức 2 vô ngã, ngay đó quán pháp, ý chỉ thật vi tế. Vì sao? Kinh nói: “Biển tạng thức thường trụ, gió cảnh giới lay động, sóng to vỗ biển rộng, không có lúc ngưng dứt”.

Đây tức là biển trí không tánh, nhân giác vọng mà thành phàm; biển tâm sâu lặng chuyển biến thành biển nghiệp sanh tử; tâm diệu bảo minh biến thành thân tâm huyễn vọng 8 thức 5 uẩn.

Vì vậy ngọc báu có 8 cạnh, núi cao 500 do tuần, là chỗ ở của Dạ-xoa sanh tử phiền não.

Rồi lúc đêm đến mây mù, hoặc nơi ba đào cuồn cuộn mà núi càng hiển lộ hình tướng, đó là vọng tưởng khởi mà Niết-bàn hiện.

Vua quỷ Dạ-xoa thỉnh Phật thuyết pháp là phiền não khởi mà Phật đạo thành. Lại càng thấy rõ diệu tánh bảo minh này tuy ở trong núi ngũ uẩn, biển lớn sanh tử mà không bị phiền não lấn đoạt, không bị sóng sanh tử cuốn trôi, không bị gió cảnh giới lay động, vô minh hắc ám không thể che mờ, đêm dài đen kịt mà linh quang riêng hiển lộ.

Trở lại nói biển lặng trời trong, núi không thấy, đó là khi biển trí tròn lặng, vạn tượng sum la in bóng rõ ràng, thân tâm thế giới ngay đó tiêu dung, sanh tử Niết-bàn đồng thời bình đẳng.

Đến chỗ này ma Phật đều không, cả hai bất khả đắc. Ôi! Tin đây thật là pháp môn tự giác thánh trí cao vời tột đỉnh.

Kinh này còn được dịch nghĩa là “Chẳng Thể Đến”, chỉ có bậc thần thông mới có thể đến được.

Ý nói pháp môn này chẳng phải chỗ tâm hành, chỉ có bậc thượng thượng căn một phen vào liền vào, không cho dò dẫm tìm kiếm.

Nếu chẳng vào được cũng không cho suy nghĩ phan duyên, chỉ cần ở trong chỗ sóng gió phiền não tối tăm mà quán sát, không quán sát thì không biết trong biển sanh tử có vật này.

Kinh này vì hàng căn cơ thuần thục nói thẳng chủng tự nghiệp thức là Như Lai tạng, gọi là Đại thừa đốn giáo.

Cổ đức nói: “Lăng-già nói 5 pháp 3 tự tánh đều không, 8 thức 2 vô ngã cũng dẹp, cho nên đại sư Đạt-ma chỉ kinh này làm tâm ấn.

Mã Tổ nói: “Lăng-già dùng Phật ngữ tâm làm tông, vô môn làm pháp môn.”

Thế nên bậc sư tượng trong tông môn dạy người, cần tham thẳng chỗ ly tâm ý ý thức, học ra khỏi đường phàm thánh.

Thế mà người giảng thuyết chỉ nêu danh lập pháp, chẳng biết “không khiển” 4 làm sao lợi ích kẻ hậu học.

Đoán mò tâm ấn Tổ sư cũng đến như thế thôi. Thật đáng buồn!


GHI CHÚ

NHẤT THIẾT PHẬT NGỮ TÂM

CHƯƠNG MỘT - PHẦN ĐẦU

Dùng Tâm đặt tên cho phẩm là dùng nhất tâm làm tông. Nghĩa là tịch diệt gọi là nhất tâm, tức là tánh tự tánh thanh tịnh đệ nhất nghĩa tâm. Tất cả chư Phật đều chứng tâm này, vì chúng sanh khai thị cũng chỉ thẳng tâm này, nên nói “Tất cả chư Phật dạy về tâm.” Chú giải xưa: Kinh này đại bộ có 150 phẩm, 10 vạn bài kệ, 40 vạn câu, 320 vạn lời, truyền sang Trung Hoa chỉ có một phẩm. Tuy văn rộng quyển nhiều, kỳ thật nói chung đều chỉ thẳng pháp Nhất tâm này.

Kinh này trong 12 bộ thuộc về bộ Vị Tằng Hữu, trong 5 giáo thuộc đốn giáo Đại thừa, lại gồm “đốn viên” nghĩa là đốn chí viên mãn nhất tâm, vì 5 tánh 3 thừa đều đồng chứng.

Nếu đem 5 nghĩa của Thiên Thai giải thích thì kinh này dùng đơn dụ làm danh, vì đem báu Lăng-già dụ cho thức tánh. Phật và ma đều ở chung trong thành báu núi báu, dụ cho thân tâm 5 uẩn là chỗ nương của tất cả phẩm thánh.

Dùng Như Lai tạng làm thể, nghĩa là Như Lai tạng là nhân của thiện và bất thiện, tự tánh thanh tịnh chuyển 32 tướng vào trong tất cả chúng sanh. Tánh tự tánh đệ nhất nghĩa tâm làm tông, vì tất cả phẩm thánh đồng chứng vậy.

Tôi tá hiển chánh đoan nghi sanh tín làm dụng, vì muốn chặt lưới nghi của hàng Nhị thừa ngoại đạo tà kiến, khiến họ sanh lòng tin quyết định vào pháp Nhất thừa. Dùng thực tỏ làm giáo tướng, nói 5 tánh 3 thừa đều có cơ hội thành Phật, chỉ trông mong thọ ký thì có thể một phen biến chuyển liền thấy đạo, như thực tổ một phen biến chuyển bên thành đệ hồ, ra sức rất dễ, nghĩa là lược chỉ bày cho hàng căn cơ khai quyền hiển thật, để làm tiền đạo cho Pháp Hoa.

Nếu nói về tông thú, thì lấy đệ nhất nghĩa tâm làm tông, tự giác thánh trí làm chỗ thú hướng, lại lấy tự giác thánh trí vô tướng pháp nghĩa tâm làm tông,quên lời thâm chứng làm chỗ thú hướng.

A. PHẦN TỰ

🪷

Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ đức Phật ở trên đỉnh núi Lăng-già, tại bờ biển phía Nam, có các thứ hoa báu trang nghiêm, cùng với các chúng đại Tỳ-kheo Tăng và chúng đại Bồ-tát nhóm hợp. Các vị ấy đều từ các cõi Phật nơi khác mà đến. Các vị đại Bồ-tát ấy có vô lượng sức tam-muội tự tại, thần thông du hý, đại Bồ-tát Đại Huệ làm thượng thủ.

Các Ngài đã được tất cả chư Phật đưa tay làm lễ quán đảnh, rất giỏi hiểu nghĩa cảnh giới tự tâm hiện, các loài chúng sanh, các thứ sắc và tâm, vô lượng đồ môn đều tùy loại hiện khắp. Đối với năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã đều thông đạt rốt ráo.

GIẢI

✅ Đây là trình bày nhân duyên khai pháp. Tôi nghe như vầy… nghĩa là pháp như thế, tôi đã nghe từ đức Phật. Một thời, là thời gian của căn cơ cảm đến và hợp hội, không nhất định là thời nào. Phật là vị chủ thuyết pháp. Núi là nơi thuyết pháp. Bồ-tát là thính chúng Lục chủng thành tựu. 1 Lời kết tập này, nhân lời di chúc của đức Phật tất cả đầu kinh đều phải để, không cần nói việc khác.

Trên đỉnh núi dùng các thứ hoa báu để trang nghiêm, nghĩa là pháp tối đỉnh vô thượng Như Lai tạng tâm đầy là nhân địa của tất cả chư Phật. Phật cùng Bồ-tát đều từ cõi Phật khác đến, để biểu thị trong đây không lập thánh phàm. Đại Huệ là thượng thủ, vì pháp này chẳng phải tâm thức có thể đến được, chỉ có bậc đại trí mới có thể vào.

Từ câu “Tự tâm” trở xuống là tán thán đức. Cho đến câu “Các loài chúng sanh, các môn tâm sắc, vô lượng độ môn, 5 pháp, 3 tự tánh, 8 thức, 2 vô ngã…” Đều là cảnh tự tâm hiện mà chỉ riêng bậc đại trí huệ mới hiểu rành nghĩa ấy, thông suốt cùng tột.

Cả 2 bản dịch 2 đều nói:

Đức Phật ở trong thành Lăng-già, trên đỉnh núi Ma-la-da nằm tại biển lớn, thành này là chỗ của vua Dạ-xoa Bà-la-na (Ravana). Nhân khi Phật thuyết pháp ở cung vua rồng biển, sau 7 ngày bèn từ biển lên, đưa mắt nhìn thành trì trên đỉnh núi mà tự nói:

Xưa các đức Như Lai Ứng Chánh đẳng giác ở đây nói chỗ sở đắc của mình. Lời thuyết của bậc thánh trí chẳng phải chỗ phỏng đoán tà kiến của ngoại đạo và cảnh giới tu hành của Nhị thừa. Hôm nay ta sẽ vì vua Bà-la-na khai thị pháp này.

Lúc ấy vua Dạ-xoa nương thần lực của Phật, nghe được ngôn âm của Phật, bèn cùng quyến thuộc thỉnh Phật về thành…

Cả hai bản dịch đều có nhân duyên hỏi pháp của vua Dạ-xoa, kinh này lược bớt, người xem dung hội được bản dịch kia, ắt chứng thấy được tông thú của kinh vậy.

🪷

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ và Bồ-tát Ma-đế đều dạo các cõi nước Phật, nương sức thần của Phật, từ toà đứng dậy, trịch áo bày vai bên mặt, đầu gối mặt quỳ chấm đất, chắp tay cung kính dùng kệ khen ngợi Phật.

GIẢI

✅ Đây là trình bày riêng về nghi thức của đương cơ gặp Phật. Đại Huệ là đương cơ, pháp môn vô thượng này không phải người đại trí huệ không thể đảm đường. Ở đây đưa ra việc Bồ-tát Ma-đế cùng đạo chơi đó, Ma-đế cũng dịch là Huệ, nghĩa là “Bậc đạt đạo cùng dạo chơi trên đường Niết-bàn”.

🪷

Thế gian lìa sanh diệt

Vì như hoa hư không,

Trí chẳng thấy có, không

Mà khởi tâm đại bi

Tất cả pháp như huyễn

Xa lìa nơi tâm thức,

Trí chẳng thấy có, không

Mà khởi tâm đại bi

Xa lìa chấp đoạn thường

Thế gian hằng như mộng

Trí chẳng thấy có, không

Mà khởi tâm đại bi

Biết nhân pháp vô ngã

Phiền não và sở tri (nhị diệm)

Thường thanh tịnh không tướng

Mà khởi tâm đại bi

Tất cả không Niết-bàn

Không Niết-bàn của Phật

Không có Phật Niết-bàn

Xa lìa giác, sở giác

Hoặc có hoặc không có

Cả hai thảy xa lìa

Quán Mâu-ni tịch tĩnh

Đó là xa lìa sanh

Ấy gọi là chánh thú

Đời này đời sau tịnh

GIẢI

✅ Đây là chánh phát khởi tông thú của toàn kinh.

Nhị diệm là Phạn ngữ, dịch là sở tri, lại dịch là trí chướng. “Tất cả không Niết-bàn”.

(Ngụy dịch: Không và có, cái hai đều lìa. Chữ “tất cả” để chỉ cho chỗ sanh tử là pháp có, Niết-bàn là pháp không. )

Chữ “không” trong câu kệ để chỉ cho cả hai sanh tử và Niết-bàn đều không.

🔖 Cho nên Tạp Hoa 3 nói

“Có tranh chấp là sanh tử, không tranh chấp là Niết-bàn”.

Sanh tử và Niết-bàn cả hai đều bất khả đắc. Vì vậy kẻ đó giải thích “Không có Niết-bàn của Phật, không có Phật vào Niết-bàn, xa lìa năng giác sở giác, có không cả hai đều lìa”.

Thế nên biết hai cái này là vọng kiến phân biệt.

🔖 Trong bản dịch của ngài Thật-xoa Nan-đà nói:

❔ Vua Dạ-xoa thỉnh Phật vào thành Lăng-già, cúng dường xong rồi liền đem hai pháp ra hỏi Phật, nói rằng:

“Như Lai thường nói pháp còn phải xả huống gì phi pháp. Làm sao xả được hai thứ pháp này? Thế nào là pháp? Thế nào là phi pháp?”

⚡️ Đức Thế Tôn đáp:

“Tướng sai biệt giữa pháp và phi pháp là do phàm phu phân biệt, chẳng phải chỗ thấy của bậc thánh trí… Thế nào là pháp? Nghĩa là vì Nhị thừa và ngoại đạo phân biệt một cách hư vọng, nói rằng có “Thật” là nhân của các pháp. Những pháp như thế nên bỏ nên lìa, không nên ở trong ấy mà phân biệt chấp tướng. Thấy pháp tánh tự tâm ắt không chấp trước; các vị tu quán hạnh, dùng Tỳ-bà-xá-na quán sát như thật, gọi là xả các pháp. Thế nào là phi pháp? Nghĩa là các pháp vô tánh vô tướng lìa hẳn phân biệt. Người thấy như thật thì dầu có hay không, các cảnh giới như vậy họ đều không khởi chấp, gọi là xả phi pháp.”

🔔 Ngài Bồ-đề-lưu-chi nói:

Người thấy như thật gọi là chánh kiến, nếu thấy khác gọi là tà kiến; nếu phân biệt hai bên gọi là nhị thủ, đều là hư vọng, không được tịch diệt. Tịch diệt gọi là Nhất tâm, Nhất tâm gọi là Như Lai tạng, bậc Như Lai tạng nhập cảnh giới trí huệ tự thân, được tam-muội Vô sanh pháp nhẫn, nên bài kệ này khen Phật “Có không cả hai đều lìa”, rất sâu xa.

Hai kiến chấp có - không là cái gai của pháp thân. Cảnh giới tự giác thánh trí không gì khác là chỉ biết đây, lìa đây (có không) mà thôi, lại không có thật pháp có thể được. Thật là tông thú chí cực của kinh này vậy.

Người tu hành biết chỗ này thì có thể gọi là hành vô hành, chứng vô chứng. Tâm còn một niệm về hành, chứng chưa quên thì lại rơi vào đây (có không). Huống gì đem ngôn ngữ văn tự phân biệt chỗ là được ư?

Người tu quán nếu quán được như vậy mới gọi là biết thật tướng các pháp. Như thế, các lời hỏi của Đại Huệ sau này, đều là hai pháp có - không, đức Thế Tôn đều khiến phải bỏ lìa mà thôi, nên đáp “Tất cả đều phi”. Lìa đây bỏ đây chẳng phải tự giác thánh trí là gì?

🔔 Bài kệ cuối, ngài Lưu-chi nói:

Nếu quán Phật như thế, tịch tịnh lìa sanh diệt.

🔔 Ngài Thật-xoa nói:

Người này, đời này đời sau, lìa chấp không chỗ nhiễu não giả. Ý chỉ toàn kinh, không ra ngoài câu hỏi của vua Dạ-xoa và lời khen tán Phật của Đại Huệ.

A₂ - PHẦN CHÁNH TÔNG

B₁ - Trực chỉ nhất tâm chân như để chỉ ba cõi duy tâm, có 2

C₁ - Hỏi 108 câu

🪷

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ đứng kệ tán Phật rồi, tự nói tên họ: Con tên là Đại Huệ - thông đạt Đại thừa, nay dùng nghĩa 108 câu, kính hỏi bậc Tôn tối thượng.

Đức Phật nghe Bồ-tát nói kệ, quán sát tất cả chúng, bảo các Phật tử rằng: Phật tử các ông, cho phép các ông hỏi, ta sẽ vì các ông nói về cảnh giới tự giác…

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ nhân được Phật cho phép, đảnh lễ dưới chân Phật chắp tay cung kính dùng kệ hỏi.

GIẢI

Ban đầu ngài Đại Huệ dùng nghĩa của 108 câu hỏi Phật. Bởi vì nương nhất tâm chuyển biến năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã, pháp nhân quả của mê và ngộ mà hỏi đó.

Xưa nói 108 câu tiêu biểu đối trị 108 phiền não, chẳng phải ý chỉ của Đại Huệ. Bởi nhất tâm là Phật ngữ tâm. Tịch diệt gọi là Nhất tâm, vốn không có tướng chánh báo, y báo của sắc tâm trong mười cõi, chỉ vì mê tâm này là sanh tử, cho nên biến nhất tâm thành tâm giới. Ngộ tâm này là Niết-bàn, cho nên chuyển tâm giới thành nhất tâm. Nhưng sanh tử là có pháp, Niết-bàn là không pháp, cả hai đều do ngu phu phân biệt vọng thấy, còn trong tâm tịch diệt vốn không việc này.

Thế nên câu hỏi của Đại Huệ là hỏi về các thứ tướng sai biệt của tâm hành, của nhân quả mê ngộ, sắc tâm, y báo chánh báo trong mười cõi, tóm lại không ra ngoài phàm thánh, có không. ✅ Đây là rắc rối pháp đối đãi vọng kiến phân biệt. Đâu không biết tịch diệt nhất tâm này tuyệt các đối đãi, nên kệ nói “Hoặc có hoặc không, cả hai đều lìa”. Phật sắp chỉ thẳng nguồn tâm tối cực, nên sau đây mỗi mỗi lập lại lời hỏi và bài xích đó, nói rằng phi. ✅ Đây là chính thật lìa tâm ý ý thức, ra khỏi con đường phàm thánh, chỉ có cảnh giới tự giác thánh trí của chư Phật. Tuy là bậc đại trí huệ cũng không khỏi rơi trong số câu, huống gì người khác.

Tôi cho rằng trăm lẻ tám câu này, căn cứ chung trên ba cõi rất mươi lăm loài, trên pháp có khởi cái thấy từ cú mà lập.

Nghĩa là phàm phu ngoại đạo thấy ba cõi thật là pháp có, là hữu cú; Nhị thừa thấy ba cõi là pháp không, là vô cú.

Bồ-tát thấy 3 cõi tức chân tục tục, là cũng hữu cú cũng vô cú, chỉ có Phật thấy ba cõi phi chân phi tục là phi hữu cú phi vô cú.

✅ Đây là điều chánh giáo thuyết minh, mà các tông phái ngoại đạo tự lập ra hữu vô, nhất di, câu bất câu, thường vô thường v.v… tự cú.

Mỗi tông phái chấp theo một kiến chấp, không ra ngoài phân biệt kế độ của thường tình.

Do kiến chấp của tà chánh có 8 4, cảnh bị chấp có 100 5, nên ngài Lưu-chi nói 108 kiến chấp ở trong chánh vị đều bị che.

Nếu tứ cú đã lìa thì bách phi tự trừ, lại có phiền não nào để bỏ, lại có Phật đạo nào để giữ?

Cho nên Tăng hỏi Mã đại sư: Lìa tự cú là tuyệt bách phi, xin Thầy nói thẳng cho con ý Tây lai.

Sư nói: Hôm nay ta nhức đầu, không thể nói cho ông nghe, hãy đi hỏi Trí Tạng.

Thế nào tịnh niệm kia?

Thế nào niệm tăng trưởng?

Thế nào thấy si hoặc?

Thế nào hoặc tăng trưởng? 6

✅ Đây y cứ chung trên nhất-tâm có ra hai nẻo sanh diệt - mê ngộ mà hỏi.

Đại Huệ thưa thỉnh về nghĩa trăm lẻ tám, lời đầu tiên liền hỏi bốn câu này, bởi nguồn chân nhất tâm, thánh phàm bình đẳng, trọn không có tướng sai biệt.

Nhưng theo sự phân chia mê ngộ thì có sai khác về các thứ tánh tướng, nhân quả, y chánh trong mười cõi.

Nay muốn gần cùng tột nguồn gốc của mười cõi, nên đầu tiên đưa ra kiến chấp mê ngộ.

Nghĩa là mê nhất tâm thì chánh trí biến thành vọng tưởng, như như đổi thành danh tướng; đây là chỗ hoặc niệm lớn mạnh.

Ngộ nhất tâm thì vọng tưởng tức thành chánh trí, danh tướng là như như, đây là chỗ niệm thanh tịnh thấy được si hoặc.

Bởi đều là việc bên mê ngộ, nên kinh nói: “Theo lưu chuyển thì vọng thấy sanh tử; chân lưu chuyển vọng thấy Niết-bàn”.

Đó là Đại Huệ y cứ theo đối đãi giữa mê ngộ trong cửa sanh diệt mà hỏi, nên trước đem tịnh niệm - không tịnh niệm, kiến hoặc - chẳng kiến hoặc để gãy đầu mối, mà chỗ chỉ ra về sau đều là tướng sai biệt ở trong mê ngộ.

Phật một bề y nhất tâm chân như mà đáp, cho nên sau đó, ban đầu lập lại lời hỏi, và liền bảo rằng: “Hoặc sanh hoặc chẳng sanh, Niết-bàn và không tướng, lưu chuyển không tự tánh”.

Tức hai câu sanh chẳng sanh, Niết-bàn không tướng, là lập lại hết những câu hỏi của Đại Huệ. Hai chữ “lưu chuyển” để quở hết những kiến chấp của Đại Huệ.

Nghĩa là sanh tử Niết-bàn đều là tướng hoa đốm nhọc nhằn cuồng si điên đảo, đều thuộc lưu chuyển. Và đem ba chữ “vô tự tánh” hiển bày trọn vẹn thật tướng các pháp, phá hết mọi nghi ngờ của Đại Huệ.

Song Thế Tôn tuy dùng mấy chữ này để đáp, cũng là sanh diệt đối đãi, chỗ nguồn tâm tịch diệt vốn không việc này, cho nên lặp lại câu hỏi rồi, mà mỗi mỗi nói thẳng rằng “Phi”. ✅ Đây chính là “Pháp còn phải bỏ huống gì phi pháp, hoặc có hoặc không, cả hai thảy đều lìa”. 7 Học giả hiểu rõ điều này mới có thể nhập Lăng-già.

Thế nào cõi hóa tướng?

Thế nào vô thọ thụ?

Vì sao tên Phật tử?

Ai buộc? Ai giải thoát?

Và các chúng ngoại đạo.

Giải thoát đến chỗ nào?

✅ Đây là hỏi chung về danh tướng và báo chánh báo trong mười cõi, nhân gì mà có.

Sát độ và Hóa tướng là chỉ hai cõi: Thật báo trang nghiêm độ và Phàm thánh đồng cư độ. Vì đứng về danh tướng nên không nói Tịch quang độ.

Các ngoại đạo là chỉ chung phàm phu trong ba cõi. Vô thọ thứ nghĩa là thứ lớp kế tiếp của vô thọ, để chỉ hàng tam thừa hữu học.

Vô thọ là chỉ chung tam thừa vô học. Phật tử riêng chỉ Bồ-tát. Giải thoát là Niết-bàn, buộc là sanh tử, nghĩa là ai bị trói trong sanh tử, ai giải thoát trong Niết-bàn. Niết-bàn chỉ cho Phật giới.

  1. Những gì cảnh giới thiện?
  2. Tại sao có ba thừa?
  3. Cúi mong vì giải nói.
  4. Duyên khởi chỗ nào sanh?
  5. Thế nào tác, sở tác?
  6. Thế nào đồng dị thuyết?
  7. Thế nào là tăng trưởng? 8
  8. Thế nào Vô sắc định?
  9. Và cùng diệt chánh thọ?
  10. Thế nào là tưởng diệt?
  11. Vì sao từ định giác?
  12. Thế nào là tạo các sanh?
  13. Tiến đi và giữ thân?
  14. Thế nào hiện phân biệt?
  15. Thế nào sanh các địa?

15 câu này là hỏi riêng về tướng sai biệt trong 9 cõi.

3 câu đầu hỏi hành tướng ba thừa nhân đâu mà có. Duyên khởi (4) là hỏi chánh pháp. Hai câu sau (5,6) hỏi tà kiến của ngoại đạo nhân đâu mà khởi. 2 câu (7,8) hỏi nhân quả ba cõi nhân đâu mà có. 2 câu (9,10) hỏi Tiểu thừa nhân gì mà ưa trụ tịch tĩnh không ưa thuyết pháp. 4 câu (11,12,13,14) hỏi Bồ-tát Đại thừa nhân gì mà ưa thuyết pháp độ sanh. Câu (15) hỏi Bồ-tát nhân gì mà lập địa vị danh mục.

Phá ba cõi là ai?

Vãng sanh đến chỗ nào?

Chỗ nào, thân thế nào?

Thế nào tới thắng tứ,

Nhân gì được thần thông?

Và tam-muội tự tại?

Thế nào tâm tam-muội?

Tối thắng vì con nói?

Tám câu này đặc biệt hỏi hành tướng của Tam thừa.

Nghĩa là hàng Tam thừa làm sao ra khỏi ba cõi? Đã ra khỏi ba cõi lại sanh về chỗ nào? Đã bỏ thân này lại thọ thân nào? Rốt ráo trụ chỗ nào? Tại sao gọi Bồ-tát là đệ tử Phật? Có gì lại nói có việc thần thông tam-muội? Chẳng biết tâm Tam-muội là tướng trạng nào?

  1. Thế nào tên là tạng?
  2. Thế nào ý và thức?
  3. Thế nào sanh và diệt?
  4. Thế nào thấy rồi hoàn?
  5. Thế nào là chứng tánh?
  6. Phỉ chúng và tam tạng?
  7. Thế nào kiến lập tướng?
  8. Và cùng nghĩa phi ngã?
  9. Thế nào không chúng sanh?
  10. Thế nào thế tục nói?
  11. Thế nào là đoạn kiến?
  12. Và thường kiến chẳng sanh?
  13. Thế nào Phật, ngoại đạo?
  14. Tướng ấy không trái khác
  15. Thế nào là đời vị lai?
  16. Có các thứ dị bộ?

Mười sáu câu này hỏi tổng quát tâm tánh là một mà tại sao cái thấy của chúng sanh khác nhau nhiều thứ.

Bốn câu đầu, nghĩa là Như Lai tạng tâm là một, tại sao lại gọi tên tạng thức, lại gọi tên ý và ý thức? Tại sao lại nói vọng kiến sanh diệt, lại nói tâm chẳng sanh diệt?

Thấy rồi hoàn (kiến dĩ hoàn), Ngụy dịch là đoạn các kiến chấp (đoạn sở kiến), Đường dịch là rút lui các kiến chấp (thoái chư kiến), đều là nghĩa chăng sanh diệt.

Kế đến hai câu (5,6) nghĩa là phàm thánh đồng có một tâm đây, thế tại sao lại nói bậc Tam thừa là chủng tánh, còn ngoại đạo xiển-đề là phi chủng tánh?

Như vậy là nói tâm kia đều có hạn lượng ư? Kế đến ba câu (7,8,9) nghĩa là tâm đã vô tướng, nhân đâu mà lập tướng ngã nhân chúng sanh.

Vì đâu lại nói không có tướng ngã nhân chúng sanh? Kế đến năm câu (10,11,12,13,14) nghĩa là phàm phu ngoại đạo trong ba cõi vì đâu khởi hai kiến chấp đoạn thường?

Câu Thế tục nói tức là hai kiến chấp đoạn thường của phàm phu ngoại đạo. Lại như thế nào được chẳng sanh hai kiến?

Thế nào được Phật và chúng sanh bình đẳng không hai? Kế hai câu (15,16) nghĩa là Phật đã có giáo pháp, sau Phật diệt độ lại có các thứ lại khởi các kiến chấp khác (các bộ phái)?

Thế nào không, nhân gì?

Thế nào sát-na hoại?

Thế nào thai tạng sanh?

Thế nào thể bất động?

Nhân gì như huyễn mộng?

Và thành Căn-thất-bà?

Thế gian như sóng nắng.

Và như trăng trong nước.

Nhân gì nói Giác chi?

Cùng với Bồ-đề phần?

Thế nào quốc độ loạn?

Thế nào khỏi Hữu kiến?

Mười hai câu này là hỏi chung thế giới chúng sanh đều là pháp hữu tướng, nhân gì mà có sanh diệt, bất sanh diệt, thường với vô thường, chơn vọng chẳng đồng vậy. (Hai câu đầu, bản Ngụy dịch: Thế nào gọi là không, thế nào niệm chẳng dừng? ✅ Đây là hỏi thế giới y báo vì sao mà có thành, trụ, hoại, không; riêng đưa lên hoại, không mà gồm thành, trụ.)

Câu “Thế nào thai tạng sanh” hỏi chúng sanh, chánh báo thế nào mà có sanh tử trôi lăn; nếu sanh đẻ thâu nhiếp tử vậy.

Câu “Thế nào thể bất động” nghĩa bao quát ở trên là hiện thấy chúng sanh thế gian có biến đổi vô thường vì sao lại nói thường trụ bất động.

Chữ “thể” là chỉ thế gian hữu tình và vô tình.

Bốn câu kế tự “Nhân gì như huyễn mộng”, (bản Đường dịch: “Thế nào các thế gian, như huyễn lại như mộng…”) ý muốn nói rằng, chúng sanh thế giới, các pháp hữu vi hiện nay thật có, vì sao nói như huyễn… chẳng thật?

Hai câu “Nhân gì nói Giác chi cùng với Bồ-đề phần” nghĩa thế nào là giác ngộ các pháp thế gian chẳng thật thường thì thường trụ, ấy là chánh trí.

Giác chi, Bồ-đề chỉ chung chánh trí. Hai câu “Thế nào quốc độ loạn, thế nào khỏi hữu kiến”, nghĩa là thế nào thấy các pháp thế gian là thật có vô thường, gọi là hữu kiến.

Loạn là sanh diệt không dừng, hữu kiến là vọng tưởng phân biệt.

Trên đây hỏi chung về danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí.

Dưới hỏi “như như”.

Thế nào chẳng sanh diệt?

Thế nào hoa hư không?

Thế nào giác thế gian?

Thế nào lìa văn tự?

Lìa vọng tưởng là ai?

Thế nào thị hư không?

Sáu câu này hỏi về như như.

Bản Đường dịch:

Thế nào biết thế gian.

Thế nào lìa văn tự.

Thế nào như không hoa.

Chẳng sanh cũng chẳnh diệt.

Ý nói rằng thế nào ngộ được các pháp sanh diệt của thế gian đương thể là như như? Lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, như hoa đốm trong hư không, chẳng sanh chẳng diệt, xa lìa mọi vọng tưởng phân biệt, cùng như hư không, tức là chân như vậy.

Trên hỏi chung tướng sanh khởi của năm pháp, ba tự tánh.

Sau đây hỏi về tướng sai biệt.

Như thật có mấy thứ?

Mấy tánh Ba-la-mật?

Nhân gì qua các địa?

Ai đến vô sở thọ?

Những gì hai vô ngã?

Thế nào nhĩ diệm tịnh?

Các trí có mấy thứ?

Mấy giới chúng sanh tánh?

Tám câu này riêng hỏi tướng sai biệt của chánh trí như như.

Bốn câu đầu nói rằng mê thật chân như là một, vì sao lại có đốn tiệm tu chứng không đồng, nên nói: “Như thật có mấy thứ?” Mấy tánh Ba-la-mật là nhân hạnh sai khác. Các địa nghĩa là giai cấp địa vị. Độ là vượt qua; nghĩa là nhân gì được chóng vượt các địa. Đến vô sở thọ, là hỏi về Phật địa rốt ráo.

Bốn câu sau từ “Những gì…” là hỏi sai biệt của chánh trí. Hai ngã 9 là phiền não chướng, nhĩ diệm tức sở tri chướng.

Ngài Thật-xoa nói: “Thế nào sở tri được thanh tịnh,” bởi câu Hai vô ngã, Tịnh sở tri là dùng chánh trí phá hai chướng. Chánh trí đã là một, vì sao lại có theo căn cơ trao pháp, nên hỏi Trí có bao nhiêu thứ. Chúng sanh căn tánh chẳng phải một, có bao nhiêu cách dạy răn?

Từ câu hỏi đầu đến đây, căn cứ chung trên nguồn chân nhất tâm, đứng về mặt mê ngộ đối đãi mà có năm pháp: Danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như, sai biệt không đồng; để hiển bày tướng nhân quả y báo chánh báo trong mười giới. Ý hiển bày không lìa nhất tâm mà đều trở về như như chánh trí.

Sau đây từ “Ai sanh các bảo tánh” trở xuống cho đến hết câu hỏi, chỉ hỏi các pháp: danh, tướng, vọng tưởng, duyên khởi, thành phẩm, y chánh, đại tiểu, nhiễm tịnh, tánh niệm tánh dục, âm thanh, sắc tướng, các thứ sai biệt chẳng đồng.

Ai sanh các bảo tánh?

Châu ma-ni

Ai sanh các ngôn ngữ?

Các thứ tánh chúng sanh.

Minh xứ và kỹ thuật

Ai là người hiển bày?

Minh xứ kỹ thuật là hỏi về Ngũ minh. Học thuật ở Ấn Độ, lấy đây làm tiêu chuẩn, cho nên có luận Ngũ minh:

  1. Thanh minh: Học về ngôn ngữ, văn tự cổ kim.
  2. Công xảo minh: Máy móc kỹ thuật, âm dương lịch số.
  3. Y phương minh: Chú thuật tà, thuốc men, luyện đá, luyện kim, luyện ngải.
  4. Nhân minh: Khảo định tà chánh, xét nghiệm chân nguy.
  5. Nội minh: Nghiên cứu bàn luận diệu lý nhân quả của năm thừa.

Ba cái trước là học vấn kỹ thuật bên ngoài, hai cái sau là nội giáo.

Già-đà có mấy thứ?

Trường tụng và đoản cú.

Thành ra bao nhiêu thứ?

Thế nào gọi là luận? 10

Thế nào sanh ăn uống?

Và sanh các ái dục?

Thế nào gọi là vua?

Chuyển luân và Tiểu vương?

Thế nào gọi hủ quốc?

Chủ thiên có mấy loại?

Thế nào gọi là địa?

Tinh tú và trời trăng?

Bậc tu hành giải thoát

Là có bao nhiêu bậc?

Đệ tử có mấy loại?

Thế nào A-xà-lê?

Phật lại có bao nhiêu?

Lại có mấy loại sanh?

Ma và các dị học

Kia mỗi thứ bao nhiêu?

Tự tánh cùng với tâm

Kia mỗi thứ mấy loại?

Thế nào thì thiết lượng?

Xin bậc tới thẳng nói

Trên đây đều là danh, tướng, vọng tưởng.

Bởi ngôn ngữ, ăn uống, ái dục, tâm tánh thuộc vọng tưởng; những điều còn lại thuộc danh tướng. Và lại hỏi “Nhân gì mà khởi” là đều hỏi về duyên khởi.

A-xà-lê Trung Hoa dịch là Quỹ phạm sư. Phật thì có pháp thân, báo thân, hóa thân nên hỏi Phật có bao nhiêu đời sống.

Thế nào hư không, gió, mây? 11 Thế nào niệm thông minh?²

Câu này nhân ở trước nói tâm tánh là một, vì sao có sự khác biệt giữa niệm và tuệ.

Thông minh tức là Huệ trong năm môn biệt cảnh. Cho nên bản dịch Ngụy “Nhân gì có điềm huệ”.

Bản dịch Đường nói “Niệm trí nhân gì mà có”.

✅ Đây cũng thuộc vọng tưởng.

Thế nào là rừng cây?

Thế nào là cỏ rậm?

Thế nào voi, ngựa, nai?

Thế nào mà bắt giữ?

Thế nào là nhỏ hẹp?

Nhân gì mà nhỏ hẹp?

Thế nào lục tiết nhiếp? 12

Thế nào Nhất xiển-đề? 13

Nam nữ và chặng nam?

Đây do thế nào sanh?

Thế nào tu hành thối?

Thế nào tu hành sanh? 14

Thiền sư dùng pháp gì?

Kiến lập những người nào? 15

Chúng sanh sanh các nẻo,

Tướng gì, tướng loại gì?

Thế nào là tài phủ?

Nhân gì đến tài phủ?

Thế nào là Thích chủng?

Nhân gì có Thích chúng?

Thế nào dòng Cam-giá?

Xin bậc Vô thượng nói.

Dòng Cam-giá là dòng Cồ-đàm. Bản chú xưa dẫn kinh Bổn Hạnh nói: Hồi kiếp ban sơ, vua Đại Mao Thảo tu thành vua tiên, bị thợ săn bắn nhầm, máu chảy trên đất sanh ra hai cây mía, hấp thụ ánh mặt trời bèn tách ra, một thành đồng nam một thành đồng nữ. Xem thấy tướng lập dòng nam tên Thiện Sanh, liền làm lễ quán lãnh làm vua dòng Cam-giá, đồng nữ tên Thiện Hiền là vương phi thứ nhất. Dòng họ Thích, Cồ-đàm tức là dòng dõi này. Đại Huệ hỏi dòng Cam-giá nhân gì mà có.

Thế nào là tiên Trường Khổ?

Kia dạy bảo thế nào? 16

Như Lai vì sao hiện,

Tất cả thời nơi chốn?

Các thứ danh sắc loại.

Tới thẳng tứ vây quanh.

Vì sao không ánh mặt trời?

Vì sao cầm ăn thịt?

Ẩn các thứ môn thịt.

Nhân gì mà ăn thịt?

Từ câu “Ai sanh các bảo tánh” đến đây là hỏi sự bất đồng của vạn vật trong trời đất; thánh phàm khác biệt, tâm hành dục không phải một, đây đều do nhân gì mà có?

Lời hỏi không thứ lớp, nhưng ý không ngoài việc này. Nếu xem phẩm Vấn Minh trong Hoa Nghiêm, ắt là biết quy thú trong đây vậy.

Thế nào hình nhật nguyệt?

Tu-di và Liên hoa?

Cõi thẳng tướng sú tứ

Thế giới nghiêng, đứng, úp

Như vòng trời Đế Thích

Hoặc các thứ trân bảo

Không hầu, trống lưng eo

Hình trạng các thứ hoa

Hoặc là sáng trời trăng

Như thế nhiều vô lượng

✅ Đây là hỏi cõi Phật an lập hình trạng chẳng đồng. Phẩm Hoa Tạng thế giới diễn tả điều này rất rộng, cho nên kết luận nói: “Như thế nhiều vô lượng.” Nhân-đà-la (Indra) Trung Hoa dịch là lưới, lúc lưới đế vương, nghĩa là cung điện Đế-thích có lưới bằng các trân bảo, tủy trăm ngàn lớp mà không chướng ngại nhau, dung nhiếp xen ẩn, ánh sáng giao thoa la liệt. Thế giới cũng như vậy.

Thế nào là Hóa Phật?

Thế nào là Báo Phật?

Thế nào Như như Phật?

Thế nào Trí huệ Phật?

✅ Đây hỏi Phật chỉ là Nhất chân, vì sao mà danh nghĩa chẳng đồng?

Tùy cơ ứng hiện khắp nơi là Hóa Phật. Báo đáp nhân xưa là Báo Phật. Thể tánh không hai là Chân như Phật. Bốn giác hiển chiếu là Trí huệ Phật, nhưng thể tánh như trí huệ là Pháp thân, danh nghĩa tuy bốn chủng đều bá thân.

Thế nào ở Dục giới,

Không thành Đẳng chánh giác?

Cớ sao Sắc cứu cánh,

Lìa dục được Bồ-đề?

Phật đã hiện thân cùng chịu khổ như dân chúng, vì sao không ở Dục giới thành Phật mà ở cõi trời Hữu đảnh, chỗ ly dục mà thành đạo Bồ-đề?

Thiện Thệ nhập Niết-bàn

Ai sẽ giữ chánh pháp?

Thiên sư trụ bao lâu?! 17

Chánh pháp trụ mấy năm?

✅ Đây hỏi bậc pháp chủ trụ thế lâu mau, và sau khi diệt độ ai sẽ giữ gìn chánh pháp. Giữ chánh pháp là lưu truyền chánh pháp nhân tạng.

Tát-đàm cùng với kiến.

Mỗi thứ lại có mấy?

Tỳ-ni, Phần Tỳ-kheo.

Thế nào? Nhân duyên gì?

✅ Đây là hỏi sự sai biệt của pháp.

Tát-đàm, Trung Hoa và Ấn Độ đều nêu, Tát là biện, Đàm Trung Hoa dịch là Thí, nghĩa là Phật dùng các pháp cho khắp chúng sanh, nên gọi là Tát-đàm. Bốn pháp là: Pháp nhân, đối trị, đệ nhất nghĩa, thế tục. Tông Chỉ Quán nói rõ. Kiến là căn cơ được rõ ràng. Mỗi căn cơ lại có mấy loại. Tỳ-ni, Trung Hoa dịch là Luật. Tỳ-kheo Phần là 250 giới Tỳ-kheo. Hỏi Tỳ-ni như thế nào. Vì sao lại nói Phần Tỳ-kheo?

Các Tối thẳng tứ kia.

Duyên giác và Thanh văn.

Nhân gì trăm biến dị;

Thế nào trăm vô thọ?

Thế nào thế tục thông?

Thế nào xuất thế gian?

Thế nào là Thất địa?

Cúi xin vì giảng nói.

✅ Đây hỏi về người và pháp trong ba thừa nhân gì mà sai biệt.

Đường dịch:

Tất cả các Phật tử

Độc giác và Thanh văn

thế nào chuyển sở y

Thế nào được thế thông

Thế nào được xuất thế

Lại do vì nhân gì

Tâm trụ trong Thất địa

Căn cứ theo đó thì biết hai câu ‘Trăm biến dị, trăm vô thọ’ nghĩa là Bồ-tát Sơ địa nhân gì có thể hiện thân ở trăm cõi Phật, được trăm món Tam muội. Vô thọ tức là Tam-muội vậy. Thế tục thông nghĩa là bậc thánh Ngũ địa nhân gì mà được thông đạt thế tục vào đời lợi sanh. Thất địa là Viễn hành địa, gọi là xuất thế gian.

Tăng-già có mấy thứ?

Thế nào là hoại Tăng?

Thế nào luận y phương?

Lại là nhân duyên gì?

✅ Đây là hỏi sự sai biệt của Tăng-già, và pháp ứng cơ không phải một.

Hoại Tăng là người không giữ đủ giới. Luận y phương chẳng phải y phương của thế tục, mà nói Phật là bậc y vương của ba cõi, lời thuyết pháp tùy cơ lập bày như tùy bệnh cho thuốc nên gọi là luận y phương. Kinh Đại Bát Niết Bàn có thầy thuốc cũ, thầy thuốc mới. Pháp Hoa có dụ về thầy thuốc. (Đường dịch: “Thuyết giảng rộng luận y phương” là biết đây nói về Phật pháp. ) Từ câu “Thế nào là Hóa Phật” đến đây là hỏi chung Tam bảo nhân gì mà có sai biệt.

Cớ sao Đại Mâu-ni

Ca-diếp, Câu-lưu-tôn

Xuống nói lời thế này

Câu-na-hàm là ta?

✅ Đây hỏi nhân trước nói Phật có tứ đẳng danh nghĩa không đồng, nhân gì lại nói Ca-diếp và các Phật là ta không khác?

Cớ gì nói đoạn, thường

Sao không ở mọi thời

Mà lại vì chúng sanh

Và cùng ngã vô ngã

Diễn nói nghĩa chân thật

Phân biệt nói tâm lượng?

✅ Đây là nhân trước nói về pháp sai biệt, nên lại hỏi về sự bất đồng giữa tà chánh, quyền thật. Doanh thường-ngã là tà tông ngoại đạo. Vô ngã là chánh pháp của Phật. Tâm lượng là tâm sở vọng tưởng phân biệt. Ý rằng vì sao nói đoạn, thường và ngã là tà tông, vì sao nói vô ngã là chánh pháp. Nhưng vô ngã đã là chân thật, vì sao không trước sau chi nói về pháp chân thật đó, mà lại vì chúng sanh nói pháp tâm sở vọng tưởng không thật?

Nhân gì rừng nam nữ

Ha-lê, A-ma-lặc?

✅ Đây hỏi về sự khác biệt của rừng rậm, cây trái.

Rừng nam nữ, cũng gọi rừng Thi-đà. Trái nó như hình người nam người nữ. Khi chín thì nhan sắc đẹp đẽ, chẳng bao lâu rụng, hình trạng như tử thi, hôi thối khó ngửi. Các đệ tử Phật hay vào rừng này để tu quán bất tịnh. Đại Huệ hỏi rừng này nhân đâu mà có. Ha-lê, A-ma-lặc là tên hai thứ quả đều có thể làm thuốc.

Xưa gọi là Ha-lê-lặc, nay gọi là Ha-lê-hăng-kê. Trung Hoa dịch “Từ trời đắc biệt đến”. A-ma-lặc, thật ra như hồ đào. Ý nói rằng cùng một loại trái cây, vì sao lại như hình nam nữ.

Kê-la và Thiết-vi

Vô lượng bảo trang nghiêm

Kim Cang thảy các núi

Tiên Đạt-bà sung mãn

✅ Đây hỏi về chúng Bát bộ vì sao không ở nhân gian thiên thượng mà ở trong núi Thiết-vi bảy lớp vàng.

(Đường dịch: “Tiên nhân Càn-thát-bà, tất cả đều sung mãn. Đây đều nhân duyên gì. Nguyện Phật vì con nói”.)

Những câu hỏi trên đây của Đại Huệ trừ chỗ chấp, chỉ lấy những chữ vân hà, hà nhân, hà cố, hà đẳng, thuyết làm nghĩa thì có 130 câu hơn. Ý nghĩa trong đó không ra ngoài mười cõi bốn môn 18. Mà lời đáp của Phật, chỉ nhất tâm chân như thôi một pháp chẳng lập cho nên mỗi mỗi đều nói “phi”. Nếu y sanh diệt môn duy thức kiến lập thời y chí toàn kinh đều là câu đáp riêng cho lời hỏi này thôi.

Tuy kinh truyền sang chữ Hán, nhưng lời văn trong 4 quyển này nói về năm pháp, 3 tự tánh, tâm thiện thức, 2 vô ngã, chỉ thú khai hợp danh nghĩa của 4 môn này đã đủ. Người đọc xem văn hiểu ý, tự sẽ chứng đắc.

  • Sau đây Thế Tôn lập lại mà đáp. Trước lập lại sau đáp.

C₂ - Đáp

D₁ - Lặp lại

Vô Thượng Thế gian giải

Các độ môn Đại thừa

Hỏi rất tốt, lành thay!

Nay ta sẽ thứ lớp

Nghe lời kệ kia nói

Chư Phật tâm đệ nhất

Đại Huệ khéo lắng nghe

Đáp theo như lời nói

✅ Đây là lời người kết tập trình bày và lời hứa khả khen ngợi của đức Phật.

Một bài kệ đầu, bản dịch Đường nói: “Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nghe chỗ thưa thỉnh về pháp môn tối thượng Đại thừa Phật tâm vi diệu”.

Về chỗ hỏi của Đại Huệ là tướng sai biệt y báo chánh báo trong mười cõi, chính là cảnh giới phân biệt vọng kiến của hàng Tam thừa, phàm phu, ngoại đạo. Thật là Bồ-tát Đại Huệ nhân đó mà khởi nghi. Bởi không biết các pháp như thế nhân gì mà có, cho nên đưa ra những câu hỏi này. Song người kết tập liên chỉ là pháp môn tối thượng Phật tâm vi diệu.

Vì sao? Kinh Kim Cang Bát-Nhã nói: Tất cả thiện tâm đều do pháp vô vi mà có sai biệt, huống chi chúng sanh mười giới. Nghĩa là tất cả phân biệt đều là phân biệt tự tâm, nếu phân biệt chẳng sanh ngay đó tức là tự giác thánh trí của chư Phật. Cho nên những câu hỏi nhân quả tà chánh, y báo chánh báo của thánh phàm, tự tánh thường trụ, đều tức là Phật tâm vi diệu, chẳng phải con mắt trí thầy rõ thì làm sao nêu được chỗ này? Thế nên đặt vào phần mở đầu như vậy.

🪷

Sanh cùng với bất sanh

Niết-bàn, không, sát-na

Tiến đến vô tự tánh

GIẢI

✅ Đây là Thế Tôn nắm tổng quát ý nghĩa các câu hỏi của Đại Huệ.

Nghĩa là tuy hỏi nhiều thứ, không ra ngoài sanh và vô sanh, Niết-bàn, không tướng vậy. Sát-na là sanh diệt lưu chuyển.

Tiến đến là cứu cánh.

Đường dịch:

🪷

Hoặc sanh hoặc chẳng sanh.

Niết-bàn và không tướng.

Lưu chuyển không tự tánh

GIẢI

Nghĩa là thế gian, xuất thế gian này đều là pháp vọng kiến lưu chuyển sanh diệt, mỗi mỗi rốt ráo vốn không tự tánh.

✅ Đây là lặp lại tổng quát cương lãnh của ý ấy mà thầm đáp rồi vậy. Có thể thấy nghĩa này ở lời chú trước. Vì sao sau đây lại mỗi mỗi đều tóm thuật lời hỏi của Đại Huệ?

Do lời hỏi trước hoặc so lược hoặc thiếu sót. Thế Tôn bổ túc mà nêu ra, cũng là xen nhau phát minh. Nhưng lời đức Phật tuy tiện nên lẫn lộn không theo loại, mà ý ấy tự trọn vẹn.

🪷

Chư Phật, Ba-la-mật.

Phật tử và Thanh văn.

Duyên giác các ngoại đạo.

Và cùng Vô sắc hạnh.

Các thứ việc như thế.

GIẢI

✅ Đây là tóm gọn những câu hỏi của Đại Huệ.

Nghĩa là tuy hỏi nhiều không ngoài nhân quả của nhân pháp trong mười cõi. Phật, Phật tử, Thanh văn, Duyên giác là tự thánh. Vô sắc gồm sáu trời thiền đạo.

Ngoại đạo là gồm hết người và tam đồ, vì tà hạnh của ngoại đạo là nhân của tam đồ, đây đều là người. Ba-la-mật là pháp của tự thánh. Vô sắc hạnh là gồm cả pháp của ngoại đạo và lục phàm. Nhân quả, y báo, chánh báo đều đầy đủ cho nên nói “Các thứ việc như thế”. Ý rằng chỗ hỏi của Đại Huệ không ngoài đây. Phần sau mỗi mỗi thuật lại lời kia.

🪷

Núi Tu-di, biển cả,

Châu, đảo, cõi nước, đất,

Tinh tú và trời trăng.

Ngoại đạo, thiên, tu-la.

GIẢI

✅ Đây là thuộc về câu hỏi chư thiên có mấy thứ, thể nào gọi là địa, tinh tú và trăng sao, lặp lại ý chỉ 3 cõi 6 phàm.

🪷

Giải thoát tự tại thông,

Lực, thiền, tam-ma-đề,

Định và như ý túc,

Giác chi và đạo phẩm

Các thiền định vô lượng.

GIẢI

✅ Đây thuộc về câu hỏi Thế nào nói Giác chi với Bồ-đề phần. Xen vào rộng thêm ba mươi bảy phẩm trợ đạo thuộc pháp tự thánh.

🪷

Các ấm thân qua lại

Chánh thọ, Diệt tận định

GIẢI

Thuộc câu Và cùng diệt chánh thọ hai câu.

Tam-muội khởi tâm nói

Thuộc câu Nhân gì từ định giác bốn câu.

🪷

Tâm, ý và cùng thức,

Pháp vô ngã có năm,

Tự tánh tướng, chỗ tướng,

Và cùng hiện hai chấp,

Thừa và các chúng tánh.

GIẢI

Thuộc về câu Thế nào gọi là tạng đến nghĩa phi ngã, 8 câu tổng hợp lại 4 môn.

Vàng bạc, ma-ni, v.v… Thuộc về câu Ai sanh các bảo tánh.

Nhất-xiển-đề đại chúng

Thuộc về câu Thế nào nhất- xiển-đề. Song, đại chúng là chỗ không hỏi, bởi ý Thế Tôn chỉ cho xiển-đề ngoại đạo chấp đại chúng là sanh nhân, không phải đặc biệt nói về tứ đại.

Hoang loạn và nhất Phật. Trí, nhĩ diệm, đắc, hướng.

Hoang loạn thuộc về câu Thế nào quốc độ loạn. Nhất Phật thuộc về câu Ca-diếp… là ta. Trí, nhĩ diệm thuộc hai câu là Nhĩ diệm tịnh. Đắc, hướng thuộc câu Giải thoát tu hành.

Chúng sanh có không có Thuộc câu Và cùng ngã vô ngã.

Voi ngựa các cầm thú, Làm sao mà bắt lấy.

Thuộc câu Thế nào voi ngựa nai, làm sao mà bắt giữ.

Thí, nhân thành Tất-đàn, Và cùng tác sở tác.

Thuộc câu Tất-đàn và kiến chấp, Đường dịch là “Thế nào nhân, thí dụ, tương ưng thành Tất-đàn”.

Nghĩa là tứ Tất-đàn đều nhân thí dụ mà thành cho nên gồm ý mà nói lược; Tác, sở tác đều thuộc vọng kiến.

Tòng lâm, mê hoặc, thông, Tâm lượng chẳng hiện hữu.

Câu trên thuộc câu Thế nào thế tục thông nghĩa là tâm tướng tà kiến của chúng sanh dày đặc như rừng. Câu sau thuộc về hỏi Thế nào xuất thế gian. Bản dịch…

Bản Đường: “Các rừng cùng với mê hoặc, lý chân thật như thế, chỉ có tâm không cảnh giới”. Bản dịch Ngụy: “Tưởng mê hoặc như thật, chỉ là tâm, không có cảnh giới”.

✅ Đây là trùng lặp để nêu ra ý nghĩa vậy.

Các địa không đến nhau Thuộc câu Nhân gì qua các địa.

🪷

Trăm biển trăm vô thọ,

Luận y phương công xảo,

Kỹ thuật các minh xứ,

Theo văn có thể biết.

GIẢI

Sau đây từ Các núi Tu-di, đất cho đến mao không mi mao… là chỗ Đại Huệ hỏi không tới, đức Thế Tôn chỉ ra để nêu lên.

🪷

Các núi, Tu-di, dạ,

Chúng sanh thượng trung hạ,

Mỗi thân mấy vi trần.

Mỗi cõi có mấy trần,

Mỗi cung số có mấy?

Xạ bộ Câu-lư-xá,

Nửa Do-diên, Do-diên,

Thố mao, song trần, rận.

Dương mao, khoáng mạch trần

GIẢI

7 cực vi trần thành một song trần 19, 7 song trần thành một thố mao đầu trần 20, thố mao đầu trần thành một dương mao đầu trần 21, 7 dương mao đầu trần thành một ngưu mao đầu trần 22.

7 ngưu mao đầu trần thành một con rận, 7 con rận thành 1 con chí, 7 con chí thành một hạt cải, 7 hạt cải thành đại mạch, 7 đại mạch thành một lóng tay, bảy lóng tay thành nửa thước, 2 nửa thước thành một thước, 2 thước thành một khuỷu tay, 4 khuỷu tay thành một cung, năm cung thành một trượng, 20 trượng thành một tức, 80 tức thành một câu-lư-xá (Krosa), 80 câu-lư-xá thành một đo tuần, do diên là do tuần.

✅ Đây căn cứ lời chú xưa theo Phạn ngữ.

🪷

Bát-tha mấy khoáng mạch?

Độc long, na-khư-lê,

Cho đến tần-bà-la

A-la mấy khoáng mạch?

Lặc-xoa và cử-lợi,

Mỗi cái bao nhiêu số.

GIẢI

Bát-tha (Prastha) là một thăng, a-la là một đấu, độc long (Drona) là một hộc (10 đấu = 1 hộc), na-giả-lợi (Khsa) là 10 hộc, lặc-xoa (Laksh) là một vạn, cử lợi (Koti) là 1 ức, tần-bà-la (Vinivana) là một triệu, nghĩa là bao nhiêu khoáng mạch thành một thăng, bao nhiêu khoáng mạch thành một đấu, mấy thứ kia cũng vậy.

🪷

Có bao nhiêu A-nậu,

Gọi là xá-lê-sa-bà.

Bao nhiêu xá-lê-sa-bà,

Gọi là một lại-đề;

Bao nhiêu lại-đề là một ma-sa,

Bao nhiêu ma-sa thành đa-na,

Bao nhiêu đa-na thành ca-lê-sa-na.

Bao nhiêu ca-lê-sa-na thành một ba-la.

Tưởng tích tụ như thế.

Mấy ba-la một di-lậu?

GIẢI

A-nậu cũng là trần (bụi), xá-lê-sa-bà là hạt cải, lại-đề là hạt cỏ, ma-sa là hạt đậu, đà-na (Dharan) là thù (24 thù = 1 lạng), ca-lê-sa-na (Karska) là lạng, ba-la (Pala) là cân, di-lậu là núi Tu-di. Nghĩa là bao nhiêu ký-lô hạt bụi thành núi Tu-di. Bản Đường: “Bao nhiêu ký-lô thành Tu-di”. Những điều này căn cứ chú xưa.

🪷

Những thứ đó đáng hỏi,

Thanh văn, Bích chi Phật,

Mỗi thứ bao nhiêu số

Hỏa diệm mấy a-nậu,

Mỗi cặn mấy a-nậu.

Có bao nhiêu a-nậu.

Vì sao hỏi việc khác.

Phật và tôi thắng trí

Sao không hỏi chỗ này?

Gió có mấy a-nậu

Lỗ chân lông, lông mày.

GIẢI

Từ Các núi Tu-di, đất đai đến đây cộng có 38 câu, so sánh ra 32 việc đều là chỗ Đại Huệ hỏi chưa tới.

Cho nên Thế Tôn đặc biệt tiêu biểu để nêu ra, và trách tại sao không hỏi đó. Vì sao? Như các phẩm Hoa Nghiêm đều là do sức Phật gia bị cho Bồ-tát nói ra.

Đến như phẩm A-tăng-kỳ, là Phật đích thân nói. Vì đó là việc rất vi tế, chẳng phải bậc Nhất thể chúng trí thì không thể biết hết thấy hết, chẳng phải chỗ biết của Bồ-tát, không biết nên hỏi không tới. Nếu như không hỏi tới thì ngoài tâm có pháp du. Nên phải nêu riêng để hiển bày tự giác thánh trí, thấu triệt các pháp không sót.

Tin chắc rằng chỗ thấy biết của Phật, biết hết số giọt mưa trong cõi Diêm-phù-đề. Hiện tiện từng hạng gà công, hạc trắng qua đen đều biết rõ nguyên nhân. Nhưng núi Tu-di là chỉ sổ lược tướng chung của y báo, còn cung bộ, vị trần là tướng riêng. Hàng thánh nhân trong ba thừa thân có lớn nhỏ, thân là tướng chung của chánh báo, nhưng số lượng vị trần mao không là tướng riêng. Ý trách Đại Huệ chỉ biết tướng tổng quát của các pháp, không biết tướng riêng. Thế là chỉ biết tướng chung mà không đạt tứ tướng, đó là mê tự tâm hiện lượng lắm vậy. Cho nên dùng trí sâu xa vi tế để phát minh việc này.

Văn sau lại nêu câu hỏi Đại Huệ.

🪷

Vua Tự tại, hộ tài

Thế nào vua thứ hộ,

Nói rộng và nói hẹp

Chúng sanh các thú dục,

Thế nào rừng nam nữ,

Thế nào như huyễn mộng,

Thế nào núi, tiên, thiên,

Giải thoát đến chỗ nào.

Thế nào cảnh giới thiện,

Thế nào không nhân tác

Hữu nhân vô nhân tác

Vua Chuyển luân thánh đế

Thế nào là giải thoát,

Như lời hỏi của ông,

Các thứ món ăn uống,

Núi Kim Cang vững chắc,

Dụ nai rừng khát ái

Càn-thát-bà trang nghiêm 23

Ai cột, ai giải thoát

Biến hóa và ngoại đạo,

Thế nào như thật tác

Và phi hữu vô nhân.

GIẢI

Chỗ xưa, 4 nhân đây thuộc về thế nào câu dị thuyết ở trên.

🪷

Thế nào hiện rồi diệt

Thế nào tịnh các giác,

Và chuyển các sở tác.

GIẢI

Thuộc về câu Thế nào tịnh niệm kia, thế nào niệm tạng trưởng.

Thuộc về thế nào thấy rồi hoàn.

Thế nào các giác chuyển

Thế nào đoạn các tưởng

Phá ba cõi là ai.

Thế nào không chúng sanh

Thế nào thể tục nói.

Thế nào Tam-muội dậy,

Chỗ nào, thân thế nào,

Mà nói có tôi, ta.

Thuộc 4 câu thế nào kiến lập…

Cuối xin rộng phân biệt.

2 bản dịch đều không có câu này.

Chỗ hỏi tướng thế nào,

Và chỗ hỏi phi ngã.

✅ Đây cũng còn thuộc nghĩa 4 câu kiến lập.

Thế nào là thai tạng,

Và các thứ thân khác

Thuộc câu Các thứ tướng sắc thân.

Thế nào đoạn thường kiến

Thế nào tâm được định

Thuộc câu Thế nào tâm tam-muội.

Ngôn thuyết và các trí,

Giới, chúng tánh, Phật tử

Thuộc 2 câu Ai sanh các ngôn ngữ, và 2 câu

Các trí có mấy thứ, bao nhiêu giới, tánh chúng sanh.

Thế nào thành và luận?

Thuộc câu Thành có mấy thứ, thế nào gọi là luận.

Thế nào thấy đệ tử

Mỗi mỗi các chúng sanh

Đầy lại như thế nào

Thế nào là ăn uống

Thuộc 2 câu Đệ tử có mấy thứ, thế nào A-xà-lê. 3 câu sau đều thuộc về ý của các câu nam nữ và bất nam, và ý 4 câu chúng sanh sanh các đường.

Thông minh, ma, thi thiết

Thuộc 6 câu Ma và các dị học trở xuống, và câu:

Thế nào niệm thông minh.

Thế nào cây cất dựng (dây leo)

Thuộc 2 câu Thế nào là rừng cây, thế nào là cỏ rậm.

Chỗ hỏi Tối thắng tử

Thế nào các cõi nước?

Thuộc câu Hình tướng các cõi nước, đây cũng thuộc về ý của câu:

Cớ gì sát độ hóa

Tiên nhân trường khổ hạnh

✅ Đây thuộc 2 câu:

Thế nào trường khổ tiên

Thế nào là tộc tánh?

Đây thuộc 4 câu Thế nào là Thích chúng.

Theo thầy nào thọ học

Thuộc 2 câu Thiên sư dùng pháp gì.

Thế nào là nhỏ hẹp?

Thế nào người tu hành

2 câu này thuộc câu:

Thế nào tu hành thoái

Dục giới sao không giác

A-ca-ni-tra thành

Đây thuộc 4 câu:

Thế nào ở Dục giới không thành Đẳng chánh giác, A-ca-ni-tra Trung Hoa dịch là trời Sắc cứu cánh.

Thế nào tục thần thông?

Thuộc câu:

Thế nào thế tục thông

Thế nào là Tỳ-kheo?

Thuộc 2 câu:

Chỗ xưa, 4 nhân đây thuộc về thế nào câu dị thuyết ở trên.

🪷

Thế nào Tỳ-ni, Tỳ-kheo

Thế nào là hóa Phật,

Thế nào là báo Phật

Thế nào Phật như như

Phật bình đẳng trí huệ

Thế nào là chúng tăng?

GIẢI

Thuộc câu:

Tăng-già có mấy bậc

Phật tử hỏi như thế

Đàn, trống eo lưng, hoa

Cõi nước lịa ánh sáng.

Thuộc mười câu Thế nào hình nhật nguyệt trở xuống.

Tám địa đó có bảy

Thuộc câu Thế nào là Thất địa.

Chỗ hỏi đều như thật

Câu này và nhiều câu kia¹

Phật tử chớ cẩn hỏi

Mỗi mỗi tướng tương ưng

Xa lìa các lỗi chấp.

Năm câu này là khen lời hỏi của Đại Huệ xứng lý và không lỗi.

Nhưng ý hỏi của Đại Huệ có thứ lớp có chủ định, mà Thế Tôn lập lại, đại khái tổng quát những lời ấy, không theo thứ tự, và lập lại cũng không hết.

Nên kết luận rằng “Đây và các câu khác”, ý nói rằng chỗ hỏi của Phật tử mỗi mỗi đều cùng thật lý tương ưng, xa lìa các lỗi kiến chấp. Nhưng tuy thế mà pháp ly ngôn thuyết, nay ở chỗ không lời bày lời cho nên câu kết sau đây nói:

Tất-đàn lìa ngôn thuyết

Ta nay sẽ hiển bày

Thứ lớp dựng lập câu

Phật tử khéo lóng nghe

Trăm lẻ tám câu trên

Như chỗ chư Phật nói.

Sáu câu này là kết luận lập lại nghĩa câu hỏi, hứa sẽ nói và dặn lóng nghe, mở đường cho ý đáp ở sau.

Nghĩa là chỗ hỏi của Đại Huệ tuy xứng lý không lỗi, nhưng pháp vốn ly ngôn, nay ở chỗ không ngôn thuyết chỉ bày ngôn thuyết cho nên thứ lớp dựng lập lại. Và lại nghĩa của trăm lẻ tám câu vừa rồi, nếu như chỗ Phật nói thì mỗi mỗi đều phi. Cho nên hai câu này là kết luận phần trên, mở đầu phần dưới mà nghĩa đi suốt tới về sau để tiếp tục.

Song 108 câu, bản Ngụy gọi là 108 kiến. Bản đầu Đại Huệ nói: “Nay dùng nghĩa 108 ngưỡng khải bậc Thượng tối tôn”.

Và khảo xét chỗ hỏi có hơn 190 câu, nếu chỉ lấy các câu văn hà, hà nhân, hà cố, hà đẳng, thủy, các loại câu như vậy mà làm nghĩa hỏi, ắt có hơn 130 câu.

Thế Tôn thêm vào chỗ Đại Huệ hỏi thiếu, là 32 câu, đến đó cũng còn nói “108 câu trên như lời nói của Phật” thì quả là nhất định cuộc hạn 108 câu ư?

Mà người giảng thuyết căn cứ chỗ sau này đức Thế Tôn tự phân số câu chỉ có 104, thiếu bốn câu. Nếu chắc chắn dùng 108 câu làm định kiến há chẳng bị lỗi Khắc thuyền tìm kiếm sao? Đó là bị một chữ “câu” làm ngại vậy. Đâu không xem Đại Huệ nói 108 nghĩa, Lưu Chi nói 108 kiến, nếu xem hai chữ nghĩa, kiến thì có thể gọi rằng đầy đủ mạch thông suốt vậy.

Nếu như số câu khó hợp với số 108 thì theo ngụ ý của tôi căn cứ vào các pháp trong ba cõi khởi lên hữu vô từ cứ làm chuẩn, về mặt Phật giáo chỉ dạy không ra ngoài tứ cú, phía ngoại đạo chấp cứng không ra khỏi tứ cú, như vậy chánh tà cộng lại có tám. Kiến chấp phân biệt có tám, cảnh bị chấp có 100¹, cho nên nói 108 kiến chấp. Văn sau kinh nói: Như Lai nói pháp lìa bốn cái như thế, nghĩa là một, khác, có, không… lại nói “Vì sạch hai thứ chướng, thí như thương chủ, thứ lớp dựng lập 108 câu vô sở hữu”.

Thế nên Thế Tôn đáp rằng tất cả đều phi. Vì khéo phân biệt các thừa và tướng các địa, cho nên sau đây căn cứ trên phần sanh diệt mà dựng lập có ngôn thuyết, vì vậy mỗi mỗi đáp riêng. Chỗ nói ra cũng không ngoài phá bốn két chấp này.

  • Trên đã tóm lập lại chỗ hỏi.

  • Sau đây là trước đứng về Chân như môn mà đáp.

D₂ - Đáp

Câu bất sanh câu sanh¹

Câu thường câu vô thường

Câu tướng câu vô tướng²

✅ Đây là đứng về phương diện tâm chân như mà đáp.

Đại Huệ hỏi nghĩa tuy nhiều nhưng không ngoài pháp sanh và vô sanh, thường và vô thường, tướng và vô tướng.

Cho nên Thế Tôn đã lặp lại lời hỏi rồi lại tổng kết các nghĩa này mà phá rằng: 108 câu như trên, nếu theo chư Phật nói về nghĩa bất sanh tức ở đây nói là pháp sanh, vì sanh vốn vô sanh.

Chư Phật nói nghĩa chân thường tức ở đây nói là vô thường, vì các pháp dương thể chân thường. Nói về tướng là các pháp vốn không tự tướng.

✅ Đây là thuận theo hai bản dịch, dùng câu sanh làm đầu để giải thích.

Nếu căn cứ vào kinh này thì đem câu bất sanh làm đầu để giải, ý rằng chư Phật nói chân thường vô sanh không cho khởi kiến chấp, nên văn sau nói: “Tất cả pháp chẳng sanh, không nên lập tông” ý rằng ông vừa khởi kiến chấp bất sanh, đã sớm rơi vào pháp sanh, vừa khởi kiến chấp thường, sớm rơi vào vô thường.

Vì sao? Vì trong cảnh giới chân như không cho nghĩ nghị, đấy tâm tức lỗi, động niệm tức trái.

Vì tướng vốn vô tướng, cho nên nói câu bất sanh câu sanh… Từ đây trở đi, phàm chỗ phân biệt, đều chẳng tương ưng với lý chân như thật tướng, cho nên mỗi mỗi Phật đều bác bỏ mà nói phi.

Vĩnh Gia nói: “Tất cả câu số, câu chẳng phải số, cũng Linh giác tạ nào dính dáng, chẳng như tam giới thấy tam giới, chẳng thật chẳng hư, chẳng như chẳng dị”.

✅ Đây chính là cảnh giới tự giác thánh trí của Phật chứng, nên chẳng phải chỗ vọng tưởng phân biệt có thể đến.

Trong tông môn nói: “Ba câu rõ một câu, một câu rõ ba câu, ba một không quan hệ nhau, rõ ràng hướng đường trước”. Hiểu rõ điều này mới cho phép xem Lăng-già.

Câu trụ dị, câu chẳng trụ dị. Câu sát-na, câu chẳng sát-na. Câu tự tánh, câu tự tánh chẳng tự tánh. Câu không, câu bất không¹.

✅ Đây cùng 3 câu trước là lời Phật tự dẹp bỏ.

Do ở trước, phần đầu đoạn văn lặp lại nói: “Sanh với bất sanh; Niết-bàn, không, sát-na; tiến đến vô tự tánh”. Ý Thế Tôn rằng: Trước nhân Đại Huệ chấp có thế gian, xuất thế gian; sanh trụ dị diệt mới hỏi, cho nên ta đem cú nghĩa này phá tình chấp kia, chẳng phải thật pháp. Vì trong lý chân như vốn vô ngôn thuyết, nên đáp: “Đây cũng đều phi”. Nghĩa là chẳng những không có sanh, mà trụ dị diệt đều bất khả đắc.

Sát-na là sanh diệt. Ở trên câu thường tức chỉ Niết-bàn¹. Trước nói tiến đến vô tự tánh, song nói “tiến đến” cũng như nói “rốt ráo”. Bởi pháp thế xuất thế rốt ráo đều vô tự tánh. Đây nói “Câu lìa tự tánh cũng trọn bất khả đắc” cho nên đều nói phi.

✅ Đây là lời tự dẹp của Phật, sau đây là lời phá dẹp chỗ chấp của Đại Huệ.

Câu đoạn câu bất đoạn. Câu biên câu phi biên. Câu trung câu phi trung. Câu thường câu phi thường.

Đây quả trách chung pháp tà chánh của thế và xuất thế.

Câu thường vô thường ở trước là Niết-bàn chân thường và sanh tử vô thường. Câu thường ô đoạn này là hai kiến chấp đoạn thường của ngoại đạo, nghĩa là xác định câu “chết là thường, chẳng thường” đều bị khiến trách.

Trung là pháp trung đạo Nhất thừa xuất thế. Biên là không hữu nhị biên, là pháp xuất thế Tam thừa. Đoạn thường là pháp tà kiến của thế gian ngoại đạo. Trong lý chân như phàm thánh chẳng lập, mê ngộ đều không, nên đều nói phi.

Câu duyên, câu phi duyên. Câu nhân, câu phi nhân. Câu phiền não, câu phi phiền não. Câu ái, câu phi ái. Câu phương tiện, câu phi phương tiện. Câu xảo, câu phi xảo². Câu tịnh, câu phi tịnh. Câu thành, câu phi thành. Câu thí, câu phi thí. Câu đệ tử, câu phi đệ tử. Câu sự, câu phi sự. Câu chúng tánh, câu phi chúng tánh. Câu Tam thừa, câu phi Tam thừa. Câu sở hữu, câu phi sở hữu¹. Câu nguyện, câu phi nguyện. Câu tam luân, câu phi tam luân. Câu tướng, câu phi tướng². Câu hữu phẩm, câu phi hữu phẩm³. Câu cấu, câu phi cấu. Câu duyên tự thánh tri hiện pháp lạc, câu phi hiện pháp lạc. Câu hiện pháp lạc, câu phi hiện pháp lạc. Câu sát độ, câu phi sát độ. Câu a-nậu, câu phi a-nậu⁴. Câu thủy, câu phi thủy. Câu cụng, câu phi cụng. Câu thật, câu phi thật⁵. Câu số, câu phi số.

Hai bản dịch đều không có câu này. Bản chú xưa dùng chữ “số” này thêm vào thượng thanh, chẳng phải vậy. Bởi câu số trên là lặp lại A-nậu. Sau đây Thế Tôn thêm vào 32 câu, đều là toản số. Câu số sau, là trong lý chân như vốn không có những số lượng này, chính là Tất cả câu số, câu chẳng phải số.

Câu minh, câu phi minh⁸. Câu hư không, câu phi hư không. Câu văn, câu phi văn. Câu công xảo kỹ thuật minh xứ, câu phi công xảo kỹ thuật minh xứ. Câu phong, câu phi phong. Câu địa, câu phi địa. Câu tâm, câu phi tâm. Câu thi thiết, câu phi thi thiết. Câu tự tánh, câu phi tự tánh. phi tự tánh¹. Câu ấm, câu phi ấm. Câu chúng sanh, câu phi chúng sanh. Câu huệ, câu phi huệ. Câu Niết-bàn, câu phi Niết-bàn. Câu nhĩ diệm, câu phi nhĩ diệm². Câu ngoại đạo, câu phi ngoại đạo. Câu hoang loạn, câu phi hoang loạn. Câu huyễn, câu phi huyễn. Câu mộng, câu phi mộng. Câu diệm, câu phi diệm³. Câu tướng, câu phi tướng. Câu luân, câu phi luân⁴. Câu Càn-thát-bà, câu phi Càn-thát-bà. Câu thiện, câu phi thiện. Câu ấm thực, câu phi ấm thực. Câu dâm dục, câu phi dâm dục. Câu kiến, câu phi kiến. Câu Ba-la-mật, câu phi Ba-la-mật. Câu giới, câu phi giới. Câu nhất nguyệt tinh tú, câu phi nhất nguyệt tinh tú. Câu đế, câu phi đế. Câu quả, câu phi quả. Câu diệt khởi, câu phi diệt khởi⁵. Câu trị, câu phi trị⁶.

Lời đáp có ba câu “tướng”. Cựu chú cho rằng tướng trước là tướng của danh tướng, kế là tướng của tiểu tướng, đây là tướng của chiêm tướng vì có ý phương minh trùm ở văn trước, như vậy không đúng. Vì chiêm tướng là nằm chung trong ngũ minh, mà câu y phương này để đáp riêng câu hỏi trước về y phương, dụ cho pháp ứng cơ của Phật, chẳng phải y phương của thế tục. Phần giải thích trước đây đủ rõ ràng, đây ắt không phải tướng của chiêm tướng.

Bởi nghĩa hỏi của Đại Huệ có ba loại câu về tướng, nên ở đây đáp theo thứ lớp. Ban đầu hỏi: Có sao sát độ, hóa tướng và ngoại đạo… là hỏi chung việc danh tướng của phàm thánh, y chánh trong muội cõi nhân gì mà có. Cho nên ban đầu đáp Câu tướng câu vô tướng, ý nói rằng tướng y chánh phàm thánh ấy vốn tự vô tướng.

Kế hỏi: Thế nào kiến lập tướng? Nghĩa là tâm đã vô tướng, tại sao lại dựng lập ra tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng? Cho nên đây đáp Câu tướng nêu bày là câu chẳng phải tướng nêu bày, nếu tức là nghĩa kiến lập; nơi kiến lập ấy cũng vốn không có tướng kiến lập.

Sau lại hỏi chúng sanh sanh các nẻo, tướng thể nào, loại tượng nào. Tướng là hình trạng của chúng sanh; tượng là vẻ mặt, dáng người. Ở đây đáp ý rằng: Chúng sanh vốn không có tướng chúng sanh, làm gì có chi phần? Cho nên đáp Câu tướng câu chẳng phải tướng chi phần.

Đoạn sau đây tức chỉ cho chi phần vậy:

Câu chi, câu phi chi¹. Câu công xảo minh xứ, câu phi công xảo minh xứ². Câu thiên, câu phi thiên. Câu mê, câu phi mê. Câu hiện, câu phi hiện. Câu hộ, câu phi hộ. Câu tộc, câu phi tộc³. Câu tiên, câu phi tiên. Câu vương, câu phi vương. Câu nhiếp thọ, câu phi nhiếp thọ. Câu thật, câu phi thật. Câu ký, câu phi ký. Câu nhất xiển-đề, câu phi nhất xiển-đề. Câu nữ nam bất nam, câu phi nữ nam bất nam. Câu vi, câu phi vi. Câu sụ, câu phi sụ. Câu thân, câu phi thân. Câu giác, câu phi giác. Câu động, câu phi động. Câu căn, câu phi căn. Câu hữu vi, câu phi hữu vi. Câu vô vi, câu phi vô vi. Câu nhân quả, câu phi nhân quả. Câu sắc cứu cánh, câu phi sắc cứu cánh. Câu tiết, câu phi tiết¹. Câu tùng thọ cát đẳng, câu phi tùng thọ cát đẳng. Câu tạp, câu phi tạp². Câu thuyết, câu phi thuyết. Câu Tỳ-ni, câu phi Tỳ-ni. Câu xử, câu phi xử. Câu tự, câu phi tự³.

Trên đây đứng về mặt nhất tâm chân như để đáp 108 câu đã xong.

Song sợ dì đều đáp rằng phi, nghĩa là trong tánh chân như vốn không có các sở câu này.

Luận Khởi Tín nói rằng:

Nên biết tự tánh chân như chẳng phải tướng hữu chẳng phải tướng vô, chẳng phải hữu tướng chẳng phải vô tướng, chẳng phải cả tướng hữu tướng vô, chẳng phải tướng một tướng khác, chẳng phải phi tướng một tướng khác, chẳng phải cả hai tướng một tướng khác. Từ xưa đến nay tất cả pháp nhiễm và tất cả vọng tâm phân biệt của chúng sanh đều chẳng tương ưng. Tức là chân tâm này thường hằng bất biến đầy đủ pháp tịnh, cũng không tưởng có để chấp thủ, vì cảnh giới ly niệm chỉ có chứng mới tương ưng.

Cho nên ở đây đáp rằng:

“Tất cả đều phi”, mà đoạn văn trước đã mỗi mỗi đều lặp lại lời ấy, rồi ở đây lại mỗi mỗi ghép thêm câu hỏi và bác bỏ kia là phi. Bởi văn thể Tây vực như vậy, phàm có hỏi thì phải lặp lại lời hỏi và đáp đó. Lời tuy dường như phiền phức nhưng nghĩa thật ngắn gọn, đều chỉ trở về chỗ đệ nhất nghĩa để lý ngôn thuyết. Bởi vậy trên đây một câu liền lặp lại câu hỏi, kế đó một câu có chữ phi để bác bỏ. Bồ-tát Mã Minh lấy yếu chỉ 100 bộ kinh Đại thừa như Lăng-già… để làm Luận Khởi Tín. Chỗ lập nghĩa trong luận, chia một tâm thành hai phương diện. Nay cũng theo tôn chỉ của luận, sau đây dẫn rất nhiều.

Đại Huệ! 108 câu này các Phật trước đã nói, ông và các Đại bồ-tát cần phải tu học.

✅ Đây là kết luận khuyên tu học. Trước nói: Trên đây 108 câu, như chư Phật đã nói, ắt tất cả đều phi. Nên câu kết này nói: 108 câu này là chư Phật quá khứ đã nói, ông và các Bồ-tát nên cần tu học.

  • Phần đầu trực chỉ nhất tâm chân như để hiển bày cõi duy tâm đã xong. 24

B₂. Chỉ bày nhất tâm sanh diệt để hiển vạn pháp duy thức, có 8

C₁. Nói rõ nhân căn cứ của chân vọng chỉ rộng tâm thức để hiển tướng nhân duyên sanh diệt, có 2

D₁. Lược nói duy thức để phân biệt tà chánh, có 2

E₁. Rõ chân duy thức để biện biệt tông tà, có 3

G₁. Hiển chân duy thức


GHI CHÚ

Cảnh bị chấp là chỉ cho 10 cõi thánh phàm, mỗi cõi có đủ 10; 10×10 = 100.

Bản Đường: Đây và nghĩa các câu khác.

Bản Ngụy: Ly tự tánh kiến, chẳng ly tự tánh kiến. Không kiến, bất không kiến. Bản Đường: Câu tự tánh, câu phi tự tánh.

Bản Đường dịch: Câu sanh câu bất sanh. Bản Ngụy dịch: Sanh kiến bất sanh kiến, thường kiến vô thường kiến, tướng kiến vô tướng kiến.

Bản Ngụy nói: Ly tự tánh kiến, chẳng ly tự tánh kiến.

Bản Đường: Câu thiện xảo, câu phi thiện xảo.

Bản Đường: Câu chi phần.

Bản Đường không có câu này.

Bản Đường: Câu chúng tộc.

Bản Ngụy: Câu tiêu tướng, câu phi tiêu tướng.

Bản Đường: Câu hữu câu phi hữu. Câu vô câu phi vô.

Bản Đường dịch: Câu tự chứng thánh trí, câu phi tự chứng thánh trí.

Bản Đường: Câu phi trần.

Bản Đường: Câu đại chúng, câu phi đại chúng.

Bản Đường: Câu toán số, câu phi toán số.

Bản Đường: Câu thần thông, câu phi thần thông.

Bản Ngụy: Tịch tịnh kiến phi tịch tịnh kiến.

Bản Đường dịch: Câu thể tánh, câu phi thể tánh.

Bản Đường dịch: Câu sơ trí, câu phi sơ trí.

2 bản dịch đều nói: Câu đường diệm.

Bản Đường dịch: Câu hòa luân, câu phi hòa luân.

Bản Đường: Câu diệt, câu phi diệt. Câu khởi, câu phi khởi.

Bản Đường: Câu y phương câu tướng, câu phi tướng.

Chỗ khác nói là: Biến kế, Y tha, Viên thành.

Chữ Luận trong hầu hết bản này là chỉ cho Luận Đại Thừa Khởi Tín.

Bốn tướng: Sanh, trụ, diệt, lưu chú.

⏯️ (tiếp theo)

🪷

Lúc bấy giờ, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, các thức có mấy thứ sanh trụ diệt.

Phật bảo Đại Huệ: Các thức có 2 thứ sanh trụ diệt, chẳng phải chỗ suy nghĩ biết được.

GIẢI

Từ đây đến hết bộ kinh là đứng về phương diện tâm sanh diệt để hiển bày vạn pháp duy thức. Song, đầu tiên dùng pháp để hiển chân duy thức lượng.

❔ HỎI: Bồ-tát Đại Huệ nhân Phật đáp 108 câu tất cả đều phi, bèn khởi lên hỏi các thức có mấy thứ sanh trụ diệt đó là sao?

📣 ĐÁP: Căn cứ ngài Mã Minh, lấy yếu chỉ kinh này tạo Luận Khởi Tín, nương một pháp tâm lập ra 2 phương diện, là phương diện tâm chân như và phương diện tâm sanh diệt. Y cứ vào phương diện thứ 2 lại có nghĩa giác và bất giác; y cứ vào nghĩa bất giác khởi lên ba tế sáu thô… gồm nhiếp hết pháp thế và xuất thế, chỉ thẳng nhất tâm là cội nguồn của mê ngộ. Cho nên kinh này nói 5 pháp ba tự tánh đều không, tám thức 2 vô ngã đều trừ. 5 pháp là danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như; 3 tự tánh là vọng tưởng, duyên khởi, viên thành. Vì y cứ nhất tâm mà có sự sai khác giữa mê ngộ, cho nên có 8 thức. Do mê nhất tâm mà chuyển chánh trí, như như thành danh, tướng, vọng tưởng, thế là tất cả pháp đều là vọng tưởng duyên khởi. Ngộ nhất tâm mà chuyển danh, tướng, vọng tưởng làm Chánh Trí, Như Như, gọi là Viên Thành. 25

Phẩm này tên là “Phật ngự tâm” nghĩa là tịch diệt nhất tâm gọi là chân như.

Luận² nói:

Tâm chân như ấy tức là nhất pháp giới đại tổng tướng pháp môn thể, nghĩa là tâm tánh bất sanh bất diệt, tất cả các pháp chỉ nương vọng niệm có sai biệt, nếu lìa tâm niệm thì không có tất cả tướng cảnh giới

Thế mới biết từ trước các câu hỏi của Đại Huệ là căn cứ trên việc trong cảnh giới danh, tướng, vọng tưởng… cho nên mới có các thứ pháp thế và xuất thế, thành 108 kiến chấp. Mà Thế Tôn chỉ thẳng nguồn chân nhất tâm, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, nên lập lại lời hỏi rồi bác bỏ rằng “Tất cả đều phi”. Thế là tất cả các lời kinh ở đoạn trước chính là đứng về phương diện nhất tâm chân như. Nếu đứng về phương diện chân như, ắt là lìa tướng ngôn thuyết, ba cõi duy tâm.

Chỗ hiện lượng chứng thì không cho có nói năng. Chỗ có lời nói đó, đều là việc của vọng tưởng duyên khởi trong phương diện sanh diệt, hễ rơi vào nói năng tức thuộc tỷ lượng. Cho nên từ đây về sau, đều đứng về phương diện sanh diệt để chỉ bày rằng các pháp duyên khởi sai biệt đều là duy thức hiện, nên nói vạn pháp duy thức.

Song thức như huyễn mộng, chỉ là nhất tâm. Tâm tịch mà tri, chân vọng đều lìa, tức gọi là tự giác thánh trí. Do đây thành lập lượng chân duy thức.

Đại Huệ đã lãnh hội yếu chỉ nhất tâm ly ngôn, kế đó mới hỏi các thức có mấy thứ sanh trụ diệt. Bởi do bất sanh diệt cùng với sanh diệt hòa hợp thành thức A-lại-da (thức thứ 8). Cho nên trong môn sanh diệt trước hỏi các thức có mấy thứ sanh trụ diệt. Phật đáp có 2 thứ sanh trụ diệt. Vì sanh tức vô sanh, trụ vốn vô trụ, diệt mà bất diệt, cho nên nói: Chẳng phải suy nghĩ có thể biết.

Các thức có 2 thứ sanh: Lưu chú sanh và tướng sanh. Có 2 thứ trụ: Lưu chú trụ và Tướng trụ. Có 2 thứ diệt: Lưu chú diệt và Tướng diệt.

✅ Đây là chỉ chung tám thức đều có 4 tướng¹ thuộc 2 món thô tế.

Có người giải thích rằng lưu chú sanh trụ diệt thuộc riêng về A-lại-da. Tướng sanh trụ diệt thuộc bảy thức trước.

Nay xét rõ ý kinh về chữ “chư thức”, đó là trong 8 thức đều có bốn tướng thô tế. Do 8 thức đều có dụng tự lượng và liễu biệt, tùy theo vừa thấy liền phân biệt nếu hành tướng phân biệt này hiện lộ rõ ràng, thì gọi rằng tướng sanh trụ diệt. Còn cứu xét tận cùng nguồn gốc của sự phân biệt này đều là nghiệp dụng tịnh duyên của thức đệ bát, tới chỗ này thì ba tướng ẩn kín một cách vi tế chỉ còn một thứ tiếp nối nên gọi là lưu chú. Tuy có phân chia ra vi trí 8 thức mà kỳ thật gồm lại đều là một loại vị tế lưu chú, ở thức vị hiện hành, cùng xen nhau huân và phát, sâu xa vi tế, không thể tư nghị. Cho nên kinh nói: “Thức đã-na vi tế, tập khí thanh bộc lưu”, vì vậy nói “Các thức có 2 thứ sanh trụ diệt”.

Kinh Mật Nghiêm nói:

“8 thứ tâm lưu chú, tuy không có nhiều thứ, hoặc tùy duyên chóng khởi, hoặc lúc khởi dần dần, như sóng mỗi nương nước”, sóng mỗi là dụ về tướng, nước là dụ cho lưu chú, không lìa nhau. Cho nên văn sau nói: “Phi nhất phi dị”.

🪷

Này Đại Huệ! Các thức có 3 thứ tướng:

  • Chuyển tướng
  • Nghiệp tướng
  • Chân tướng
GIẢI

✅ Đây là giải thích thế tướng của 8 thức, để nói rõ y cứ môn sanh diệt có 2 nghĩa Giác và Bất giác. Chân tướng tức bổn giác chân tâm; Chuyển tướng, Nghiệp tướng tức là Vô minh bất giác.

❔ HỎI:

Luận đưa ra Tam tế, là Nghiệp tướng, Chuyển tướng và Hiện tướng. Kinh đây nói 3 tướng, đưa Chuyển làm đầu, kế là Nghiệp, rốt sau mới là Chân. Vả nói các thức đều có ba thứ tướng, đó là sao?

📣 ĐÁP: ✅ Đây nói trong tám thức đều đủ 3 tướng, không giống như luận nói Tam tế thuộc riêng phần Đệ bát thức. Vì sao? Luận nói:

  • Một là Vô minh nghiệp tướng, do y bất giác nên tâm động, gọi là nghiệp. ✅ Đây là chỉ riêng vô minh.
  • Hai là Năng kiến tướng do nương nơi động nên năng kiến tức gọi chuyển tướng.
  • Ba là Cảnh giới tướng do nương nơi năng kiến nên cảnh giới vọng hiện, nghĩa là hay hiện tất cả cảnh giới, như gương hiện hình tượng gọi là hiện tướng.

Ý của luận như vậy, mà kinh này không đồng ý với luận, đưa Chuyển tướng đặt trước, Chuyển tướng này không phải là Chuyển tướng trong Tam tế, là để giải thích nghĩa câu trước:

Các thức mỗi thức đều có 2 thứ sanh trụ diệt. Nghĩa là căn cứ vào nghĩa sanh diệt sát-na sát-na niệm niệm lưu chuyển thì Chuyển tướng nói ở đây tức là lưu chú sanh diệt đã nói ở trước. Tam tế của luận Khởi Tín gồm đủ trong chuyển tướng ấy. Còn Nghiệp tướng là nghiệp của nghiệp tạo tác, tức là tướng sanh trụ diệt trước, sau tướng thô (của luận) gồm đủ trong nghiệp tướng này. Người không biết niệm niệm sanh diệt, khởi hoặc tạo nghiệp đều là chấp tâm, nên trước đưa ra Chuyển, Nghiệp, về sau mới nói Chân tướng cốt yếu ở chỗ trừ vọng rõ chân.

Chính là trong luận nói: “Y môn sanh diệt có giác bất giác vậy”.

Văn sau nói:

Các thứ sóng thức áo at mà chuyển sanh, cũng như sóng biển cả, đây ắt không sai khác. Các thứ tâm như thế. Khác cũng chẳng thể được

Lại nói: “Tạng thức như biển cả, nghiệp tướng cũng như sóng”.

(Bản Đường dịch: “Chuyển thức giống như sóng”. Cho nên biết Chuyển, Nghiệp là giải thích nghĩa của 2 thức Sanh - Diệt.)

Nếu đứng về mặt tam tánh mà giải thích thì Chuyển tướng là y tha khởi, như sóng nổi y nơi nước biển khởi lên. Nghiệp tướng là biến kế chấp, như chỉ thấy sóng mòi dấy động không biết là nước. Chân tướng tức là viên thành thật, chỉ một nước biển thôi. Chân tướng này tức bổn giác chân như tuỳ duyên bất biến.

❔ HỎI:

Ngài Mã Minh y kinh Lăng-già… tạo luận Khởi Tín mà tam tế là cương yếu của sự sanh khởi trong luận, vì sao nói không giống ư?

📣 ĐÁP: Vì ở đây nói chung tướng của tám thức, do kinh nói các thức có ba thứ tướng, nếu là tam tế lục thô, sau đây chỗ bất tư nghì huân biến, tự có văn đề rõ.

⚡️ KINH

Này Đại Huệ! Nói gọn có 3 thứ thức, nói rộng có tám tướng. Những gì là 3? Nghĩa là Chân thức, Hiện thức, và Phân biệt sự thức. Đại Huệ! Như gương sáng giữ các sắc tượng, chỗ hiện của hiện thức cũng lại như thế.

💥 GIẢI

✅ Đây giải thích tên các thức ở trước.

Trước nói các thức, chẳng biết thức có mấy thứ, cho nên ✅ Đây giải thích rằng: Sơ lược có 3:

(Ngụy dịch: Lược nói có 2, là Liễu biệt thức và Phân biệt sự thức. Đường dịch: Lược ắt chỉ có 2, là Hiện thức và Phân biệt sự thức. Cả hai đều thiếu Chân thức).

Nói đầy đủ có 8.

Chân thức trong đoạn này tức là Như Lai tạng Chân tâm bất sanh diệt, cũng tức là Chân như. Chân như cũng nói là thức, vì có cái dụng chiếu cảnh.

Còn Hiện thức tức là thức thứ 8, cho nên luận nói:

“Do ý thức A-lai-da nói có vô minh, bất giác mà khởi, năng kiến năng hiện, năng thủ cảnh giới, cũng gọi là trí thức”.

Trong đây Phân biệt sự thức là tiền thất thức¹. Nếu đứng về mặt thí dụ gương và tượng, thì 8 thức một thể không hai không khác.

Cho nên luận nói:

“Hiện thức là hay hiện tất cả cảnh giới, cũng như gương sáng hiện các sắc tượng. Hiện thức cũng vậy, tuỳ ngũ trần đối diện tới liền hiện, không có trước sau, vì tất cả thời hỗn nhiên mà khởi, thường ở hiện tiền”.

Từ đây mà nhìn thì 3 thứ thức của kinh này là chân vọng thành lập có tính cách đối đãi, cốt yếu hiển bày thức tướng chân như. Cho nên văn sau nói “Như Lai tạng tên là thức tạng”. Hai bản Đường và Ngụy, chỉ đưa ra Liễu biệt và Hiện thức, là nói chung chân vọng.

Sở dĩ nói chung lại vì sanh diệt và bất sanh diệt hòa hợp thành thức A-lại-da. Cho nên kinh nói: “Phật nói Như Lai tạng tức là A-lại-da”. Tông Cảnh nói: “Kinh đây chỉ thẳng tám thức là chân, không thể so sánh với kinh khác riêng lập chín thức”, gọi là chân vọng nói chung.

⚡️ KINH

Này Đại Huệ! Hiện thức và Phân biệt sự thức, 2 tướng hoại và bất hoại lần lượt làm nhân cho nhau.

💥 GIẢI

✅ Đây giải thích tướng sanh khởi của 8 thức để hiển bày vốn không 2 thể.

Lần lượt làm nhân cho nhau là tiền thất chuyển thức cùng đệ bát thức xen nhau làm nhân; do hiện hành của tiền thất huân thành chủng tử, rồi chủng tử của đệ bát lại huân khởi ra hiện hành (của tiền thất).

Cho nên Thức Luận nói: “Các pháp ở tàng thức, thức ở nơi pháp cũng vậy, lại xen nhau làm tánh nhân, cũng thường làm tánh quả”.

Song có thể hoại là Vọng thức; không thể hoại là Chân thức

(Ngụy dịch: Hai thứ thức ấy không sai biệt, lần lượt chung làm nhân. Đường dịch: Hai thức này tướng không khác nhau, xen nhau làm nhân).

⚡️ KINH

Này Đại Huệ! Bất tư nghì huân và Bất tư nghì biến, là nhân của Hiện thức.

💥 GIẢI

✅ Đây đặc biệt nói rõ nhân sanh khởi của thức thứ tám để làm sáng tỏ nghĩa lưu chú sanh trong 2 thứ sanh ở đoạn trước, hiển bày tướng của Tam tế.

Bất tư nghì huân biến là nhân của Hiện thức, là vô minh huân chân như làm nhân của thức thứ tám, gọi là lưu chú sanh.

Luận nói: Do y pháp chân như nên có vô minh làm nhân cho các nhiễm ô, đây là Nghiệp tướng. Do có vô minh làm nhân nhiễm pháp, tức huân tập lại Chân như. Do vì huân tập ắt có vọng tâm, do có vọng tâm tức huân tập vô minh, đây là Chuyển tướng. Vì không rõ pháp chân như nên bất giác khởi niệm, hiện ra vọng cảnh giới, đây là Hiện tướng. Thế là nhân nơi sức vô minh huân tập nên khiến chân như biến làm Hiện thức, đây chính là vô minh bất giác sanh Tam tế vậy.

Nói bất tư nghì huân biến ấy, nghĩa là chân như vốn bất khả huân mà huân cho nên gọi là bất tư nghì huân. Thể của chân như vốn tự bất biến mà nay tùy duyên vô minh thành một thành pháp, cho nên nói bất tư nghì biến

(Bản Ngụy dịch: Liễu biệt thức, bất khả tư nghì huân biến làm nhân. Bản Đường: Hiện thức dùng bất khả tư nghì huân biến làm nhân).

Chỉ vì ba tướng ẩn mật vi diệu, nên dùng bất tư nghì huân biến để giải thích cho lưu chú sanh vậy.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Chấp giữ các món trần và vọng tưởng huân từ vô thủy là nhân của Phân biệt sự thức.

💥 GIẢI

✅ Đây nói rõ nhân sanh khởi của tiền thất thức, để làm sáng tỏ tướng sanh, hiển bày tướng Lục thô.

Luận viết: “Do vì duyên nhiễm pháp, vọng cảnh liền huân tập vọng tâm, khiến niệm kia đắm trước tạo các nghiệp, chịu tất cả khổ về thân tâm”.

✅ Đây chính là tướng Lục thô. Chấp giữ các món trần và vọng tưởng vô thủy huân ấy là chủng tử tập khí vọng tưởng. Đó là chủng tử chứa trong thức thứ tám, nhân đó huân khởi ra căn cảnh hiện hành của tiền thất, lại chấp đó làm thật ngã thật pháp.

Cho nên nói: “Chấp giữ các món trần và vọng tưởng vô thủy huân”. ✅ Đây là thức thứ tám làm nhân cho tiền thất, gọi rằng Tướng sanh. Song vọng tưởng huân, lại là Lưu chú sanh trong tướng.

Cho nên luận nói: “Nghĩa vô minh huân tập có 2 thứ: Một là Căn bổn huân tập, vì hay thành tựu nghĩa nghiệp thức. Hai là Sở khởi kiến ái huân tập, vì hay thành tựu nghĩa Phân biệt sự thức”. Bất tư nghì huân ở đoạn trước là căn bổn huân, ở đoạn này là Kiến ái huân.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Nếu trở lại chân thức kia, các thứ hư vọng, các thứ chẳng thật diệt thời tất cả căn thức diệt, gọi là tướng diệt.

💥 GIẢI

✅ Đây giải thích tướng diệt trong hai món diệt ở đoạn trước.

Phục là trở lại, tức ngược dòng trở về một, thuận khế hợp chân như, ắt tất cả trần cấu ngay đó tiêu vong, mà căn trần thức tâm đồng thời rơi mất. ✅ Đây gọi là tướng diệt (Bản Đường: Các thứ tập khí phân biệt hư vọng trong A-lại-da thức diệt, tức là tất cả căn thức diệt, gọi là tướng diệt). Bởi sanh thì từ tế đến thô nên nói lưu chú sanh trước, nay diệt thì từ thô đến tế cho nên nói tướng diệt trước.

Đại Huệ! Tương tục diệt ấy, bởi sở nhân của tương tục diệt nên tương tục diệt. Sở từng diệt và sở duyên diệt, ắt tương tục diệt.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Vì sao? Vì là chỗ y của kia. Chỗ y là vọng tưởng huân tập từ vô thủy. Duyên là tự tâm thấy… thức cảnh vọng tưởng.

💥 GIẢI

✅ Đây giải thích lưu chú diệt trong hai thứ diệt ở trước.

Tương tục tức là nghĩa lưu chú. Thức thứ tám lặng lẽ sâu kín vốn không sanh diệt, chỉ nhân gió tiền thất thức thổi động tập khí thành chủng tử cho nên mới có (sanh diệt) vậy. Song cái sanh diệt này đã nhân nơi tiền thất chuyển thức mà sanh, nay cái nhân (tiền thất) đã diệt, thì cái lưu chú tương tục tự diệt, cho nên nói nhân của tương tục diệt thì tương tục diệt.

✅ Đây là giải thích lưu chú diệt trong phần lưu chú sanh diệt vậy.

Sở từng diệt và sở duyên diệt thì tương tục diệt ấy, là giải thích lưu chú diệt trong phần tướng sanh diệt. Nghĩa là đệ thất chuyển thức vốn không sanh diệt, chỉ vì theo tập khí vô minh căn bản vô thủy huân bên trong, bên ngoài có gió cảnh giới lục trần thổi động biến tướng, trong ngoài giao nhau cho nên khởi lên sóng tiền thất.

Nay bên trong vô minh sở từng đã diệt, gió cảnh giới bên ngoài dừng, tâm thể lặng lẽ, sóng mồi tự dứt, thế là tiền thất ngay đó vô sanh. Nay sở từng sở duyên đã diệt thì tương tục ắt diệt, vì tất cả động tướng đều y nơi vô minh mà khởi, nên giải thích rằng “là chỗ y của kia”. Chỗ y đó là vọng tưởng huân tập từ vô thủy. Vọng tưởng vô thủy là căn bản vô minh, tức nay gọi là “Thất thức kết sanh tương tục”. Nhân bị vọng tưởng vô thủy này huân mà tám thức kia không được thành trí, thường ở trong triền phược.

Duyên đó là tự tâm thấy… cảnh thức vọng tưởng, ấy là căn thân khí giới, vốn là tướng phần sở biến của tám thức rồi trở lại làm cảnh bị duyên của kiến phần 8 thức.

✅ Đây chính là chỗ Thức Luận nói rõ nhân duyên y.

Nay nơi chỗ nhân tương tục diệt thì sanh diệt tinh tịnh vong; sở duyên diệt thời cảnh trần tự biến mất. Như thế thì vô minh sở tác thức rõ ràng là chánh trí bất sanh bất diệt như như tịch diệt. Cho nên luận nói: “Chỉ có tứ thức diệt nên tâm tương theo đó diệt.” Trước sanh thì lẫn nhau sanh, nay diệt cùng lẫn nhau diệt.

Trên dùng pháp để hiển bày chân Duy thức lượng xong.

Sau đây dùng thí dụ để phá nhị kiến.

G₂ - Dụ phá nhị kiến

⚡️ KINH

Đại Huệ! Thí như đất và vi trần, chẳng khác chẳng giống, vàng và các nữ trang cũng vậy.

Đại Huệ! Nếu đất khác vi trần thì đất chẳng phải do vi trần thành, mà thật là do vi trần thành, cho nên không khác. Nếu không khác thì vi trần và đất lẽ ra không phân biệt được.

💥 GIẢI

✅ Đây là dùng thí dụ để thành lập chân Duy thức lượng ở trước, sắp gián tiếp phá kiến chấp về nhất dị, đoạn thường của ngoại đạo vậy.

Thí như đất và vi trần, chính là chỉ bất sanh bất diệt cùng sanh diệt hòa hợp thành thức thứ tám A-lại-da, để hiển chân vọng chẳng một chẳng khác, để chỉ tướng thánh phàm cũng như thế. Cho nên lại đưa ra thí dụ vàng và các đồ trang sức. Vì phía ngoại đạo thành lập riêng dị nhân¹, sắp phá kiến chấp của họ nên dùng thí dụ này chỉ dạy.

🪷

Như thế này Đại Huệ! Chân tướng của Chuyển thức và Tạng thức nếu khác, Tạng thức chẳng phải nhân.

GIẢI

✅ Đây chính là giải thích mặt chẳng khác (bất dị), để phá vọng chấp của ngoại đạo cho rằng riêng có một pháp sanh làm sanh nhân².

Ý rằng nếu tiền thất thức cũng để bát thức khác nhau, ắt đệ bát không làm nhân sanh khởi cho tiền thất, nay đã làm nhân cho kia, thì biết là không khác. Vì chân tướng của tiền thất nguyên là thể tịnh minh của đệ bát, chân tướng của đệ bát nguyên là chân như. Nên hai bản dịch Ngụy Đường chỉ có Chuyển thức, Tạng thức, không có hai chữ chân tướng. Bên kia chỉ đứng về mặt không khác của thức đệ bát, mà bản dịch này thêm 2 chữ chân tướng, cốt yếu nói rõ chân vọng không khác, sắp sửa bày tỏ vấn đề, vọng tức là chân, nghĩa này tự đủ. Chân tướng là tự thể của đệ bát thức, là 4 giác chân như. Nay nói tạng thức làm nhân đó, nghĩa là Như Lai tạng không những là nhân của sanh tử mà cũng là nhân của Niết-bàn. Văn sau nói: Như Lai tạng là nhân thiện và bất thiện, có thể tạo khắp tất cả nẻo sanh.

🪷

Nếu chẳng khác thì Chuyển thức diệt, tạng thức lẽ ra cũng diệt, mà tự chân tướng thật chẳng diệt. Cho nên này Đại Huệ! Chẳng phải tự chân tướng thức diệt, chỉ có Nghiệp tướng diệt. Nếu tự chân tướng thức diệt, Tạng thức ắt diệt.

Đại Huệ! Nếu Tạng thức diệt thì không khác với lỗi luận nghị đoạn kiến của ngoại đạo.

GIẢI

✅ Đây giải thích chẳng phải một, để phá kiến chấp đoạn diệt của ngoại đạo.

Nghĩa là nếu 8 thức là một thì khi tiền thất diệt, đệ bát tạng thức lẽ ra cũng diệt. Tạng thức nếu diệt thì ai chứng vô sanh, cho nên đệ bát chỉ diệt tập khí hí luận hư vọng, gọi là diệt vậy, kỳ thật tự thể bản giác chân như của đệ bát không diệt. Cho nên nói Chẳng phải tự chân tướng thức diệt.

Luận nói rằng: “Nói diệt đó, chỉ có tâm tướng diệt, chẳng phải tâm thể diệt”. Lại nói: “Chỉ có sở diệt nên tâm tướng tùy diệt, chẳng phải trí diệt”.

Nghiệp tướng đây tức Nghiệp tướng trong ba tướng ở đoạn trước, chỉ chung cho vô minh hoặc nghiệp tên là Nghiệp tướng. Ý nói rằng chỗ có thể diệt được đó chỉ là hoặc nghiệp tập khí hư vọng thôi, còn chân tướng há có thể diệt ư.

Cho nên kinh nói Tự chân tướng nếu diệt, tạng thức ắt diệt. Tạng thức nếu diệt thì điều đó không khác luận nghị đoạn kiến của ngoại đạo

(Đường dịch: Chân tướng của thức không diệt, chỉ có nghiệp tướng diệt. Nếu chân tướng diệt, tạng thức phải diệt, tạng thức nếu diệt tức không khác luận đoạn diệt của ngoại đạo).

Trên gián tiếp phá nhị kiến xong.

Kế chánh thức gián biện tông tà.

G₃ - Biện tà tông

⚡️ KINH

Này Đại Huệ! Các ngoại đạo kia làm luận như thế này. Nghĩa là cảnh giới nhiếp thọ diệt, thức lưu chú cũng diệt. Nếu thức lưu chú diệt thì lưu chú tú vô thủy phải đoạn diệt.

💥 GIẢI

✅ Đây đưa ra luận đoạn diệt của ngoại đạo để gián biện tà tông.

(Bản Đường dịch: Phía ngoại đạo lập thuyết như vậy “Thức tương tục chấp thủ cảnh giới diệt, ắt là thức tương tục vô thủy diệt.”)

Thức tương tục chấp giữ cảnh giới tức tiền lục thức và tương thô của thức thứ bảy. Lưu chú là tự thể của đệ bát và tướng tế của thức thứ bảy. Ngoại đạo chỉ thấy tiền lục thức và thô tướng của thức thứ bảy diệt liền cho rằng đệ bát cũng diệt. ✅ Đây là lý do dứt mất chúng tánh Phật, cho nên Phật phải lập luận này mà nói: Nếu thức lưu chú diệt thì lưu chú tú vô thủy phải đoạn diệt.

✅ Đây chính là làm sáng tỏ trở lại đoạn văn trước nói về Nghiệp tướng diệt, Chân tướng không diệt. Cái bất diệt này, Bảo Cảnh gọi rằng Chân thường lưu chú.

Ngoại đạo nói 8 thức diệt một lần, vì không biết đệ bát A-lại-da là sanh nhân, lại đưa ra riêng có một pháp làm sanh nhân. Nên sau đây Phật chỉ ra cái chấp lầm ấy.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Ngoại đạo nói lưu chú sanh nhân, chẳng phải nhân; thức, sắc, ánh sáng tập hợp mà sanh mà lại có nhân khác.

Đại Huệ! Nhân của họ hoặc là Thắng diệu, hoặc Sĩ phu, hoặc Tự tại, hoặc Thời, hoặc Vi trần.

💥 GIẢI

✅ Đây nêu vọng chấp “sanh nhân” của ngoại đạo.

Bản Đường: Các ngoại đạo kia nói thức tương tục từ ức tác giả sanh. Họ không nói nhân thức y sắc, ánh sáng ấy duyên… hòa hợp mà sanh, nơi đó trái với tắc giả là sanh nhân. Tắc giả là gì? Họ chấp Thắng tánh, Trượng phu, Tự tại, Thời và Vi trần là tác giả năng tạo.

✅ Đây chính là ngoại đạo không biết Duy thức là nhân sanh khởi các pháp, bên ngoài lập riêng thành Thắng tánh… làm nhân sanh khởi. Đó là dị nhân vậy. Ngoại đạo Ấn Độ chấp tuy nhiều thứ, tóm lại không ra ngoài hai kiến chấp đoạn, thường. Căn cứ vào chỗ bác phá của Thức Luận có 7 lỗi chấp, mà trong đây Thế Tôn chỉ đưa ra 5 lỗi chấp.

7 lỗi chấp trong luận là:

  1. Số luận sư chấp 25 Minh đế. Nghĩa là từ Thần ngã làm Minh sở chủ tể, từ Minh sanh Giác, từ Giác sanh Ngã tâm, từ Ngã tâm sanh Ngũ trần, từ Ngũ trần sanh Ngũ đại, từ Ngũ đại sanh 11 căn, cộng lại 25 pháp, dùng Thần ngã làm Thắng tánh. Chữ Thắng diệu trong đây tức là Thần ngã của họ.

  2. Thắng luận sư chấp Lục cú làm nhân sanh, nghĩa là Thật, Đức, Nghiệp, Đại hữu, Hòa hợp, Đồng dị. Vọng chấp 6 thứ này đều có thật tánh, rồi tất cả pháp đều từ Lục cú này sanh. Lại từ trong Thật chấp có 9 pháp là địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương… hòa hợp. Lại chấp Cực vi (nguyên tử) lập thành cõi thế gian, cho nên chấp Cực vi thường trụ bất diệt. Chữ Thời cùng Vi trần trong đoạn này tức là kiến chấp của phái Thắng luận.

  3. Có ngoại đạo chấp trời Đại tự tại, thể thật, trùm khắp, thường, hay sanh ra các pháp. Chữ Tự tại trong đoạn này tức là chỗ chấp của phái ngoại đạo ấy.

  4. Có 7 giáo phái ngoại đạo chấp Đại phạm, Thời, Phương, Bản tế, Tự nhiên, Hư không, Ngã… 7 pháp như vậy thường trụ thật hữu, đầy đủ các công năng, sanh tất cả pháp. Chữ Trượng phu trong đoạn này tức Đại phạm kia, nghĩa là Đại phạm thiên hay sanh tất cả. Chữ Thời trong đây cũng là Thời trong chín pháp của Thật cú.

  5. & 6. Có hai Thanh luận sư chấp âm thanh là thường, có thể làm định lượng, trình bày biểu hiện cho các pháp. Một, Đợi duyên sanh; hai, Đợi duyên hiện. Nghĩa là âm thanh là thường, nhờ định có thể tiêu biểu tất cả các pháp.

  6. Thuận thế ngoại đạo chấp Tứ đại là thật, là thường hay sanh hữu tình. Nghĩa là Cực vi là có thật, là thường trụ, có thể sanh các vật chất lớn. Chữ Vi trần trong đoạn này cũng là chấp Cực vi.

Chuẩn theo 7 phái này mà Thế Tôn chỉ đưa ra năm phái còn thiếu hai phái Thanh luận sư. Phần sau sẽ thêm vào ở đoạn nói về nhân duyên hai tự tánh. Song các phẩm loại của ngoại đạo tuy nhiều lối chấp về pháp “Có” không qua 4 thứ: Quyết định là một như Số luận…; quyết định là khác như Thắng luận; cũng một cũng khác như Vô tâm ngoại đạo…; chẳng một chẳng khác như Tà mạng ngoại đạo…

✅ Đây đều không đạt được đạo lý Duy thức chánh vọng chẳng khác chẳng một mà vọng chấp nhất định một nhất định khác, rồi tạo thành những nghị luận rối ren, ngang ngạnh khởi lên nhị kiến chấp Đoạn, Thường.

Trong đây nêu riêng hai tà kiến nhất định một, khác mà Phật đã dụ trù dùng thí dụ khối đất và vi trần chẳng một chẳng khác để phá dẹp. Vì hai thứ này đều là Đoạn kiến. Tại sao? Nếu bảo quyết định là một, ắt khi bày thức diệt thì thức thứ tám cũng diệt theo, thế là rơi vào Đoạn kiến.

Nếu bảo quyết định là khác, thì đã lập tương tục diệt riêng còn dị nhân (nhân khác), đã lập nhân khác át là tám thức vô nhân, cũng là Đoạn kiến. Song Thế Tôn đã chỉ như Thắng tánh… năm thứ, ở đây cho là Đoạn kiến, ở trong luận đều cho là Thường kiến.

Vì sao? Bên kia chấp thường, tức trong đây là đoạn. Vì sao? Vì ngoại đạo không biết đạo lý duy thức chân thường, bên cho tám thức đều là đoạn diệt, rồi riêng chấp có dị pháp sẽ làm chân thường.

Như thế, phía họ đã chấp dị pháp là thường, thì thức tánh chân thường bốn hữu trở lại là đoạn diệt. Đó là lý do ở chỗ họ chấp thường mà ở đây lại rơi vào đoạn diệt. Chính là dùng vô thường làm thường, đem thường làm vô thường, thật là kiến chấp điên đảo. Nghĩa này sâu huyền ít người biết.

⚡️ KINH

Lại nữa này Đại Huệ! Có 7 loại tánh tự tánh. Đó là:

  • Tập tánh tự tánh
  • Tánh tự tánh
  • Tướng tánh tự tánh
  • Đại chúng tánh tự tánh
  • Nhân tánh tự tánh
  • Duyên tánh tự tánh
  • Thành tánh tự tánh
💥 GIẢI

✅ Đoạn này đưa ra các luận chấp hư vọng mà ngoại đạo dùng làm tôn chỉ.

Bản Ngụy nói: Ngoại đạo chấp có 7 loại tự tánh. Xét trong bản ấy có hai chữ ngoại đạo, thế là do đoạn trước nói: “Ngoại đạo cho rằng các pháp không từ Thức sanh, mà từ nguyên nhân khác, nên họ vọng lập Thắng diệu… hết thảy 5 nguyên nhân. Các nguyên nhân này có thật, thường trụ, từ đó phát sanh các pháp”. Xem như vậy thì 5 Nguyên Nhân Đầu Tiên ở đoạn trước là chỉ cho pháp được công nhận, còn 7 loại tự tánh này là đưa ra 7 giáo nghĩa để thành lập 5 pháp trên. Nhưng 7 thứ này đều là vọng chấp, vì đứng ngoài thức mà riêng có tự tánh.

Theo bộ Thức Luận giải nghĩa:

  1. Tập tánh tự tánh: Tập là nhóm hợp chung lại, chỉ cho phái Số luận lập nên 25 pháp. Thức luận nói: Bởi vì pháp Đại… là do ba việc hợp thành. Lại nói thêm: Các pháp như Đại… do nhiều việc hợp thành, như quân lính, rừng cây… Phái ấy chấp Năm đại, Mười một căn là do ba yếu tố: Mình sở, Giác tâm và Năm trần, hợp lại để sanh khởi, nên nói Tập tánh tự tánh.

  2. Tánh tự tánh: Luận chấp này lập Thắng tánh làm tự tánh.

  3. Tướng tánh tự tánh: Tướng là sắc chất ngăn ngại. Chỉ cho phái Thắng luận lập nên Lục cú. Phái này cho rằng sáu yếu tố là Thật, Đức, Nghiệp, Đại hữu, Hòa hợp, Đồng dị và các sắc chất Cực vi của tự thể là nguyên nhân đầu tiên sanh khởi vạn vật.

  4. Đại chúng tánh tự tánh: Chỉ cho phái Thuận thế thành lập Tứ đại là Thường trụ, hay sanh khởi vạn vật. Tức là đoạn trên nói “Vi trần sanh khởi sắc thọ”.

  5. và 6. Nhân tánh tự tánh và Duyên tánh tự tánh là hai lập thuyết của phái Thanh luận sư. Một thuyết nói: “Đợi duyên sanh”, cho âm thanh là nguyên nhân sanh pháp, chỉ dùng một mình âm thanh làm nhân, nên gọi là Nhân tánh làm tự tánh. Thuyết thứ hai nói: “Đợi duyên hiển”, cho Duyên (điều kiện) phát ra âm thanh là nguyên nhân sanh pháp, nên gọi là Duyên tánh làm tự tánh.

  6. Thành tánh tự tánh: Chỉ cho lối chấp “Hòa hợp cú” trong Lục cú, chấp các pháp hòa hợp mà thành, nên gọi là Thành tánh tự tánh.

7 loại tự tánh này trọn không ra ngoài Tứ cú, cho các pháp là Tự sanh, Tha sanh, Cộng sanh, Vô nhân sanh. Bởi vì nếu chấp Nhân tánh làm tự tánh là chấp Tự sanh; chấp Đại chúng tánh làm tự tánh, Duyên tánh làm tự tánh là chấp Tha sanh; chấp Tập tánh làm tự tánh, Tướng tánh làm tự tánh, Thành tánh làm tự tánh là chấp Cộng sanh; chấp Tánh làm tự tánh là chấp Vô nhân sanh.

Tóm lại không ngoài hai kiến chấp Đoạn và Thường, đều là vọng tưởng tà chấp, chẳng phải là Đệ nhất nghĩa của ta. Cho nên đoạn văn tiếp theo đây nói: “Ta có bảy loại Đệ nhất nghĩa”.

Phần trên trình bày về các tôn chỉ tà chấp đã xong.

Phần tiếp sau đây nêu lên 7 loại thánh nghĩa để phân biệt với tà kiến, có 2 phần. Phần đầu: Nêu chánh nghĩa.

E₂ - Nêu bảy thứ thánh nghĩa để biện biệt tà kiến, có 2

G₁ - Nêu chánh nghĩa

🪷

Lại nữa này Đại Huệ! Có 7 loại Đệ nhất nghĩa. Đó là:

  • Cảnh giới tâm
  • Cảnh giới huệ
  • Cảnh giới trí
  • Cảnh giới kiến
  • Cảnh giới vượt qua nhị kiến
  • Cảnh giới vượt qua đất chấp
  • Cảnh giới do Như Lai thân chứng

Này Đại Huệ! Đây là Tánh tự tánh đệ nhất nghĩa Tâm của các đức Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác trong ba đời. Tánh đệ nhất nghĩa Tâm làm tự tánh để thành tựu pháp thế gian, pháp xuất thế gian, pháp xuất thế gian thượng thượng. Bậc Thánh huệ nhân vào trong các tự tướng cộng tưởng mà kiến lập Như. Chỗ lập luận của Như Lai không giống các lối lập luận ác kiến của ngoại đạo.

GIẢI

✅ Đoạn này đưa ra chánh giáo lượng của Như Lai, dùng Đệ nhất nghĩa làm tông, khác với luận chấp ác kiến của ngoại đạo.

(Bản Ngụy dịch: Ta có 7 loại Đệ nhất nghĩa… 7 loại cảnh giới ta nêu lên đây, là cảnh giới Đệ nhất nghĩa Tâm làm Tự tánh, mà chư Phật Ứng cúng Đẳng chánh giác trong 3 đời, dùng Tự tánh đệ nhất nghĩa Tâm này mà thành tựu pháp thế gian, pháp xuất thế tối thượng của Như Lai. Đó cũng chính là chỗ kiến lập Như của các Thánh huệ nhân, đã chứng Tự tướng Cộng tướng.)

Chữ Như nghĩa là xứng hợp. Nghĩa là chỗ kiến lập của ta là kiến lập xứng tánh, khác với luận ác kiến của ngoại đạo. Chữ Nhập nghĩa là chứng. Tự tướng là Nhất tâm chân như. Cộng tướng là Nhân duyên của tám thức. Nghĩa là ta đã chứng nhập Duy tâm Duy thức, dùng đây kiến lập nên pháp môn tối thượng của thế gian và xuất thế gian. Không thể so sánh ta với các ngoại đạo vọng lập các Nguyên nhân khác làm căn nguyên sanh các pháp, nên nói khác với lập luận ác kiến của ngoại đạo.

G₂. Trách lỗi ngoại đạo

🪷

Đại Huệ! Thế nào là luận ác kiến ngoại đạo? Nghĩa là từ cảnh giới vọng tưởng mà thấy. Họ không biết, không hiểu rõ về giới hạn hiện bày của tự tâm.

GIẢI

✅ Đoạn này giải thích lại vì sao trên kia nói là ngoại đạo ác kiến.

Phật dạy: 7 thứ cảnh giới Đệ nhất nghĩa của ta, là do sức quán sát của bậc Thánh huệ nhân, do sức trí kiến chân thật. Còn ác kiến của ngoại đạo kia, là cái thấy tùy thuộc vào cảnh giới vọng tưởng của họ, do không hiểu giới hạn của vọng tưởng tự tâm hiện, nên tạo ra 7 loại tà chấp đoạn biên cho đó là nhất định Một, nhất định Khác, mà chẳng thông suốt.

🪷

Đại Huệ! Phàm phu ngu si đối với tánh vô tánh tự tánh đệ nhất nghĩa, tạo luận nhị kiến.

GIẢI

✅ Đây tổng kết thành ngoại đạo ác kiến, ở trong đệ nhất nghĩa làm luận nhị kiến.

(Ngụy dịch: Các phàm phu ngu si dùng cái không thật thế cho đó là Đệ nhất nghĩa, làm luận nhị kiến. Nghĩa là do không thấu đạt các pháp vô tánh mà vọng lập tự tánh, theo vọng kiến điên đảo ngu si, nên ở trong Đệ nhất nghĩa làm luận nhị kiến.)

Đoạn trước từ câu “Các ngoại đạo làm luận như thế”, đến đoạn này là nêu chung nhị kiến về một khác đoạn thường không chân thật để lập chánh Duy thức lượng đã xong.

Sau đây quy trách lỗi chấp nhị kiến của ngoại đạo, cả nhân lẫn quả đều “không chân thật. Do họ không biết duy tâm sở hiện nên vọng chấp là có là không, thành lỗi hí luận đoạn diệt.

Sau đó chỉ dạy đầy đủ về Duy tâm quán môn, muốn người tu y cứ tâm bất sanh diệt, thấu rõ cảnh giới duy tâm như huyễn mà tu quán, ắt sẽ được hai quả chuyển y thường trụ.

  • Phần trên nêu ra bảy loại thánh nghĩa để phân biệt với tà kiến xong.

  • Phần dưới trình bày nhân tà để nêu nhân chánh, chia 2 phần.

E₃ - Chánh thức trình bày nhân tà để nêu nhân chánh, có 2

G₁ - Trình bày nhân tà

🪷

Lại nữa này Đại Huệ! Nay ta sẽ nói về sự diệt trừ vọng tưởng quả khổ trong ba cõi, sự diệt trừ nghiệp duyên Vô tri và Ái, sự nhận thức cảnh giới huyễn do tự tâm hiện.

GIẢI

✅ Đây tiếp theo đoạn trên nói ngoại đạo không thấu đạt cảnh giới duy tâm như huyễn, vọng tạo nhị kiến nên đối với khổ trong ba cõi không thể diệt trừ. Nay sắp chỉ cho người tu hành về pháp môn duy tâm như huyễn để làm đường tu chánh, nên nêu lên việc này trước tiên.

(Đường dịch: Nếu biết rõ cảnh như huyễn tự tâm hiện thì diệt trừ vọng tưởng khổ của ba cõi và vô tri ái nghiệp duyên diệt.)

Khổ ba cõi tức quả khổ trong ba cõi. Các quả khổ này đều từ vọng tưởng mà có cho nên nói vọng tưởng quả khổ ba cõi. Vô tri tức căn bản vô minh, là động cơ phát nghiệp. Ái tức tham ái, là nuôi lớn vô minh. Hai cái này là nghiệp nhân của ba cõi 25 loài, gọi là Hoặc. Nghiệp duyên tức là từ hai vọng hoặc Vô tri và Ái mà kết nghiệp sanh tử, ràng buộc không thể xuất ly, nên nói Nghiệp duyên. Bởi vì nghiệp nhân khổ quả này chẳng thể tiêu diệt, đều do không thấu đạt tất cả cảnh giới duy tâm sở hiện, chỉ theo vọng kiến lưu chuyển.

Ngoại đạo tuy có tâm xuất khổ, mà không biết bí yếu xuất khổ, và chỗ tu hành chỉ nương hai kiến chấp đoạn thường mà thôi, duy tâm chiếu kiến làm tâm nương tựa lộn xộn. Họ căn cứ vào các kiến chấp này, chấp sau pháp hư vọng, vì nhân địa đó không chân thật nên kết quả lầm lạc, uổng công tu cực khổ mà không thật chứng.

Ý Phật nói rằng nếu người tu hành hiểu được cảnh như huyễn duy tâm hiện, thì nhân quả trong ba cõi ngay đó tiêu diệt. Cho nên từ đây về sau đến câu Dời xưng lời của bậc Nhất thế trí, là trách chung nhị kiến ngoại đạo không chân thật. Từ Nếu các Sa-môn khác về sau đến Tự tất-đàn là thiện căn nên học chỉ chung về duy tâm quán môn.

🪷

Này Đại Huệ! Lại có các Sa-môn, Bà-la-môn chấp “có, không” làm nhân quả cho mọi hiện hữu; chấp sự vật tồn tại tùy thuộc thời gian, chấp sự vật (uẩn, xứ, giới) tùy thuộc điều kiện, chấp sự vật có rồi mất hẳn.

GIẢI

✅ Đây nêu ra ngoại đạo căn cứ hai kiến chấp có, không mà vọng lập dị nhân.

Bản Đường: Vọng chấp phi hữu và hữu, ở ngoài nhân quả hiển hiện các vật, nương thời gian mà trụ, hoặc chấp uẩn xứ giới nương vào duyên mà sanh trụ, có rồi liền diệt.

Chính thức chỉ ngoại đạo căn cứ vào hai kiến chấp đoạn thường, ở ngoài chân nhân của Duy thức lượng, vọng lập dị nhân. Họ cho rằng Có nhân từ Có sanh, Không nhân từ Không sanh. Dùng hai thứ Có Không này làm sanh nhân, hiển hiện tất cả sự nghiệp thế gian làm sanh quả, nên nói: “Muốn khiến nhân quả hữu chủng vô chủng hiện”.

Họ không biết tất cả thế gian là do sức tồn tại của vọng tưởng, hoặc vọng chấp rằng nương thời gian mà trụ; hoặc lại chấp rằng uẩn xứ giới nương tứ đại, thời, phương… các duyên mà trụ; hoặc lại vọng chấp tất cả các pháp uẩn, giới… có rồi liền diệt không sanh trở lại. ✅ Đây đều là vọng kiến đoạn diệt, đều chẳng phải chân nhân, nên sau đây bác bỏ. Song ngoại đạo có hai nhóm nội và ngoại: Nội là những Sa-môn trong Phật pháp lại căn cứ vào Phật pháp khởi vọng chấp; ngoại là hàng Bà-la-môn.

🪷

Đại Huệ! Những hạng người này hoặc chấp Tương tục, chấp Sự, chấp Sanh, chấp Hữu, chấp Niết-bàn, chấp Đạo, chấp Nghiệp, chấp Quả, chấp Đế đều là luận đoạn diệt hư hoại. Vì sao? Vì không đạt được thực tại và không có khả năng thấu hiểu cội nguồn các pháp.

Đại Huệ! Ví như chiếc bình bể không dùng được, cũng như hạt giống cháy không thể nảy mầm.

GIẢI

✅ Đây là trách chung hàng ngoại đạo nhân địa chẳng chân cho nên kết quả thành hư hoại.

Kia tức chỉ hai hạng ngoại đạo nơi ngoại nói trên. Nghĩa là ngoại đạo kia do nương hai kiến chấp có - không, không đạt duy tâm, cho nên thiết lập nhân quả đều thành đoạn diệt.

Tṅg t c nghĩa là sanh tử tương tục, do họ không biết kết sanh tương tục, bèn vọng chấp Minh sơ và Tứ đại làm sanh nhân. Như ở Trung Hoa, cho hai khí âm dương, ngũ hành sanh ra người.

Hoặc Sự, hoặc Sanh, hoặc Hữu (Đường dịch: Hoặc tác dụng, hoặc sanh diệt, hoặc sanh tử; hoặc tác dụng là chỗ tạo tác; hoặc sanh diệt, tức sanh tử; hoặc các hữu tức chỉ các pháp trong ba cõi).

Do ngoại đạo kia chấp rằng sanh có dị nhân, chết trở về đoạn diệt, các pháp hữu vi rốt ráo vô thường.

Hoặc Niết-bàn, họ chấp Ngũ hiện¹ là Niết-bàn.

Hoặc Đạo, do các ngoại đạo hành khổ hạnh như nằm gai, bới tro, để râu tóc, giữ giới như chó như trâu… cho đó là sự xuất khổ.

Hoặc Nghiệp là nghiệp nhân, họ vọng chấp viên thường… làm nghiệp nhân.

Hoặc Quả, họ vọng dùng đoạn diệt… làm chân quả.

Hoặc Đế, họ vọng chỉ Minh sơ làm chủ đế.

Những kiến chấp tương tự như thế, đều không hiểu duy thức, đều thành luận đoạn diệt hư hoại. Vì sao là đoạn diệt? Vì những điều này đối với lý do tâm tạo tác chẳng chân thật, và đối với Kiến Thủy không có phần¹ (Đường dịch: Hoặc tác dụng, hoặc sanh diệt, hoặc các hữu).

Nghĩa là vì đối với đạo lý duy tâm duy thức chân thật căn bổn, họ không được dự phần nên tạo tác những thứ hư luận như vậy, rốt cuộc không có lợi ích. Cũng như bình bể không thể chứa đựng, lại như mầm cháy giống hư không thể nảy mầm. Bình bể dụ cho không quả, mầm cháy dụ cho không nhân, sự nghiệp ngoại đạo cũng như thế.

🪷

Như thế, Đại Huệ! Nếu tánh ấm giới nhập đã diệt, đang diệt, sẽ diệt, đó chỉ là vọng tưởng tự tâm, đó là vô nhân, nên không thứ đế sanh.

GIẢI

✅ Đây hợp chung 2 thí dụ bình bể và giống hư ở trên để chứng tỏ thuyết của ngoại đạo là không nhân, không quả.

Nghĩa là ngoại đạo nói pháp ấm giới nhập này không sanh khởi từ hành nghiệp tạo ra ở đời trước, mà sanh khởi từ nguyên nhân khác, như thế là phủ định đời trước.

Lại lập thuyết rằng đời này đang chịu báo, nếu chết đi, không chịu quả báo tiếp sau, thế là hiện tại cũng thành phủ định. Nếu phủ định hiện tại thì vị lai sau cũng phủ định. Các kiến chấp tương tự đều là những hiểu biết theo vọng tưởng, vọng lập nên các nguyên nhân khác ngoài tâm. Tất cả là Vô nhân. Đã vô nhân thì vô quả nên không thể sanh khởi theo thứ lớp.

🪷

Đại Huệ! Nếu họ lập luận rằng do ba duyên là Vô chúng, Hữu chúng, Thức hợp lại mà sanh, lập luận này cũng giống như nói rùa có lông, cát ép ra dầu. Tôn chỉ như thế không được chấp nhận vì trái lẽ. Lập thuyết về Hữu chúng, Vô chúng sai lạc như thế, công tu tập của ngoại đạo đều trở nên vô nghĩa..

GIẢI

✅ Đây giải thích ngoại đạo thay đổi lối chấp.

Ý Phật so ngoại đạo nghe Phật nói lý duy thức nên lại chuyển sang chấp khác. Họ nói: “Uẩn, xứ, giới theo hữu chúng, vô chúng, thức ba duyên hòa hợp sanh, há lại là Vô nhân?” Song ngoại đạo tuy nói thức, rốt ráo là vọng chấp nhị kiến Có - Không và chấp thân ngã làm chủ.

Cho nên Phật lập lại một thí dụ để cho rõ, nói: Nếu lại lập luận rằng Có, Không và Thức là ba duyên hòa hợp sanh các pháp, thì rùa phải có lông, cát ép ra dầu. Điều này cũng vô lý. Rùa vốn không lông, là vô nhân. Cát vốn không có dầu, là vô quả.

Nếu lập luận như vậy, tông chỉ của các ông sẽ hoại, vì rõ ràng là vô nhân vô quả, đều thành đoạn diệt, trái với đạo lý đại thừa quyết định chân thật của ta. Bèn bác bỏ: Nhị kiến hữu vô có lỗi đoạn diệt như vậy, đã không căn cứ thì sự nghiệp xây dựng công lường rỗng vô nghĩa (Đường dịch: Đều không vô ích). Sự nghiệp tạo tác là chỉ những giáo pháp khổ hạnh của ngoại đạo… Không là luống uổng. Trách họ theo tà kiến mà tu, uổng thọ quả khổ, rốt cuộc không lợi ích.

🪷

Đại Huệ! Các ngoại đạo chủ trương ba duyên hòa hợp sanh, những giáo lý do họ tạo như tự tướng nhân quả, quá khứ, vị lai, hiện tại, tướng hữu chúng, vô chúng, từ xưa đến nay thành hệ thống truyền thừa. Đó là do vọng giác xoay chuyển, do tập khí sai lầm mà lập thuyết như vậy.

GIẢI

✅ Đây ý giải thích đoạn trên nói sự nghiệp tạo tác đều luống không vô ích.

Phương tiện (Bản Nguỵ nói: A-hàm. Đường dịch: Giáo lý, là giáo lý ngoại đạo vậy). Nghĩa là ngoại đạo vọng chấp ba duyên, dựng vô nhân làm sanh nhân. Phàm sự nghiệp gây dựng ra như giáo pháp, như nhân quả tự tướng, như sanh tướng, uẩn giới xứ, ba đời… Những sự nghiệp này đều thành hí luận đoạn diệt, thảy đều rỗng không vô ích.

Và lại, những tà kiến, tà giáo, tà nhân, tà quả như vậy đời đời nối tiếp nhau, lú mù cùng dắt nhau, cho đến xa vời. Cho nên nói Ngũ hiện: Ngũ căn. Từ xưa đến nay thành hệ thống truyền thừa. ‘Thành’ là làm, ‘thừa’ là truyền tập. Nghĩa là sự nghiệp tạo tác của họ, lấy đó làm giáo lý truyền thừa, chẳng phải tri kiến chân thật, chỉ là theo sự xoay chuyển của vọng tưởng bản thân.

Giác là vọng kiến. Căn cứ vào lối lầm huân tập tà kiến của mình làm luận thuyết như vậy, những sự nghiệp tạo tác này đều luống rỗng vô ích. Bởi khởi nguyên của ngoại đạo Ấn Độ, đầu tiên có đạo sĩ Ca-tỳ-la¹, chấp trong nhân có quả. Kế đến là ông Âu-lâu-tằng-khư², chấp trong nhân không quả. Ba là ông Lặc-sa-bà³, chấp trong nhân cũng có quả cũng không quả. Từ đó các phái ngoại đạo truyền nhau, đến khi Phật xuất thế có sáu bậc thầy nổi danh, cho nên nói: Từ xưa đến nay thành hệ thống truyền thừa.

🪷

Như thế này Đại Huệ! Hàng phàm phu ngu si bị ác kiến chi phối, say mê tà vọng vô trí đối tự xưng “bậc Nhất Thiết Trí nói”.

GIẢI

✅ Đây là kết luận thấy tà, giáo lý tà không những vô ích mà trở lại thành hại.

Bởi tà sự ấy đều là phàm phu ngu si không có chánh tri kiến, bên bị tà kiến làm hại, tà khúc mê say, hỗn muội trong đó không thể tự giác. Ngoại đạo Ấn Độ, mỗi thầy đều được ba pháp, 1 là pháp Nhất Thiết Trí, 2 là pháp Thần thông, 3 là pháp Vi-đà. Pháp Nhất Thiết Trí là mỗi người theo lối chấp của mình phát sanh một trí thức, tâm hiểu lanh lợi, đem trí thức này hiểu trùm tất cả pháp, cho nên gọi là ngoại đạo Nhất Thiết Trí.

Kỳ thật là vô trí mà đối tự xưng lời nói Nhất Thiết Trí. “Từ xưa đến nay thành hệ thống truyền thừa” đó là một người mù dẫn nhóm người mù, cùng lôi nhau vào hầm lửa. Chính là chỗ thống thiết răn nhắc. Cho nên văn sau nói: Người tu hành chân chánh chớ nên gần gũi ngoại đạo ác kiến hí luận.

Chương trước tổng quát nói: “Vọng tưởng ba cõi khổ diệt, tự tâm hiện huyễn cảnh tùy kiến, nay sẽ nói”, từ đây về trước gồm phá ngoại đạo tà kiến vô nhân, đều là vọng tưởng làm nhân khổ của ba cõi, cùng vô tri ái nghiệp làm duyên. Ý Phật răn các người tu, biết tà nhân kia không rơi vào tà kiến, biết rõ các pháp duy tâm sở hiện cảnh giới như huyễn, mới được hiện chứng tự giác thành trí. Cho nên phần sau, chỉ dạy rộng về phương pháp tu tập pháp môn như huyễn, khiến người tu hành y đó mà tu, diệt nhân khổ ba cõi, được hai quả chuyển y.

Từ câu Nếu lại có đến cuối chương, câu Tự tát-đàn thiện nên tu học, ước có hơn 350 lời, gồm hiển bày sự liễu đạt pháp môn duy tâm như huyễn, nếu theo văn thì khó giải, đem bản Đường dịch để đối chiếu từng chi tiết, nghĩa ấy mới rõ.

Phần trên 8 tiết chánh thức giản trạch nhân tà đã xong.

Chương sau đặc biệt nêu nhân chánh.

G₂ - Nêu nhân chánh

🪷

Này Đại Huệ! Nếu lại có các Sa-môn, Bà-la-môn khác,

GIẢI

✅ Đây là loại ra 2 hạng ngoại đạo nội và ngoại ở trước, nêu riêng 2 hạng tu hành chân chánh nên để câu Nếu lại có các… khác

🪷

Thấy lìa tự tánh, như mây nổi, vòng lửa, thành Càn-thát-bà, vô sanh, nắng quáng, trăng nước và mộng. Nội ngoại tâm hiện, vọng tưởng vô thủy hư dối, không lìa tự tâm.

GIẢI

✅ Đây là phương pháp quán tâm của chánh giáo.

(Đường dịch: Quán tất cả pháp đều lìa tự tánh như mây trong không, như vòng lửa, như thành Càn-thát-bà, như huyễn, như sóng nắng, như trăng dưới nước, như việc trong mộng.)

Các pháp này không lìa tự tâm, do kiến chấp hư vọng từ vô thủy cho đó là ở ngoài. Song trong đoạn văn này có hai chữ vô sanh, đó là quán tất cả pháp không tánh như phù vân… quán tất cả pháp vô sở hữu như huyễn… quán tất cả pháp duy tâm hiện như việc trong mộng. Nội ngoại tâm: Nội tâm là chỉ cho chủng tử tập khí hư nguỵ hàm chứa trong thức thứ 8 từ vô thủy đến nay, huân khởi lục thức biến ra giống như ngoại cảnh, thật chẳng phải ngoại cảnh, nên nói Nội ngoại tâm hiện. Vọng tưởng hư nguỵ từ vô thủy làm nhân duyên biến hiện như việc xảy ra trong mộng, thật không lìa tự tâm. Nên dùng chữ Vả để giản biệt với các thí dụ trên. Muốn người tu quán thẳng tất cả cảnh giới như mộng, chỉ do tâm hiện.

Vọng tưởng nhân duyên diệt hết, lìa vọng tưởng năng thuyết sở thuyết (Đường dịch: Quán sát như thế rồi dứt duyên phân biệt, cũng lìa chấp danh nghĩa của vọng tâm). Quán sát về thân và cảnh do tạng thức biến hiện (Quán sở quán thọ dụng kiến lập thân chỉ tạng thức).

✅ Đây chỉ thẳng quán cảnh.

Vọng tưởng năng thuyết là ý, lời nói, tâm phân biệt; sở thuyết là cảnh bị phân biệt. Thọ dụng kiến lập là khí thế giới bên ngoài, tức cảnh lục trần; thân tức căn thân. Nghĩa là căn thân thế giới này là y nơi Tướng phân biệt biến chuyển của Bát thức. Người không rõ duy tâm nên như trong mộng, mà trở lại chấp cho là cảnh giới của ngã sở. Nay quán thẳng tự tánh thanh tịnh của tâm thức, vốn không có thế giới thân tâm, chỉ do thức hiện.

Khi khởi quán sát này, thói tát cả nhân duyên vọng tưởng tự nhiên tiêu diệt. Tánh của danh tự là không, thời căn trần thức tạm ngay đó tiêu mất, cho nên đều nói là lý. ✅ Đây là lìa tâm ý ý thức tham cứu, lìa cảnh giới vọng tưởng tìm cầu. Quán tức người năng quán, tạng thức tức đối tượng bị quán.

Cho nên nói Quán sở quán kiến lập thân chỉ tạng thức, đây là Y chủ thích².

Luận rằng: Khi Bồ tát phát tâm, tức quán sát thể duyên khởi nhân quả tự tánh của bốn thức. Nếu muốn nhập duy thức quán, mà thức tánh vô thể, lại còn quán chỗ nào? Chỉ là duyên nơi ý, lời nói, phân biệt làm cảnh bị quán. Vì tất cả cảnh giới, chỉ dùng danh ngôn làm thể, nếu lìa ý, lời nói, phân biệt thì trước đó không có gì, cho nên văn sau chỉ thẳng bổn thể.

Đối với cảnh giới thức nhiếp thọ (tâm chấp giữ) và nhiếp thọ (cảnh bị chấp giữ) không tương ưng.

✅ Đây là chỉ thẳng tâm thể, tuy có năng và sở mà chẳng (cái nào) tương ưng (với cái nào).

Tướng nhị thủ là ngã và ngã sở. Vì hai tướng này đứng riêng nên chẳng tương ưng. Nghĩa là ở nơi cảnh giới thức hiện mặc dầu nó không có không tương ưng, liền thấy tự tâm. Cho nên Cổ đức nói: “Quên năng sở, diệt ảnh tượng, đây là một đức của thiền”. Vì vừa chớm tác ý liền chấp tương ưng.

Cảnh giới vô sở hữu, lìa sanh trụ diệt (cảnh không tánh tịch). Tự tâm khởi tùy vào phân biệt (Đường dịch: Không năng sở thủ, và sanh trụ diệt. Tư duy như thế, thường trụ không xả bỏ (Ngụy dịch: Tư duy như thế, quán sát tự tâm cho đó là sanh).

Song tâm cảnh đã không, mà lại khởi tùy nhập phân biệt, lại nói thường trụ, nói sanh ấy, chính là “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.

Trên chỉ về quán tâm thành tựu.

Sau đây chỉ về quán thành đắc quả.

🪷

Này Đại Huệ! Bồ-tát kia không bao lâu sẽ được Niết-bàn sanh tử bình đẳng, được phương tiện đại bi khéo léo, được phương tiện vô khai phát.

Đại Huệ! Bồ-tát kia ở tất cả cảnh giới chúng sanh thấy đều như huyễn. Không cần đến nhân duyên (mà vẫn) xa lìa cảnh giới trong ngoài. Ngoài tâm không chỗ thấy. Theo thứ lớp vào chỗ vô tưởng, theo thứ lớp vào từng địa của Bồ-tát, vào cảnh giới tam-muội.

GIẢI

Từ đây đến câu Được thân Như Lai, chỉ chung khi tu quán thành tựu được tướng quả nhị chuyển y.

Nhị quả là chuyển nhiễm thành tịnh, sanh tử tức Niết-bàn; chuyển mê khiến ngộ, phiền não tức Bồ-đề. Nghĩa là Bồ-tát tu hành chân chánh, nếu pháp quán duy tâm thành tựu, không lâu sẽ được nhiễm tịnh bình đẳng. Lúc ấy dùng phương tiện đại bi vô công dụng hạnh độ các chúng sanh. Quán chúng sanh như huyễn, độ mà không có tướng độ.

Theo duyên mà không khởi, cho nên nói không cần nhân duyên. Tâm cảnh nhất như, cho nên nói xa lìa cảnh giới trong ngoài. Chỉ một chân tâm, trừ ngoài tâm đây không một mảy may sự việc có thể được. Trí cùng chân như bình đẳng, vì đều lìa tướng năng thủ sở thủ, cho nên nói ngoài tâm không chỗ thấy.

Pháp quán này thuần tịnh, thì được trí vô phân biệt, được chứng Sơ địa, lần lần tăng lên từ Nhị địa, Tam địa cho đến Bát địa, cho nên nói thứ lớp vào chỗ vô tưởng, lần lên các địa, trụ cảnh giới tam-muội vậy.

Biết ba cõi như huyễn, phân biệt quán sát sẽ được nhau huyễn tam muội, vượt qua trí tâm hiện vô sở hữu, được trí Bát-nhã Ba-la-mật.

✅ Đây là từ Bát địa đến Thập địa ra khỏi chướng nhập vào giả.

Nghĩa là: ở Bát địa vô công dụng hạnh, đoạn câu sanh ngã chấp xong, chứng vô ngã không, cho nên nói tâm hiện vô sở hữu.

Song còn rơi vào ngã không mê mờ nơi pháp không, cho nên nơi pháp không chấp pháp, cho nên pháp không chưa thể vượt qua. Vì thế Hoa Nghiêm thiết lập Tam gia thất khuyến để phá trừ kiến chấp ấy. ✅ Đây Tam gia thất khuyến là Đại thừa.

✅ Đây là bảy lời khuyến, đại Bồ-tát đều đã phá trừ phân biệt, quán sát ba độ chúng sanh như huyễn, cho nên nói được Như huyễn tam muội.

Nên biết Cửu địa mới có thể thuyết pháp độ sanh. Thập địa mới có thể phá mười phương chư Phật, vì vậy nói “phá nơi thuyết pháp, vượt qua vô sở hữu, được Bát-nhã Ba-la-mật” đoạn câu sanh pháp chấp. Nếu không thể vượt qua vô sở hữu, tông môn gọi đó là pháp chấp đáo địa. Chính là Tam trọng chấp của người ngộ.

Tuy là được chăng chấp vậy, nhưng phá là đúng. Đâu sao hoàn tướng cảnh vượt khỏi hiện thể giới thiện toàn thân;

Cho nên nói: Vượt qua trí tâm hiện vô sở hữu, trụ Bát-nhã Ba-la-mật.

Xa lìa Sanh kia chỗ tạo tác phương tiện Kim Cang Tam muội, thể tủy nhiếp thâu Như Lai; Như Lai nhiếp thâu thành thọ; phi sở hữu thường, tịch tĩnh, bí tạng thân thông, tê tai bí pháp tạng.

✅ Đây là chỗ chư Phật truyền thần thông tri kiến, đồng vào các cõi Phật, vào chỗ ngoại đạo.

✅ Đây là hàng Bồ-tát Đẳng giác, dùng sức định như Kim Cang sắc bén đoạn dứt sanh tưởng vô minh, tột lý soi tột nhập Diệu giác.

Sanh kia tức sanh tưởng vô minh; luận nói: “Bồ-tát đã tận, ba phương tiện đầy đủ một niệm tương ưng biết sợ khỏi của tam tâm mà không có tướng ban đầu của mình, thấy pháp thân vốn sanh tức là cùng chân như biến khắp tất cả chỗ.”

  • Ở đây kinh nói: Tùy nhập thọ thân Như Lai, tùy nhập hóa thân Như Lai. Đến chỗ này các vị tự nhiên mà do các thứ nghiệp dụng bất tư nghì, nên khỏi nói nhập thọ thân Như Lai. Tùy liên lập trực tiếp vô minh.

Do có trí đại phương tiện, Như Lai thọ thân, tứ diệu vô ngại, ở nơi pháp không chủ thể, trừ diệt vô minh, thấy pháp thân vốn sẵn đủ cung chân như.

Thân Phật vô biên, như lai tạng hải tánh, nghiệp thân tức không tướng vọng niệm thành tựu Kim Cang tam muội, hốt nhiên siêu việt thế xuất thế gian, liền được trên hợp mười phương chư Phật đồng một tri lực, dưới cùng lục đạo chúng sanh đồng một bề nương, nên kinh nói Đồng vào tất cả cõi Phật, vào chỗ ngoại đạo.

Lìa tâm, ý, ý thức, Bồ-tát này lần lượt chuyển thân, được thân Như Lai.

✅ Đây là kết thúc phần Quán hạnh.

Nghĩa là Bồ-tát tu hành chân chánh, quán duy tâm duy thức bèn lìa cảnh giới tâm ý ý thức. Ngay nơi đây bèn là Bồ-tát dần chuyển thân sanh tử, được chứng Như Lai pháp thân, phương tiện của Nhị quả chuyển y. Cho nên nói:

🪷

Dùng chánh định như huyễn

Vượt vô học nhanh chóng

Mười phương các Như Lai

Một con đường Niết-bàn

(Kinh Lăng Nghiêm)

GIẢI

Song pháp môn đốn chứng này quán thẳng duy thức đốn ngộ tự tâm, mà ở đây lại nói lần lượt, đó nghĩa là lý cẩn đốn ngộ, nương ngộ cùng tiêu; sự cần tiệm trừ, nhân thứ lớp hết. Ngài Quy Sơn nói: “Nếu người nhất niệm đốn ngộ tự tâm, vẫn còn hiện nghiệp lưu thức tích chứa từ vô thủy, lần lượt tịnh trừ”, đó gọi là tiệm tu. Chỗ nơi lưu thức ấy là lưu chú sanh diệt, chính là Câu sanh chủng tử tập khí của hai chướng.

Cho nên đoạn văn này nói Lìa tâm ý ý thức bèn ngộ tự tâm, lần lượt được thân Như Lai chính là tịnh trừ hiện nghiệp lưu thức. Đoạn văn trước, câu Lìa vọng tưởng thuyết sở thuyết và sanh diệt… tức là cảnh giới lìa tâm ý ý thức.

Câu Từ địa đến địa đến Xa lìa sanh kia… là tiệm tu, chẳng phải lia đây lại riêng có pháp tu nào khác. Nên Tông môn dạy người: “Chỉ cần lìa tâm ý ý thức tham, lìa cảnh giới vọng tưởng cầu”. Chính là đây vậy.

🪷

Cho nên này Đại Huệ! Muốn được vào thân Như Lai, nên xa lìa ấm giới nhập¹ phương tiện tạo tác của tâm nhân duyên, vọng tưởng sanh trụ diệt hư nguỵ².

Thẳng tiến duy tâm, quán sát lỗi lầm hư nguỵ từ vô thủy³, vọng tưởng tập khí làm nhân⁴, tư duy 3 cõi vô sở hữu⁵. Phật địa vô sanh đến tự giác thánh trí⁶ tự tâm tự tại đến hạnh vô khai phát.

GIẢI

✅ Đây là tổng kết văn trước, chỉ thẳng phương tiện duy tâm.

Lìa hai chấp thủ thì tâm tự tại không cần khởi phương tiện. Đường dịch là vô công dụng hạnh, tức vô sư trí, tự nhiên trí.

  • Kinh nói: Lạ thay! Tất cả chúng sanh sẵn đủ đức tướng trí tuệ của Như Lai, chỉ do vọng tưởng chấp trước mà không chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng chấp trước, thì vô sư trí, tự nhiên trí ngay đó hiện tiền, cho nên đều nói là “đến”.

Như hạt châu Ma-ni tùy các màu, tùy vào tâm vi tế của chúng sanh, mà dựng hóa thân tùy tâm độ lượng¹. Thứ lớp lần lượt các địa, tiếp nối kiến lập².

Cho nên này Đại Huệ! Tự tất-đàn là thiện, cần tu học.

✅ Đoạn này thuật lại một lần nữa, những lợi ích của quán hạnh, khuyên tu tập giữ gìn.

Nghĩa là Bồ-tát tu hành chân chánh, muốn mau được Pháp thân Như Lai, chứng tự giác thánh trí, nên quán thẳng nhất tâm bổn lai thanh tịnh, vốn tự vô sanh, trừ nhất tâm ra không có một chút việc gì khả đắc.

Khi quán như thế, lần lần thuần thục, liền một niệm đốn chứng, không từ bên ngoài mà được, thì công đức tự lợi lợi tha đầy đủ nơi đây.

Cho nên trước dạy môn quán duy tâm, đến đây lặp lại chung mà đinh ninh răn nhắc, tha thiết khuyên tu trì, nói rằng Pháp thì của ta rất thiện, cần phải tu học.

Kinh nêu lên chỗ Phật nói Tâm làm tông, chính là Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh tâm. Tâm này tất cả chúng sanh vốn tự đầy đủ, chỉ vì ngày nay mê tâm này, tùy theo duyên nhiễm nên tưởng phiền não sanh tử của 3 cõi theo đó mà sanh. Nếu ngộ tâm này, theo duyên tịnh thì hai quả chuyển y Bồ-đề Niết-bàn theo đó mà dựng lập. Thế thì phiền não Bồ-đề, sanh tử Niết-bàn đều y nơi tưởng mê ngộ nhiễm tịnh mà chuyển biến.

Các thứ đó đều là tưởng hoa đốm nhọc mệt cuồng loạn, trong Như Lai tạng “vốn không” có các việc này. Cho nên nói: Tìm kiếm sanh tử mê ngộ ở quá khứ vị lai trọn chẳng thể được. Bởi vậy nếu chúng ta có thể đạt chỗ “vốn không”, nếu cảnh giới hằng ngày hiện tiền rõ ràng chẳng thể được, có thể gọi rằng tức đến tự giác thánh trí. ✅ Đây là Phật Tổ từ trước truyền tâm ấn.

Chỗ bí mật dạy bảo về công phu tự được, ghi đủ ở chương này, chỗ thật khẩn yếu chỉ ở một lời Lìa cảnh giới vọng tưởng, lìa tâm ý ý thức mà thôi. Cho nên Thế Tôn dần tới dần lui như vậy. Người giác ngộ biết chỗ này có thể nói rằng không cô phụ “bổn hữu”, không phụ ân Phật vậy.

  • Trên đặc biệt chỉ dạy chánh nhân đã xong. Phần trình bày sơ lược về duy thức để phân biệt nhân chánh, nhân tà xong.

  • Sau đây nói rộng về tám thức để chỉ dạy tướng thức trí.

QUYỂN THỨ II

CHƯƠNG MỘT - PHẦN CUỐI

D₂ - Nói rộng 8 thức để chỉ tướng thức trí, có 2:

E₁ - Tướng 8 thức

E₂ - Tướng 3 trí

🌳🌲🌵

E₁ - Tướng 8 thức

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn nói tướng của tự tánh, 5 pháp, tâm, ý, ý thức. (Đường dịch: Cúi xin vì con nói các pháp môn vi diệu, tướng tự tánh, năm pháp). Việc làm của tất cả chư Phật Bồ tát, cảnh giới sở duyên của tự tâm kiến chẳng hòa hợp, hiển bày tất cả thuyết (Ngụy dịch: Chỗ tu hành của chư Phật Bồ tát, xa lìa cảnh hòa hợp của tự tâm kiến, vì hay phá tất cả thể tướng ngôn ngữ thí dụ.

Đường dịch: ✅ Đây là tất cả chư Phật Bồ tát vào cảnh giới tự tâm lìa tướng sở hành) thành tướng chân thật tất cả Phật nói tâm (Đường dịch: Xứng với nghĩa chân thật chư Phật dạy về tâm).

Vì các Đại Bồ tát ở trong biển núi Lăng-già nước Ma-la-da nói chỗ Như Lai tán thán về cảnh giới pháp thân sóng biển tạng thức. (Ngụy dịch: Nói về quán sát cảnh giới thức A-lê-da sóng biển lớn, vì đó là pháp của pháp thân Như Lai nói ra. Đường dịch: Cúi xin vì các Bồ-tát trong núi này, và tùy thuận chư Phật quá khứ mà nói về cảnh giới pháp thân sóng biển tạng thức).

✅ Đây hỏi cho rõ nhất tâm chuyển biến, để giải thích câu nói rộng về các thức có tạm tướng.

❔ HỎI:

Trước Đại Huệ hỏi các thức có mấy thứ sanh trụ diệt, đức Thế Tôn đã đáp đầy đủ và chỉ thẳng quán duy tâm thức, cùng công năng chuyển phàm thành thánh đã xong. Đến đây Đại Huệ lại thưa thỉnh về tâm ý ý thức, 5 pháp, 3 tự tánh. Vì sao?

📣 ĐÁP:

Kinh này chỉ thẳng Nhất tâm tịch diệt. Song nhất tâm này vốn không mê ngộ, không thuộc thánh phàm, nên nói 5 pháp, 3 tự tánh đều không, 8 thức, 2 vô ngã đều trừ. Do tùy theo phần mê ngộ mà có sự khác biệt giữa chân vọng. Đến như tướng chuyển biến cũng không ra ngoài 4 pháp này mà thôi. Vì thế Đại Huệ trước dùng 108 câu để hỏi, Thế Tôn đáp rằng tất cả đều phi đó, bởi đứng về phương diện chân như không cho gan hỏi tận cùng.

Đại Huệ hỏi về các thức có mấy thứ sanh trụ diệt, là ở trong phương diện sanh diệt cho phép có nói năng thôi. Trước Thế Tôn tuy nêu pháp quán duy tâm thức là nói lược về môn tu chứng, chưa đạt đến chỗ diệu của Nhất tâm chuyển biến. Và lại Đại Huệ không biết các thức nhân đâu mà sanh, cho nên lời thỉnh này muốn Phật nói về các pháp môn vi diệu 5 pháp, 3 tự tánh, vì muốn hiển 7 nghĩa ngay sanh diệt mà đến chứng chân như.

(Đường dịch: “Cúi xin vì nói cảnh giới pháp thân sóng biển tạng thức”.)

Bởi câu hỏi về tâm ý ý thức tức là câu Nói sơ lược có 3 thứ thức ở đoạn trước, nay nói rộng có tám tướng.

  • 5 pháp là: Danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như.
  • 3 tự tánh: Vọng tưởng, duyên khởi, viên thành.
  • 2 vô ngã tức là nhân, pháp.

Nay nói: “Chỗ diệu của chuyển biến”, do nhất tâm chân như lìa danh lìa tướng, chân trí độc chiếu, vốn tự viên thành, nhân pháp đều quên, thánh phàm đều dứt. Bởi mê nhất tâm mà thành tám thức, nên chân như tùy duyên biến thành cảnh của danh tướng; chánh trí có đối đãi bên đối thành tâm vọng tưởng. Tâm cảnh đối lập tướng duyên khởi phát sanh, nhân pháp đều hiện bày, thánh phàm cách xa. Ngộ nhất tâm mà thành tạng tánh, chuyển 8 thức thành bốn trí, danh tướng tức là như như. Duyên khởi vô tánh vốn tự viên thành, nhân pháp đều không, thánh phàm cùng dứt, ngay nơi sanh diệt mà chứng chân thường, cho nên nơi sóng biển tạng thức tức là cảnh giới pháp thân.

Đó là lý do thành tướng chân thật tất cả Phật nói tâm, đây chính là cảnh giới sở duyên của tự giác thánh trí. Do lìa tâm tướng tự tánh là cảnh giới pháp thân, (nên bản Ngụy dịch: “Vì là pháp thân Như Lai thuyết pháp”) Song sự đặc thù của chuyển biến chỉ ở chỗ sanh và vô sanh; nếu đạt được sanh vốn vô sanh ấy pháp thân bỗn hữu tự hiện.

Vì thế, sau đây Thế Tôn nói thẳng về lý do thức sanh, chỉ thú của toàn kinh không ngoài việc này. Đến như mỗi tiết mục lần lượt chiết phục nan vấn để phá kiến chấp ngoại đạo, do họ không đạt tự tâm hiện lượng, nên vọng sanh kiến chấp ngang bướng, vì thế nói:

Chưa đạt cảnh duy tâm,

Khởi nhiều thứ phân biệt,

Đạt cảnh duy tâm rồi,

Phân biệt liền chẳng sanh

Cần hội vô tánh duyên sanh, duyên sanh vô tánh, thì ý chỉ vô sanh rõ ràng nơi tâm mắt, tất cả ngôn thuyết đều là lời thừa. Xin thỉnh bậc trí xét kỹ vậy.

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo Bồ-tát Đại Huệ: Do 4 nhân duyên mà nhân thức chuyển. Thế nào là bốn? Nghĩa là:

  1. Tự tâm hiện nhiếp thọ bất giác.
  2. Lỗi hư ngụy từ vô thủy do tập khí chấp trước sắc.
  3. Thức tánh, tự tánh.
  4. Muốn thấy các thứ sắc tướng.

Đại Huệ! Đây gọi là bốn thứ nhân duyên, chỗ dòng tạng thức chảy sống chuyển thức sanh.

💥 GIẢI

✅ Đây nói lý do sanh khởi của thất thức, chính là hiển bày nghĩa duyên sanh vô tánh.

4 nhân duyên đó, Đường dịch:

  1. Vì bất giác tự tâm hiện mà chấp giữ.
  2. Vì tập khí hư vọng chấp trước nơi sắc từ vô thủy đến nay.
  3. Vì bổn tánh của thức như thế.
  4. Vì ưa thấy các thứ sắc tướng.

Bởi tâm vốn vô sanh nhân cảnh mà có, do 4 nhân duyên này, nên vốn chẳng sanh mà sanh. Cảnh có nghiệp dụng lỗi lầm, do chẳng biết các hiện tượng chỉ là tâm, vọng sanh chấp giữ nên bất giác tâm sanh.

Do từ quá khứ vô thuỷ đến nay, mỗi mỗi đều có chúng tử riêng, nay tâm cảnh tiếp giáp nhau, ắt theo tập khí huân từ bên trong bèn vọng sanh phân biệt, nên vốn chẳng sanh mà sanh. Do tâm có công năng biết rõ cảnh, cảnh duyên một phen đến thì tâm sanh như thế. Do yêu mến A-lại-da, ưa thức A-lại-da cho làm chủ tể, sẵn sàng ưa thấy cảnh giới các trần, nên tự nhiên tâm sanh.

✅ Đây là nói chung 7 thức, mỗi thức đều nhân nơi tự cảnh mà có tướng sanh khởi. Nếu một thức để đại diện các thức khác, nên riêng nói sắc trần và mắt làm duyên sanh ra nhãn thức. Kỳ thật vô minh là nhân, cảnh giới là duyên, tâm thức hiện tướng lướt lên nhau. Vì thế kết luận rằng: Chỗ dòng nước tạng thức sanh khởi sóng mồi chuyển thức. Vấn sau lại nói Như nhãn thức…

❔ HỎI:

Duy thức nói Nhãn thức có 5 duyên sanh, nhĩ thức có 8, tỵ thiệt thân có 7, 3 thức sau* có 5 duyên, 3 duyên, 4 duyên. Vì sao đây nói 7 thức trước đều đủ 4 duyên ư?

📣 ĐÁP: Duy thức nói đủ duyên của tám thức, mỗi thức có nhiều hay ít duyên. ✅ Đây nói về tướng trạng sanh khởi của bảy thức. Cho nên nói Chỗ dòng nước tạng thức sanh khởi sóng chuyển thức.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Như Nhãn thức, tất cả các căn vì trần mao không đồng sanh, tùy thứ lớp cảnh giới sanh cũng lại như thế. Thí như gương sáng hiện các sắc tướng, như gió mạnh thổi nước biển lớn.

💥 GIẢI

✅ Đây nói các thức sanh khởi mau chậm, để chỉ trước sau bất đồng.

(Đường dịch: “Như nhãn thức, mấy thức kia cũng lại như thế, các chuyển thức ở nơi tất cả các căn, vị trần, lỗ chân lông, nhân thức…, hoặc chậm sanh như gương sáng hiện các sắc tướng, hoặc thứ lớp sanh như gió mạnh thổi nước biển lớn”.)

Các căn, lỗ chân lông là căn; vị trần là trần, căn trần hòa hợp sanh ra thức. Nói là chậm hay thứ lớp, bởi Năm thức hiện lượng cùng ý thức đồng thời, mỗi mỗi căn bình đẳng chiếu biến pháp giới, gọi là Viên thành. 25 Vì thế khi mắt vừa thấy sắc, tối sổ chưa khỏi phân biệt, chỉ như trong gương không phân biệt chia chi, mà mắt sắc trần biến hiện các căn. Một trần đã vậy thì mỗi mỗi căn đều như vậy. Nên nói: chậm sanh như gương hiện hình tượng.

Kịp đến niệm thứ hai thức chuyển sang ý thức khởi phân biệt, thời năm căn cách chia, các trần tùy theo căn không đồng trước sau cũng khác. Nên nói thứ lớp sanh như gió thổi nước biển. Người tu nếu rõ được chỗ chậm sanh thời đạt tự tâm hiện lượng, (lúc bấy giờ) yếu chỉ vô sanh như xem trái cây trên tay.

⚡️ KINH

Gió ngoại cảnh thổi dạt biển tâm, sóng thức không đoạn dứt, nhân và tướng sở tác khác cũng chẳng khác, sanh tướng hòa hợp nghiệp, vào sâu chấp trước, không thể biết rõ tự tánh của sắc… cho nên Năm thức thân chuyển.

Đại Huệ! Ngay khi cùng khởi với Năm thức thân, nhân biết tướng sai biệt phân đoạn, nên biết đó là nhân của ý thức.

💥 GIẢI

✅ Đây nói 8 thức lại hỗ tương làm nhân sanh khởi tướng.

Nghĩa là biển tâm lặng sâu, do gió ngoại cảnh thổi dạt không dừng nên sóng thất thức nối tiếp nhau không dứt.

Ở đây trình bày chung tám thức vốn tự chẳng sanh, do cảnh lôi tâm cho nên các thức cùng sanh, để hiển bày vô minh của tám thức nhân trần cảnh mà khởi lên.

Nhân và tướng sở tác khác cũng chẳng khác là tâm cảnh nhất như, để thành tựu nghĩa vốn chẳng sanh. Câu này trình bày chung về tám cảnh đều có tướng khác và chẳng khác.

Tâm khác và chẳng khác đó là (do các điều kiện sau): Nhân là tứ chủng nhân của bát thức, sở tác tướng là kiến phần, vì tiền thất chuyển thức đều thuộc về kiến phần.

Nay tám thức mỗi mỗi đều biết rõ về cảnh (đối tượng) riêng của nó, cho nên tám thức khác nhau. Nhưng tám thức chỉ một tính chân nên chẳng khác.

Cảnh khác và chẳng khác đó là: Nhân tức là vô minh nghiệp tướng, sở tác tướng là tướng phần bị chuyển biến, vì lục trần từ đại đều thuộc về tướng phần, nay mỗi mỗi cảnh đều đối với các căn riêng khác nhau.

Cảnh trần vốn chỉ một thể nên chẳng khác. Trình bày chung về tâm cảnh khác chẳng khác đó là: Nhân tức Như Lai tạng tâm, sở tác tướng tức vọng tâm vọng cảnh.

Tâm cảnh lập riêng cho nên khác. Cảnh chỉ do tâm hiện, vốn nhất chân tâm nên chẳng khác.

Hợp nghiệp sanh tướng… (Đường dịch: “Nghiệp cũng với sanh tướng”. Nghĩa là ngoại cảnh kia vốn duy tâm hiện, do vô minh bất giác không hiểu duy tâm nên sanh chấp trước sâu nặng, chấp đó giữ đó cho là thật ngã thật pháp. Thế là thất thức nhân vô minh mà có.)

Do cái chấp cùng ngã ái này, không thể biết rõ sắc… như huyễn không thật, mà vọng sanh tham ái, cho nên mắt thấy được chỗ đó là sắc, tai nghe được chỗ đó là tiếng… Vì thế nói “Không thể liễu tri tự tánh của sắc… cho nên Năm thức tham chuyển”. ✅ Đây là Năm thức nhân thức thứ bảy mà có.

Khi 5 thức duyên cảnh, một niệm tối sơ được tự tánh của cảnh, không kẹt trong danh ngôn, không có tâm trù tính, cho nên thuộc về hiện lượng. Lúc ý thức đồng thời khởi chung với năm thức, hoặc nhân phân biệt cảnh giới sai khác từng phần bên cõi thức thứ sáu sanh khởi, cho nên nói: Ngay khi cùng khởi với Năm thức thân, nhân biệt tướng sai biệt phân đoan, nên biết đó là nhân của ý thức. Đây chính là đệ lục thức nhân nơi tiền ngũ thức mà sanh.

Đó gọi là các thức lần lượt làm nhân cho nhau mà sanh vậy.

Bởi tiền thất chuyển thức đều thuộc về cái dụng liễu biệt của kiến phần đệ bát, song khi tiền ngũ thức đối diện với năm trần, thật ra khi ấy thức thứ sáu đồng thời khởi, nhưng trong một niệm tối sơ chưa khỏi phân biệt thì gọi là Tiền ngũ thức cũng gọi là Minh liễu ý thức.

Bước qua sát-na niệm thứ hai có phân biệt những tướng sai biệt như tốt, xấu… liền có tên là đệ lục Phân biệt ý thức. ✅ Đây là giảng rõ về chỗ thân sơ của các thức Ngũ, Lục, Thất, Bát vậy.

⚡️ KINH

Khi các thức thân chuyển, chúng không khởi niệm rằng: Ta lần lượt làm nhân cho nhau. Tự tâm hiện vọng tưởng chấp trước chuyển mà mỗi hoại tưởng của các thức tâm đều chuyển. Phân biệt cảnh giới phần đoan sai biệt, gọi là kia chuyển.

💥 GIẢI

✅ Đây nói chung tám thức duyên sanh vô tánh, thâm chí nghĩa sanh vốn vô sanh, để thành tựu nghĩa khác chẳng khác ở trên.

Ý nói rằng các thức vốn tự chẳng sanh, vốn không có tưởng khác. Nhưng đứng về phương diện mỗi thức “liễu cảnh” mà sanh, nên nói khác.

Bản Đường: “Song các thức kia không khởi niệm này, chúng ta đồng thời lần lượt làm nhân. Mà nơi cảnh giới tự tâm hiện, phân biệt chấp trước cùng một lúc khởi lên vì không sai biệt”. Mỗi thức liễu tự cảnh, do duyên sanh vô tánh nên không khởi niệm mà lần lượt làm nhân cho nhau. Do vô tánh duyên sanh cho nên mỗi thức liễu tự cảnh mà vốn không sai biệt. Nếu biết liễu cảnh không sai biệt, thì lý vô sanh tự khế hợp.

Kinh Đại Niết-bàn nói:

Thí như nước dòng sông

Đua nhau tuôn chảy mạnh

Các pháp không biệt nhau

Mỗi mỗi cũng như thế

Mỗi thức liệu tự cảnh: Lục trần là cảnh của tiền lục thức; Kiến phần đệ bát là cảnh của đệ thất thức. Căn thân, chúng tử, khí thế giới là cảnh của đệ bát thức.

⚡️ KINH

Như người tu hành nhập thiền tam-muội, tập khí vi tế chuyển mà không biết, bèn khởi niệm thức diệt nhiên hậu nhập thiền chánh thọ. Thật chẳng phải thức diệt mà nhập chánh thọ, vì tập khí chúng tử chẳng diệt cho nên chẳng diệt; do cảnh giới chuyển nhiếp thọ không đâu nên diệt.

💥 GIẢI

Hai đoạn sau đây, nói về sanh diệt vi tế của đệ bát thức chẳng phải hàng tam-muội yếu biết được.

Hàng Nhị thừa nhập thiền, tuy cho rằng thức diệt, song chỗ diệt ấy là vì lục thức không chấp thủ cảnh giới mà cho là thức diệt. Tập khí chúng tử của tạng thức là tập chất chưa diệt.

(Đường dịch: “Các nhà tu hành vào tam-muội do sức huân tập khởi rất vi tế mà không biết, bèn khởi niệm: Ta diệt các thức mà vào tam-muội”. )

Thật ra chẳng phải thức diệt mà vào tam-muội, vì các vị ấy chưa diệt chúng tử tập khí. Vì không chấp thủ các cảnh mà gọi là thức diệt.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Như thế, bờ mé rốt ráo của tạng thức kín đáo vi mật, trừ các đức Như Lai và hàng trụ địa Bồ-tát, còn các hàng Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo, dù được sức trí huệ tam-muội, đều không thể đo lường biết chắc chắn.

💥 GIẢI

Hàng Nhị thừa và ngoại đạo do không biết đệ bát thức là căn bản sanh tử, cho nên tu tập lầm. Nhị thừa được ít cho là đủ, ngoại đạo sanh tà kiến ngang bướng, bởi dùng tâm sanh diệt làm cội gốc tu nhân, nhân đã không chơn nên quả phải hư vọng. Nay muốn bỏ vọng về chơn, chuyển thức thành trí cần phải đốn ngộ tự tâm hiện lượng, biết cảnh giới hư vọng một cách như thật, thấy rõ sự lưu chú vi tế của tự tâm, mới có thể vượt sanh tử chứng chân thường. Văn sau nói rõ.

⚡️ KINH

Tướng các địa, trí huệ phương tiện thiện xảo, phân biệt quyết đoán cú nghĩa, thiện căn tới thắng vô biên thành thục, lìa vọng tưởng hư ngụy của tự tâm hiện.

💥 GIẢI

Sau đây chính thức chỉ ra bậc hành giả từ tâm như thật mới có thể nhập pháp môn này.

(Bản Đường dịch: “Chỉ có bậc hành giả tu hành như thật, dùng sức trí huệ biết rõ tướng các địa, khéo đạt cú nghĩa, ở vô biên cõi Phật, tu tập nhiều căn lành, không vọng tưởng phân biệt, hay thấu biết chỗ thấy tự tâm”. )

Kinh Kim Cang nói: “Hay tin được pháp này, không phải chỉ trồng căn lành ở chỗ một đức Phật, hai đức Phật, ba bốn năm đức Phật, mà đã trồng căn lành ở vô lượng ngàn vạn đức Phật”. Vì thế nói người thành tựu vô biên thiện căn mới có thể vào pháp môn này, chẳng phải hạng căn cơ cạn sức hiểu kém, mà có thể tin được.

⚡️ KINH

Ngồi yên trong rừng núi, tu thường trung hạ, hay thấy vọng tưởng lưu chú của tự tâm. Chư Phật ở vô lượng cõi nước quán đảnh, được sức tự tại thần thông tam-muội, các Phật tử thiện tri thức làm quyến thuộc. Những ví ấy tâm, ý, ý thức, tự tánh cảnh giới tưởng hư vọng do tự tâm hiện ra, biển hữu sanh tử, nghiệp ái vô tri, những nhân như thế đều đã vượt qua.

💥 GIẢI

✅ Đây nói rõ hiệu quả mau chóng của sự tu hành như thật.

Bậc chân tu an tọa rừng núi, tu tập về quán môn duy tâm, có thể thấy được sức lưu chú vi tế của tự tâm. Một niệm liền chứng vô sanh, át được trăm ngàn tam-muội thần thông, được mười phương chư Phật đồng thời quán đảnh. Hằng tứ nhị tu quán, ý thức cảnh giới vọng tưởng nghiệp ái vô minh, ngay đó chóng thoát. Cho nên nói Những nhân như thế đều đã vượt qua. ✅ Đây gọi là bậc trí thức tối thắng.

⚡️ KINH

Cho nên Đại Huệ! Những người tu hành phải nên thân cận bậc trí thức tối thắng.

💥 GIẢI

Phật pháp có nhân có duyên. Bên trong dùng chân như vốn tự sẵn đủ huấn phát làm nhân, bên ngoài có thầy bạn trí thức tối thắng trợ phát làm duyên. Từ trước chư Phật Tổ chưa từng không do thiện tri thức mà có thể thành Bồ-đề. Cho nên Thế Tôn kết luận khuyên khích hành giả tu hành như thật, cần nên gần gũi bậc trí thức tối thắng.

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này mà nói kệ:

Thí như sóng biển lớn

Sóng to vỗ biển rộng

Biển tạng thức thường trụ

Các sóng thức lớp lớp

💥 GIẢI

✅ Đây tùng chung về gió ngoại cảnh thổi động biển tâm, sóng thức không dừng.

⚡️ KINH

Các thứ sắc xanh đỏ,

Vị lạt các hoa quả,

Chẳng khác cũng chẳng giống,

Thất thức cũng như thế,

Sữa, kha bối, đường phèn

Trời, trăng cũng ánh sáng

Nước biển nổi sóng nổi,

Tâm cùng hòa hợp sanh.

💥 GIẢI

✅ Đây tùng về “Nhân và tướng sở tác khác chẳng khác” để nói rõ thứ lớp sanh.

Xanh đỏ là sắc trần, kha bối (tiếng đàn) là thanh trần, sữa là hương trần, đường phèn vị lạt là vị trần, hoa quả cựu chú là pháp trần.

Dẫn chứng Tông Cảnh nói: Hiện tại là hoa, vị lai là quả, các thức pháp trần tùy theo đó làm cảnh giới sở duyên cho thức.

✅ Đây gọi là gió ngoại cảnh thổi dạt biển tâm khiến sóng mồi thất thức nối tiếp không dứt. Ánh sáng trời, trăng dụ cho tướng khác cũng chẳng khác của tâm và cảnh; do không đạt được cảnh duy tâm, vọng sanh phân biệt cho nên bị lay động.

⚡️ KINH

Như nước biển xao động,

Bảy thức cũng như thế,

Là chỗ tạng thức kia

Lớp lớp sóng mồi chuyển,

Tâm cùng hòa hợp sanh.

Các thứ thức chuyển biến.

💥 GIẢI

✅ Đây tùng chỗ dòng nước tạng thức là chỗ sóng chuyển thức sanh, để nói rõ chỗ chóng sanh.

Nghĩa là Thất thức kia toàn là sóng mồi bị biến chuyển của đệ bát thức, vốn không thật thể chỉ là nhất tâm, lại không có trước sau, nên văn sau nói tướng chẳng khác.

⚡️ KINH

Là do ý thức kia,

Suy nghĩ nghĩa các tướng,

Tướng chẳng hoại có tánh,

Vô tướng cũng vô tướng.

💥 GIẢI

✅ Đây tùng vì vò sai biệt cho nên mỗi mỗi thức đều liễu tự cảnh.

Do mỗi mỗi liễu tự cảnh cho nên nói Là do ý thức kia, suy nghĩ nghĩa các tướng. Do vốn không sai biệt nên nói Tướng chẳng hoại có tánh, vô tướng cũng vô tướng.

(Bản Đường dịch: “Tâm, ý, và thức là tướng nên nói tâm thức không tướng riêng, không năng tướng sở tướng”. ) Câu Tướng chẳng hoại có tánh, văn xuôi nói: Mỗi mỗi tướng hoại cũng chuyển. ✅ Đây nói tướng chẳng hoại có tánh, là do trong chương Sanh diệt ở trước nói: “Hiện thức và Phân biệt sự thức, 2 tướng hoại và chẳng hoại này lần lượt làm nhân”.

Bởi, hoại là bảy chuyển thức là tâm sanh diệt; không hoại là tự thể của tám thức là tâm bất sanh diệt. Vì chẳng hoại mà hoại nên vô tánh duyên sanh, vốn chẳng sanh mà sanh. Do hoại mà chẳng hoại nên duyên sanh vô tánh, tuy sanh mà chẳng sanh. Văn xuôi và văn tùng phát minh lẫn nhau để hiển ý chân thật vô sanh.

Tông Cảnh nói: “Bất thức như thế, từ vô thủy đến nay, tam tế không đồng, bốn tướng không dời, chân thật thường trụ, tự tánh thanh tịnh. Tướng bất hoại đây đủ viên mãn không kém thiếu, có tất cả công đức như vậy vi đồng pháp giới, cũng là vô tướng”. Vì đều là vô tướng, cho nên nói Tướng chẳng hoại có tâm, vô tướng cũng vô tướng.

⚡️ KINH

Thí như sóng và biển cả,

Ắt là không sai biệt.

Các thức tâm như thế,

Cũng không thể khác nhau.

💥 GIẢI

✅ Đoạn này dùng thí dụ để hiển bày nghĩa vô sai biệt. (Sóng và biển đồng một thể nước, các thức và tâm cũng đồng một thể giác, nên không thể nói là khác nhau)

⚡️ KINH

Tâm tên gom góp nghiệp,

Ý tên rộng gom góp.

Các thức, thức sở thức,

Hiện các cảnh có năm.

💥 GIẢI

✅ Đoạn này tụng lý do tên gọi của tám thức.

Đệ bát thức tên Tâm vì thọ huân trữ chủng là chất tệ của sanh tử, cho nên nói gom góp nghiệp. Đệ thất thức tên Ý, do thiên chấp ngã pháp, hằng thẩm tư lường, tương đương với bốn hoặc; tiến lục thức tạo nghiệp ý đây làm căn, nên nói rộng gom góp. Tiền lục thức gọi chung là thức, nhưng khi đối hiện ngũ trần thì gọi là Ngũ thức, khi phân biệt ngũ trần quá khứ thì tên là Ý thức, vì thế nói Các thức, thức sở thức, đối hiện cảnh có 5.

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ dùng kệ hỏi:

Các sắc tướng xanh đỏ,

Chúng sanh khởi các thức.

Các thứ pháp như sóng,

Thế nào? Cúi xin nói.

💥 GIẢI

Đại Huệ nghe đoạn trước đức Thế Tôn nói tướng chẳng hoại có tánh, vô tướng cũng vô tướng, tâm cảnh đều không. Nay nghe Tâm tên gom góp nghiệp… nên nghi Thế Tôn tự mâu thuẫn. Bèn dùng câu “tâm cảnh đều có” để nạn vấn. Ý rằng các màu xanh đỏ là giác lục trần cảnh giới, khởi lên sóng mồi thạt thức, là cảnh thật có. Lại nói: “Tâm tên gom góp nghiệp, y tên gom góp, các thức, thức sở thức, đối hiện cảnh có năm”. ✅ Đây là tâm thật có. Song tâm cảnh đã là thật có, mà lại sai biệt chằng đồng, tại sao Thế Tôn nói: “Vô tướng cũng vô tướng, khác cũng chẳng thể được?”

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Thế Tôn dùng kệ đáp:

Các tạp sắc xanh đỏ

Nói tâm gom góp nghiệp

✅ Đây là đáp chung cho nghĩa hỏi

Sóng mồi trọn không có

Để khai ngộ phàm phu

💥 GIẢI

Biển vốn yên lặng nhân gió dậy sóng, vậy là cảnh vốn không. Tâm vốn trạm nhiên, do duyên kích động phát sanh thức, là tâm vốn không. Tâm cảnh vốn không mà nói cảnh từ tâm khởi, Tâm tên gom góp… ấy, chỉ vì khai ngộ kẻ phàm phu, tuỳ theo ngôn ngữ của họ mà thôi. (Vì thế Đường dịch: “Các sắc màu xanh đỏ, như sóng, chẳng thể được, nói tâm khởi các tướng, khai ngộ các phàm phu”.)

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ dùng kệ hỏi:

Nghiệp kia trọn không có

Sở nhiếp không sở nhiếp

Lìa tự tâm sở nhiếp

Cùng sóng mồi kia đồng

💥 GIẢI

✅ Đây giải thích tâm cảnh đều không.

Nghiệp kia trọn chẳng có, thì tâm vốn không sanh. Lìa tự tâm sở nhiếp, sở nhiếp là cảnh, lìa thì chắc chắn là cảnh vốn không có. Thế là năng sở đều vắng lặng, tâm cảnh đều không, như sóng biển kia, tánh của sóng chẳng động. (Đường dịch: “Mà kia vốn chẳng khởi, lìa tự tâm sở nhiếp, năng thủ và sở thủ, cùng sóng mồi kia đồng.”)

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ dùng kệ hỏi:

Thân thọ dụng kiến lập,

Nơi kia hiện các nghiệp,

Là Hiện thức chúng sanh,

Thí như sóng trên nước.

💥 GIẢI

✅ Đây giải thích tâm cảnh chẳng khác.

Thân thọ dụng kiến lập. (Đường dịch: “Thân tự tại an trụ”, nghĩa là cảnh lục trần là vật giúp thêm sự thọ dụng của chúng sanh, giữ đó mà được trụ thì thế. Nhưng cảnh lục trần đều là duy tâm sở hiện, nên nơi lìa biên này do tâm hiện mà giữ đó chấp đó, cho là thật ngã thật pháp, nương đó tạo nghiệp, chiêu cảm khổ sanh tử, cho nên nói Nơi kia hiện các nghiệp. Bởi do “Tự tâm giữ tự tâm, pháp phi huyễn thành pháp huyễn” cho nên tâm cảnh dường như có. Nếu “Chẳng thủ thì không có pháp phi huyễn, phi huyễn đã chẳng sanh, huyễn pháp làm sao lập”. ✅ Đây là tâm cảnh vốn không, như sóng trên nước, tuy có mà chẳng có. Vì có mà chẳng có nên nói vô tướng, vô sai biệt, khác cũng không thể được.)

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ liền nói kệ:

Tánh của sóng biển cả

Tạng thức và nghiệp như thế

Vô tướng có thể thấy

Cớ sao không thể biết?

💥 GIẢI

✅ Đây dùng về thí dụ để gạn pháp. Ý rằng nghiệp tướng như sóng mồi, vì sao sóng mồi dễ thấy mà nghiệp tướng không thể thấy.

🪷

Bấy giờ đức Thế Tôn dùng kệ đáp:

Phàm phu không trí huệ

Nghiệp tướng dụ như sóng

Tạng thức như biển cả

Ý dụ đó mà hiểu

GIẢI

Do tạng thức nhỏ nhiệm khó biết, phàm phu vô trí, cho nên dùng biển và sóng làm thí dụ, khiến họ nghe mà hiểu, chẳng phải nói nghiệp thức có tướng mạo để thấy.

🪷

Bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại dùng kệ nói:

Mặt trời mọc sáng chói

Như Lai soi sáng đời,

Chúng sanh thường trung hạ

Vì người ngu nói thật,

Đã phân bố các pháp,

Vì sao không nói thật?

GIẢI

✅ Đây nhân nơi pháp mà nạn vấn về thí dụ.

Thế Tôn đối với chúng sanh trí hiểu kém, chỉ nói sáu thức, ba độc để lập ra căn bản nhiễm tịnh, mà chưa nói đến thức đệ bát. Nên Đại Huệ nghĩ rằng: Như Lai soi sáng thế gian như mặt trời lên cao, cho pháp đều ứng hợp, đáng lẽ thuyết pháp bình đẳng, vì sao đã phân loại các pháp, mà không nói chân thật này. Há không tránh khỏi lỗi bất bình đẳng ư?

Văn kệ nói: “Thức A-đà-na rất sâu nhiệm. Tập khí chúng từ thành bộc lưu, ta không nói cho phàm phu, sợ họ phân biệt chấp làm ngã.” Cho nên sau đây đáp rằng: Chẳng phải ta không nói chân thật, nhưng vì tâm họ không chân thật.


GHI CHÚ

¹ Cảnh bị chấp là chỉ cho 10 cõi thánh phàm, mỗi cõi có đủ 10; 10×10 = 100.

¹ Bản Đường: Đây và nghĩa các câu khác.

¹ Bản Ngụy: Ly tự tánh kiến, chẳng ly tự tánh kiến. Không kiến, bất không kiến. Bản Đường: Câu tự tánh, câu phi tự tánh.

¹ Bản Đường dịch: Câu sanh câu bất sanh. ² Bản Ngụy dịch: Sanh kiến bất sanh kiến, thường kiến vô thường kiến, tướng kiến vô tướng kiến.

¹ Bản Ngụy nói: Ly tự tánh kiến, chẳng ly tự tánh kiến. ² Bản Đường: Câu thiện xảo, câu phi thiện xảo.

Bản Đường: Câu chi phần.

Bản Đường không có câu này.

Bản Đường: Câu chúng tộc.

Bản Ngụy: Câu tiêu tướng, câu phi tiêu tướng.

Bản Đường: Câu hữu câu phi hữu. Câu vô câu phi vô.

Bản Đường dịch: Câu tự chứng thánh trí, câu phi tự chứng thánh trí.

Bản Đường: Câu phi trần.

Bản Đường: Câu đại chúng, câu phi đại chúng.

Bản Đường: Câu toán số, câu phi toán số.

Bản Đường: Câu thần thông, câu phi thần thông.

Bản Ngụy: Tịch tịnh kiến phi tịch tịnh kiến.

Bản Đường dịch: Câu thể tánh, câu phi thể tánh.

Bản Đường dịch: Câu sơ trí, câu phi sơ trí.

2 bản dịch đều nói: Câu đường diệm.

Bản Đường dịch: Câu hòa luân, câu phi hòa luân.

Bản Đường: Câu diệt, câu phi diệt. Câu khởi, câu phi khởi.

Bản Đường: Câu y phương câu tướng, câu phi tướng.

¹ Từ phần đầu kinh đến câu kết luận này là ở trong phạm vi nhất tâm chân như, vì thế Phật không giải thích, chỉ đáp “Phi”. Cần lưu ý!

² Chữ Luận trong hầu hết bản này là chỉ cho Luận Đại Thừa Khởi Tín.

¹ Bốn tướng: Sanh, trụ, diệt, lưu chú.

¹ Ba thức: 1 - Chân thức: Chân như, Chân tâm. 2 - Hiện thức: Thức thứ tám (A-lại-da). 3 - Phân biệt sự thức: Tiền thất thức.

¹ Dị nhân: Nhân khác - Các phái ngoại đạo cho rằng có nguyên nhân ngoài tâm để tạo ra chúng sanh thế giới. ² Sanh nhân: Nguyên nhân sanh ra chúng sanh, thế giới.

¹ Ngũ hiện: Ngũ căn.

¹ Trung Hoa dịch là Hoàng Đầu. ² Trung Hoa dịch là Hưu Đầu. ³ Trung Hoa dịch là Khổ Hạnh.

¹ Đây là lặp lại lìa cảnh giới vọng tưởng. ² Đây lặp lại lìa tâm ý ý thức. ³ Đây chỉ căn bản vô minh vô thủy. ⁴ Chỉ chúng tử hai chướng trong thức thứ tám làm nhân. ⁵ Quán ba cõi vốn không. ⁶ Quán thẳng vô sanh có thể đến tự giác thánh trí.

¹ Dụ Ma-ni này là lặp lại tùy vào thân Như Lai ở trên. ² Đây dạy dụng nghi thức độ sanh.

Ý thức có năm duyên. Mạt-na thức có ba duyên. A-lại-da thức có bốn duyên.

⏯️ (tiếp theo)

🪷

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn dùng kệ đáp:

Nếu ta nói chân thật,

Tâm họ không chân thật,

Cũng như biển và sóng,

Bóng trong gương và mộng.

Tất cả một thời hiện.

Tâm, cảnh giới cũng thế,

Vì cảnh giới không đủ,

Nghiệp thứ lớp chuyển sanh.

Thức ấy thức sở thức,

Ý ấy ý ví nhiên,

Năm thức do hiện hiện,

Không thứ lớp nhất định.

Giống như ông họa sĩ,

Và học trò họa sĩ,

Vẽ màu về các hình,

Ta nói cũng như thế.

Màu sắc vốn không nét,

Chẳng bút cũng chẳng giấy,

Mà ai vui chúng sanh,

Lửa màu vẽ các hình.

GIẢI

Đây nói Như Lai ứng cơ nói pháp cho nên giáo lý thiết lập có bí mật, có bất định.

Thuyết pháp không hợp cơ, rốt cuộc thành lợi suông. Nếu y người tâm không thật mà nói pháp thật, ắt sẽ trở lại nghi ngờ không tin, để họ biến thành thuộc độc. Cho nên bài kệ sau nói: Nói không có ứng hợp, đối với họ không nói. Do không kham nói, chẳng phải tiếc rẻ mà không nói. Song pháp được nói vốn không có phần ra trước giả sau thật, tức là khi nói về sáu thức, cũng đã nói gồm luôn thức thứ 8. Chỉ vì lời nói không thể trình bày cùng một lúc, cho nên phải có trước có sau khác biệt. Vì sao? Bởi do tâm cảnh đồng thời hiện một lúc, như là sóng biển, bóng trong gương, việc trong mộng, chẳng phải thứ lớp sanh, vốn không có sự sai khác giữa tâm thức. Chỉ vì cảnh giới không đủ, nên có nghiệp theo thứ lớp sanh khởi.

Nhân đó mà nói phân biệt pháp trần là Lục thức; chấp tự nội ngã là Thất thức; đối hiện nam trần là Ngũ thức. Cho nên nói: Thức đó thức sở thức, ý đó ý vị nhiên, năm thức đó hiển hiện. Kỳ thật vốn không có thứ lớp nhất định, do tùy căn cơ mà thi thiết. Như họa sĩ vẽ hình, học trò đồ theo đường nét, hình trước, màu sau, cốt yếu không ra ngoài hình vẽ. Ta nói pháp cũng như thế mà thôi. Bởi pháp vốn không nói, nên như màu sắc vốn không nói năng chi tiết, văn tự đều là nên chẳng phải bút chẳng phải vải trơn; chỉ vì ứng cơ lợi vật, lời nói hình tượng bên đấy lên. Nên vì vui chúng sanh, lựa màu vẽ thành hình.

🪷

Nói năng riêng lập bày,

Chân thật lìa danh tự,

Phân biệt hợp sơ cơ.

Tu hành chỉ chân thật.

Chỗ chân thật tự ngộ,

Các tướng sổ giác lìa,

Đây vì Phật tử nói,

Giảng rộng cho kẻ ngu.

Các thứ đều như huyễn,

Tùy hiện không chân thật,

Nói các thứ như thế,

Tùy cơ riêng lập bày.

Chỗ nói không ứng hợp,

Với họ thì không nói.

GIẢI

Pháp vốn ly ngôn, lời sanh thì lý mất. (Cho nên bản Nguy dịch: “Ngôn thuyết lìa chân thật, chân thật lìa văn tự.”) Không nói mà chỉ bày, là phương tiện phân biệt để hợp với người sơ cơ. Nếu người tu hành như thật thì có thể vì họ nói chân thật.

Chân thật là cảnh giới tự chứng, tất cả phân biệt năng sở đều lìa. Chẳng phải bậc thượng căn lợi trí thì không thể vào, nên vì Phật tử nói.

Nếu với hạng phàm phu mà không phân biệt rộng thì họ không thể biết, tức chỗ thuyết pháp hoặc quyền hoặc thật, các thứ pháp môn thảy đều như huyễn, vốn không có thật pháp trao cho người. Cho nên nói Tùy hiện không chân thật, nói các thứ như thế, tùy cơ riêng lập bày, đều là phương tiện tam chỉ bày. Sở dĩ thuyết pháp phải dùng phương tiện, là vì nếu nói không hợp cơ thì đối với họ cũng như không nói. Cho nên bất đắc dĩ mà lập bày phương tiện khéo, chẳng phải là bổn hoài của Phật. 21 ngày tư duy (dưới cội Bồ-đề sau ngày thành đạo) ý ở chỗ đó.

🪷

Các người bệnh như vậy,

Như Lai vì chúng sanh,

Chẳng phải cảnh giới vọng,

Bậc ai mẫn nói pháp,

Lương y tùy cho thuốc.

Tùy tâm hợp lượng nói.

Thanh văn cũng không phần,

Cảnh giới của tự giác.

GIẢI

Chúng sanh có các món dục, các thứ tư tưởng phân biệt, chỉ có Như Lai thấy như thật. Vì thế mới mỗi ứng lượng thuyết pháp, khiến thoát khổ được vui. ✅ Đây là cảnh giới tự giác của Như Lai, chẳng phải phàm phu ngoại đạo, Nhị thừa có thể biết. Cho nên nói: Chẳng phải cảnh giới vọng, Thanh văn cũng không phần.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Nếu Đại Bồ tát muốn biết tự tâm hiện lượng này, nhiếp thọ và cảnh giới vọng tưởng bị nhiếp thọ, nên xa lìa chỗ ồn náo, tập khí ngủ say. Đầu hôm, giữa khuya, gần sáng, phải thường ngủ say ngộ. Phương tiện tu hành, phải xa lìa kinh luận và ngôn thuyết ác kiến, và các tướng Nhị thừa, Thanh văn, Duyên giác, phải biết rõ tướng vọng tưởng tự tâm hiện.

GIẢI

✅ Đây là dạy khiến như chánh pháp mà tu hành.

Kinh Niết-bàn nói: “Như người đem của báu cho kẻ khác, tự mình không có được nửa tiền, đối với pháp không tu, đã văn cũng như thế”, cho nên nghe pháp quỹ ở sự tư duy và tu tập. Ý Thế Tôn rằng: Đã nói tắt cả cảnh giới vọng tưởng năng thủ sở thủ, đều là tự tâm hiện.

Nếu muốn liễu tri cảnh giới duy tâm, nên xa lìa các ác giác quán, hôn trầm, tán loạn. Như thật tu hành, phương tiện quán sát, lâu dần sẽ tự thông đạt liễu ngộ. ✅ Đây là khuyên tu, sau đây là chỉ phương tiện tu.

  • Nói rõ tướng bát thức xong.

  • Kế nói rõ tướng 3 trí.

E₂ - Tướng ba trí

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Đại Bồ tát lập 7 tướng trí huệ trụ rồi, đối với 3 tướng thánh trí tối thượng cần tu học.

GIẢI

Trước nói tướng của thức có 8, đây nói tướng của trí có 3, và dạy phương tiện tu hành như thật.

Liễu đạt được hiện lượng của tự tâm, chẳng phải là cảnh giới vọng tưởng của Nhị thừa, ngoại đạo như trên đã nói. Vì thế nói lập 7 tướng trí huệ. Đã trụ đầy rồi, nếu muốn thật chứng, nên siêng năng tu tập 3 tướng thánh trí tối thượng. Ba tướng này là cảnh giới tự giác thánh trí nên nói thánh trí tối thượng, giản biệt chẳng phải loại tam muội yếu kém của Nhị thừa ngoại đạo.

🪷

Những gì là 3 tướng thánh trí nên siêng tu học? Đó là tướng Vô sở hữu, tướng Tự nguyện của tất cả chư Phật, tướng Tự giác thánh trí cứu cánh. Tu hành đạt đến đây rồi, có thể xả tướng tam trí huệ lừa quê, được địa vị Bồ tát Bát địa, đều do ba tướng trên đây sanh ra.

GIẢI

Đây nêu tên của 3 tướng.

Theo chú giải xưa nói rằng, Thất địa quán sát sanh tử trong ba cõi, tâm bất định gọi là tâm trí huệ lừa quê, vì không thể hành động, do chưa được vô công dụng đạo, cho nên đắm chìm trong đó.

Sau ✅ Đây giải thích tướng.

Đại Huệ!

Tướng Vô sở hữu là tướng của Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo tu tập sanh. (Ngụy dịch: Quán tướng Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo. Đường dịch: Vì quen tu tập tướng của tất cả Nhị thừa, ngoại đạo cho nên sanh khởi).

Đại Huệ!

Tướng Tự nguyện là chỗ của các Phật trước tự nguyện tu sanh. Đại Huệ!

Tướng Tự giác thánh trí cứu cánh là tướng không chấp trước tất cả pháp tướng, được thân như huyễn tam-muội, tiến đến địa vị chư Phật tu hành mà sanh.

✅ Đây giải thích tướng của ba tướng tức tương đương với nghĩa tam quán.

Phật quán ba cõi chẳng thật chẳng giả, chẳng như chẳng khác, vì quán các pháp không thật nên nói Tướng vô sở hữu. Và lại nói tu tập theo Nhị thừa, ngoại đạo mà sanh.

Triệu Công nói: “Ba thừa đều quán tánh không mà đắc đạo”, nhưng tầm có dài tiêu nên thành sai khác.

Do Nhị thừa, ngoại đạo không thấu đạt tánh không nên vọng sanh kiến chấp đoạn diệt. Bồ tát đã hiểu duy tự tâm hiện, vốn không chỗ có (vô sở hữu), chỗ giác ngộ kia tuy đồng mà chỗ chứng có khác. Và lại, vì khiến cho biết chẳng phải cứu cánh để không thủ chứng, cho nên chê đè chuyện ác kiến của họ, nói là tướng quán của Nhị thừa, ngoại đạo, đây là nghĩa Không quán.

Tướng Tự nguyện, là chỗ các đức Phật trước tự nguyện tu tập sanh, do quán các pháp chẳng phải giả, ắt là pháp pháp thường trụ, tướng thế gian thường trụ. Đã là tướng thế gian thường trụ, thời không một pháp nào mà chẳng chân thường, không một loài nào không là chỗ tự nguyện. Cho nên chư Phật vì muốn chánh pháp cứu trụ, Phật chứng không bị diệt đoạn, nên không bỏ sự nghiệp độ sanh. Kinh nói: “Ta vốn lập thệ nguyện, vì muốn tất cả chúng sanh được như ta không khác”.

(Bản Nguy dịch: “Chư Phật vốn tự khởi nguyên giữ gìn các pháp”) ✅ Đây là nghĩa Giá quán. Tướng Tự giác thánh trí cứu cánh, không chấp trước tất cả pháp tướng, được Như huyễn tam muội… nghĩa là quán 3 cõi chẳng phải như chẳng phải khác, không chấp giữ tướng pháp tướng phi pháp, được tam muội Như huyễn, hướng đến trí Phật địa. ✅ Đây là tướng dương nghĩa Trung đạo quán.

Đoạn trước có nói đến phương tiện tu tâm thường tự giác ngộ, nên tuyên bố 3 tướng thánh trí như thế, muốn khiến dùng ba tướng ấy mà tu, nếu bỏ 3 tướng ấy tức là tà trí vậy.

Đại Huệ! Đây gọi là 3 tướng thánh trí. Nếu người thành tựu 3 tướng thánh trí này, có thể đến cảnh giới tự giác thánh trí cứu cánh.

Cho nên Đại Huệ! 3 tướng thánh trí này nên siêng tu học.

Cảnh giới tự giác thánh trí, nếu không phải 3 thứ phương tiện này không thể vào, cho nên khuyên gắng tu học.

  • Phần trên nói rõ nhân y cứ của chân vọng để chỉ rộng 8 thức, để hiển bày tướng nhân duyên sanh diệt xong.

  • Phần sau:

C₂ - Thuyết minh phản vọng quy chân đứng về Năm pháp, Ba tự tánh, Hai vô ngã để biện biệt tướng nhân ngã tà chánh, có 2

D₁ - Lựa riêng tà chánh chỉ thẳng tướng lý hạnh nhân quả nhất thừa, có 2

E₁ - Biện minh nhân địa tâm, có 2

G₁ - Phá tà hiển chánh để chỉ chân lý thường trụ, có 2

H₁ - Đứng về ba môn, phá nhân tà hiển nhân chánh, có 5

I₁ - Rõ năm pháp, có 6

K₁ - Phá danh tướng vọng tưởng* Lời văn từ đây thẳng xuống đến chương “Ngũ vô gián hạnh” ở quyển 3 thì dừng.

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ biết ý niệm của chúng Đại Bồ tát nghĩ về kinh tên “Thánh trí sự phân biệt tự tánh”, bèn nương oai thần của tất cả các đức Phật, mà bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, cúi xin nói kinh “Thánh trí sự phân biệt tự tánh” là chỗ y cứ của 108 câu phân biệt. (Đường dịch: Cúi xin nói pháp môn thánh trí sự tự tánh là chỗ y cứ của 108 câu sai biệt).

Trước dùng 108 câu hỏi chung về pháp môn năm pháp, ba tự tánh… Do đứng về chân như môn nên nói tất cả đều phi, bây giờ lại thưa thỉnh về mỗi mỗi phân biệt cho nên nói: “Y cứ tướng sai biệt của 108 câu”.

Bậc Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác theo lời thỉnh mà phân biệt nói về Đại Bồ tát vào tự tướng cộng tướng tự tánh vọng tưởng. Do phân biệt nói tự tánh vọng tưởng nên có thể khéo biết quán sát khắp hết nhân pháp vô ngã, trừ sạch vọng tưởng, chiếu sáng các địa

(Đường dịch: Tất cả Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác, vì những Đại Bồ tát rơi vào tự tướng cộng tướng, nói về nghĩa môn của tánh vọng chấp sai biệt này. Biết đây rồi, thời có thể trị dứt hai món chướng vô ngã, soi sáng các địa). Vượt qua tất cả vui thiền định của Thanh văn Duyên giác và ngoại đạo, quán sát cảnh giới sở hành bất khả tư nghì của Như Lai, quyết định xa lìa Năm pháp tự tánh, khéo tự trang nghiêm pháp thân trí huệ của chư Phật Như Lai

(Đường dịch: Dùng pháp thân trí huệ của tất cả chư Phật mà tự trang nghiêm).

Khởi cảnh giới huyễn (Đường dịch: Vào cảnh như huyễn), lên tất cả cõi Phật, từ cõi trời Đâu-suất, cho đến cõi trời Sắc Cứu Cánh, bèn được pháp thân Như Lai thường trụ (Đường dịch: Trụ tất cả cõi cung trời Đâu-suất-đà, trời Sắc Cứu Cánh, thành thân Như Lai).

Lý do ý hỏi này vì trước đó Bồ tát Đại Huệ hỏi chung về các diệu pháp môn tâm, ý, ý thức, nằm pháp, ba tự tánh, mà Thế Tôn chỉ đáp tướng sanh khởi của tâm thức. Kỳ dư còn chưa mong được mở mối khai thị, nên không biết thế nào là danh, tướng, vọng tưởng, thế nào là chánh trí, như như? ✅ Đây là pháp môn “Thánh trí phân biệt tự tánh”.

Đại Huệ biết tâm niệm của chúng hội, cho nên đặc biệt thưa thỉnh lại Cúi xin vì nói pháp môn thánh trí sự tự tánh là chỗ ý cầu 108 câu trên vậy.

Các chúng Bồ tát do không biết pháp môn thánh trí tự tánh này nên rơi vào tự tướng cộng tưởng, vọng chấp sai biệt. Nếu biết đây rồi thì có thể tu tập đúng như pháp trừ sạch hai vô ngã, liễu đạt duy tâm, soi sáng các địa, thời có thể vượt qua Nhi thừa ngoại đạo, được chứng cảnh giới Như Lai bất tư nghì, rốt ráo xa lìa 5 pháp, được tự giác thánh trí cứu cánh, thành tựu quả Phật vô thượng. Vì thế đức Thế Tôn sau đây bèn một phen khai thị.

Trước giảng rõ năm pháp, kế đó nói rõ ba tự tánh, sau mới nói hai vô ngã. Tự tướng cộng tưởng là tất cả các pháp đều có tự tướng cộng tưởng. Tự tánh chân như là tự tướng, tùy duyên thành việc là cộng tưởng.

Các pháp 5 uẩn đều có tự thể là tự tướng, hòa hợp thành thân người là cộng tướng. Do ngoại đạo, Nhị thừa không thấu đạt các pháp duy tâm sở hiện nên vọng chấp trước cho rằng thật có tự tướng cộng tướng như thế, vì thế nói rơi vào tự cộng tướng. Do đó nên chấp các pháp tự sanh, tha sanh, cộng sanh, vô nhân sanh. Đây đều căn cứ nơi tự tánh vọng tưởng, chẳng phải là việc tự giác thánh trí. Thế Tôn tuy phá hai kiến chấp Hữu Vô, mà ý hiển bày tất cả pháp bất sanh. Người thấy rõ các pháp bất sanh mới gọi là bậc tự giác thánh trí.

⚡️ KINH

Phật bảo Đại Huệ! Có một hạng ngoại đạo khởi chấp vọng tưởng “vô sở hữu”, nhân giác tri hết nên tưởng rằng như thỏ không sừng, tất cả pháp cũng là như thỏ không sừng.

Đại Huệ! Lại có các ngoại đạo khác thấy Chúng, Câu-na, Cục vị, Đà-la-phiếu, Hình xứ, các pháp lập bày mỗi mỗi sai biệt. Thấy rồi chấp rằng: Cái tưởng “thỏ không sừng” của hạng ngoại đạo trên là sai, họ lại khởi tưởng trâu có sừng.

💥 GIẢI

Đây trình bày nguyên nhân lối chấp thỏ trâu có sừng không sừng của ngoại đạo, đối với các pháp khởi lên hai kiến chấp Đoạn Thường, để phá danh tướng do vọng tưởng khởi trong 5 pháp.

Bởi các pháp duy tâm hiện vốn tự như như, không cho khởi chấp. Song ngoại đạo kia không rõ duy tâm, vọng sanh chấp trước, nhân thấy các pháp theo nhân mà chấm dứt bên tướng như “thỏ không sừng” khởi lên kiến chấp “Vô”.

Một hạng ngoại đạo khác nhân thấy Đại chủng, Câu-na, Trần… các vật có hình tướng, trọng lượng, phần vị sai biệt; do cái chấp “thỏ không sừng” của ngoại đạo trước, đối lại bên sanh kiến chấp “trâu có sừng”, khởi lên chấp “Hữu”. Song, các pháp vốn như, không thuộc hữu vô, danh tướng “hữu vô” đều do vọng tưởng phân biệt mà khởi.

Chúng, tức tứ đại chủng, Câu-na, Vi trần, Đà-la-phiếu đều là trần. Vô cớ mà khởi nên gọi là hoành pháp.

  • Trên trình bày chấp, sau đây phá đó.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Họ rơi trong nhị kiến, không hiểu tâm lượng, cảnh giới vọng tưởng của tự tâm tăng trưởng. (Đường dịch: Họ rớt trong nhị kiến, không rõ duy tâm, chỉ ở tự tâm tăng trưởng phân biệt), vọng tưởng về căn lượng và kiến lập thân thọ dụng (Đường dịch: Căn thân và khí thế gian trợ giúp cho sinh mạng… tất cả đều do phân biệt mà hiện).

Đại Huệ! Tất cả pháp tánh cũng lại như thế, lìa có không, không nên khởi tưởng. (Đường dịch: Nên biết sừng thỏ lìa có không, các pháp tất nhiên chớ sanh phân biệt).

Đại Huệ! Nếu lại lìa có không mà khởi tưởng thỏ không sừng, gọi là tà kiến. Vì những thứ tưởng đó đều nhân đối đãi mà quán, không nên khởi tưởng thỏ không sừng.

💥 GIẢI

✅ Đây là hỗ tương phá kiến chấp Không.

(Đường dịch: Thế nào là sừng thỏ lìa có không? Vì các nguyên nhân (của kiến chấp) đều hỗ tương đối đãi. Ý rằng các pháp vốn không, không nên lại khởi tưởng Không)

Như sừng thỏ vốn không mà lại khởi tưởng Không, đó gọi là tà kiến vọng tưởng. Và lại kiến chấp thỏ không sừng vì nhân trâu có sừng mà khởi lên, cho nên nói các nhân hỗ tương nhau đối đãi. Do không rõ sừng trâu cũng bất khả đắc, nên văn sau nói:

⚡️ KINH

Cho đến phân biệt tự tánh vi trần thấy đều bất khả đắc.

💥 GIẢI

✅ Đây là hỗ tương phá kiến chấp Có.

Đường dịch: Phân tích sừng trâu cho đến thành vi trần, tìm cầu thể tướng của nó rốt cuộc không thể được. Nghĩa là ngoại đạo kia chấp thỏ không sừng do vì thấy sừng trâu có thật, cho nên chấp sừng thỏ là không. Nên nếu phân tích cho khéo biết sừng trâu cũng hư không. Nếu phân tích sừng thỏ cho đến vi trần cực nhỏ, rốt cuộc trở về hư không, thế là tự tánh chắc chắn không thể được. Các pháp cũng vậy.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Cảnh giới bậc thánh lìa (có và không) không nên khởi tưởng trâu có sừng. (Đường dịch: Chỗ hành của thánh trí xa lìa những kiến chấp ấy, cho nên đối với điều này không nên phân biệt).

💥 GIẢI

Đây nói thánh trí thấy rõ các pháp vốn không, cho nên phải xa lìa hai kiến. Ý rằng chỉ cần đối với các pháp không khởi hai kiến chấp Có Không, mới có thể thân cận tùy thuận tự giác thánh trí. Có Không tức danh tướng, hai kiến tức vọng tưởng.

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, người được không vọng tưởng, khi thấy không sanh vọng tưởng rồi, tùy theo sự so sánh quán sát suy nghĩ, không sanh vọng tưởng, nói đó là không ư?

💥 GIẢI

Đây đưa ra chuyển chấp, sắp hiển bày tâm cảnh đều lìa.

Đại Huệ nghe nói chấp thỏ không sừng là nhân trâu có sừng, nếu phân tích sừng trâu đến chỗ bất khả đắc thì sừng trâu cũng không, vì thế không nên khởi vọng tưởng. Nhân đó bèn chuyển chấp. Ý rằng: Sở dĩ người không sanh vọng tưởng đâu chẳng nhân nơi quán sát sừng trâu chẳng có mà biết sừng thỏ vốn không, do chỗ không sanh vọng tưởng này mà nói là không chăng? Đường dịch: “Há không do vọng kiến khởi tưởng sừng ư?”, quả thật đối đãi rồi vọng chấp nói không sừng. ✅ Đây là quy biết sừng trâu có thật, nếu rốt cuộc chấp sừng thỏ là không, thì lại là kiến chấp “không”. Bỏ bên “có” kẹt bên “không” là bệnh chung của ngoại đạo.

Trước phá nhân “có” mà chấp “không”, ở đây phá nhân “không” mà chấp “không”. Người xưa nói: “Thà khởi chấp có như núi Tu-di, không nên chấp không như hạt cải”. Vì thế cần phải phá hết, muốn tâm cảnh đều lìa mới dẹp trừ hai kiến chấp Có - Không.

⚡️ KINH

Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải quán sát chẳng sanh vọng tưởng mà nói rằng “Không”. Vì cớ sao? Vì vọng tưởng đó là nhân kia sanh, nương nơi sừng kia sanh vọng tưởng. Vì cớ chỗ nương mà sanh vọng tưởng sừng, nên nói: Vì nương nơi nhân, vì lìa khác chẳng khác, chẳng phải vì quán sát không sanh vọng tưởng mà nói không sừng.

💥 GIẢI

Đây chỉ thẳng nghĩa vô sanh.

Nghĩa là tâm cảnh dứt tuyệt đối đãi, vốn tự vô sanh không cho khởi niệm nên nói Chẳng phải vì quán sát chẳng sanh vọng tưởng mà nói không. Vì sao? Nói vọng tưởng ấy là vì nhân cảnh giới mà sanh; do tâm cảnh đối đãi mới sanh phân biệt, chính là “Nếu pháp nhân đối đãi mà thành, pháp ấy cũng trở thành đối đãi”.

Trước nói: Nhân sừng trâu có mà chấp sừng thỏ không, đó là vọng tưởng, nên nói Nương sừng kia mà sanh vọng tưởng.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Nếu lại vọng tưởng khác với sừng, thời không nhân sừng sanh, nếu không khác thời nhân sừng vậy.

💥 GIẢI

✅ Đây giải thích câu Lìa khác chẳng khác ở trên, để hiển bày vọng tưởng vô tánh, để rõ tâm vốn không.

Nếu nói tâm cảnh quyết định là khác nhau, thì vọng tưởng (tâm) riêng có tự tánh, ắt không nhân sừng (cảnh) sanh. Nay đã nhân sừng sanh thì không khác. Nếu nói tâm cảnh quyết định là một, thì khi nêu tâm ắt là không có cảnh, cái gì bị phân biệt? Nếu cảnh thì không có tâm, ai là người phân biệt? Thế là chẳng phải một. Không một không khác, đủ thấy vọng tưởng không tánh.

⚡️ KINH

Cho đến tìm cầu phân tích vi trần thấy đều không thể được, vì không khác sừng. Sừng cũng phi tánh, cả hai đều vô tánh, pháp gì có gì mà nói không ư?

💥 GIẢI

Trên nói tâm không tự tánh, đây nói cảnh không tự tánh để rõ cảnh vốn không.

✅ Ở Đoạn nàyy dùng chữ “cũng” để gián trạch sừng thỏ vốn không, không cố nhiên đã không tự tánh. Song sừng trâu tuy có, nếu phân tích ra vi trần, suy xét tìm cầu cũng không thể được, cũng không khác sừng thỏ. Đây thời là có cũng không tự tánh, nên nói Sừng cũng phi tánh. Và lại sừng kia có hay không, cả hai đều vô tánh thì cảnh vốn “không”. Tâm cảnh đều không, lại có pháp gì để xứng tánh, cớ gì chấp khác với có mà nói không ư? Vì thế Đường dịch: Khác với có sừng mà nói không sừng ấy, như thế phân biệt quyết định là phi lý, cả hai đều chẳng có, cái gì đối đãi với cái gì?

⚡️ KINH

Đại Huệ! Nếu không, nên không sừng. (Đường dịch: Nếu cùng đối đãi không thành). Vì thấy (sừng trâu) có nên nói thỏ không sừng, không nên khởi tưởng.

💥 GIẢI

Đây nói tuyệt đối đãi để hiển chân tâm.

(Đường dịch: Đối đãi với có cho nên nói thỏ không sừng, không nên phân biệt. Nghĩa là có không đều lìa thời không thể phân biệt.) Cho nên nói Nếu không, nên không sừng, không cùng thời không đối đãi. Đối đãi đã không mà nói nhân quán sát sừng trâu có mà nói sừng thỏ không, đều là tà kiến, không nên khởi phân biệt này vậy.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Vì chẳng phải chánh nhân mà nói có không, cả hai đều chẳng thành.

💥 GIẢI

Ngoại đạo không rõ các pháp vốn tự vô sanh, mà vọng chấp có không làm sanh nhân, chẳng phải là chánh nhân. Nhân địa không chánh nên kết quả tà vạy. Vì thế nói Chẳng phải chánh nhân mà nói có không, cả hai đều chẳng thành.

Trên dẹp hai chấp Có Không, ý ở chỗ đối vọng như, ý ở chỗ đổi danh tướng tức là như như. Đoạn trước phá “vô kiến”, sau phá “hữu kiến”.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Lại có ngoại đạo tà kiến khác, chấp trước sắc, không, sự, hình xứ, hoành pháp, không khéo biết ngăn mé của hư không. Nói sắc lìa hư không, khởi kiến chấp vọng tưởng chướng hạn.

💥 GIẢI

Đây trình bày lối chấp.

Đường dịch: “Lại có ngoại đạo, thấy hình trạng của sắc, ngăn mé của hư không, mà sanh chấp trước, nói sắc khác hư không, khởi lên phân biệt”.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Hư không là sắc, tùy vào sắc chứng.

Đại Huệ!

sắc là hư không, chỗ kiến lập tánh năng trí sở tri. Việc sắc không, phân biệt nên biết.

💥 GIẢI

Đây nói rõ sắc không là một.

(Ngụy dịch: “Do căn cứ vào sắc mà phân biệt có hư không, căn cứ vào hư không mà phân biệt có sắc”. Đường dịch: “Phân biệt về giới hạn phần vị của sắc - không, nên biết như thế”. )

Kinh nói: Thí dụ như hư không bao trùm khắp tất cả chỗ sắc và phi sắc. Hư không ấy tùy nhập vào trong sắc chúng. Không này tức sắc, chẳng có hư không ngoài sắc, do sắc tức là không, vì kiến lập tánh năng tri sở tri. Tánh của sắc này tự không, chẳng phải sắc diệt mới có không.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Khi tứ đại chúng sanh, tự tướng mỗi đại đều khác, cũng chẳng trụ nơi hư không, chẳng phải từ đại kia không có hư không.

💥 GIẢI

Đây nói rõ tánh sắc tức không, để phá ngoại đạo chấp tứ đại chúng cho là sanh nhân.

✅ Đây là chấp trước hình sắc hoành pháp, nhân không có sừng thỏ mà sanh “hữu kiến” sừng trâu, nói gồm nêu đoạt.¹ Do ngoại đạo kia chấp tứ đại chúng mỗi đại có tự tướng hay sanh các pháp, cùng hư không vô can. Cho nên nói Khi tứ đại chúng sanh, tự tướng mỗi đại riêng khác. Nêu rằng: Cũng chẳng trụ hư không lại đoạt rằng Chẳng phải kia không có hư không. Do họ không biết tánh sắc tức không, nên vọng chấp sắc chất là sanh nhân. Nay tánh sắc đã không, lìa sắc vốn Không. Tứ đại tạo sắc vốn Không mà chấp làm sanh nhân, đó là vô nhân vậy. Lấy vô nhân làm sanh nhân, há chẳng phải là vọng chấp sao? Ngoại đạo ở Tây-vức có nhiều phái, song chỗ chấp không ra khỏi hai kiến chấp đoạn thường, hữu vô. Bởi do không đạt tự tâm hiện lượng, nên không rõ chánh nhân, tuy chấp “Có” trọn quy về “Vô nhân”. Thế Tôn dùng nhiều cách để phá, một bề hiển bày chánh nhân để phá vô nhân của họ vậy.

⚡️ KINH

Như thế này Đại Huệ! Quán sát trâu có sừng nên thỏ không sừng. Đại Huệ! Lại sừng trâu mà phân tích đến vi trần, lại phân biệt vi trần sát-na chẳng trụ (Đường dịch: Lại chia chế vi trần kia không hiện có ngay từng sát-na). Họ quán cách nào mà nói không ư? Nếu nói quán các vật khác, thì pháp của nó cũng thế.

💥 GIẢI

Đây gồm hết cả 2 không trong có và không ở trên, để nêu ra lối quán các pháp mà phát sinh chánh trí, hợp với như như.

Vả lại họ chấp Không, là nhân sừng trâu có mà chấp sừng thỏ không. Nay nếu đem sừng trâu chia chẻ làm vi trần cũng trọn không thể được. Song sừng trâu làm nhân đã không, thì lấy gì mà so sánh quán sát để nói sừng thỏ không? Các pháp vốn không, nhân vọng thấy có. Chỉ một niệm không sanh, đoạn dứt hai kiến, chân trí riêng chiếu, tâm cảnh như như. Khởi quán như vậy, mới gọi là chánh quán, nếu quán khác gọi là tà quán. Cho nên nói: Quán các vật khác, pháp của nó cũng thế. Đoạn sau kết luận khuyên rằng: “Nên lìa vọng tưởng dị kiến, tư duy tự tâm hiện vọng tưởng”.

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo Bồ tát Đại Huệ: Nên lìa những vọng tưởng kiến chấp khác nhau về sừng thỏ, sừng trâu, hư không, hình sắc. Hàng Bồ tát các ông nên tự duy về vọng tưởng tự tâm hiện, tùy nhập vào tất cả cõi nước, vì hàng tối thắng tử, dùng phương tiện tự tâm hiện mà dạy bảo họ. (Đường dịch: Vì các Phật tử nói pháp tu quán sát tự tâm).

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Sắc thấy và tâm không, Sắc thấy nuôi lớn tâm.

💥 GIẢI

Đây nói vọng cảnh lục trần và vọng tâm phân biệt xưa nay chẳng có, chỉ vì chẳng hiểu cảnh duy tâm, vọng sanh phân biệt, cho nên nói sắc thấy nuôi lớn tâm.

⚡️ KINH

Thân thọ dụng an lập, Tạng thức hiện chúng sanh.

💥 GIẢI

Thân thọ dụng: Nghĩa là thân thể, tài sản, chỗ ở, tất cả cảnh là ảnh tượng do tạng thức hiện ra, nên nói: Tạng thức hiện chúng sanh. Vì không rõ nên vọng sanh chấp trước.

⚡️ KINH

Tâm, ý và ý thức — Tự tánh và năm pháp, Hai vô ngã thanh tịnh — Bậc giảng rộng đã nói.

💥 GIẢI

Đây nói ý của Như Lai thuyết pháp quyền thật đều hiển bày.

Bởi, các pháp môn như tâm, ý và ý thức, 5 pháp, 3 tự tánh, 2 vô ngã… là vì người chẳng hiểu rõ duy tâm bất đắc dĩ mà kiến lập để phá vọng chấp của họ thôi. Kỳ thật năm pháp ba tự tánh đều không, tám thức hai vô ngã đều đẹp. Chỉ nêu bày nhất tâm lại không có pháp khác. ✅ Đây là nghi thức thuyết pháp của Như Lai, nên nói Bậc giảng rộng đã nói.

⚡️ KINH

Dài, ngắn, có, không thấy

Do không nên thành có

Phân biệt việc vi trần¹

Chỗ an lập tạm lượng

Chẳng (phải) cảnh giới giác tưởng²

Bậc cứu thế đã nói,

Lần lượt xen nhau sanh.

Do có nên thành không.

Không khởi vọng tưởng sắc.

Chỗ ác kiến chẳng ưa.

Thanh văn cũng như vậy.

Về cảnh giới tự giác.

💥 GIẢI

Tất cả pháp hữu vi thế gian không ra ngoài việc ngắn dài cũng tiêu biểu, có không cũng sanh nhau xen lần lượt đối đãi phân biệt mà có. Đến như phân tích vi trần thành tánh không, ở nơi cảnh sắc chất liệu đạt duy tâm, không khởi phân biệt. Pháp môn vi diệu như thế thì người ác kiến không ưa nghe, lại chẳng phải cảnh giới của Nhị thừa ngoại đạo. Đó là cảnh giới tự giác của Như Lai đã nói.

  • Phần trên đứng về có không, hữu vô, một khác, để phá danh tướng vọng tưởng trong năm pháp.
  • Phần sau đây hiển bày chánh trí như như. Trước hiển bày chánh trí.

K₂. Hiển chánh trí như như

L₁. Hiển chánh trí

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ vì trừ sạch sức hiện lưu của tự tâm, lại thỉnh Như Lai, bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Làm sao để trừ sạch tự tâm hiện lưu của tất cả chúng sanh, là đốn, là tiệm ư?

💥 GIẢI

Đây đứng về việc trừ sạch tâm tập khí hiện lưu của chúng sanh, để rõ nghĩa chánh trí trong năm pháp.

Bởi tâm tập khí hiện lưu của tất cả chúng sanh sự dụng hàng ngày, vốn là trí huệ của pháp thân Như Lai. Do bất giác theo dòng vô minh, tùy sự chuyển biến của tâm, ý, thức, vì thế tự giác thánh trí ẩn mà không hiện. Như Lai thuyết pháp, nhân cái trí huệ sẵn có ấy mà khai mở dẫn đạo chỉ khiến tự ngộ “bản hữu”. Cho nên nói “tịnh trừ” mà chẳng có pháp thật để tăng thêm cho chúng sanh.

Kinh Đại Niết Bàn nói: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh có đầy đủ trí huệ đức tướng của Như Lai, chỉ do vọng tưởng điên đảo chấp trước mà không chứng đắc. Nếu lìa vọng tưởng điên đảo chấp trước, thời Nhất thiết trí, vô sư trí liền hiện tiền”.

✅ Đây là tịnh trừ hiện lưu để rõ chánh trí vậy.

(Chú giải của bản Đường: Tịnh là tự giác thánh trí, sở tịnh là tự tâm hiện lưu. Ý cho rằng thánh trí thuộc về Phật, hiện lưu thuộc riêng về chúng sanh. E rằng không phải ý chỉ bốn kinh.)

⚡️ KINH

Phật bảo Đại Huệ!

tiệm tịnh chẳng phải đốn.

  1. Như quả Yêm-la chín dần không phải mau chóng; Như Lai tịnh trừ tự tâm hiện lưu của tất cả chúng sanh cũng lại như thế, tiệm tịnh chẳng phải đốn.

  2. Thí như thợ gốm làm đồ vật dần dần mà thành, chẳng phải thành liền; Như Lai tịnh trừ tự tâm hiện lưu của tất cả chúng sanh cũng lại như thế, tiệm tịnh chẳng phải đốn.

  3. Thí như đất phát sanh vạn vật dần dần chẳng phải sanh một lúc; Như Lai tịnh trừ tự tâm hiện lưu của tất cả chúng sanh cũng lại như thế, tiệm tịnh chẳng đốn.

  4. Thí như người học các kỹ thuật, âm nhạc, hội họa, thi thơ, dần dần thành công, chẳng phải một lúc mà giỏi; Như Lai tịnh trừ tự tâm hiện lưu của tất cả chúng sanh cũng lại như thế, tiệm thành chẳng phải đốn.

💥 GIẢI

Trên nói 4 thứ tiệm, dưới nói 4 thứ đốn.

⚡️ KINH

  1. Thí như gương sáng, chóng hiện tất cả sắc tướng vô tướng; Như Lai tịnh trừ tất cả tự tâm hiện lưu của chúng sanh cũng lại như thế, chóng hiện vô tướng, cảnh giới thanh tịnh vô sở hữu.

  2. Như vầng mặt trời mặt trăng chiếu hiện lập tức tất cả sắc tướng. Như Lai vì lìa tự tâm hiện tập khí lỗi lầm của chúng sanh cũng lại như thế, chóng vì hiển bày cảnh giới trí tối thắng bất tư nghì.

  3. Thí như tạng thức chóng phân biệt, biết tự tâm hiện cảnh giới thân an trụ thọ dụng, báo thân Như Lai cũng lại như thế, chóng thành thục các chúng sanh giới, đem các người tu hành để ở trời Sắc Cứu Cánh.**¹

  4. Thí như pháp thân Phật hiện ra Báo thân Phật,**² ánh sáng rõ ràng, tự giác thánh trí cũng lại như thế, ở nơi pháp tướng hữu tánh vô tánh vọng tưởng ác kiến, chiếu soi khiến trừ diệt.

💥 GIẢI

Đây ước về pháp giáo hóa có đốn tiệm, để tỏ rõ ý nghĩa lý căn đốn ngộ, sự căn tiệm trừ.

Theo cựu chú cho là đốn tiệm đều chỉ cho Phật, song xét kỹ trong thí dụ thì tiệm là nghĩa thành thục, đốn là nghĩa hiển hiện chiếu dụng, như vậy đốn để nói về Phật, tiệm nói riêng chúng sanh. Bởi Như Lai viên mãn tự giác thánh trí, an trụ nơi Hải Ấn tam-muội, chiếu rõ pháp giới hiển hiện bình đẳng. Giống như gương sáng hiện tướng, không sót một vật nhỏ. Xem căn cơ thuyết pháp, như mặt trời mặt trăng lên cao, mây mưa thấm nhuần khắp. Chỉ vì núi có cao thấp cho nên chỗ được roi sáng có trước sau; căn cơ có đại tiểu nên thành thục có mau chậm. Đó là pháp vốn không khác, khác là tự căn cơ vậy.

Nên Như Lai thuyết pháp như sư tử đùa với con, tuỳ ngộ, vươn mình, đều dốc hết toàn lực. ✅ Đây là lý do pháp giáo hóa của Phật có nghĩa bí mật bất định vậy.

Ở đây đứng về Phật để nói đốn tiệm, do y cứ ba thân thuyết pháp. Đốn tiệm có bốn nghĩa: đốn đốn, đốn tiệm, tiệm tiệm, tiệm đốn. Bởi do chúng sanh mới mối tự tâm vốn là tự giác thánh trí, chỉ vì vô minh huân tập biến thành hiện nghiệp lưu thức. Nay chuyển thức thành trí, nhân vô minh có dầy mỏng, cho nên pháp có đốn tiệm chẳng đồng. Nếu có chúng sanh một niệm đốn ngộ “bản hữu pháp thân trí huệ”, soi rõ tự tâm, vốn không có tướng thế giới thân tâm, xa lìa phan duyên, tất cả tướng căn lượng diệt, một niệm đốn chứng tự giác thánh trí. Gọi là Pháp thân Phật nói đốn pháp, chóng trừ sạch tự tâm hiện lưu của chúng sanh. ✅ Đây là đốn đốn.

Nếu có chúng sanh, nhân sức huân tập từ sự giáo dưỡng của thầy, tuy có thể liễu ngộ tự tâm, do sức tập khí vô minh, không thể chóng lìa cảnh giới vọng tưởng của tâm, ý, ý thức. Chỉ quán sát tất cả pháp duyên sanh vô tánh, tất cả thân tâm thế giới như huyễn chẳng thật, chỉ là tự tâm hiện; dần dần đoạn vô minh chứng tự giác thánh trí. Trước hiểu, kế đến tu hành, sau mới chứng ngộ. ✅ Đây là Báo thân Phật nói pháp đốn tiệm, trừ sạch hiện lưu của chúng sanh. ✅ Đây là đốn tiệm, tiệm đốn vậy.

Nếu các chúng sanh tuy gặp ngoại duyên không thể đốn ngộ tự tâm, chỉ nương quyển giáo của Như Lai, các kinh Đại thừa dạy Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ quán sát thứ lớp, dẫn dần xa lìa tâm cảnh, được chánh tri kiến. ✅ Đây là Hóa thân Phật nói pháp tiệm tiệm, trừ sạch dần dần hiện lưu của chúng sanh. ✅ Đây là tiệm tiệm.

Do đây thấy, nơi Phật tuy tiệm mà cũng đốn vì hiển hiện bình đẳng, nên nói “đốn” là đúng riêng về Phật. Nơi căn cơ thì cũng đốn cũng tiệm, vì nhân nhiều đời tích chứa thiện căn thành thục, nay bận đâu một niệm đến “ngộ”, do đốn nhưng cũng là nhân nơi tiệm. Vì thế sau đây tùy theo đó đưa ra nghi thức nói pháp của ba thân Phật, giải thích thành nghĩa đốn tiệm. Song Hóa Phật tuy nói pháp tiệm, do ba thân một thể nên tuy tiệm cũng là đốn. Kinh nói: “Bèn dùng phương tiện khác, để giúp hiển bày nghĩa đệ nhất”.

Trên hiển chánh trí.

Dưới hiển như như.

L₂ - Hiển như như

⚡️ KINH

Đại Huệ! Y Pháp thân Phật nói tất cả pháp vào tự tướng cộng tướng, nhân tập khí tự tâm hiện, nhân tự tánh chấp trước vọng tưởng tiếp nối, các thứ không thật như huyễn, các thứ chấp trước không thể được.

💥 GIẢI

Đây nói Báo thân Phật nói pháp duyên sanh vô tánh, thành nghĩa đốn tiệm, tiệm đốn ở trên, để hiển như như.

Từ Pháp thân có Báo thân, nên nói Y Pháp thân Phật. Chân như không giữ tự tánh tùy duyên thành tất cả pháp, nên nói vào tự tướng cộng tướng. Vì mình làm nhân sanh tam tế nên nói tự tâm hiện tập khí làm nhân. Cảnh giới làm duyên tăng trưởng lực thọ nên nói nhân tự tánh chấp trước vọng tưởng tiếp nối. Nghĩa là nhất tâm chân như, tùy duyên thành tất cả pháp. Do tất cả pháp duyên sanh vô tánh nên các thứ không thật sanh, như huyễn. Vọng tưởng vốn không, theo duyên mà sanh, sanh cũng không thành nên không thể được. Vì vậy Hoa Nghiêm dùng pháp giới duyên khởi làm tông. Sau đây đứng nơi Báo thân Phật nói pháp duyên sanh. Sau đây dùng dụ để hiển bày.

⚡️ KINH

Lại nữa Đại Huệ! Chấp trước tự tánh duyên khởi, sanh tướng tự tánh vọng tưởng.

Đại Huệ! Như nhà huyễn thuật dùng cỏ cây ngói đá làm các pháp huyễn, tạo ra tất cả chúng sanh có bao nhiêu hình sắc, khởi lên các thứ vọng tưởng. Các thứ vọng tưởng ấy cũng không chân thật.

💥 GIẢI

Đây dùng thí dụ để giải thích thành nghĩa duyên sanh vô tánh.

Hỏi về tự tánh vọng tưởng nên kết đáp do chấp trước tánh duyên khởi.

Tự tánh vọng tưởng do nương tự tánh duyên khởi mà dấy lên, nên nói: Chấp trước tự tánh duyên khởi sanh ra tướng tự tánh vọng tưởng. Nhà huyễn thuật dụ cho tâm, cỏ cây ngói đá dụ cho vô minh làm duyên; bao nhiêu hình tượng dụ cho tất cả pháp; người trông thấy bèn phân biệt các thứ, dụ cho chúng sanh không rõ duy tâm, đấy lên các thứ vọng chấp, thấy đều như huyễn không thật. Thế thì không phải chỉ riêng vọng cảnh vốn không, mà vọng tâm cũng vốn chẳng có. ✅ Đây là duyên sanh nên như huyễn.

⚡️ KINH

Như thế Đại Huệ! Nương tự tánh duyên khởi dấy lên tự tánh vọng tưởng, các thứ tâm vọng tưởng, các thứ tướng vọng tưởng, hành động, sự việc, vọng tưởng tập khí chấp trước. Đó là tướng tự tánh vọng tưởng sanh.

Đại Huệ!

Đó là Báo thân Phật thuyết pháp.

💥 GIẢI

Đây dùng pháp hợp dụ.

(Đường dịch: “Đây cũng như thế, do sức tập khí chấp trước cảnh giới nên ở trong tánh duyên khởi có tánh vọng chấp, các thứ tưởng hiện gọi là tánh vọng chấp sanh. Đại Huệ!

Đó gọi là pháp tướng do Phật sở lưu từ pháp tánh nói ra”.)

⚡️ KINH

Đại Huệ! Pháp thân Phật đó, lìa tướng tánh tự tâm, thành lập cảnh giới sở duyên của thanh tự giác.

💥 GIẢI

Đây nói về Pháp thân Phật thuyết pháp thành lập nghĩa đơn đốn ở trên.

Phàm lìa tâm ý ý thức để hiện cảnh giới tự giác thánh trí, đều là pháp tướng do Pháp thân Phật nói.

Kinh này thuận đốn, nghĩa ấy thể hiện nơi đây. Cho nên phần đầu chương Năm Pháp ở trước, Đại Huệ đã thỉnh “Cúi xin vì nói pháp do Pháp thân Như Lai thuyết giảng”.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Hóa thân Phật nói về thì, giới, nhẫn, tinh tấn, thiền định và tâm trí huệ. Lia ấm giới nhấp, giải thoát thức tưởng, phân biệt quán sát dụng lập, vượt hạn kiến chấp vô sắc của ngoại đạo.

💥 GIẢI

Đây nói về Hóa Phật nói pháp tướng, thành nghĩa tiệm tiệm ở trên. Ngoại đạo vọng thấy cõi trời Vô sắc là cứu cánh nên nói kiến chấp vô sắc.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Lại Pháp thân Phật lìa phan duyên, phan duyên lìa diệt tất cả tướng tạo tác cảm lượng. Chẳng phải cảnh giới chấp trước của hàng phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo chấp trước về ngã. Thành lập tướng Tự giác thánh cứu cánh sai biệt.

Cho nên này Đại Huệ! Nên siêng tu học tướng Tự giác thánh cứu cánh sai biệt, kiến chấp tự tâm hiện nên phải diệt trừ.

Đây kết quy về Pháp thân Phật, chỉ thẳng pháp đốn đốn, nêu tổng chỉ tốt cùng của kinh này.

💥 GIẢI

Đoạn trước trình bày ba thân Phật nói pháp tướng, sau lại đưa ra Pháp thân Phật để kết khuyến. Ý rằng cớ tâm phan duyên nên vọng thấy cảnh giới, phân biệt chấp trước tức là vọng tưởng, lìa phan duyên này tức là tự giác thánh trí vậy.

Và lại trong ba tướng ở trước nói tướng Tự giác thánh trí cứu cánh, đây nói tướng cứu cánh sai biệt. Ý hiển bày ba thân Phật một thể, mà pháp nói ra chính là quyền tức thật, tiệm tức đốn, sai biệt tức cứu cánh, thẳng muốn người tu chuyển nương nơi đốn đốn mà tu.

Trên hiển chánh trí như như xong.

Sau đây phá hai thứ tà nhân, đứng về tà nhân nhị thừa để nêu chánh nhân.

K₃ - Phá hai thứ tà nhân, có 2

L₁ - Đứng về tà nhân nhị thừa để nêu chánh nhân

⚡️ KINH

Lại nữa Đại Huệ! Có hai tướng cần phân biệt chung cho Thanh văn thừa. Nghĩa là tướng Tự giác thánh sai biệt và tướng Tự tánh chấp trước vọng tưởng.

💥 GIẢI

Đây do đoạn trước, Pháp thân Phật thuyết pháp là Tự giác thánh trí, chẳng phải cảnh giới của phàm phu nhị thừa ngoại đạo, nên theo đó nói về tướng của Thanh văn và ngoại đạo, để nêu ra ý sở dĩ chẳng phải thánh trí.

Hàng nhị thừa theo lời Phật dạy mà tu, do không rõ quyền tức thật nên chỉ nhận được Thánh trí sai biệt, không nhận được tướng sai biệt tức cứu cánh của thánh trí, thành ra kẹt lâu trong hóa thành, chưa đến bảo sở. Ngoại đạo vọng lập thân ngã tự trái với chân thường, nên chấp sâu tà kiến. Muốn người tu lìa cái quyền tà này mới được tướng Tự giác thánh trí cứu cánh kiến lập sai biệt.

Thế nào là Thanh văn được Tướng tự giác thánh trí sai biệt? Nghĩa là cảnh giới vô thường, khổ, không, vô ngã, chân đế lìa dục vắng lặng. Dứt ấm giới nhập tự cộng tướng. Biết như thật ngoại tướng bất hoại, tâm được định lặng. Tâm dừng lặng rồi, thiền định giải thoát tam-muội đạo quả chánh thọ giải thoát. Không lìa tập khí bất tư nghì biến dịch tử. Thanh văn được tự giác thánh lạc trụ, đây gọi là Thanh văn được Tướng tự giác thánh sai biệt.

Đây lựa ra tà nhân của nhị thừa.

Thanh văn có hai bậc, một là hàng lợi căn tu theo tứ đế, quán Không mà ngộ nhập; hai là hàng độn căn, tu theo quyền giáo quán Bát bội xả, phân tích sắc mà giữ thiền không. Đây nói về hàng lợi căn Thanh văn.

Đường dịch: “Thế nào là tướng tự chứng thánh trí thù thắng, nghĩa là thấy rõ các đế lý cảnh giới khổ, không, vô thường, vô ngã. Lìa dục vắng lặng, đối với tự tướng cộng tướng của uẩn xứ giới rõ biết như thật, tướng chẳng hoại bên ngoài. Cho nên tâm trụ một cảnh, trụ ở một cảnh rồi, lại do thiền định giải thoát tam-muội đạo quả mà được xuất ly, trụ nơi cảnh giới tự chứng thánh trí lạc, chưa lìa tập khí bất tư nghì biến dịch tử. Đây gọi là tướng Thanh văn trụ cảnh giới tự chứng thánh trí.” Bởi Thanh văn thấy rõ cảnh giới vô thường vô ngã là đồng quán tánh Không mà được đạo¹; chỉ vì tham cái vui tam-muội không khởi tâm độ sanh, vì thế nói trụ nơi cảnh giới vui tự chứng thánh trí.

Do chưa lìa chủng tử tập khí vô minh cho nên không qua khỏi biến dịch sanh tử. Sanh tử có hai thứ. Thức Luận nói: Một là Phần đoạn sanh tử, nghĩa là các nghiệp hữu lậu thiện và bất thiện do thế lực trợ duyên của phiền não chướng, chiêu cảm quả dị thục thọ trong ba cõi, mạng sống dài ngắn, tùy sức nhân duyên có giới hạn nhất định, cho nên gọi là Phần đoạn. Hai là Bất tư nghì biến dịch sanh tử. Do sức trợ duyên của sở tri chướng, chiêu cảm quả dị thục thù thắng vi tế. Do sức bi nguyện mà biến chuyển thân mạng, không giới hạn nhất định cho nên nói là biến dị. Chính nhờ trợ giúp chiêu cảm của định và nguyện vô lậu, diệu dụng khó lường gọi là bất tư nghì.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Đại Bồ tát được tự giác thánh sai biệt lạc trụ, chẳng phải không có diệt môn lạc chánh thọ lạc, chỉ vì đối hoại chúng sanh và bổn nguyện nên không tác chứng.

Đại Huệ! Đây gọi là tướng Thanh văn được tự giác thánh. Đại Bồ tát đối với tướng ấy không nên tu học sai biệt lạc.

💥 GIẢI

✅ Đây là đề phòng ganh hỏi, để hiển bày chỗ quán của Thanh văn Bồ tát tuy đồng, mà chỗ chứng thì khác, để rõ tâm có đại tiểu thành sai khác.

Hỏi: Bồ tát cũng được cảnh giới tự giác thánh trí này, vì sao không giống với Thanh văn?

Bản Đường dịch: Bồ tát tuy cũng được cảnh giới thánh trí này, vì thương xót chúng sanh và sức gìn giữ bổn nguyện, nên không chứng tịch diệt môn và tam-muội lạc. Do quán không mà không thủ chứng. ✅ Đây là lý do Bồ tát khác Thanh văn. Cho nên khuyên: Đại Bồ tát, đối với cái vui trong tự chứng thánh trí đó, không nên tu học.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Thế nào là tướng Thanh văn vọng tưởng tự tánh chấp trước? Nghĩa là đại chủng xanh, vàng, đỏ, trắng, cứng, ướt, nóng, động, chẳng phải tạo tác sanh, tự tướng cộng tướng. Các bậc thánh trước khéo nói, thấy rồi ở nơi kia khởi lên tự tánh vọng tưởng.

💥 GIẢI

Đây nói về hàng Thanh văn độn căn.

Nghĩa là các Thanh văn này không biết quán không, chỉ nương vào quyền thừa của bậc thánh chỉ dạy tu quán môn Bất bội xả. Quán các pháp tứ đại… thật có tự tướng cộng tướng. Tuy không giống với ngoại đạo chấp trước có tác giả sanh, song cũng chấp các pháp ấy thật có tự tánh, cũng là không lìa vọng tưởng.

Cho nên Đường dịch: “Thế nào là tướng phân biệt chấp trước tự tánh? Nghĩa là biết các pháp cứng, ướt, nóng, động, xanh, vàng, đỏ, trắng, chẳng có tác giả sanh, song nương theo giáo lý thấy có tự tướng cộng tướng, phân biệt chấp trước”. Ngụy dịch: “Phân biệt có vật, chấp vào tướng hư vọng, nghĩa là đối với pháp ấy chấp trước hư vọng cho là thật có”.

Bồ tát Ma-ha-tát, đối với những việc này nên biết nên xả, tùy nhập vào tướng pháp vô ngã, diệt kiến chấp nhân vô ngã, lần lượt dựng lập các địa tiếp nối.

Đây kết luận khuyên lìa lỗi.

Thanh văn đã được nhân vô ngã, chưa được pháp vô ngã. Vì nhân vô ngã tức là pháp chấp, cho nên diệt tướng kiến chấp nhân vô ngã, tức là vào tướng pháp vô ngã.

Đây gọi là các bậc chứng tánh Thanh văn, tướng vọng tưởng tự tánh chấp trước.

✅ Đây là kết danh. Nghĩa là lìa kiến chấp của hai hạng Thanh văn ấy tức gọi là chánh trí, cho nên khuyên phải bỏ.

Trên, ngay tà nhân nhị thừa để chỉ chánh nhân xong.

Kế, dùng chánh nhân thánh trí để phá tà nhân ngoại đạo.

L₂ - Đem chánh trí chánh nhân để phá ngoại đạo tà nhân

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn, Thế Tôn nói về Thường bất tư nghị, là cảnh giới tự giác thánh trí, và cảnh giới đệ nhất nghĩa. Thế Tôn, chẳng phải là ngoại đạo cũng nói nhân duyên Thường bất tư nghị ư?

💥 GIẢI

Trước nói về lìa kiến chấp nhị thừa, đây nói về lìa kiến chấp ngoại đạo.

Do ngoại đạo chấp thần ngã làm sanh nhân chẳng phải chánh nhân, cho vô thường là thường chẳng phải chánh thường, thấy đều là tà kiến. Lìa đó tức gọi là chánh trí, cho nên phát khởi câu hỏi này. Ý rằng Phật nói tự giác thánh trí và đệ nhất nghĩa là chơn thường bất tư nghị, mà ngoại đạo cũng nói Thường bất tư nghị. Thế Tôn nói đâu không giống với ngoại đạo nói ư?

Sau đây Phật đáp lại, đưa ra nhân tướng bất đồng không thể so sánh với thuyết của ngoại đạo.

⚡️ KINH

Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải nhân duyên của ngoại đạo đạt được Thường bất tư nghị. Như Lai nói Thường bất tư nghị dùng đệ nhất nghĩa làm nhân, dùng tự giác thánh trí làm tướng, đó là thật tướng chánh nhân. Chẳng phải ngoại đạo vọng chấp thần ngã làm nhân, lấy vô thường làm thường, cho nên không đồng với luận của họ. Vì cớ sao? Thường bất tư nghị của ngoại đạo không nhân nơi tự tướng mà thành.

💥 GIẢI

✅ Đây giải thích đưa ra lý do chẳng đồng.

Nghĩa là Thường bất tư nghị của họ, là vọng lập thần ngã, không nhân nơi tướng tự giác thánh trí đệ nhất nghĩa mà thành. Cho nên nói Không nhân nơi tự tướng mà thành.

⚡️ KINH

Nếu Thường bất tư nghị không nhân nơi tự tướng mà thành, thì nhân đâu mà hiện hiện Thường bất tư nghị?

💥 GIẢI

Đây chính là hiển bày họ không phải chơn thường.

Thường bất tư nghị phải nhờ chánh nhân, nếu không phải chánh nhân, làm sao có thể hiện hiện nghĩa Thường bất tư nghị ư?

⚡️ KINH

Lại nữa Đại Huệ! Bất tư nghị nếu nhân tự tướng thành, kia lẽ ra phải Thường, do lấy tác giả làm nhân tướng nên Thường bất tư nghị không thành.

💥 GIẢI

✅ Đây là tùng đoạn để phòng bị chuyển chấp.

Sợ họ nghe Phật nói chơn thường nhân tự tướng thành, bèn chuyển chấp rằng: “Ta nói Thường bất tư nghị cũng nhân tự tướng thành, sao lại không giống với Phật nói”.

Cho nên nêu rằng: Bất tư nghị của ngoại đạo kia nếu quả nhiên nhân tự tướng thành, thì kia lẽ ra cũng là chơn thường. Bởi do họ chấp tác giả làm nhân, nhưng tác giả chẳng phải chơn nhân. Nhân đã chẳng chơn làm sao được quả thường, nên Thường bất tư nghị chẳng thành.

Sau đây hiển chánh nhân.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Thường bất tư nghị đệ nhất nghĩa của ta do nhân tướng đệ nhất nghĩa thành tựu, lìa tánh phi tánh được tướng tự giác, nên có tướng; do trí đệ nhất nghĩa làm nhân, nên có nhân, vì lìa tánh phi tánh. Thí như Hư không, Niết-bàn, Diệt tận không tạo tác, cho nên Thường.

Như thế Đại Huệ! Ta không giống luận thuyết Thường bất tư nghị của ngoại đạo.

💥 GIẢI

Đây nói Phật dạy về nhân và tướng đều chơn, để hiển chơn thường bất tư nghị.

Phật dạy: Ta nói Thường bất tư nghị là căn cứ vào đệ nhất nghĩa để làm nhân tướng mà thành lập, lìa nhị kiến hữu vô, do đạt được tướng tự giác thánh trí nên có thật tướng; được đệ nhất nghĩa trí làm nhân, nên là chơn nhân. Tất cả hí luận có không đều lìa, dương thế vắng lặng. Thí như ba pháp Vô vi¹, hằng lìa các lỗi, cho nên là chơn thường. ✅ Đây là lý do không giống với luận tà kiến Thường bất tư nghị của ngoại đạo.

⚡️ KINH

Như thế này Đại Huệ! Thường bất tư nghị này là chỗ được của chư Như Lai tự giác thánh trí. Như thế, Thường bất tư nghị là sở đắc của tự giác thánh trí, nên cần tu học.

💥 GIẢI

Đây kết luận chỉ chơn thường, khuyên nên tu học.

⚡️ KINH

Lại nữa Đại Huệ! Thường bất tư nghị của ngoại đạo vì lấy tướng khác của vô thường làm nhân, chẳng phải sức nhân tướng tự tác mà được Thường.

💥 GIẢI

Đây nói rõ lý do ngoại đạo không đồng với Thường bất tư nghị của Phật nói.

Sở dĩ không đồng là do họ thành lập ngoại pháp hữu vi riêng có tác giả làm sanh nhân, cho nên là dị nhân. Phật dùng tự giác thánh trí làm nhân cho nên là chơn nhân. ✅ Đây là lý do không đồng.

Đường dịch: “Thường bất tư nghị của ngoại đạo dùng tướng khác của vô thường làm nhân mà cho là thường, chẳng phải sức của tự tướng làm nhân mà thường”. Nghĩa là họ dùng dị nhân nên chẳng phải chơn thường. Ta dùng tự giác thánh trí làm sức nhân tướng, chẳng phải dùng tự tướng tác giả làm sức nhân tướng cho nên là chơn thường.

⚡️ KINH

Lại nữa Đại Huệ! Thường bất tư nghị của ngoại đạo nói sở tác tánh phi tánh, thấy vô thường rồi suy nghĩ chấp thường.

Đại Huệ! Ta cũng dùng những nhân duyên tác giả tánh phi tánh như thế, thấy vô thường rồi nơi cảnh giới thánh tự giác nói Thường không nhân.

💥 GIẢI

Đây đứng trên chỗ thành lập của ngoại đạo để hiển chơn năng phá.

Ngoại đạo nhân khi thấy các pháp có rồi không, vọng chấp riêng có Tác giả là thường còn, mà Như Lai cũng thấy các pháp có rồi không, nói là vô thường.

(Đường dịch: “Ngoại đạo nói Thường bất tư nghị, do đã thấy các pháp được tạo tác có rồi không, thấy vô thường rồi so sánh cho kia là Thường. Ta cũng thấy pháp được tạo tác có rồi không, thấy vô thường rồi không nhân nơi đó mà nói Thường”.)

Nếu kết hợp với 3 chi tỷ lượng, thì Thường bất tư nghị là “hữu pháp”; Tông: “Quyết định Thường”; Nhân: “Vì là tánh sở tác”; Dụ: Như bình… Bình, các pháp sở tác… là pháp vô thường. Nhân, dụ không chuyển tải được nên không thành tông “Thường”. Vô thường là hữu pháp; Tông: “Quyết định chẳng phải Thường”; Nhân: “Vì là tánh sở tác”. Dụ: như bình… Các pháp được tạo thành như bình… là pháp vô thường. Ngay chỗ lập tông của họ đổi thành chỗ bị phá. Bởi họ dùng vọng chấp so sánh để biết, ta dùng hiện lượng tự giác thánh trí, nên chỗ ta nói không phải chỗ luận của họ.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Nếu các ngoại đạo lại dùng nhân tướng lập thành Thường bất tư nghị, tự tướng nhân ấy là phi tánh, giống như sừng thỏ. Thường bất tư nghị này, chỉ là ngôn thuyết vọng tưởng, các ngoại đạo có lỗi như thế. Vì cớ sao? Nghĩa là chỉ có ngôn thuyết vọng tưởng, giống như sừng thỏ, tự nhân tướng chẳng có phần.

💥 GIẢI

Đây nói về chỗ ngoại đạo chấp tác giả là đem vô nhân làm nhân, rốt cuộc thành đoạn diệt đồng với sừng thỏ. Cho nên chỗ thành lập của họ dùng vô thường làm Thường, chỉ có ngôn thuyết, không có thật nghĩa.

(Đường dịch: “Ngoại đạo dùng nhân tướng như thế lập thành Thường bất tư nghị. Nhân tướng này không có, giống như sừng thỏ, cho nên Thường bất tư nghị chỉ là phân biệt, chỉ có ngôn thuyết”. Cớ sao nhân của họ đồng với sừng thỏ? Vì không có tự nhân tướng, chẳng phải dùng đệ nhất nghĩa tự giác thánh trí làm nhân tướng, cho nên nói tự nhân tướng chẳng có phần.)

⚡️ KINH

Đại Huệ! Thường bất tư nghị của ta, tự giác là nhân tướng vì lìa sở tác tánh phi tánh nên Thường. Chẳng phải ngoại đạo tánh phi tánh vô thường, suy nghĩ chấp thường. Đại Huệ!

nếu ngoại đạo tánh phi tánh vô thường, suy nghĩ chấp trước là thường bất tư nghị thường. Nhưng họ không biết được tự nhân tướng của thường bất tư nghị, cách xa tướng cảnh giới tự giác thánh trí. Không nên nói đến luận chấp ấy.

💥 GIẢI

Đây nói Như Lai dùng tự giác thánh trí làm nhân, kết thành không đồng với luận thuyết của ngoại đạo.

Bởi vì ngoại đạo đối với tất cả pháp, khởi lên hai kiến chấp có-không, nên đối với vô thường vọng chấp là thường. Do họ không biết tự nhân tướng, nên cách xa tướng cảnh giới tự giác thánh trí. Như Lai thuyết pháp lìa những lỗi này, vì thế không thể nói là đồng với luận thuyết của họ.

Trên nói rõ nhị thừa thiên chấp, ngoại đạo tà kiến đều chẳng phải chánh trí. Ý hiển bày lìa bỏ lỗi này tức chứng tự giác thánh trí.

Hai chương sau dùng về bất diệt bất sanh để rõ chánh trí tức như như.

Trên phá hai thứ tà nhân xong.

Dưới nêu quả để nghiệm nhân.

K₄ - Cử quả nghiệm nhân, có 2

L₁ - Phá kiến chấp về diệt của nhị thừa

⚡️ KINH

Lại nữa này Đại Huệ! Các Thanh văn sợ khổ sanh tử vọng tưởng nên cầu Niết-bàn, chẳng biết sanh tử Niết-bàn sai biệt, tất cả tánh vọng tưởng sai biệt đó là phi tánh (Ngụy dịch: Không biết thế gian và Niết-bàn không sai biệt. Đường dịch: Không biết tướng sai biệt của sanh tử Niết-bàn, tất cả đều là vọng phân biệt, vì vô sở hữu).

Các căn, cảnh giới đời vị lai dừng dứt, khởi tưởng cho là Niết-bàn, mà chẳng phải là tự giác thánh thức chuyển (Đường dịch: Vọng chấp vị lai các căn, cảnh diệt cho là Niết-bàn, không biết chứng tự trí cảnh giới, chuyển tạng thức sở y làm đại Niết-bàn).

Thế nên phàm ngu nói có ba thừa, nói tâm lượng thì vô sở hữu. Vì vậy này Đại Huệ!

họ không biết cảnh giới tự tâm hiện của chư Như Lai ở quá khứ vị lai hiện tại, chấp trước cảnh giới ngoại tâm, bánh xe sanh tử xoay vần (Đường dịch: Người ngu kia nói có ba thừa, không nói chỉ có tâm, không có cảnh giới.

Đại Huệ! Họ không biết chư Phật ở khứ, lai, hiện tại nói cảnh giới tự tâm, họ chấp ngoại tâm có cảnh, thường luân chuyển nơi sanh tử không dứt).

💥 GIẢI

Đây nói các pháp vốn tự vắng lặng, không cho phép lại có cái “diệt” khác, để chỉ nhân của chân thường bất tư nghì, để rõ ngay vọng tưởng chứng chánh trí, ngay chánh trí hiện như như, để phá kiến chấp về “diệt” của nhị thừa.

Bởi cảnh giới sanh tử xưa nay chẳng có, chỉ do tâm hiện tạng thức chuyển biến, căn cứ nơi vọng tưởng phân biệt mà có. Nếu rõ vọng tưởng vô tánh tức chuyển thức thành trí. Nếu đem chánh trí chiếu khắp, thời vạn pháp đều như dương thế vắng lặng, há lại có cái diệt nào khác. Nhị thừa ngu mê không thể rõ điều này, vọng chấp “không thọ thân sau” cho là diệt độ, há chẳng rất lầm. Nghĩa là chỉ hết sanh tử gọi là giải thoát, kỳ thật chưa được tất cả giải thoát, cho nên thường ở sanh tử luân chuyển không dứt. Do không đạt duy tâm hiện lượng, vọng khởi các thứ phân biệt.

  • Trên nói bất diệt, dưới nói bất sanh.

L₂ - Phá kiến chấp về sanh của ngoại đạo

⚡️ KINH

Lại nữa này Đại Huệ! Tất cả pháp chẳng sanh là lời nói của chư Phật ba đời. Vì cớ sao? Vì tự tâm hiện, tánh phi tánh, lìa có sanh và chẳng có sanh. Đại Huệ! Tất cả tánh chẳng sanh, tất cả pháp như sừng thỏ sừng ngựa. ✅ Đây là phàm phu ngu si, không biết tự tánh vọng tưởng nên vọng tưởng. Này Đại Huệ! Tất cả pháp chẳng sanh, cảnh giới tự giác thánh trí thuần là tất cả tánh tự tánh tướng chẳng sanh, chẳng phải ngu phu kia vọng tưởng về hai cảnh giới.

💥 GIẢI

Đây nói các pháp vốn tự chẳng sanh để chỉ nhân của chân thường bất tư nghì, để hiển như như chánh trí, để phá kiến chấp sanh của ngoại đạo.

Bởi do các pháp vô sanh, đây là chỗ truyền tâm ấn của ba đời chư Phật, chỉ chứng mới tương ưng, do duy tâm hiện duyên sanh vô tánh, lìa hai kiến chấp có - không, như sừng thỏ ngựa, chẳng phải trước sanh mà sau mới không, vì sanh vốn không vậy. Do phàm ngu không thông đạt nên vọng chấp là có. Song lý thứ vô sanh này là chỗ sở hành của tự chứng thánh trí, chẳng phải cảnh giới phân biệt nhị kiến của phàm ngu.

Tự tánh của thân tại thiết lập tướng tự tánh. Đại Huệ!

khi tướng tạng thức nhiếp sở nhiếp chuyển, người ngu rơi vào hai kiến chấp sanh trụ diệt, hy vọng tất cả tánh sanh rồi phát sanh vọng tưởng có và không, chẳng phải là thánh hiền. Đại Huệ!

đối với pháp này nên tu học.

Đây kết luận hai chương trên, để nói rõ tướng sanh diệt đều vọng kiến.

(Đường dịch: “Thân và những vật chất thế gian giúp thân sống… tất cả đều là ảnh tượng của tạng thức, hai thứ tướng năng thủ và sở thủ hiện hữu. Hạng ngu phu kia rơi vào trong hai vọng kiến sanh trụ diệt, cho nên ở trong đó vọng khởi phân biệt về có không”.)

Đây thời là căn thân khí giới vốn tự vô sanh, chỉ là sự ảnh hiện của thức thứ tám, thức thứ bảy vọng khởi chấp thủ phân biệt, cho là thật ngã thật pháp. ✅ Đây là người ngu ở trong vô sanh vọng thấy có sanh, chẳng phải thánh hiền vậy. Ý muốn tức ngay nơi sanh diệt mà chứng chân thường, nên nói đối với pháp này nên tu học. Nếu thấu đạt sanh diệt tức thường thì vọng tưởng liền thành chánh trí, danh tướng vốn tự như như, tức Nhị thừa ngoại đạo kia có thể khởi lên chủng tánh Như Lai. Cho nên văn sau nói rõ năm chủng tánh vô gián.

K₅ - Xét quả biệt nhân

⚡️ KINH

Lại nữa Đại Huệ! Có 5 bậc chủng tánh vô gián. Thế nào là 5? Nghĩa là chủng tánh Thanh văn thừa vô gián, chủng tánh Duyên giác thừa vô gián, chủng tánh Như Lai thừa vô gián, chủng tánh Bất định, chủng tánh Các biệt (Đương dịch: Vô chủng tánh).

💥 GIẢI

Đây nói 5 tánh bất đồng, để thuyết minh chúng sanh vốn đủ pháp tánh, chúng sanh đồng một, chỉ do duyên bên ngoài mà thành khác, để thành lập tướng tự giác thánh trí cứu cánh sai biệt.

Bởi tâm, Phật, chúng sanh cả ba không sai biệt. Ban sơ không một mảy may chia cách, vốn không có sự khác biệt giữa 3 thừa 5 tánh, bởi do duyên bên ngoài huân tập không đồng, nên có 5 tánh chẳng đồng. Đây thời là căn cơ vốn không khác, khác tại ở thầy, cho nên ở trước khích lệ hành giả tu như thật, cần phải thân cận bậc tri thức tối thượng. Vì thế, văn sau đây nói: “Nên chuyển ác kiến kia, thì Nhị thừa ngoại đạo sẽ được pháp thân của Như Lai, xiển-đề cũng có nhân duyên được độ”. Dẫn quyển vào thật, nghĩa thấy nơi đây.

Nói chủng tánh đó, tướng giống là chủng, thể đồng là tánh. Lại chủng là nghĩa “nhân”, nghĩa “loại”, nghĩa là chúng sanh xưa nay là một Phật tánh. Bởi xưa do nghe giáo pháp huân tập thành chủng, mỗi có tự loại chủng tử, nên nói chủng tánh.

Nghĩa chủng tánh này, Thức Luận thuyết minh có hai loại: Một là “bản hữu” nghĩa là “cựu huân”. Hai là “thủy khởi” nghĩa là “tân huân”. Bản hữu là từ vô thỉ đến nay pháp có sẵn như vậy trong dị thục thức, nhiều kiếp huân tập chủng tử nhiễm tịnh, đây tức gọi là “bản tánh trụ chủng”. Như đức Thích-ca nói kinh Pháp Hoa ở thời của đức Đại Thông Trí Thắng, những người nghe pháp thuở đó cho đến bây giờ trở lại đều nhờ Phật hóa độ, mới được thành thục. ✅ Đây là tinh pháp huân tập mà làm “bản tánh trụ chủng”. Như A-nan cùng Ma-đăng-già, nhiều kiếp ân ái, cho đến đời này còn là nhân duyên chướng đạo. ✅ Đây là nhiễm pháp huân tập mà thành “bản tánh trụ chủng”. Vì do nhiều kiếp không dứt nên gọi tên “Bản tánh trụ chủng”. Hai là “thủy khởi”, nghĩa là vô thỉ đến nay nhiều phen hiện hành huân tập thành chủng, cho đến đời nay, đối với pháp nhiễm tịnh thấy nghe huân tập, lại làm thành chủng tử nhiễm tịnh đời sau. Đây thời tên là “Tập sở thành chủng”.

Do hai chủng tử này làm nhân, nếu một phen gặp duyên ngoài nhờ lời thầy dạy huân pháp, cho nên thành thục. Sự sai biệt của 5 tánh này, lý do từ đó, cho nên theo thầy chọn bạn, không thể không cẩn thận. Do đó mà thấy rằng năm chủng tánh này, trong đó chủng tánh của tam thừa, là do trước nghe 3 thân Phật nói pháp mà thành thục. Do chấp vào Hóa Phật nói quyền pháp thì thành chủng tánh Thanh văn. Do chấp vào Báo Phật nói pháp duyên sanh thì thành chủng tánh Duyên giác. Do ngộ Pháp thân Phật nói pháp lìa phân duyên thì thành chủng tánh Như Lai. Nếu nghe 3 pháp này mà nửa tin nửa ngờ thì thành chủng tánh bất định. Nếu nghe pháp của 3 thân Phật nói mà chẳng khởi lòng tin, ngược lại sanh ra nhị kiến hủy báng thì thành hạng không chủng tánh. Nên đoạn kinh sau đây nói: “Bồ tát cả thiện căn, nghĩa là hủy báng Bồ tát tạng”.

Song 3 thân Phật 1 thể, pháp đều là pháp chân thật, đều vì chỉ rõ con đường về tự giác thánh trí, mà người nghe chẳng đạt tới, theo chỗ tiếp thu của mình, chấp giữ thành chủng tánh riêng. Đây lại là “pháp vốn chẳng khác, khác tự nơi căn cơ” nên nói chủng tánh. ✅ Đây là tướng sai biệt của tự giác thánh trí cứu cánh vậy.

⚡️ KINH

Thế nào biết là chủng tánh Thanh văn thừa vô gián. Là nếu khi nghe nói ấm giới nhập tự cộng tướng đoạn trừ, lỗ chân lông toàn thân dựng đứng hoan hỷ và thích tu tưởng trị, chẳng tu tưởng duyên khởi phát ngộ. Đây gọi là chủng tánh Thanh văn thừa vô gián.

💥 GIẢI

Đây nói chủng tánh Thanh văn thừa vô gián. Câu Nếu khi nghe nói… đủ nêu lý do thấy dạy huân phát, gọi là “tập tánh thành chủng”. Đoạn trừ thời cựu chú: là khi trừ khổ đoạn tập chứng diệt tu đạo. Câu thích tu tưởng trị: tưởng tức là tưởng thiền không, trị tức là trị ngã không, là chỗ ưa tu của Thanh văn. Đến như duyên khởi phát ngộ lý vô sanh thật tướng chẳng phải chỗ ưa thích của hạng Thanh văn kia, nên nói chẳng tu. Nhân xưa có tập khí tiểu thừa cạn hẹp, nay một phen nghe dạy, huân phát hiện hành nên vui mừng toàn thân chân lông dựng đứng.

⚡️ KINH

Chủng tánh Thanh văn vô gián đến để bát địa đoạn dứt khởi phiền não, chẳng đoạn dứt tập phiền não, qua được Phân đoạn tử chẳng vượt qua Bất tư nghì biến dịch tử. Chính thức rồng tiếng sư tử “ta sanh đã tận, phạm hạnh đã lập, chẳng thọ thân sau, như thực tri, tu tập hạnh vô ngã… cho đến được bát Niết-bàn”.

💥 GIẢI

Đây nói rõ hạng Thanh văn đoạn tập chứng quả chưa rốt ráo, tự sanh ý tưởng đã diệt độ đầy đủ.

Bởi hạng Thanh văn y Tứ đế tu, chỉ đoạn kiến, tu phiền não của ba cõi, còn trần sa, vô minh tế hoặc chưa hết, vẫn chìm trong biển dịch sanh tử, chỉ được nhân không chưa được pháp không, mà lại tự sanh ý tưởng rốt ráo. Bèn ở trong cõi trời, người, ma, ngoại đạo, rống tiếng sư tử xướng nói như thế này: “Ta sanh đã tận, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân sau”, bèn cho đời này được nhập Niết-bàn. ✅ Đây là được ít cho là đủ.

Đến địa bất địa, là hạng Bồ tát bất địa ở kinh Hoa Nghiêm, chứng ngã không chân như, thích trụ ở tam-muội, không ra khỏi diệt định. Chư Phật nhân đó mà khuyên rằng: “Thức dậy! Thiện nam tử, đừng thích trụ trong tam-muội, tam-muội của các ông, Nhị thừa cũng được”. Nên đây nói Đến địa bất địa. Hiện hành là khởi phiền não. Chủng tử tập khí là tập phiền não. Do Nhị thừa chỉ đoạn phiền não chướng, chưa dứt sở tri chướng.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Các biệt vô gián là hạng chúng sanh khởi chấp về ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng, trưởng dưỡng, sĩ phu. Họ dùng tri giác như vậy mà cầu vào Niết-bàn.

💥 GIẢI

✅ Đây là nói rõ chủng tánh ngoại đạo.

Đường dịch: “Lại có chúng sanh cầu chứng Niết-bàn, nói giác tri ngã nhân chúng sanh, người trưởng dưỡng, người chấp giữ. ✅ Đây là Niết-bàn”. ✅ Đây là ngoại đạo vọng kiến tất cả chúng sanh từ ngã lưu xuất. Ngã hay trưởng dưỡng tất cả chúng sanh, bèn lập thần ngã cho là Niết-bàn. Người nghe nhận đó mà thờ làm thầy bèn thành tà chúng. Hoặc ở trong Phật giáo nghe nói có Niết-bàn, bèn chấp vào kiến giải làm mà khởi tà kiến.

⚡️ KINH

Lại có ngoại đạo khác, nói hết thảy do tác giả, thấy tất cả tánh rồi, nói đây là bất Niết-bàn. (Đường dịch: Lại có thuyết nói thấy tất cả pháp nhân tác giả mà có).

💥 GIẢI

✅ Đây là ngoại đạo chấp Thật, Đức, Nghiệp và Tứ đại, Thời, Phương, Thắng, Tự tại… cho là sanh nhân, nên xưng là tác giả. Vọng chấp những pháp đó là Niết-bàn.

⚡️ KINH

Khởi những cái biết như vậy, đối với pháp vô ngã kiến không có phần, kia không giải thoát.

💥 GIẢI

✅ Đây là kết luận ngoại đạo tà kiến không thể giải thoát.

Nói pháp vô ngã kiến không có phần nghĩa là các ngoại đạo đối với chỗ pháp vô ngã Phật nói, không sanh ưa thích. Hoặc sanh phỉ báng, chưa được thọ huân thành chủng, cho nên nói “phi phần”. Hoặc đối với Niết-bàn của Phật nói, tức khởi hy vọng, tưởng có chỗ chứng chỗ đắc. Hoặc nương giáo lý tu hành có chỗ khai ngộ, mà chấp chỗ ngộ cho là ngã, tức rơi vào tà kiến. Như Viên Giác nói “tư tưởng chưa quên”, đều là đối với pháp vô ngã kiến không có phần. Song ngoại những hạng ngoại đạo bị phiền não trói này, còn có hạng ngoại đạo bên trong (đệ tử Phật) bị pháp trói, nên nói họ không giải thoát.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Các chủng tánh Thanh văn thừa vô gián và chủng tánh ngoại đạo này, chưa xuất ly tướng là xuất ly, vì chuyển đổi ác kiến của họ, các ông nên phải tu học.

💥 GIẢI

Đây tổng kết hai chủng tánh Thanh văn và ngoại đạo. Bởi vì Thanh văn vọng chấp Niết-bàn, ngoại đạo vọng chấp thần ngã, đều là ở trong chỗ chưa xuất ly khởi tưởng xuất ly. Đây đều nhờ tà sư tà giáo mà huân tập làm. Vì muốn chuyển đổi các ác kiến ấy, nên khuyên phải tu học.

Phần tướng vô sở hữu trong ba tướng thánh trí ở đoạn trước, nói rằng quán tướng tập khí của nhị thừa ngoại đạo nghĩa đó thấy ở đây. Ý rằng khiến họ lìa bỏ ác kiến và chỗ thấy sai lệch liền gọi là chánh trí, có thể nhập vào chủng tánh Như Lai. Thế nên những hạng người này tuy thấy lệch và tà kiến mà tánh thật vô gián.

⚡️ KINH

Này Đại Huệ! Chủng tánh Duyên giác thừa vô gián ấy, nếu nghe nói nhân duyên các biệt vô gián, toàn thân lông dựng đứng, khóc lóc rơi lệ. Không gần gũi các duyên, không đắm nhiễm (Đường dịch: Lìa duyên ồn náo không bị nhiễm trước). Các thứ phân thân, các thứ thần thông, các thứ biến hóa hoặc ly hoặc hợp. Khi nghe nói như vậy tâm kia tùy nhập (Đường dịch: Có lúc nghe nói hiện các thứ thần thông, hoặc tụ hoặc tán, thần thông biến hóa, tâm kia tin thọ). Nếu biết họ là chủng tánh Duyên giác thừa vô gián rồi, tùy thuận vì nói Duyên giác thừa. Đây gọi là tướng Duyên giác thừa vô gián chủng tánh.

💥 GIẢI

Đây nói rõ chủng tánh Duyên giác thừa vô gián.

Nhân duyên các biệt tức mười hai nhân duyên, nhân quả ba đời nên nói các biệt, do duyên sanh vô tánh tức là vô sanh, nên nói vô gián. Đây có hai bậc: Ra đời gặp Phật, y giáo mà tu, quán duyên ngộ đạo, gọi là Duyên giác. Ra đời không gặp Phật, quán những sự biến hóa biết là không, gọi là Độc giác. Nay nói về ngoại huân thành chủng, cho nên chỉ nói Duyên giác.

⚡️ KINH

Này Đại Huệ! Chủng tánh Như Lai thừa vô gián có bốn bậc. Nghĩa là chủng tánh Tự tánh pháp vô gián, chủng tánh Ly tự tánh pháp vô gián, chủng tánh Đắc tự giác thánh vô gián, chủng tánh Ngoại sát thủ thắng vô gián.

💥 GIẢI

Đây nói rõ chủng tánh Như Lai thừa vô gián. Song 4 bậc đây, Đường dịch: “Có ba bậc là Tự tánh vô tự tánh pháp, Nội thân tự chứng thánh trí pháp, Ngoại chư Phật sát quang đại pháp”. ✅ Đây là đứng về ba đức bí tạng¹, để nói rõ Pháp thân Báo thân đồng thể. Tự tánh tức pháp thân, ly tự tánh tức giải thoát, thánh trí tức Bát-nhã. Bởi do pháp thân vô trước tức giải thoát, giải thoát bất mê tức Bát-nhã, Bát-nhã ly tướng tức pháp thân. Ba đức bí tạng đây, gọi chung pháp thân. Ngoại sát thủ thắng tức Báo thân. Pháp Báo thầm hợp một, nên bất tư nghì.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Nếu khi nghe nói mỗi mỗi trong bốn việc này, và khi nói tự tâm hiện thân tài dụng lập cảnh giới bất tư nghì, tâm không sợ hãi, gọi là tướng của Như Lai thừa vô gián chủng tánh.

💥 GIẢI

Đây kết thành chủng tánh Như Lai thừa.

Trước vì hàng chúng sanh độn căn, lập tức vì họ khai thị cảnh giới bất tư nghì tối thượng. Một hạng chúng sanh này có nghe nói pháp thân trí huệ Phật và cảnh giới tự thọ dụng bất tư nghì cũng không kinh sợ, nên biết là hạng lợi căn tối thượng, là chủng tánh Như Lai thừa vô gián, đây gọi là hạng thiện căn thành thục.

Kinh Bát Nhã nói: Nếu có chúng sanh nghe nói Bát-nhã ba-la-mật không kinh không sợ, không e ngại. Nên biết người này, không phải ở một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật mà trồng căn lành, đã từng ở nơi vô lượng ngàn vạn Phật mà trồng căn lành.

Chỉ có Bát-nhã vô thượng này nếu chẳng phải nhiều kiếp nghe huân thành chủng, mới không sợ sệt. ✅ Đây là lý do người hay tin được pháp này, người này rất ít có vậy.

⚡️ KINH

Đại Huệ! Hạng chủng tánh Bất định, nghĩa là khi nghe nói ba chủng tánh tùy chỗ nói mà vào, tùy theo kia mà thành.

💥 GIẢI

Đây nói về chủng tánh bất định. Người bất định này, tùy theo lời nói mà tin nhập, thuận theo học tập mà thành, có thể là Đại thừa, có thể là Tiểu thừa, cho nên nói bất định. Đây có hai hạng, một là cựu huân đã văn, đối với trong ba thừa chưa thành thục; hai là tân huân sơ cơ; căn tánh rất lanh, chỉ tùy thầy dạy, trong tam thừa đều có thể vào. Ba chủng tánh tức là pháp của ba thừa, trừ ngoại đạo vô tánh nên không nêu ở đây.

⚡️ KINH

Đại Huệ! ✅ Đây là bước ban đầu, nghĩa là thành lập chủng tánh, vì vượt qua nhập vô sở hữu địa nên thành lập như vậy.

💥 GIẢI

Đây kết thúc ý nghĩa lý do kiến lập ba thừa.

Bởi tất cả chúng sanh, pháp tánh là một, nghĩa là phàm phu thánh hiền bình đẳng không cao thấp, vốn không có tướng sai biệt. Chỉ do văn huân thành chủng mà thành căn tánh bất đồng. Song tuy y giáo tu hành, mà chưa đến địa vị Như Lai, đều thuộc về tướng Thánh trí sai biệt, chẳng phải cứu cánh. Nay sắp sửa chỉ ra pháp môn đốn giáo, muốn khiến ba thừa đồng quy về nhất Phật thừa, nắm tánh đồng trở về một Phật tánh, nên tạo nên kiến lập này, chẳng phải là thật có giới hạn.

Vì vậy sau đây nói: “Thanh văn ưa vắng lặng sẽ được thân tối thắng của Như Lai. Hàng xiển đề vô tánh, có khi thiện căn sanh liền chứng Niết-bàn”, không giống với thuyết định tánh của giáo phái khác.

Bản Ngụy dịch: “Nói 3 thừa ấy, vì phát khởi chỗ tu hành. Các tánh sai biệt chẳng phải cứu cánh, nên vì muốn kiến lập chỗ cứu cánh vắng lặng rốt ráo”.

Cưu-chú cho đoạn này thuộc bất định tánh, e rằng chẳng phải 4 ý.

⚡️ KINH

Tự chủng biết thức tạng, tập quán phiền não sạch, thấy pháp vô ngã, được tam-muội lạc trụ của Thanh văn, sẽ được thân tối thắng của Như Lai.

💥 GIẢI

Đây kết tam thừa đồng quy về một tánh, để nêu lên ý dẫn quyền về thật, để rõ tướng kiến lập sai biệt về Như Lai tự giác thánh trí cứu cánh.

Ngụy dịch: “Ba hạng người này vì lìa huân tập phiền não chướng, được thanh tịnh thấy pháp vô ngã, được tam-muội lạc hạnh; nên Thanh văn, Duyên giác rốt ráo chứng được pháp thân Như Lai.”

Đường dịch: “Hàng Thanh văn trụ tam-muội lạc, nếu hay chứng biết về thức tạng, thấy pháp vô ngã, tập khí phiền não sạch, rốt ráo sẽ được thân Như Lai”.

Trước nói nhị thừa chỉ được tướng sai biệt của tự giác thánh trí, chưa được tướng cứu cánh sai biệt. Nay nói được Như Lai thân, đủ nêu bày sai biệt cũng là cứu cánh. Sở dĩ đều cứu cánh, vì Phật tánh không hai vậy.

⚡️ KINH

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Quả Tu-đà-bát-na,

Vãng lai và Bất hoàn

Sắp đắc A-la-hán,

Là những tâm hoặc loạn

💥 GIẢI

Đây nói chung bốn quả đều chẳng phải cứu cánh.

Tu-đà-bát-na cũng gọi là Tu-đà-hoàn, Trung Hoa dịch Nhập lưu, nghĩa là mới nhập dòng Thánh, là Sơ quả. Vãng lai là Nhị quả, Bất hoàn là Tam quả, A-la-hán là Tứ quả. Do những bậc Thánh này đều ghét sanh tử, ưa Niết-bàn, ưa ghét chưa quên nên nói là hoặc loạn.

⚡️ KINH

Ba thừa và một thừa

Phi thừa ta đã nói

Người ngu trí huệ kém

Các thánh xa lìa tịch

Pháp môn đệ nhất nghĩa

Xa lìa nói nhị giáo

Trụ nơi vô sở hữu

Nào (có) dựng lập tam thừa

💥 GIẢI

Đây nói về trí cứu cánh vô sai biệt, để nêu bày tông thú tối cao của kinh này.

Như Lai tuy nói ba thừa, chỉ dùng giả danh để dẫn đạo. Vì người ngu trí huệ kém, nên lập phương tiện 3 thừa, vì nhị thừa thú hướng tịch lặng nên nói chân thật nhất thừa, đều chẳng phải 4 hoại. Pháp môn đốn giáo đệ nhất nghĩa này, 3 hay 1 đều chẳng phải, quyền thật không lập, há lại thật có nói 3 thừa ư? Bởi vì chỗ khác nói Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát là 3 thừa, Như Lai là nhất thừa. Kinh này gồm nói cả Như Lai là 3 thừa, đối 3 thừa nói nhất thừa, 3 hay 1 đều chẳng phải, mới là tông cực của kinh này.

⚡️ KINH

Chư thiền vô lượng thấy,

Vô sắc tam-ma-đề

Thọ tướng tịch diệt thấy,

Cũng không có tâm lượng

💥 GIẢI

✅ Đây tụng chung về tự tâm hiện lượng, phàm thánh đều lìa, một pháp chẳng lập, để rõ tướng tự giác thánh trí cứu cánh.

Chư thiền tức các thiền giải thoát của nhị thừa, Vô lượng tức Đại thừa từ vô lượng tâm, thấy tức thập lực, vô úy, thập bát bất cộng, cho đến 37 phẩm trợ đạo… Vô sắc tam-ma-đề tức tam giới cửu thứ đệ định. Nêu trên để bao quát luôn ở dưới. Thọ tướng tịch diệt tức nhị thừa diệt tận định, nói chung, là nghĩa hồi của 108 câu ở trước. Nay nói cũng không có tâm lượng, do tự tâm hiện lượng thánh phàm chẳng lập, tất cả đều phi, để hiển nghĩa cứu cánh giác trong sanh diệt.

Chương trước thỉnh Phật nói kinh Thánh trí sự phân biệt tự tánh, căn cứ vào 108 câu mà nói, nghĩa hợp ở đây. Ý rằng rõ được điều này mới gọi là tự giác thánh trí sự.

Xét quả biệt nhân xong.

Sau đây chỉ nhân quả nhất như.

K₆ - Chỉ nhân quả nhất như

⚡️ KINH

Đại Huệ! Kia nhất xiển đề chẳng phải nhất xiển đề, thế gian giải thoát ai chuyển.

💥 GIẢI

Xưa cho rằng chương này đứng về mặt sanh tử Niết-bàn không hai để giảng rõ như như. Song trí như nhất thể, vốn không hai thứ, nghĩa là không có trí ngoài như để chứng như, cũng không có như ngoài trí để làm chỗ cho trí nhập. Nếu chánh trí hiện tiền, thì các pháp tự như. Nếu rõ sanh tử vốn vắng lặng, tức là chánh trí; trí như hợp một, mới gọi là tự giác thánh trí cứu cánh sự.

Nay đứng về mặt xiển đề để thuyết minh đó, do trước đã bài xích nhị thừa ngoại đạo thiên tà, cách xa tướng tự giác thánh trí và tha thiết khuyên người tu nên xa lìa, không nên gần gũi tập tánh. Nếu Nhị thừa ngoại đạo tuyệt phần thì chân như có lỗi không khắp.

Nếu xiển đề thật là vô tánh thì Phật tánh có lỗi không bao trùm, thế là tự rơi vào lỗi bất bình đẳng, mà tự giác thánh trí cũng không rốt ráo.

Đứng về mặt dạy đạo mà nói, vì tồi tà hiển chánh, không thể không nghiêm trách thiên tà, để sáng tỏ chánh trí. Nếu căn cứ trên pháp tánh mà nói, thời bình đẳng không hai không khác vốn tự như như, hạng vô tình cũng còn chung một thể, hà chúng hữu tình mà lại tuyệt phần. Cho nên trước nói nhị thừa nếu ngộ bốn thức cũng được Như Lai pháp thân. Nay nói xiển đề hoặc phát thiện căn, cũng được Niết-bàn. Đây chính là “không một chúng sanh nào mà không vào Niết-bàn”, mới gọi là tướng tự giác thánh trí rốt ráo. Như như chánh trí, đầy đủ hết trong đây. Song hạng xiển đề vô tánh nếu chẳng có Bồ-tát xiển đề thì không do đâu phát thiện căn. Bồ-tát xiển đề nếu chẳng có hạng vô tánh xiển đề thì không do đâu giúp thêm nguyện lực. Đây thời là xiển đề không dứt tánh thiện, Như Lai không dứt tánh ác, nên nói Chẳng phải nhất xiển đề, thế gian giải thoát ai chuyển. (Ngụy dịch: “Vô tánh thừa là nhất xiển đề”, đây tức là trước nói vô chủng tánh trong năm tánh nói đó, để hiển Phật tánh bình đẳng, để rõ chúng sanh như vậy.)

⚡️ KINH

Đại Huệ! Nhất xiển đề có hai hạng. Một là xả tất cả căn lành và hai là đối với chúng sanh từ vô thỉ mà phát nguyện. Thế nào là xả tất cả căn lành? Nghĩa là phỉ báng Bồ tát tạng và nói lời ác, đây là chẳng phải hạng người tùy thuận theo lời dạy của kinh luật giải thoát, vì xả tất cả thiện căn nên không thể vào Niết-bàn.

💥 GIẢI

Đây nói về vô chủng tánh.

Nhất xiển đề dịch là đứt gốc lành, lại nói là đốt cháy tất cả căn lành. Bởi chân như tùy duyên thành việc, nêu thể toàn biến, không có pháp dư. Nay toàn thể chân như biến làm toàn thể tánh ác, tánh ác tức như, lại không có Niết-bàn để vào nên nói là không vào Niết-bàn.

⚡️ KINH

Hai là hạng Bồ tát vì phương tiện tự nguyện xưa chẳng phải không nhập Niết-bàn, vì tất cả chúng sanh mà vào Niết-bàn. Đại Huệ! Kia nhập Niết-bàn gọi là chẳng nhập Niết-bàn pháp tướng. Đây cũng là thứ hạng nhất xiển đề.

💥 GIẢI

Đây nói về Bồ tát xiển đề.

Bồ tát nguyện độ tận chúng sanh giới. Nghĩa là chúng sanh giới tận thì nguyện tôi mới tận, nếu còn một chúng sanh chưa tận, nguyện tôi bất tận. Nên nói Không phải chẳng nhập Niết-bàn, vì tất cả chúng sanh mà vào Niết-bàn. Song sở dĩ nguyện độ hết chúng sanh giới, vì chúng sanh vốn là như, sớm đã nhập Niết-bàn, không cho lại nhập (Niết-bàn) nữa, nên không có Niết-bàn để vào. Vì thế nói Kia nhập Niết-bàn, gọi là chẳng nhập Niết-bàn pháp tướng.

Đây nêu lên xiển đề danh đồng, cho nên nói thứ hạng nhất xiển đề. Bản Đường dịch dùng danh cú này làm lời kết.

⚡️ KINH

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn, trong đây thế nào là rốt ráo không vào Niết-bàn?

💥 GIẢI

Ý của Bồ tát Đại Huệ là hạng vô tánh đoạn thiện căn, không vào Niết-bàn thì có thể được, còn Bồ tát độ sanh vốn vì cầu chứng Niết-bàn, vì sao rốt cuộc cũng không nhập Niết-bàn. Cho nên đến đây nghi rằng: Trong hai hạng xiển đề này, thế nào là rốt ráo không vào Niết-bàn. Sau đây Phật đáp, xiển đề còn có lúc nhập, Bồ tát rốt ráo không nhập vì biết tất cả pháp vốn đã Niết-bàn rồi.

🪷

Phật bảo Đại Huệ!

Bồ tát nhất xiển đề đó, biết tất cả pháp xưa nay đã Niết-bàn rồi, rốt ráo chẳng cần lại nhập Niết-bàn mà chẳng phải như xiển đề xả tất cả thiện căn. Đại Huệ!

xiển đề xả tất cả thiện căn đó, lại do thần lực của Như Lai, hoặc có khi thiện căn sanh. Vì cớ sao? Vì Như Lai không bỏ tất cả chúng sanh. Thế nên hạng Bồ tát nhất xiển đề không nhập Niết-bàn.

GIẢI

Đây chính là hiển bày Phật tánh bình đẳng như như. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, do xiển đề không đoạn dứt tánh lành, Như Lai dùng lòng đại bi bình đẳng mà nhiếp trì đó, cho nên có khi phát sanh căn lành. Vì ngày xưa dùng nhân duyên báng pháp làm chứng tử, nay duyên chín muồi, cho nên Như Lai dùng sức thần gia trì. Hoặc có khi thiện căn phát khởi như đồ tể Quảng Ngạch buông dao giết thịt liền làm Phật sự. Đề-bà-đạt-đa luôn luôn mắng Phật, nay được thọ ký. Như Hoa Nghiêm nói: “Do xưa hủy báng kinh Hoa Nghiêm nên đọa địa ngục, mà làm vua cõi ngục. Phật Tỳ-lô ra đời trước dùng ánh sáng của bánh xe nơi bàn chân chiếu rọi, ba phen chóng viên mãn Thập địa”. ✅ Đây là sự hiệu nghiệm của hạng xiển đề báng Phật, được nương vào thần lực của Phật. Nói là thiện căn ấy, chính do chủng tử văn huân hồi xưa.

Bồ tát xiển đề không nhập Niết-bàn, vì pháp giới như, chúng sanh như nên chúng sanh giới không thể tận, phiền não chẳng thể tận, mà hạnh nguyện chẳng thể tận. ✅ Đây là Đại sĩ Phổ Hiền sở dĩ thường ở nơi huyễn hóa mà chẳng vào Niết-bàn.

Phần trên từ chương thỉnh vấn về phân biệt tự tánh sự đưa ra, dừng ở chỗ nói rõ 5 pháp xong.


GHI CHÚ

¹ Đường dịch: Vi trần phân tích sự.

² Đường dịch: Chẳng phải hành xứ ngoại đạo.

¹ Đường dịch: Thí như gương sáng, chóng hiện các hình tượng mà chẳng phân biệt

¹ Đường dịch: Thí như thức A-lê-da, hiện rõ cảnh giới tự thân, tài sản… một lúc rõ biết không có trước sau. Đại Huệ - Báo thân Phật cũng lại như thế, một lúc thành thục cảnh giới chúng sanh đạt ở cung trời tịnh diệu Sắc Cứu Cánh, chỗ tu hành thanh tịnh.

² Đường dịch: Thí như pháp thân Phật chóng hiện báo thân Phật.

¹ Đồng quán tánh Không mà được đạo: Bồ tát và Thanh văn đều do quán tánh Không mà được đạo.

¹ Ba pháp vô vi: Hư không, Niết-bàn, Diệt tận.

¹ Ba đức bí tạng: Niết-bàn có ba đức là Pháp thân, Bát-nhã, Giải thoát.

¹ Xiển đề danh đồng: Xiển đề trên danh tự, nghĩa là Bồ tát tuy mang tên xiển đề nhưng chỉ vì để độ hạng xiển đề, không phải thật sự là hạng này.

¹ Sự tướng: Là tên gọi tướng trạng sự việc. Như nói tôi cất nhà là sự tướng. Từ sự tướng này phát khởi lên vọng tưởng, nên sự tướng làm duyên khởi.

⏯️ (tiếp theo)

Sau đây nói rõ 3 tự tánh trong 5 pháp.

I₂ - Nói ba tự tánh

🪷

Lại nữa, Đại Huệ! Bồ tát ma-ha-tát phải khéo biết 3 tự tánh.

GIẢI

Trên nói 5 pháp y nơi tự tánh mà lập, chẳng biết có bao nhiêu tự tánh, nên đặc biệt chỉ ra có 3, ý khiến liễu đạt duyên khởi vô sanh, cho nên nói phải khéo biết.

🪷

Thế nào là 3 tự tánh? Nghĩa là tự tánh vọng tưởng, tự tánh duyên khởi, tự tánh thành.

GIẢI

Đây nêu ra tướng của 3 tự tánh.

Bởi tự tánh 5 pháp chẳng ra khỏi 3 tánh này. Vì vọng tưởng nương nơi danh tướng mà khởi nên gọi là duyên khởi, nếu rõ duyên khởi như huyễn thì vọng tưởng không tánh tức là chánh trí. Danh tướng thể không, vốn tự như như, đều quy về viên thành cho nên tự tánh 5 pháp chẳng ra khỏi 3 tánh này.

Chính chỉ tướng này.

🪷

Đại Huệ! Tự tánh vọng tưởng từ tướng sanh.

GIẢI

✅ Đây là nêu chỉ tự tánh vọng tưởng, duyên khởi y tha vậy. Tướng tức danh tướng, do chẳng đạt danh tướng thể không, nương đối tượng mà khởi, biến kế các thứ. ✅ Đây là vọng tưởng.

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn thế nào là tự tánh vọng tưởng từ tướng sanh?

Phật bảo Đại Huệ: Sự tướng làm duyên khởi cho tự tánh vọng tưởng, tướng vọng tưởng sanh từ hành động hiện hiện sự tướng.

GIẢI

✅ Đây giải thích kỹ. Nghĩa là danh tướng đều từ duyên khởi, nên nói sự tướng làm duyên khởi cho tự tánh vọng tưởng. Do không rõ duyên khởi vô sanh, nên tâm vận hành trong ấy vọng sanh chấp trước, vì vậy nói Tướng vọng tưởng sanh từ hành động biến hiện sự tướng.

Đây nói vọng tưởng từ danh tướng sanh. Dương dịch: Vọng tưởng kia nói duyên khởi sự tướng, vì chủng loại hiện hiện sanh chấp trước.

🪷

Bậc Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác kiến lập chấp trước có hai thứ tự tánh vọng tưởng, đó là Tướng chấp trước danh tướng và Tướng chấp trước sự tướng.

  • Tướng chấp trước danh tướng là chấp trước pháp trong ngoài (chấp trên danh từ).

  • Tướng chấp trước sự tướng là chấp trước tự tướng cộng tướng trong ngoài như thế (chấp trên sự việc).

Đó gọi là hai thứ tướng tự tánh vọng tưởng, hoặc y tha hoặc duyên sanh, gọi là duyên khởi.

Đây nói nương theo sự tướng kia mà sanh chấp trước, khởi hai thứ vọng tưởng để nói rõ tự tánh duyên khởi.

GIẢI

Danh tướng nghĩa là pháp trong ngoài: Trong tức là căn thân, ngoài tức là khí giới. Song, tất cả các pháp trong ngoài này chỉ là chỗ hiện của tâm, vốn không danh tướng, chỉ là nhất tâm mà người chẳng rõ, do nương theo biến kế vọng chấp mà mỗi mỗi có danh có tướng, nên gọi là vọng tưởng sự tướng.

Tức tự cộng tướng trong ngoài kia: Bởi trong và ngoài không ra khỏi hai món nhân và pháp, nghĩa là ngũ uẩn trong thân gọi là nhân, tứ đại khí thế giới bên ngoài gọi là pháp. Vọng chấp ngũ uẩn mỗi cái có tự thể, nên nói là tự. Hòa hợp thành người nên nói là cộng. Vọng chấp tứ đại mỗi thứ có tự thể nên nói là tự, hòa hợp biến hóa mà sanh vạn vật nên nói là cộng. Vì vậy nói Vọng tưởng chấp trước về tự cộng tướng trong ngoài kia. Bởi do tâm vốn vô sanh, nhân cảnh duyên mà có nên nói hoặc y tha hoặc duyên sanh gọi là duyên khởi.

🪷

Thế nào là tự tánh viên thành? Nghĩa là lìa vọng tưởng về danh tướng và sự tướng. Đó là chỗ đắc của thánh trí và cảnh giới sở hành của tự giác thánh trí. Đây gọi là tự tánh viên thành Như Lai tạng tâm.

GIẢI

Đây nói rõ tự tánh viên thành.

Bởi thân tâm thế giới nguyên là một Như Lai tạng chân tâm thanh tịnh, lìa danh lìa tướng vốn tự như như. Nếu nương theo vọng tưởng phân duyên mà hành thì danh tướng đây khởi tự động sanh chấp thủ. Nếu nương theo tự giác thánh trí mà hành, đạt tự tâm hiện lượng rỗng rang thì pháp pháp viên thành, chỉ là Như Lai tạng tâm vậy.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

Danh tướng giác tướng,

Hai tướng tự tánh

Chánh trí như như,

Đó là thành tướng

(Dương dịch: Danh tướng và phân biệt. Hai tướng tự tánh. Chánh trí như như là Viên thành thật. Hai tướng tức là tướng vọng tưởng, tướng duyên khởi).

Đại Huệ! Đây gọi là Kinh quán sát tướng tự tánh năm pháp. Cảnh giới sở hành của tự giác thánh trí, Bồ tát ma-ha-tát các ông phải nên tu học.

GIẢI

✅ Đây là tổng kết câu hỏi trước. Trong câu hỏi trước, ban đầu thưa thỉnh phân biệt tự tánh của năm pháp, kế đó thưa thỉnh nhận biết được tự tánh của năm pháp rồi thì quán sát nhân pháp cả hai đều vô ngã, trừ sạch vọng tưởng, chiếu sáng các địa, cho đến đạt được pháp thân Như Lai.

Trên đây đáp năm pháp ba tự tánh, trả lời câu thưa thỉnh trước đã xong. Dưới nói rõ quán sát hai vô ngã cho đến Phật địa cứu cánh, để đáp câu thưa thỉnh kế tiếp.

I₃ - Nói hai vô ngã

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Bồ tát ma-ha-tát khéo quán hai thứ tướng vô ngã.

GIẢI

Đây đáp câu hỏi kế.

Bởi năm pháp không ra ngoài hai tướng vô ngã, vì thấy có nhân có pháp tức là danh tướng vọng tưởng; nếu rõ hai vô ngã tức là chánh trí, như như. Nên trước phân biệt về tự tánh, năm pháp xong, kế đó dạy khiến khéo quán sát hai tướng vô ngã.

🪷

Thế nào là hai tướng vô ngã?

Nghĩa là nhân vô ngã và pháp vô ngã.

GIẢI

✅ Đây là chỉ ra hai thứ tướng vô ngã.

Do không biết căn thân khí giới chỉ do tâm hiện nên vọng chấp phân biệt, chấp là thật ngã thật pháp. Thế là vọng tưởng nổi lên, danh tướng bèn theo đó thành hình. Nếu rõ duyên sanh vô tánh thì cả hai đều vô ngã. Nếu cả hai vô ngã thì năm pháp, ba tự tánh đều lìa, tám thức đều dẹp, do đó đốn chứng tự giác thánh trí chóng được pháp thân Như Lai thường trụ.

🪷

Thế nào là nhân vô ngã? Nghĩa là lìa ngã và ngã sở, nhóm ấm giới nhập. Từ vô tri, nghiệp thọ sanh, nhãn sắc… nghiệp thọ chấp trước sanh thức. Tất cả các căn thân và thế giới hiện tự tâm, đó là hiện từ Tạng thức. Từ tướng vọng tưởng hiển thị xếp đặt.

GIẢI

Đây dạy dùng phép quán nhân vô ngã.

Đường dịch: “Thế nào là tướng nhân vô ngã? Nghĩa là uẩn giới xứ lìa ngã và ngã sở, chỗ sanh khởi của vô tri, ái, nghiệp, nhân… thức sanh, chấp giữ nơi sắc… mà sanh kế trước. Lại tự tâm thấy thân, thế giới, đều là chỗ hiện hiện của tạng tâm, sát-na tiếp nối biến hoại không dừng”. Nhân, tức là vọng thân ngũ uẩn tụ tập hiện tại, vọng chấp cho là ngã tướng. Cho thân làm ngã, cũng cho cảnh 6 trần bị thọ dụng làm ngã sở. Nay quán những thứ này xưa nay chẳng có, đều từ vô minh ái nghiệp sanh khởi. Nhân… 6 căn tiếp nhận cảnh 6 trần mà sanh kế trước, lấy đó làm sự thọ là ảnh tượng được hiện hiện của tạng thức. Đương thể toàn không, chỉ nương nơi vọng tưởng phân biệt hiện bày dường như có, huống là sát-na tương tục biến hoại không dừng, trong đó quán sát rốt ráo vô thường thì ai là ngã? Nên nói tóm là “Lìa”.

✅ Đây là chính quán vô ngã.

Phần sau, lấy ví dụ để rõ quán Tứ niệm xứ.

🪷

Như nước chảy, như hạt giống, như đèn, như gió, như mây, sát-na lần lượt hoại, tháo động như khỉ vượn.

GIẢI

Đây nói rõ trong phép quán Tứ niệm xứ, ban đầu quán tâm vô thường.

Nghĩa là quán tâm này vọng tưởng sanh diệt, như nước chảy xiết không dừng, như hột giống sanh hoa trái tương lai, như đèn sanh diệt từng phút giây, như gió thổi không dừng, như mây phút chốc biến đổi.

Nêu lên mấy thứ đều vô thường, nên nói Sát-na lần lượt hoại, tháo động không dừng như khỉ vượn. Vì thế kinh nói: Tâm tưởng như khỉ vượn, quán sát như vậy, rốt ráo trong đó cái gì là ngã?

🪷

Ưa chỗ bất tịnh như ruồi nhặng.

GIẢI

Đây quán thân bất tịnh.

Quán kỹ thân này, trong đó chỉ có ba mươi sáu vật, chín chỗ thường tiết ra ô uế bất tịnh, mà vọng tham đắm cho bất tịnh là tịnh, nên nói như ruồi nhặng.

🪷

Không chán đủ như gió lửa.

GIẢI

Đây quán thọ là khổ.

Đường dịch: Như lửa dữ. Quán các thứ thọ dụng, các khổ nhóm hợp không một chút vui, rất đáng oán ghét, chỉ do vọng tưởng tham cầu không chán không đủ, nên như lửa dữ.

🪷

Tập khí hư ngụy từ vô thỉ làm nhân. Như guồng nước tuôn, đi trong sanh tử luân hồi.

GIẢI

✅ Đây là quán pháp vô ngã.

Đường dịch: “Tập khí hư ngụy từ vô thỉ làm nhân, lưu chuyển trong các nẻo không ngừng như guồng nước tuôn”. Nghĩa là quán các pháp sanh tử trong ba cõi, chỉ nhân nơi vô minh nghiệp lực sai khiến, tùy theo nó kéo lôi lưu chuyển không ngừng, chỉ là không chủ tể, như ròng rọc quay nước, tùy theo người vận chuyển mà không do tự mình.

🪷

Các thứ sắc thân, như huyễn thuật thân chú, máy giật hình tượng cử động.

GIẢI

Trước là biệt tướng của Tứ niệm xứ quán, đây là tổng tướng của Niệm xứ quán.

Đường dịch: “Các thứ oai nghi đi đứng thân thể, cũng như tử thi, do sức chú thuật mà hành động, cũng như người gỗ, nhờ máy móc vận động”. Nghĩa là quán thân này hư giả không thật như thấy ma di, ắt là rất chán ghét; như người gỗ ắt là huyễn hóa chẳng chân thật. Trong đó mà quán kỹ tìm kỹ, rốt ráo gì là ngã đây? Thấy ma di dụ cho thân, máy phát động dụ cho tâm. Lăng Nghiêm nói: Tuy thấy các căn động, cốt yếu do máy kéo lôi.

🪷

Khéo biết tướng ấy gọi là nhân vô ngã.

GIẢI

Đây kết luận về quán nhân vô ngã.

Đường dịch: Hay ở nơi đây mà khéo biết tướng đó, ấy gọi là trí nhân vô ngã. Quán kỹ như thế thì liền đó được vô ngã.

🪷

Thế nào gọi là trí biết pháp vô ngã? Nghĩa là biết tướng vọng tưởng của ấm giới nhập, tự tánh như, ấm giới nhập lìa ngã ngã sở, ấm giới nhập tích tụ (Đường dịch: Chỉ là tích tụ chung). Nhân nơi nghiệp ái ràng cột, lần lượt cùng làm duyên mà sanh, không động điều (Đường dịch: Ái nghiệp ràng buộc, lẫn nhau làm duyên khởi, không có tác giả tạo tác). Các pháp cũng thế, lìa tự cộng tướng, sức vọng tưởng khiến vọng tưởng không thật, là phàm phu sanh khởi chẳng phải thánh hiền. Vì lìa tâm ý ý thức năm pháp ba tự tánh nên này Đại Huệ! Đại Bồ-tát, phải khéo phân biệt tất cả pháp vô ngã.

GIẢI

Đây nói rõ về quán pháp vô ngã.

Nghĩa là quán uẩn xứ giới… tất cả pháp vốn tự như như, lìa ngã ngã sở chỉ có nhóm hợp chung mà thôi. Chỉ nhân ái nghiệp ràng buộc xen nhau làm duyên khởi, vì vô tánh nên không có tác giả.

Đem những điều này quán tiêu biểu các pháp cũng vậy, lìa tự cộng tướng, chỉ là sự hiện hiện của các thứ tướng phân biệt hư vọng, là sức vọng tưởng của người ngu, chẳng phải thánh hiền. Như thế quán sát tất cả các pháp lìa tâm ý ý thức, năm pháp ba tự tánh thấy đều vô ngã, gọi là trí pháp vô ngã. Bởi tự cộng tướng là phàm phu ngoại đạo vọng chấp các pháp là tự sanh, tha sanh, vô nhân sanh, cộng sanh.

Nay xa lìa tự cộng tướng thời bốn lỗi chấp đều trừ diệt, tự thấy lý vô sanh. Do thấy rõ các pháp vốn tự vô sanh, mới gọi là trí pháp vô ngã, vì thế khuyên Bồ tát nên quán như thế.

🪷

Đại Bồ tát khéo biết pháp vô ngã chẳng bao lâu sẽ chứng Bồ tát Sơ địa, tương quán vô sở hữu địa, quán sát khai giác hoan hỷ, lần lượt tăng tiến, vượt qua Cửu địa được Pháp vân địa.

GIẢI

Từ đây trở xuống đến câu Được pháp thân Như Lai tự tại, là nói chung về tướng quán thành tựu đắc quả.

Ngã pháp có hai chấp là phân biệt và câu sanh. Hai chấp phân biệt (về ngã, pháp) đoạn tận liền nhập Sơ địa. Câu sanh ngã chấp, từ Sơ địa đến Thất địa đoạn dứt, mới vào Bát địa.

Câu sanh pháp chấp từ Sơ địa tuỳ thời mà đoạn, đến Đẳng giác hậu tâm mới dứt, liền nhập Diệu giác. Nên nói “Phân biệt nhị chấp Cực hỷ vô, pháp chấp câu sanh địa địa trừ” 1. Đường dịch: “Được đây rồi biết không có cảnh giới, rõ tướng các địa liền nhập Sơ địa, tâm sanh hoan hỷ, lần lượt tiến cho đến Thiện huệ và Pháp vân”.

Việc làm đã xong mà nói là từ Sơ địa đến Thiện huệ, Pháp vân, bởi Bát địa về trước chính yếu là đoạn câu sanh ngã chấp còn pháp chấp chỉ tuỳ thời mà thôi. Đến Bát địa chứng ngã không chân như, ưa đắm tam-muội không nguyện độ sanh, giống như hàng nhị thừa kết trong Niết-bàn; chính là câu sanh pháp chấp vì tế chưa quên. Cho đến Cửu địa, bỏ tam-muội lạc, phát nguyện độ sanh, vào địa vị pháp sư, thuyết pháp như mây mới chính là đoạn pháp chấp, nên nói Vượt qua Cửu địa được Pháp vân địa.

🪷

Nơi ấy kiến lập vô lượng hoa sen báu trang nghiêm, voi chúa, cung điện đại bảo, cảnh giới tự tánh huyền do tu tập sanh. Ngồi ở đây cùng với các Bồ tát tối thắng cưi đồng một loại voi, quyến thuộc vây quanh.

Đường dịch: “Trụ nơi địa này rồi, có hoa sen báu lớn, voi chúa báu trang nghiêm. Trên cõi này có cung điện báu hình dáng như hoa sen, do Bồ tát xưa đã tu pháp môn huyền tánh mà được thành tựu. Trên ấy có các Phật tử đồng hạnh cùng ngồi, trước sau vây quanh”. Chư Phật từ tất cả cõi Phật đến, dùng tay xoa đầu như Chuyển luân thánh vương làm lễ quán đảnh thái tử. Đường dịch: “Tất cả chư Phật ở các cõi nước đều duỗi tay, như phép quán đảnh thái tử con vua Chuyển luân, mà xoa đầu các Bồ tát”.

Vượt qua địa vị Phật tử đến tự giác thánh trí, sẽ được pháp thân tự tại của Như Lai, vì thấy pháp vô ngã. Đây gọi là tướng pháp vô ngã, các ông, hàng Đại Bồ tát cần phải tu học.

GIẢI

Đây kết luận đáp cho lời hỏi trước.

Trước Đại Huệ thưa thỉnh về kinh Thánh trí sự phân biệt tự tánh. Do đã phân biệt nói về tự tánh vọng tưởng ắt có thể quán sát hai vô ngã, trừ sạch vọng tưởng, soi rõ các địa cho đến được pháp thân thường trụ của Như Lai. Đức Thế Tôn mỗi mỗi lần lượt đáp xong, nên kết luận khuyên cần phải tu học.

Trên giảng chung năm pháp ba tự tánh hiển chánh trí như như xong.

Dưới phá hai kiến chấp có - không để hiển lộ lỗi dứt quấy.

I₄ - Phá hai kiến chấp có không để hiển lộ lỗi dứt quấy

🪷

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin nói về tướng kiến lập và phỉ báng, khiến con và các Đại Bồ tát lìa được ác kiến nhị biên về kiến lập và phỉ báng, chóng chứng được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Chúng rồi, xa lìa lỗi kiến lập thường và phỉ báng đoạn, không che bai chánh pháp.

GIẢI

Trước đã nói về chánh trí như như, do sắp hiển bày chân như lìa lỗi dứt quấy nên đưa ra câu hỏi này.

Luận nói: “Nên biết chân như chẳng phải có tướng, chẳng phải không tướng, chẳng phải chẳng có không, cho đến lìa tất cả tướng, vì là cảnh giới ly niệm chỉ có chứng mới tương ưng”. Hàng ngoại đạo và nhị thừa do không biết đến cảnh giới ly niệm, chỉ đem vọng tưởng phân biệt các pháp, khởi lên những kiến chấp có không, đoạn thường, tự mê làm chánh trí, cho nên ở chỗ như mà chẳng như. Thế Tôn một phen quở trách lỗi kia, tha thiết răn bậc Đại Bồ tát nên xa lìa ác kiến có - không.

Ngài Đại Huệ đã lãnh hội ý chỉ ấy, song không biết tướng nhị kiến, nên ở đây đặc biệt hỏi về tướng kiến lập và phỉ báng. Nhị kiến của ngoại đạo cộng có bốn câu nghĩa là có, không, cũng có cũng không, chẳng có chẳng không, bốn câu này đối với thể của chân như thành ra 4 thứ phỉ báng.

Nghĩa là “có” là chê tăng ích, “không” là chê tổn diệt, “cũng có cũng không” là chê tương vi, “chẳng có chẳng không” là chê hí luận. 4 câu chẳng ra ngoài Có Không, vì vậy bản Ngụy dịch: “Tướng phỉ báng có không, nếu biết tướng này nên phải xa lìa, thì đối với chánh pháp không sanh chê bai”. Trong đây kiến lập là Có, phỉ báng là Không, nếu bốn câu đã lìa, thời bách phi đều dẹp. Thế nên phần trước trong Chân Như Môn nói nghĩa trăm lẻ tám, tất cả đều PHI.

🪷

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nghe Bồ tát Đại Huệ thưa thỉnh rồi, bèn nói kệ rằng:

Kiến lập và phỉ báng

Không có tâm lượng đó

(Ngụy dịch: “Trong tâm không đoạn thường”).

Nghĩa là tự tâm hiện lượng vốn không có hai kiến chấp đoạn thường.

Thân thọ dụng kiến lập Và tâm không thể biết

Ngu si không trí huệ Kiến lập và phỉ báng

GIẢI

Bài tụng này nói chung nhị kiến vốn không. Nghĩa là thân tâm và thế giới đều là ảnh tượng bị biến hiện của chân tâm, vốn không chỗ có mà kẻ ngu không rõ, vọng khởi phân biệt khởi lên 2 cái thấy có và không. Do vì tất cả phân biệt đều là phân biệt tự tâm, nên biết lìa tâm ra trọn không chỗ được. Bản Đường dịch: Chỗ khởi chỉ là tâm, lìa tâm bất khả đắc.

🪷

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn đối với nghĩa của bài kệ này, lại chỉ bày thêm, mới bảo Đại Huệ rằng: Có 4 thứ chẳng có mà kiến lập có. Thế nào là 4? Nghĩa là chẳng có tướng mà kiến lập (có tướng), chẳng có kiến mà kiến lập, chẳng có nhân mà kiến lập, chẳng có tánh mà kiến lập. Đây gọi là 4 thứ kiến lập. Còn phỉ báng, là đối với chỗ kiến lập ấy mà không chỗ được, quán sát không có phần rồi khởi lên phỉ báng. Ấy gọi là tướng kiến lập phỉ báng.

GIẢI

Đây chính là nói rõ về hai tướng kiến lập phỉ báng.

Chẳng có tướng mà kiến lập… bốn thứ kiến lập đó, là nói về ấm giới nhập căn thân khí giới tất cả các pháp là tướng phần sở hiện của thức A-lại-da, cho nên gọi là tướng. Phân biệt pháp ấy mà sanh vọng kiến, chấp làm thật pháp thật ngã, là tiền thất thức, là kiến phần của đệ bát, cho nên gọi là kiến. Do căn bản vô minh đệ bát thức làm nhân sanh khởi, gọi là vô minh làm nhân sanh tam tế, nên gọi là nhân.

Tất cả các pháp chỉ là duyên sanh, hữu vi vô vi đều không tự tánh, do vốn không tự tánh vọng chấp là hữu tánh, nên nói là tánh. Do kiến, tướng, nhân, tánh bốn thứ này vốn “không chỗ có” nên đều gọi là “phi hữu”. Vì ngoại đạo nhị thừa không rõ thấu duy tâm nên ở trong bốn môn “phi hữu” mà chấp là “hữu”, vì thế gọi là kiến lập.

Đối với pháp đã lập tìm cầu không được, liền bác bỏ rằng tất cả pháp đều là “không”, nên nói Có Không là hai ác kiến. Tướng kiến lập phỉ báng là như vậy.

Trên nói chung nhị kiến.

Dưới riêng giải thích kiến lập.

I₅ Giải thích về kiến lập

🪷

Lại nữa này Đại Huệ! Thế nào là “Chẳng có tướng mà kiến lập tướng”? Nghĩa là ấm giới nhập chẳng có tướng riêng tướng chung, mà khởi chấp trước: ✅ Đây là như vậy, đây không khác. Đây gọi là “Chẳng có tướng mà kiến lập tướng”. Cái “chẳng có tướng kiến lập” này là lỗi của vọng tưởng hư ngụy từ vô thỉ, do các thứ tập khí chấp trước sanh ra.

GIẢI

Đây nói rõ về “Chẳng có tướng kiến lập tướng”.

Nghĩa là ấm giới nhập vốn không có tướng, mà ngoại đạo nhị thừa vọng chấp thật có tướng riêng tướng chung, pháp này như thế như thế rốt ráo không khác, chấp chặt không bỏ. Đây gọi là Chẳng có tướng kiến lập tướng. Tướng này chẳng phải do sức chánh trí kiến mà do từ tập khí vọng tưởng hư ngụy từ vô thỉ sanh chấp trước vậy.

🪷

Đại Huệ! Tướng “Chẳng có kiến mà kiến lập” là xác định kiến chấp về ấm giới nhập kia như thế, ngã nhân chúng sanh thọ mạng Trường dưỡng Si phu. Đây gọi là tướng “Chẳng có kiến mà kiến lập”.

GIẢI

Đây nói rõ về tướng “Chẳng có kiến mà kiến lập”. Nghĩa là năm uẩn chẳng phải ngã, mà vọng thấy thật có ngã nhân chúng sanh thọ mạng tác giả thọ giả, không mà cho là có, đây là vọng kiến. Trường dưỡng Si phu. Ngụy dịch là tác giả, thọ giả.

🪷

Đại Huệ! Tướng “Chẳng có nhân mà kiến lập” nghĩa là thức ban đầu không do nhân sanh, rốt sau chẳng thật như huyễn, vốn chẳng sanh. Con mắt, sắc trần, ánh sáng, giới, niệm, trước sanh sanh rồi, thật rồi trở về hoại. Đây gọi là tướng “Chẳng có nhân mà kiến lập”.

GIẢI

Đây nói rõ tướng “Chẳng có nhân mà kiến lập”.

Trong giáo lý nói rằng vô minh làm nhân sanh các chuyển thức… Kinh đây nói vô minh thể không, để hiển bày vọng vốn không nhân, để nêu ra ý chỉ tâm vốn vô sanh.

Đường dịch: “Thức ban đầu trước không có nhân, chỗ ban đầu chẳng sanh sơ thức, thức vốn không có mế sau”.

Bởi chư thức sanh khởi chỉ mượn nhân duyên mà sanh, đã mượn duyên sanh, thời vốn không tánh, nên chẳng thật như huyễn, sát-na không dừng, sanh rồi lại diệt. Đây thời là sanh vốn vô sanh, cho nên chẳng có nhân. Ngoại đạo không rõ điều này, bèn vọng lập Thắng tánh cho là sanh nhân. Nghĩa là nhất định có nhân khác. Nhị thừa không rõ như huyễn, đều là vốn chẳng có nhân mà lập tướng nhân. Vì thế đều là tà kiến.

Con mắt, sắc trần, ánh sáng, giới niệm. Ngụy dịch là nhãn, sắc trần, ánh sáng, hư không, ý niệm cho nên thức sanh.

Thức Luận nói: Nhãn thức chính duyên sanh. Nhị thức chỉ có tám. Tỳ thiết thân bảy duyên. Sau ba năm ba bốn 2. Lăng Nghiêm nói: Mắt và sắc trần làm duyên sanh nhãn thức. Lại nói: Nhãn hư không, nhãn ánh sáng, nhãn tâm, nhãn mắt cho nên nhãn thức sanh. Nhãn thức đã vậy các thức kia cũng vậy. Nhân duyên tánh không, ngay nơi sanh liền diệt, thật rồi lại không, cho nên “chẳng có” vậy.

🪷

Đại Huệ! Tướng “Chẳng có tánh mà kiến lập”, nghĩa là Hư không, Diệt, Bát Niết-bàn, chẳng tạo tác, chấp trước kiến lập tánh. Những việc này lìa tánh phi tánh, tất cả pháp như sừng thỏ sừng ngựa, như tóc rủ, lìa có và không có. Đây gọi là tướng “Chẳng có tánh mà kiến lập”.

GIẢI

Đây nói rõ tướng “Chẳng có tánh mà kiến lập”.

Trong luận Bách Pháp nói 6 vô vi. Đây giản trạch cho Nhị thừa ngoại đạo nên đưa ra 3. Nghĩa là 3 môn vô vi này, vốn chính nó không tạo tác, không có tự tánh, lìa có và không, như xưa nay không có sừng thỏ sừng ngựa, không thể khởi lên kiến chấp có không.

Song ngoại đạo vọng kiến về đoạn diệt không, cho cõi trời Vô tưởng, Thắng tánh… là tánh Niết-bàn. Nhị thừa chấp đoạn diệt thiên không, cho diệt đế là tánh Niết-bàn mà khởi thủ chứng. Do không thấu rõ Niết-bàn vốn không tự tánh, nên nói Chẳng có tánh mà kiến lập lập tướng tự tánh. Ý Phật ở chỗ dẹp tà nên bác bỏ tự tánh Niết-bàn vậy.

🪷

Kiến lập và phỉ báng là vọng tưởng của kẻ ngu, không khéo quán sát tự tâm hiện lượng, chẳng phải thánh hiền. Vì thế lìa ác kiến về kiến lập và phỉ báng, nên tu học.

GIẢI

Đây kết đáp khuyên tu.

Bởi hàng Nhị thừa ngoại đạo không khéo quán sát tự tâm hiện lượng nên khởi lên 2 ác kiến: kiến lập và phỉ báng. Hành giả tu như thật cần phải xa lìa.

Phần trên từ chương Sanh diệt trên đây nói chung Nhân hạnh xong. Dưới đây giảng rõ Hạnh thành đắc quả để kết thúc Chỉ bày chân nhân.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Đại Bồ tát khéo biết tướng tâm ý ý thức 5 pháp 3 tự tánh 2 vô ngã, tiến đến cứu cánh, vì an ổn chúng sanh nên hiện các hình tướng, như chỗ tự tánh vọng tưởng nương nơi duyên khởi.

GIẢI

Đây nói rõ tướng tự giác thánh trí cứu cánh.

Do khéo quán pháp tâm ý ý thức 3 tự tánh, hai vô ngã ắt tiến đến Phật quả rốt ráo. Do vô trí vô đắc nên không trụ Niết-bàn. Vì an vui chúng sanh nên dùng sức vô duyên từ đồng thể đại bi hiện các thứ thân hình, tùy duyên hóa đạo, như tự tánh vọng tưởng y nơi duyên khởi vậy. Song vọng tưởng duyên khởi sanh vốn vô sanh, pháp thân tùy duyên nên hóa độ vốn chẳng hóa độ.

Tự giác thánh trí rốt ráo đến chỗ cùng cực này, là chỗ bậc tu hành như thật trở về. Bởi nương vào chân nhân mà thành tựu, chẳng phải tam-muội hạ liệt có thể theo kịp. Vì thế đây kết chỉ bày.

Như hạt bão châu như ý nhiếp mưa, trong ấy hiện khắp cõi nước chư Phật, tất cả đại chúng đều vân tập, đều ở trong đó nghe thọ Phật pháp. Nghĩa là tất cả pháp như huyễn như mộng, bóng nắng, trăng nước, đối tất cả pháp lìa sanh diệt đoạn thường và lìa pháp Thanh văn, Duyên giác.

🪷

Được trăm ngàn tam-muội, cho đến trăm ngàn ức na do tha tam-muội. Được tam-muội rồi, dạo chơi các cõi Phật, cúng dường chư Phật, sanh các cõi trời, tuyên dương Tam bảo, thị hiện thân Phật có chúng Thanh văn Bồ tát vây quanh. Dùng tự tâm hiện lượng độ thoát chúng sanh, phân biệt diễn nói ngoại tánh phi tánh (Dương dịch: Nói cảnh giới bên ngoài đều chỉ là tâm) thấy đều khiến xa lìa các kiến chấp có không.

GIẢI

Đây nói rõ Như Lai tạng tùy theo duyên tịnh mà khởi, để hiện sức nghiệp dụng bất tư nghì biến.

Lăng Nghiêm nói về Bồ tát Quan Âm chứng tánh viên thông rằng: “Sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền, hốt nhiên siêu việt thế xuất thế gian, được nhị thù thắng. Trên đồng một từ lực với mười phương chư Phật, dưới cùng với sáu nẻo chúng sanh đồng một bi ngưỡng.

Cho nên 32 ứng thân, 14 món vô úy, 7 nạn, 2 mong cầu, 4 bất tư nghì… 1 niệm liền được”. Tánh (viên thông) này tự đầy đủ, pháp vốn như vậy, chẳng mượn bên ngoài.

Cho nên đây có thể đến tự giác thánh trí rốt ráo thời ứng duyên thành sự, tự nhiên như hạt châu Ma-ni viên chiếu ứng khắp, mà hay hiện thân ở tất cả cõi Phật, vào tất cả chúng hội, nghe tất cả pháp, được tất cả tam-muội đạo cõi nước chư Phật, cúng dường chư Phật.

Cũng hay tự hiện thân Phật, chúng hội vây quanh, vì chúng sanh tự tâm sở hiện như huyễn, thuyết pháp môn duy tâm hiện lượng như huyễn, khiến đều khai ngộ, đều rõ tự tâm, chứng chứng thánh trí, thấy lìa hai kiến chấp có không.

Bởi do bất diệt bất sanh hợp với Như Lai tạng mà Như Lai tạng chiếu tròn tất cả, nên có thể ở một đầu mảy lông hiện cõi nước bảo vương, trong một vi trần chuyển đại pháp luân.

Từ trước các Tổ liễu ngộ tự tâm như trời che khắp, như đất chở khắp, bèn nói “Mười phương ba đời tất cả chư Phật, lịch đại Tổ sư đồng ở trên đầu cây phất tử chuyển đại pháp luân”.

Bởi vì nương nơi tâm, không mượn bên ngoài, thế nên trong các lực, tâm lực rất lớn.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này mà nói kệ:

Tâm lượng thế gian,

Phật tử quán sát

Các chủng loại thân,

Lìa hạnh sở tác.

Được lực thần thông,

Tự tại thành tựu

GIẢI

Bài tụng trên đây nói về nghiệp dụng bất tư nghì, đều do duy tâm quán hạnh mà thành tựu. Đường dịch: Phật tử hay quán sát, thế gian chỉ là tâm.

Thị hiện các loại thân, chỗ làm không chướng ngại. Thần thông lực tự tại, tất cả đều thành tựu.

  • Trước xa, từ chương Sanh diệt đến đây, nói chung chân như tùy duyên nhiễm hoặc tịnh thành tất cả pháp. Đoạn gần, từ chương Hồi về năm pháp ba tự tánh đến đây dừng, dừng về ba môn Phá nhân tà để hiển chánh nhân xong.

  • Kế đứng về nhất tâm phá vọng chấp để hiển chân lý chia hai.

  • Ban đầu nói về Tịch diệt nhất tâm, kế Hồi quy tánh Như Lai tạng.

H₂ - Đứng về nhất tâm phá vọng chấp để hiển chân lý

I₁ - Nói về tịch diệt nhất tâm

🪷

Bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại thỉnh Phật: Cúi xin Thế Tôn vì chúng con nói về tất cả pháp không, vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánh. Chúng con và chúng Bồ tát khác, giác ngộ được tướng không, vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánh rồi, lìa vọng tướng có không, chóng chứng quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

GIẢI

Đây nói về chân như lìa duyên để hiển đệ nhất nghĩa không, dứt tuyệt tất cả pháp, trở về tịch diệt nhất tâm.

Bởi phần trước từ môn sanh diệt vào môn chân như, dùng thức vọng rõ chân, nên nói chân như tùy theo duyên vô minh thành thức A-lại-da, biến khởi lên tất cả các pháp căn thân khí giới, phân biệt chấp thủ cho là thật ngã thật pháp nên thành ra tiền thất chuyển thức.

Đây thời là danh tướng từ đó nói đây, do vọng tưởng duyên khởi mà ra.

Đã thấy rõ các pháp kia duy tâm hiện, đương thể vô sanh cho nên tánh Viên thành thật tự hiện bày. Đây thời là chánh trí từ đó hiển hiện, danh tướng đều như cho nên được quả nhị chuyển y. Vì thế tâm ý thức năm pháp ba tự tánh hai vô ngã từ đó mà lập. Song tuy chuyển sanh tử thành Niết-bàn, chuyển phiền não tức bồ-đề, cũng còn thuộc về việc bên mê mê ngộ, chưa tột cùng được nguồn chân nhất tâm.

Do vì trong tánh Như Lai tạng chơn thường, tìm cầu đến đi, mê ngộ, sanh tử trọn không thể được. Sanh tử Niết-bàn đều là tướng hoa đốm cuồng vọng điên đảo. Cho nên đây chính thức nói rõ đệ nhất nghĩa không, cốt yếu muốn hiển bày 5 pháp 3 tự tánh đều không, 8 thức 2 vô ngã đều dẹp sạch.

Vì thế, đến đây Bồ tát Đại Huệ hỏi về tướng các pháp là không, vô sanh, không hai, lìa tự tánh. Thế là chơn vọng đều quên, tình chấp Thánh phàm đều dứt, mới gọi là tướng chân thật của tự giác thánh trí cứu cánh, thành tựu viên mãn Như Lai tạng tịch diệt nhất tâm.

Chỗ Phật tổ truyền là chánh pháp nhãn tạng Niết-bàn diệu tâm, ý nghĩa ấy hiển lộ nơi đây. Cho nên Lương Võ Đế hỏi Sơ Tổ: “Thế nào là ý nghĩa của Thánh đế đệ nhất?” Tổ đáp: “Rỗng tuếch không có thánh”. Một ngàn bảy trăm tắc là để phát minh ý chỉ này.

🪷

Lúc bấy giờ đức Phật bảo Bồ tát Đại Huệ: “Lắng nghe, lắng nghe, khéo suy nghĩ đó, nay ta sẽ vì ông phân biệt nói rộng”. Đại Huệ bạch Phật: “Lành thay! Thế Tôn! Xin vâng thọ giáo”. Phật bảo Đại Huệ: “Không không đó, tức là chỗ tự tánh vọng tưởng. Đại Huệ! Vì hạng người chấp trước tự tánh vọng tưởng mà nói không, vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánh”.

GIẢI

✅ Đây là chỉ thẳng tướng đệ nhất nghĩa không.

Bởi đệ nhất nghĩa không, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên không thể bày nên nói là “Chơn không”. Song “Chơn không” này, toàn thể biến thành vọng tưởng nên toàn thể vọng tưởng tức là chơn không. Vì thế nói: Không không đó, tức là chỗ tự tánh vọng tưởng.

Ngoài vọng tưởng này lại không có Không riêng. Như nói Không chẳng ngoài hữu, ngoài nước không có dòng nước. Đây chính là vọng tưởng vốn vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánh, không dung ngôn thuyết. Thế nên đoạn văn sau nói: “Vì tự tánh vọng tưởng là không ngôn thuyết, nên sở dĩ nói không, vô sanh… ấy, chỉ vì không hiểu vọng tưởng thể không, chấp trước cho là thật có (vọng tưởng) nên nói như thế”.

🪷

Đại Huệ! Nói sơ lược có bảy loại Không. Đó là Tướng không, Tánh không, Tánh tự tánh không, Hành không, Vô hành không, Tất cả pháp lìa ngôn thuyết không, Đệ nhất nghĩa thánh trí đại không, Bỉ bỉ không.

GIẢI

✅ Đây giải thích về nghĩa không.

Không vốn chỉ là một, tùy theo chỗ quán sát có bảy. 7 loại Không này, căn cứ vào chánh trí mà quán là 6 loại Không trước, căn cứ vào tà kiến mà quán nên thêm cái Không thứ 7. Tánh, tướng, hành, ba loại Không ấy, là các pháp trong ba cõi, giữ lấy làm thành hai kiến chấp về Ngã, Pháp, nên nói không pháp sanh tử. Vô hành không là không có ba pháp trước, nên nói không pháp Niết-bàn.

Lìa ngôn thuyết không là hiển bày bốn cái không trước là vọng tưởng, đều lìa ngôn thuyết. Đệ nhất nghĩa không là tự giác thánh trí trọn là năm cái không trước, nên nói là Đại không. Bỉ bỉ không là tà kiến, nên sau đây không giữ lại.

🪷

Thế nào là tướng không? Nghĩa là tất cả tự tánh của tự tướng cộng tướng đều không, vì quán sát nó là lần lượt tích tụ, phân biệt riêng thì đều vô tánh, tự tướng cộng tướng không sanh. Tánh chung của tự và tha đều là vô tánh. Tướng ấy chẳng trụ, vì thế nói tất cả tánh tướng không, gọi là tướng không.

GIẢI

Đây nói rõ thật tướng chơn không.

Vì quán các pháp duyên sanh vô tánh, sanh mà không sanh, vọng tưởng vốn không, chỉ vì người ngu vọng chấp có tự tướng cộng tướng. Nay quán các pháp đều từ nhân duyên tích tụ dần dà, quan sát kỹ càng sâu xa hơn thì chúng vốn không có tự tánh. Đó là “Các pháp không tự sanh, cũng không từ cái khác sanh, không cộng sanh, không phải vô nhân.”

Cho nên nói là vô sanh. Đoạn kinh trên nói: Tánh chung của tự và ha là vô tánh, vì thế mà chẳng sanh, vì chẳng sanh nên chẳng trụ. Đây thời là các pháp vô tánh nên không, thế nên nói Tất cả tánh tướng không, gọi là tướng không.

🪷

Thế nào là tánh tự tánh không? Nghĩa là tánh của chính mình, tự tánh ấy không sanh, gọi là tánh tự tánh tất cả pháp không, cho nên nói tánh tự tánh không.

GIẢI

Đây nói các pháp vốn tự vô sanh nên tự tánh vốn không, để rõ pháp không.

Đoạn trước ước về vọng tướng các pháp, để nói rõ sanh vốn vô sanh. Đây nói các pháp đương thể toàn là chơn như.

Bởi tự tánh chơn như vốn tự chẳng sanh, cho nên tự tánh của chính mình (chơn như) tự tánh ấy chẳng sanh.

Thế là không đợi nhân duyên quán sát, mà pháp toàn Không, nên gọi là Tánh tự tánh các pháp không. Hai cái không này là pháp Không.

🪷

Thế nào là hành không? Nghĩa là ấm lìa ngã và ngã sở, do nhân tạo thành, từ nghiệp lực tạo mà sanh, gọi là hành không.

GIẢI

Đây nói rõ về năm uẩn duyên sanh vô tánh cho nên Không, để nói rõ Hành không.

Bản Đường dịch: “Thế nào là Hành không? Nghĩa là các uẩn do nghiệp và nhân hòa hợp mà có, lìa ngã, ngã sở. Gọi là Hành không”. ✅ Đây là Ngã không.

🪷

Này Đại Huệ! Ngay nơi hành không này lần lượt duyên khởi tự tánh không tánh, gọi là Vô hành không.

GIẢI

Đây nói 5 uẩn tự tánh vô sanh, xưa nay tịch diệt cho nên Không, để rõ nghĩa Niết-bàn không.

Bản Đường dịch: Thế nào là Vô hành không? Nghĩa là các uẩn xưa nay là Niết-bàn, không có các hành, gọi là Vô hành không. ✅ Đây là Niết-bàn không.

🪷

Thế nào là tất cả pháp lìa ngôn thuyết Không? Nghĩa là tự tánh vọng tưởng không có ngôn thuyết nên tất cả pháp lìa ngôn thuyết. Gọi là tất cả pháp lìa ngôn thuyết Không.

GIẢI

Đây nói sanh tử và Niết-bàn cả hai đều không.

Tất cả pháp tức là pháp của thế gian và xuất thế gian. Song các pháp ấy vốn không có, chỉ căn cứ vào vọng tưởng phân biệt, chỉ có ngôn thuyết, đều không có nghĩa thật.

Nay tâm hay phân biệt đã không, thì các pháp bị phân biệt làm sao có? Vì tất cả pháp do vọng tưởng giữ gìn, mà vọng tưởng lìa ngôn thuyết nên tất cả pháp lìa ngôn thuyết.

Đây giảng rõ “Câu không” nghĩa là sanh tử Niết-bàn cả hai đều không vậy.

🪷

Thế nào là tất cả pháp đệ nhất nghĩa thánh trí đại không? Nghĩa là được tự giác thánh trí, tất cả tập khí lỗi lầm chấp trước đều không. Gọi là tất cả pháp đệ nhất nghĩa thánh trí đại không.

GIẢI

Đây nói ngay cả “Câu không” cũng chẳng sanh, để rõ đệ nhất nghĩa không vậy.

Nghĩa là tất cả pháp sanh tử, Niết-bàn, có, không… đều từ nơi tập khí chấp trước lỗi lầm mà có.

Đệ nhất nghĩa tự giác thánh trí, tuyệt các đối đãi, thảy đều lìa hết, nên nói đại không. Vì do lượng của pháp giới diệt nên nói là đại không.

🪷

Thế nào là Bỉ Bỉ Không? Nghĩa là nơi kia Không kia (nên) KHÔNG. Gọi là Bỉ Bỉ Không.

GIẢI

Đây nói Tà Kiến Không.

Đức Phật cũng gồm kể chung vào đây, ý muốn khéo biết pháp của họ để lìa ác kiến.

Vì ngoại đạo không thông đạt được sáu cái Không trước, chấp các pháp thật có tự tướng cộng tướng.

Nghĩa là thấy lầm rằng, chỗ tự tướng thì không có cộng tướng, chỗ cộng tướng thì không có tự tướng.

Đó là vọng chấp ở chỗ kia không có đây, thì gọi là Không, ở chỗ đây không có kia, cũng gọi là Không. Đó gọi là bỉ bỉ không.

Do căn cứ vào cái Không này, vọng khởi lên hai kiến chấp về hữu vô - đoạn thường.

Cho nên Phật đưa ra đây để giải thích. Đoạn văn sau kết luận rằng: Cái Không này (bỉ bỉ không) rất dở, ông nên xa lìa.

🪷

Này Đại Huệ!

Thí dụ như ở nhà Lộc Tử Mẫu không có voi, ngựa, trâu, dê… không phải không có chúng Tỳ-kheo mà nói kia không. Chẳng phải nhà, nhà tánh không, cũng chẳng phải Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tánh không, chẳng phải chỗ khác không voi ngựa.

GIẢI

✅ Đây là thí dụ để giải thích tướng “bỉ bỉ không”.

Theo cựu chú, Lộc Tử là tên người, mẹ của Lộc Tử là ưu-bà-di Tỳ-xá-khu rất tôn trọng Tam bảo, xây dựng tinh xá để cho các Tỳ-kheo ở, trong đó không nuôi voi, ngựa…

Vì không có voi, ngựa nên nói không. Nhưng tinh xá, các Tỳ-kheo cùng các voi ngựa ở chỗ khác đều chưa từng không có.

Bản Đường dịch: Ta nói cái nhà ấy không, chẳng phải không có chúng Tỳ-kheo. Đại Huệ! chẳng phải là nhà không có tự tánh nhà, Tỳ-kheo không có tự tánh Tỳ-kheo, chẳng phải là chỗ khác không có voi ngựa trâu dê.

🪷

Đó gọi là tự tướng tất cả pháp. Kia ở nơi kia không kia, ấy gọi là bỉ bỉ không.

GIẢI

Đây dùng pháp để hợp.

Bản Đường dịch: “Tất cả tự cộng tướng của các pháp, mỗi mỗi tìm cầu chẳng thể được. Thế nên gọi là bỉ bỉ không”. Do ngoại đạo không hiểu các pháp tánh không, chỉ vọng chấp phỏng đoán so đo như thế.

🪷

Đây gọi là 7 thứ Không. Bỉ bỉ không là cái Không rất thô, ông nên xa lìa.

GIẢI

✅ Đây là đáp tóm kết về nghĩa KHÔNG.

Trong bảy thứ Không trên chỉ có bỉ bỉ không là vọng chấp của ngoại đạo, chẳng phải đệ nhất nghĩa thánh trí đại không, nên khuyên xa lìa đó.

🪷

Đại Huệ!

Chẳng tự sanh, chẳng phải chẳng sanh, trừ trụ tam-muội, gọi là vô sanh.

GIẢI

Đây nói rõ nghĩa tự tánh vô sanh.

Các pháp đương thể vốn tự chẳng sanh. Nghĩa là ngay nơi sanh mà chẳng sanh, chẳng phải là hoàn toàn không sanh.

Vĩnh Gia nói “Nếu thật không sanh, không chẳng sanh”, nên nói chẳng tự sanh, chẳng phải chẳng sanh. Hàng Bồ tát Bát địa do sức tam-muội chứng được lý vô sanh, là trước tu rồi sau mới được.

✅ Đây là tự tánh của các pháp vốn tự chẳng sanh, trừ trụ tam-muội là vô sanh chơn thật.

🪷

Lìa tự tánh tức là vô sanh (Đường dịch: Vô tự tánh ấy vì vô sanh vậy). Lìa tự tánh, sát-na tương tục lưu chú và dị tánh hiện, tất cả tánh lìa tự tánh, cho nên tất cả tánh lìa tự tánh.

GIẢI

✅ Đây là giải thích lại lý do vô sanh.

Các pháp sở dĩ chẳng sanh, vì lìa tự tánh. Thế nào là lìa tự tánh? Nghĩa là các pháp luôn luôn sanh khởi chẳng dừng trụ, trong khoảng sát-na trôi qua tánh khác, cho nên nói lìa tự tánh.

Bài kệ sau nói:

Tất cả pháp chẳng sanh,

Ta nói nghĩa sát-na,

Vật sanh ắt có diệt,

Không vì người ngu nói

Vì các pháp lưu chuyển từng sát-na nên không có tự tánh, vì không tự tánh nên không sanh. Khế hợp với vô sanh mới thấy sát-na, biết được sát-na chẳng trụ mới khế hợp vô sanh.

🪷

Thế nào là không hai? Nghĩa là tất cả pháp như sáng tối, dài ngắn, trắng đen.

GIẢI

Đây dùng thí dụ về chư pháp để hiển bày cứu cánh vốn không hai.

Sáng tối, bản Ngụy dịch là ánh sáng mặt trời, Đường dịch: Như ánh sáng. Như dài ngắn, trắng đen đều do đối đãi nhau mà có, riêng một cái thì không thành.

Nhìn theo đây, cả 3 thí dụ đều căn cứ vào mặt trời mà nói.

Sáng tối cũng còn gọi là tối râm, sáng tạnh. Như ánh sáng mặt trời, có mây che thì trời mát, tạnh ráo không mây thì nắng tốt.

Mùa hạ dài mùa đông ngắn, ngày sáng đêm tối, những việc ấy đều do đối đãi nhau mà có.

Thật ra thể của mặt trời vốn không có tối sáng dài ngắn trắng đen.

Quán sanh tử và Niết-bàn không hai cũng như thế.

🪷

Đại Huệ!

Tất cả pháp không hai, chẳng phải ở đây Niết-bàn, ở kia sanh tử, chẳng phải ở đây sanh tử kia Niết-bàn, có tướng khác vì nhân có tánh. Đó gọi là không hai, như Niết-bàn và sanh tử, tất cả pháp cũng như vậy.

GIẢI

✅ Đây là hợp pháp không hai.

Sanh tử Niết-bàn xưa nay bình đẳng. Nên bản Đường dịch: “Chẳng phải ở ngoài sanh tử có Niết-bàn, chẳng phải ngoài Niết-bàn có sanh tử”. Sanh tử Niết-bàn không có tướng trái nhau, thế thì sanh tử Niết-bàn vốn không phải tướng khác. Hàng phàm phu Nhị thừa thấy lầm rằng hai tướng sanh tử và Niết-bàn khác nhau, vì không biết cả hai đều vô tánh. Khi nói tướng khác là nhân vì có tánh. Tất cả pháp không hai, ước lệ như đây.

🪷

Thế nên không, vô sanh, không hai, lìa tự tánh tướng nên phải tu học. Bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

Ta thường nói pháp không

Xa lìa nơi đoạn thường

Sanh tử như huyền mộng

Mà nghiệp kia chẳng hoại

GIẢI

✅ Đây là tụng tổng quát về không, vô sanh, không hai.

Đoạn văn xuôi nói Tất cả bình đẳng đều chẳng thể được, sợ người nghe khởi lên kiến chấp “không”, cho nên ở đây nói Mà nghiệp kia chẳng hoại.

Kinh Tịnh Danh nói: “Không làm, không tạo, không người thọ mà nghiệp thiện ác chẳng mất”. Tông Cảnh Lục nói “Vì tánh không nên chẳng hoại nghiệp đạo, nhơn quả rõ ràng”. Đó chính là “Chẳng tự sanh chẳng phải chẳng sanh”.

🪷

Thế nên không, vô sanh, không hai, lìa tự tánh tướng nên phải tu học. Bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

Hư không và Niết-bàn

Hai diệt định cũng thế

Người ngu khởi vọng tưởng

Bậc thánh lìa có, không

GIẢI

Đây nói các pháp không, vô sanh, không hai, lìa tướng tâm duyên lìa tướng ngôn thuyết. Như 3 pháp vô vi, không cho phép khởi tâm toan tính. Do người ngu vọng tưởng là có là không, thánh nhân dùng thánh trí tự giác chiếu soi thì nhất chân vắng lặng, muôn pháp đều như.

Cho nên tất cả đều lìa. Thế là một bề nói rằng năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã… cũng là việc bên mé sanh diệt mê ngộ; tiến đến chỗ không, vô sanh, không hai, lìa tự tánh tướng, mới là tông chỉ rốt ráo. Vì vậy đoạn văn sau kết thúc chỉ ra chỗ ly ngôn.

🪷

Lúc bấy giờ đức Phật bảo Đại Bồ tát Đại Huệ rằng: “Này Đại Huệ! Không, vô sanh, không hai, lìa tự tánh tướng, nằm trong tất cả kinh điển của chư Phật, kinh nào cũng đều nói nghĩa này.

Vì các kinh tùy theo sự trông mong của chúng sanh nên mới giảng thuyết chỉ bày nghĩa lý, song chẳng phải chỗ chân thật nằm trong ngôn thuyết.

Như nai khát tưởng nước làm mê lầm cả bầy nai. Nai đối với tướng kia chấp trước thật có nước, mà nơi ấy không có nước.

Cũng như thế, tất cả pháp được nói trong kinh, là vì muốn cho người ngu được hoan hỷ, chẳng phải thánh trí thật ở tại ngôn thuyết.

Cho nên phải y cứ vào nghĩa đừng kẹt trong ngôn thuyết”.

GIẢI

✅ Đây là kết thúc chỉ chỗ ly ngôn, gom quyển về thật.

Tất cả các đức Phật ra đời nói pháp, vốn không có pháp thật trao cho người; chỉ vì phá vọng tưởng chiêm bao của chúng sanh thôi.

Do chúng sanh mê pháp bổn trụ (pháp gốc) vào trong chiêm bao vọng tưởng, thấy các pháp trong 3 cõi bèn cho là thật có, Phật dạy họ nói là không.

Vọng thấy các pháp sanh, Phật dạy rằng vô sanh. Vọng thấy hai tướng sanh tử Niết-bàn, Phật dạy rằng không hai. Muốn khiến chúng sanh tự ngộ pháp gốc, chẳng phải riêng có pháp nào thêm! Vì thế tất cả kinh điển nói ra, chỉ là không, vô sanh, không hai, toàn như thế thôi.

Pháp môn “nhất tự” này, mà lại chỉ bày nhiều lối tẽ, vì chúng sanh gốc mê quá sâu chắc, trông mong nhiều đường cho nên ép lòng vì họ mà chỉ bày, đó là bất đắc dĩ thành lập ứng hợp căn cơ. Tâm của bậc thánh thật không phải ở chỗ nói năng.

Ngay nơi lời đều vốn là ly ngôn, chúng sanh không biết lại chấp ngôn từ cho là pháp thật, không biết pháp chẳng ở nơi lời. Như con nai khát nước đuổi theo sóng nắng tưởng là nước, không biết sóng nắng chẳng phải nước.

Cho nên tất cả Phật pháp, như đem lá vàng để dỗ con nít khóc, chỉ muốn chúng sanh ngu muội phát tâm hoan hỷ thôi, há là pháp thật sao!

Vì vậy kinh Đại Niết Bàn nói: “Biết pháp không ở tại lời, khéo vào được mé vô ngôn, hay chỉ bày ngôn thuyết, như tiếng vang khắp nơi”. Tông Cảnh nói: “Lấy thánh giáo làm gương sáng, chiếu soi tự tâm, dùng tự tâm làm đèn trí, soi suốt ý chỉ sâu kín của kinh.

Đừng chấp nghĩa văn tự, theo lời nói sanh hiểu biết, cần phải tham cứu thẳng nơi ý ngoài lời, khế hội bổn tâm”. Đây nhắc nhở rằng: Cho nên người xem kinh, nên y cứ vào nghĩa, đừng kẹt trong ngôn thuyết.

Tổ Đạt-ma từ phương Tây sang, truyền riêng pháp môn “Trực chỉ” không lập văn tự, vì tất cả là không, vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánh. Đức Phật ra đời vốn vì việc này, trong bốn mươi năm nhiều phen đào thải, không hề nói thẳng chỉ nói việc bên cạnh.

Đến đây mới nhận cho Nhị thừa và ngoại đạo đều được pháp thân của Như Lai. Từ trước là phương tiện tạm, tới đây mới nói thật, nên kinh này làm tiền đạo của Pháp Hoa, lý do là như vậy.

  • Những điều bàn luận từ trước, đã hiển lý rốt ráo ở đây.

QUYỂN THỨ III

CHƯƠNG HAI - PHẦN ĐẦU

  • Phần sau, từ chỗ sơ khởi của quyển 2 đến chương Pháp thân quyển 4, đều lần lượt phát minh ý nghĩa của chương này, nên lại dùng tánh trâu ngựa để kết, xem lời văn, tự sẽ chứng biết.

  • Đoạn trước trong phần hiển lý, ban đầu nói rõ tịch diệt nhất tâm xong.

  • Tiếp theo chỉ Như Lai tạng tánh.

I₁ - Chỉ Như Lai tạng tánh

🪷

Lúc bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ bạch Phật:

Bạch Thế Tôn! Trong kinh, Thế Tôn nói Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh, chuyển ¹ 32 tướng vào trong thân của tất cả chúng sanh, như hạt châu rất quý cột trong áo dơ. Như Lai tạng thường trụ không biến đổi cũng như thế, bị trói buộc trong chiếc áo nhơ ấm giới nhập, bị tham dục sân nhuế, các thứ vọng tưởng chẳng thật làm ô uế. ✅ Đây là lời diễn thuyết của tất cả chư Phật.Tại sao Thế Tôn nói có Như Lai tạng giống như ngoại đạo nói về thần ngã?

Bạch Thế Tôn! Ngoại đạo cũng nói có tác giả thường còn, lìa vi trần, bất diệt, trùm khắp.

Thế Tôn! Ấy là ngoại đạo nói có Ngã.

GIẢI

✅ Đây là sắp chỉ bày về Như Lai tạng, tánh chơn thường vô ngã, để phá chấp thần ngã của ngoại đạo, nên đưa ra câu hỏi này.

Phần đầu nói Tịch diệt gọi là nhất tâm, Nhất tâm gọi là Như Lai tạng. Bởi thể Như Lai tạng xưa nay không tương ưng với tất cả pháp nhiễm, nên nói tự tánh thanh tịnh. Chư Phật chứng tâm này gọi là Bồ-đề Niết-bàn, thành 32 diệu tướng. Chúng sanh mê tâm này mà thành sanh tử phiền não, khởi lên tám muôn bốn ngàn trần lao.

Thế là chỗ sử dụng hằng ngày của chúng sanh toàn là quả đức của Như Lai, nên nói Chuyển 32 tướng vào trong thân của tất cả chúng sanh. Chỉ vì cấu bẩn ngũ ấm vọng tưởng tham sân làm nhơ uế, cho nên Như hột châu quý vô giá bị cột vào áo dơ, kỳ thật tự tánh thường trụ không biến đổi.

✅ Đây là câu nói tột cùng của chư Phật trong các kinh Đại thừa liễu nghĩa, gọi là Pháp thân chơn ngã thường trụ nhất tâm.

Đại Huệ nhân đó sanh nghi, bèn hỏi Thế Tôn đã từng khiển trách ngoại đạo vọng chấp thần ngã, nói đó là tà kiến, nay Thế Tôn lại nói có Như Lai thường trụ chơn ngã, há chẳng giống với chỗ lập thuyết thần ngã của ngoại đạo ư? Bởi vì Phật nói về Như Lai tạng thể thường châu biến, lìa tự tánh, bất sanh bất diệt, còn ngoại đạo cũng nói có Thường là tác giả lìa cầu na, châu biến bất diệt, thế thì họ nói Ngã cùng với Phật không khác.

Hơn nữa, trước đây Phật nói không, vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánh, trong tất cả kinh, nay lại nói có nghĩa Như Lai tạng, vậy là thánh giáo tự trái nhau, tự ngữ tương vi vậy.

Song chỗ chấp ngã của ngoại đạo có ba nghĩa:

  1. Thể thường, gọi là tác giả.
  2. Tuy ở tại ngũ ấm mà lìa cầu na (lìa thân vật chất), riêng có tự tánh.
  3. Trùm khắp các cõi, mà thật không sanh diệt.

Lối nói tuy giống, nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác, thật là tà kiến. Cho nên nói:

Người học đạo không rõ biết chân

Chỉ vì từ trước nhận thức thần

Cội nguồn sanh tử vô lượng kiếp

Người ngu gọi đó “Bổn lai nhân”

Kinh này lấy phá tà làm dụng, nghĩa là tà kiến này một phen phá tức gọi là chánh trí, liền có thể chứng nhất tâm. Cho nên ngài Đại Huệ đối với chỗ hiển lý rốt ráo, đưa ra câu hỏi này.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Ta nói Như Lai tạng, không giống với ngoại đạo nói về Ngã.

Này Đại Huệ! Có khi ta nói không, vô tướng, vô nguyện, mé như thật, pháp tánh, pháp thân, Niết-bàn, ly tự tánh, bất sanh bất diệt, xưa nay vắng lặng, tự tánh Niết-bàn, những câu như thế để nói về Như Lai tạng. Bậc Như Lai Ứng cúng đẳng chánh giác vì đoạn trừ cái sợ của người ngu về lý vô ngã, nên nói ra môn Như Lai tạng, là cảnh giới vô sở hữu, lìa vọng tưởng.

Này Đại Huệ! Các Đại Bồ tát ở đời hiện tại và vị lai, không nên khởi kiến chấp về ngã.

GIẢI

Đây nói pháp vốn ly ngôn, vì ứng hợp căn cơ mới có ngôn thuyết, để hiển bày tạng tánh vô ngã.

Nghĩa là đức Phật thuyết pháp không giống như luận chấp thiên lệch của ngoại đạo, chỉ vì thuận theo tình chấp của chúng sanh, tùy nghi mà kích phá.

Nên Phật vì chỗ mong cầu của người chấp tướng Có mà nói về tam giải thoát. Vì người chấp pháp giả mà nói mé như thật. Vì người chấp sai biệt nói pháp tánh bình đẳng.

Vì người chấp vọng thân nói pháp thân. Vì người ưa sanh tử nói Niết-bàn. Vì người nhận sanh diệt làm tâm tánh nói bất sanh bất diệt lìa tự tánh.

Vì người ghét ồn náo nói xưa nay vắng lặng. Vì người sợ sanh tử nói tự tánh Niết-bàn.

Tất cả những câu như thế đều là tên khác của Như Lai tạng, nên nói Những câu như thế để nói về Như Lai tạng. Vì người chấp tứ đại giả ngã và người nhận có thần ngã mà nói vô ngã.

Lại có người ngu, nghe nói vô ngã bèn sinh sợ hãi, nên Phật lại nói cảnh giới vô sở hữu lìa vọng tưởng, tên là Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh. Đây cũng là phương tiện tùy thuận, vốn không có pháp thật.

Vì vậy các ông nên nương vào nghĩa đừng kẹt trong ngôn thuyết, không nên khởi chấp trước về ngã kiến.

Trước nói tam thừa là quyền, nhất thừa là thật; nay nói tên pháp thân Niết-bàn Như Lai tạng, cũng còn là phương tiện kiến lập.

Chỗ nói là “Đại thừa của ta chẳng phải thừa”, để hiển bày nguồn tâm tịch diệt, dứt đường ngôn ngữ, chơn vọng đều mất, mới là tự giác thánh trí cứu cánh.

🪷

Thí như thợ gốm, từ một khối đất, dùng phương tiện nhân công, nước, gỗ, bánh xe quay mà tạo ra các thứ đồ dùng. Như Lai cũng như thế, ở nơi pháp vô ngã lìa tất cả tướng vọng tưởng, dùng các phương tiện trí huệ khéo léo, hoặc nói Như Lai tạng, hoặc nói vô ngã. Do nhân duyên này nên nói Như Lai tạng không giống với ngoại đạo nói về ngã. Đây gọi là nói Như Lai tạng, vì khai dẫn hàng ngoại đạo chấp ngã nên nói Như Lai tạng, khiến lìa vọng tưởng chẳng thật về ngã kiến, vào cảnh giới tam giải thoát môn, hy vọng chóng đắc đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

GIẢI

Đây dùng thí dụ để hiển rõ ý nghĩa giáo pháp nhân căn cơ thành sai khác.

Kinh Tịnh Danh nói: “Thuyết pháp chẳng có cũng chẳng không, do nhân duyên nên chư pháp sanh. Như thợ gốm nặn đồ dùng, đất chỉ một thứ, tùy duyên mà thành các món đồ khác nhau, để dụ cho pháp vốn chẳng khác, khác là tự căn cơ”. Bản Đường dịch: “Như Lai cũng vậy, nơi pháp vô ngã lìa tất cả tướng phân biệt, dùng các món trí huệ phương tiện khéo léo, hoặc nói Như Lai tạng, hoặc nói là vô ngã, mỗi mỗi danh tự đều sai khác”.

Bởi, các trí huệ phương tiện khéo léo ấy, kinh Pháp Hoa nói rằng: “Trí huệ của chư Phật sâu xa vô lượng, trí huệ ấy khó hiểu khó vào”. Nghĩa là đức Phật có đủ hai trí quyền và thật. Các thứ trí huệ thiện xảo là Quyền trí, Căn bổn thật trí; phương tiện thật trí để chứng lý nên pháp nào cũng thấu triệt; dùng quyền trí để thuyết pháp nên căn cơ nào cũng thích hợp.

Những lời thuyết pháp của Phật đều dẫn đường chúng sanh đến chỗ nhất thiết trí.

Nên nói: Như Lai vì khai dẫn hàng ngoại đạo chấp ngã nên nói Như Lai tạng, khiến lìa vọng tưởng ngã kiến không thật, vào tam giải thoát môn, chóng được quả Bồ-đề vô thượng, há giống với ngoại đạo nói vô ngã.

Ba môn giải thoát là: Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh nên nói không. Lìa tất cả tướng nên nói vô tướng. Chúng sanh tánh tự sẵn đủ không mượn bên ngoài nên nói vô nguyện.

Chú giải xưa dẫn chứng ba môn giải thoát trong Hoa Nghiêm:

Bồ tát quán duyên khởi mà biết tự tánh không, được không giải thoát, quán mười hai chi nhân duyên tự tánh diệt, được vô tướng giải thoát, vào Không, không nguyện cầu chỉ vì giáo hóa chúng sanh, được vô nguyện giải thoát. Nhưng kinh Hoa Nghiêm nói theo quán, ý chính ở hạnh; còn kinh này nói theo thể, ý chính ở lý, danh giống mà nghĩa khác, học giả nên biết.

🪷

Thế nên bậc Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác nói về Như Lai tạng như thế, nếu không như thế, ắt là giống ngoại đạo.

Thế nên này Đại Huệ!

Vì lìa kiến chấp của ngoại đạo, phải nương Như Lai tạng vô ngã.

GIẢI

✅ Đây là kết luận để thành tựu nghĩa chính, răn nhắc khiến lìa lỗi.

Nghĩa là Như Lai thuyết pháp, là dùng ấn thật tướng ấn định các pháp, cho nên tùy chỗ nói ra không trái với thật tướng. Hàng ngoại đạo không có pháp ấn này, nên nói không như thế, ắt là giống ngoại đạo. Ôi!

Như Lai không có pháp ấn ấy, ắt là giống ngoại đạo! Thật thống thiết để người biết pháp e sợ. Như Lai tạng là danh xưng chỉ cho Phật tánh tại triền, nghĩa là thức tạng của chúng sanh là Như Lai tạng. Nói Như Lai tạng là y chủ thích.

🪷

Lúc ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ:

Người, ấm tương tục

Duyên và vi trần

Thắng, Tự tại tạo

Tâm lượng vọng tưởng

GIẢI

✅ Đây là tụng chung về vô ngã.

Người, ấm tương tục, duyên là phàm phu chấp năm ấm duyên sanh giả ngã. Vi trần, Thắng tánh, Đại tự tại… là lối chấp thần ngã của ngoại đạo. Đây đều là những phân biệt vọng tưởng của tâm lượng, kỳ thật vốn đều vô ngã.

  • Đầu quyển này từ chương Phân biệt tự tánh đến đây là đứng về phương diện “tam môn” để biệt rõ nhân quả tà chánh. Trong phần này, phần đầu phá tà hiển chánh để chỉ ra chân lý thường trụ đến đây là dứt.

  • Phần sau đây:

G₁ - Căn cứ vào lý mà khám định để biện rõ hai hạnh chánh tà. Có 4.

H₁ - Chỉ chung về phương diện chánh hạnh. Có 4.

I₁ - Trí năng quán

Lúc bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ xem xét chúng sanh đời vị lai, lại thỉnh đức Thế Tôn: Cúi xin vì nói việc tu hành vô gián, như các Đại Bồ tát bậc tu hành đại phương tiện.

Đây chính là thỉnh về hạnh. Phần trước khai thị hiển bày về lý đã xong, nên Bồ tát Đại Huệ đến đây thưa thỉnh về hạnh.

❔ HỎI: Trước nói về quán duy tâm thức, quán ba tướng thánh trí, quán hai vô ngã… đều là hạnh. Tại sao lại đặc biệt chỉ phần này là hạnh?

📣 ĐÁP: Kinh này chỉ thẳng nhất tâm, là Đại thừa đốn giáo, nói sanh tử tức Niết-bàn, phiền não tức Bồ-đề, nên đứng về 5 pháp, 3 tự tánh, 8 thức, 2 vô ngã nói Như Lai tạng tùy theo duyên nhiễm tịnh mà thành pháp thế gian hay xuất thế gian.

Do theo duyên ô nhiễm như ái nghiệp vô tri khởi lên, thì như như, chánh trí biến thành danh, tướng, vọng tưởng, cho là thật ngã thật pháp nên có sanh tử. Nếu quán duyên sanh vô tánh thì danh, tướng, vọng tưởng là chánh trí, như như, ngã pháp đều không, tức là Niết-bàn. Chỉ có một tâm này chuyển biến, lại không có pháp nào khác.

Phần trước tuy mỗi phần có nói về quán hạnh, nhưng đó là đức Phật chỉ thẳng cho đương cơ, muốn khiến ngay trước mắt liền thấy các pháp duyên sanh vô tánh, đốn ngộ vô sanh. ✅ Đây là mượn quán để rõ tâm, chính tại chỗ hiển lý. Nay từ sanh diệt trở về nguồn chơn nhất tâm, hiển lý đã tột cùng, nên ngài Đại Huệ nhân nghe nói về năm chủng tánh vô gián, quan sát chúng sanh đời vị lai cũng có hạng căn cơ lanh lẹ có thể thành thục, vì vậy đến đây đặc biệt thưa thỉnh về tu hành vô gián.

Cũng giống như đoạn trước thỉnh Phật vì các Bồ tát nói môn phương tiện tu hành rộng lớn, khiến cho họ đốn ngộ. Trước là đứng về quán để hiển lý, đây nhân căn cơ mà lập hạnh, nên ý chính ở hạnh.

Do căn cứ vào lý vô gián tu hạnh vô gián. Nhân hạnh vô gián chứng lý vô gián. Chỉ nhất tâm này ngay đó chứng liền, vì vậy nhơn, pháp, nhân, quả đều nói chung là vô gián, thật là tông thú của kinh này.

Phật bảo Đại Huệ: Đại Bồ tát thành tựu bốn pháp được thành bậc tu hành đại phương tiện.

Thế nào là bốn? Nghĩa là: Khéo phân biệt tự tâm hiện. Quán ngoại tánh phi tánh. Lìa kiến chấp sanh trụ diệt.

Được tự giác thánh trí thiện lạc. Đây gọi là Đại Bồ tát thành tựu bốn pháp, được thành bậc tu hành đại phương tiện.

Đây chính là chỉ hành tướng của trí năng quán có bốn.

Căn cơ đời vị lai, nếu không phải hàng thượng căn đại trí thì không thể đốn nhập pháp môn duy tâm, nên nói Đại Bồ tát thành tựu bốn pháp, được thành bậc tu hành đại phương tiện.

Vì thế Tổ thứ hai mươi bảy dặn dò tổ Đạt-ma rằng: “Chúng sanh ở nước Chấn Đán (Trung Hoa) phần nhiều có căn khí Đại thừa, ông sẽ ở đó độ người vô lượng”.

Do vậy Sơ tổ từ Tây Trúc sang, không lập văn tự, chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật. Vì thế từ Tào Khê truyền xuống chư Tổ được ghi trong Truyền Đăng, đều là các bậc thành tựu bốn pháp, đều là bậc tu hành đại phương tiện, chỉ vừa có mảy may không thấu suốt tức là hữu gián, không đủ để gọi là Đại phương tiện.

🪷

Thế nào là bậc Đại Bồ tát khéo phân biệt tự tâm hiện? Nghĩa là quán sát ba cõi duy tâm chừng ngần như thế, lìa ngã ngã sở, không lay động, lìa qua lại, do tập khí hư ngụy từ vô thủy huân tập, các thứ sắc hành trong ba cõi trói buộc kiến lập thân tài, vọng tưởng theo đó thể hiện. Đây gọi là Đại Bồ tát khéo phân biệt tự tâm hiện.

GIẢI

✅ Đây là giải thích pháp quán đầu tiên trong bốn pháp. Nghĩa là quán các pháp trong ba cõi chỉ là nhất tâm, lìa ngã ngã sở, vốn không có tướng của các động tác đến đi, chỉ vì tập khí chấp trước hư ngụy từ vô thủy huân tập, nên các thứ sắc hành trong ba cõi ràng buộc thân tài nơi chốn, tùy theo vọng tưởng phân biệt mà hiển hiện. Đường dịch: “Danh ngôn sắc hành ràng buộc”. Nghĩa là ba cõi chỉ dùng danh ngôn làm thể, nếu biết rõ vọng tưởng vô tánh, thì ba cõi liền không. Đây tương đương nghĩa “không quán” 4.

🪷

Thế nào là bậc Đại Bồ tát quán ngoại tánh phi tánh? Nghĩa là tất cả tánh như sóng nắng như chiêm bao. Do tập khí vọng tưởng hư ngụy từ vô thỉ làm nhân nên thấy tất cả tánh có tự tánh. Hàng Đại Bồ tát khi khéo quán sát như thế thì thấy ngoại tánh chẳng phải là tánh. (Bản Đường dịch: Khi quán sát tất cả pháp như thế, tức là chuyên cầu thánh trí tự giác). Đây gọi là Đại Bồ tát quán ngoại tánh phi tánh.

GIẢI

✅ Đây giải thích ý nghĩa pháp thứ hai.

Do quán tất cả các pháp trong ba cõi đã duy tâm hiện, thì tuy có mà không thật, đương thể hư giả như sóng nắng, chiêm bao, bong bóng… vốn tự chẳng có, chỉ nhân tập khí vọng tưởng mới có. Vì vọng tưởng không có tánh nên tất cả pháp đều không có tánh. Vì không có tánh nên giả. Đây tương đương nghĩa “giả quán”.

Thế nào là Đại Bồ tát lìa kiến chấp sanh trụ diệt? Nghĩa là tất cả tánh như huyễn mộng, tánh tự tha và tự tha gồm chung đều chẳng sanh, tùy theo vào chừng ngần của tự tâm nên thấy ngoại tánh phi tánh. Thấy thức chẳng sanh và duyên chẳng tích tụ. Thấy vọng tưởng duyên sanh, tất cả pháp trong và ngoài của tam giới chẳng thể được. Thấy lìa tự tánh thì kiến chấp “sanh” ắt diệt, biết tự tánh các pháp như huyễn… được vô sanh pháp nhẫn. Được vô sanh pháp nhẫn rồi, lìa kiến chấp sanh trụ diệt. Đây gọi là Đại Bồ tát khéo phân biệt lìa kiến chấp sanh trụ diệt.

✅ Đây giải thích ý nghĩa pháp thứ ba.

Do tâm cảnh đối đãi nên kiến chấp sanh diệt không quên. Bởi tâm vốn vô sanh, nhân cảnh mà có, nay quán tất cả cảnh như huyễn mộng chẳng thật, thì các pháp đương thể chẳng sanh.

Do duy tâm hiện nên chẳng sanh, đã duy tâm hiện thì ngoại cảnh liền không, nên tha chẳng sanh. Ngoại cảnh đã không thì nội thức chẳng khởi nên nói thấy thức chẳng sanh, đó là tự chẳng sanh.

Đã không cảnh để đối tâm, cũng không có tâm phân biệt cảnh, đương thể vô sanh, lại do nhân duyên gì mà có thể sanh ư? Cho nên nói duyên chẳng tích tụ, đó là tự tha chẳng chung sanh.

Do các pháp trong tam giới đều từ duyên khởi, nên nói thấy vọng tưởng duyên sanh, thế là chẳng phải “vô nhân sanh”.

Nay quán nhân duyên thể nó là không, thì tất cả pháp trong ngoài nơi tam giới đều chẳng thể được.

Vì biết các pháp không có thật thể, kiến chấp về sanh diệt hết, thì chứng được cảnh giới như huyễn, được vô sanh pháp nhẫn, lìa kiến chấp sanh diệt. Sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền. ✅ Đây là tương đương nghĩa “trung đạo quán”.

Luận Trung Quán nói: “Nhân duyên sanh các pháp, ta nói tức là không, cũng gọi là giả danh, cũng gọi nghĩa trung đạo”.

Kinh đây chỉ quán thẳng các pháp duy tự tâm hiện, duyên sanh vô tánh, đốn chứng vô sanh.

Đứng về nghĩa mà nói để so sánh với tam quán, chẳng phải như các kinh khác nói, trải qua thứ lớp riêng để so sánh.

Ba pháp quán trên thuộc về nhân, một pháp quán sau đây thuộc về quả. Vì “ý sanh thân” là nhân nơi ba pháp quán trên đây mà chứng đắc vậy.

🪷

Thế nào Đại Bồ tát được tự giác thánh trí thiện lạc? Nghĩa là được vô sanh pháp nhẫn, trụ nơi Bồ tát đệ bát địa, được lìa tướng tâm, ý, ý thức, năm pháp, ba tự tánh, hai vô ngã, được Ý sanh thân.

GIẢI

✅ Đây là giải thích về nghĩa của pháp quán thứ tư, viên thành nhất tâm tự giác thánh trí.

Nghĩa là hàng Bồ tát từ Bát địa về trước, chưa lìa được tâm, ý, thức còn thuộc về cảnh giới sanh diệt đối trị.

Đến khi được vô sanh pháp nhẫn, trụ vào đệ bát địa rồi thì năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã đều lìa. Đó là sanh diệt đã diệt, tịch diệt là vui. Cho nên nói được tự giác thánh trí thiện lạc.

Vì không sanh, không chẳng sanh nên được ý sanh thân, thân mình, cõi nước, ở đây, ở kia đều không chướng ngại.

🪷

Bạch Thế Tôn!

Ý sanh thân là nhân duyên như thế nào? Phật bảo Đại Huệ: Ý sanh thân là cũng như ý nghĩ nhanh chóng không ngại nên gọi là Ý sanh thân. Thí như ý nghĩ xuyên qua vách đá không bị ngại. Đối với các chỗ khác cách xa vô lượng do tuần, vì trước đã thấy nên ý nhớ không quên. Tự tâm lưu chú không dứt, thân hiện sanh không chướng ngại.

Đại Huệ!

Ý sanh thân cũng như thế, được đồng thời sanh. Ý sanh thân của bậc Đại Bồ tát, do sức tam-muội như huyễn, thần thông tự tại diệu tướng trang nghiêm, một lúc đều hiện sanh thân các bậc thánh, cũng mau như ý nghĩ khởi lên không chướng ngại. Ở nơi các cảnh giới tùy theo bổn nguyện nhớ nghĩ, vì thành tựu chúng sanh, được tự giác thánh trí thiện lạc.

GIẢI

✅ Đây là giải thích tướng hạnh thành đắc quả.

Bản Đường dịch: “Ví như tâm ý, ở cách xa ngoài vô lượng trăm ngàn do-tuần, nhớ lại các vật đã được thấy, niệm niệm liên tục đến chỗ đó lập tức, chẳng phải thân mình và núi sông vách đá có thể ngăn trở.

Ý sanh thân cũng như vậy, do sức tam-muội như huyễn, thần thông tự tại, các tướng trang nghiêm, vì nhớ lại bổn nguyện thành tựu chúng sanh, cũng như ý khởi, sanh vào trong chúng hội các bậc thánh”.

Phần trước, qua những đoạn nói về chứng pháp vô ngã trong hai vô ngã, trụ địa vị quán đảnh, vượt qua địa vị Phật tử, sẽ được pháp thân Như Lai tự tại, và thành tựu phép quán Duy tâm, ba tướng thánh trí… mỗi mỗi đều nói rõ nghĩa này.

🪷

Đại Bồ tát được vô sanh pháp nhẫn như thế, trụ vào Bồ tát đệ bát địa, chuyển xả bỏ thân tướng, tâm, ý, ý thức, 5 pháp, 3 tự tánh, 2 vô ngã, được ý sanh thân, được tự giác thánh trí thiện lạc. Đây gọi là bậc Đại Bồ tát thành tựu bốn pháp được thành bậc tu hành đại phương tiện. Nên học như thế.

GIẢI

✅ Đây là kết luận khuyên tu.

Theo Hoa Nghiêm, Bồ tát Cửu địa hiện thân trong mười cõi, thuyết pháp độ sanh, trang nghiêm cõi Phật, phụng sự chư Phật, làm Phật sự rộng lớn, gọi là được Ý sanh thân. Ở đây nói hàng Bát địa cũng được, là đứng về mặt thứ lớp tu hành đoạn hoặc chứng chơn.

Nghĩa là do hàng Bát địa đã đoạn trừ câu sanh ngã chấp, chứng bình đẳng chơn như, chìm trong vui tam-muội, mà có thể xả được vui tam-muội, phát nguyện độ sanh.

Vì vậy có thể hiện thân trong mười cõi, thuyết pháp độ sanh như ý tự tại, gọi là Ý sanh thân. Nên đến Cửu địa mới được. Đây đứng về mặt căn cơ lanh lẹ, bèn có thể một niệm đốn chứng vô sanh, lìa cảnh giới tâm, ý, ý thức, từ địa vị phàm phu liền vào cảnh giới Phật.

Đối với quả vị chính là tương đương Bát địa, chẳng cần nói rằng tiệm đoạn tiệm chứng theo thứ lớp mà đến.Văn sau nói: “Sơ địa tức là Bát địa, không có thứ lớp”. Nghĩa là người nhận được chánh tánh của chư pháp, không cần đi từ địa vị này tới địa vị kia, đây ước về tướng chung mà nói.

Chính là đốn ngộ nhất tâm liền lên địa vị Phật, tuy nói các địa là mượn địa vị để chỉ bày ngộ có cạn sâu, chẳng phải thật có giai cấp thứ lớp.

Cổ đức nói: Thánh đế còn chẳng làm, lại có giai cấp nào nữa.

I₂ - Chỉ ra mê hoặc bị phá, có 2

K₁ - Nói rõ duyên sanh vô tánh để phá Y tha khởi

🪷

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại thỉnh đức Phật: Cúi xin vì nói tướng nhân duyên của tất cả pháp.

Do giác ngộ được tướng nhân duyên, con và các Bồ tát lìa tất cả tánh vọng chấp về “có không”, không có những vọng tưởng kiến chấp về tiệm sanh và đốn sanh.

GIẢI

✅ Đây là hỏi dấu vết, để làm sáng tỏ nhân y cứ của mê ngộ, giải thích rộng việc tu hành đại phương tiện ở trên.

Bởi chỗ cần yếu của tu hành, chỉ rõ biết “y tha” và “biến kế” vốn không, “viên thành” thật có mà thôi. Nên đây trước nói rõ về duyên sanh vô tánh để phá tánh Y tha khởi. Do ngoại đạo không biết các pháp nương vào Như Lai tạng hoặc sanh hoặc diệt, bèn vọng chấp tất cả chúng sanh thế giới từ Ngã lưu xuất, gọi là đốn sanh; vọng chấp từ Minh sơ sanh Giác, từ Giác sanh Ngã tâm… hai mươi lăm Minh đế, gọi là tiệm sanh.

Do đây hai kiến chấp Có - Không đều là Y tha khởi. Vì thế, đức Phật từ trước một bề nói các pháp từ nhân duyên sanh, vì duyên sanh vô tánh nên nói vô sanh, để phá vọng chấp kia. Đại Huệ tuy lãnh hội ý chỉ, sẽ cho là có tướng nhân duyên thật, chỉ không biết tướng nhân duyên ra sao.

Ý nói rằng nếu biết rõ tướng nhân duyên, thì đối với các pháp không khởi hai kiến chấp Có - Không, cùng chấp đốn sanh tiệm sanh. Thế nên đưa ra câu hỏi này. Ý Phật đáp sau đây, trước nêu tướng nhân duyên, sau chỉ bày nhân duyên cũng không.

❔ HỎI: Trước đó hiển bày lý hạnh nhân quả đã trọn vẹn, biện luận về chân vọng đã triệt để, tại sao lại khởi nghi về nhân duyên?

📣 ĐÁP: Bởi có như vầy. Kinh này thuộc về Đại thừa đốn giáo, dùng nhất tâm làm Tông, đoạn nghi phá chấp, dẹp tà hiển chánh làm Dụng. Do quán thẳng nhất tâm, chóng đoạn căn bổn phiền não, chóng chứng vô sanh, lập tức lên vị Phật.

Bởi căn bổn phiền não có sáu: Tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Song tham-sân-si vốn là ba đức bí tạng của Như Lai, là Phật tánh bổn hữu của tất cả chúng sanh, hữu tình đều đủ; mạn, nghi, tà kiến, hàng Nhị thừa ngoại đạo có nhiều.

Do nghi báng chánh pháp khởi lên tà kiến, chưa được cho là được, chưa chứng cho là chứng, cho nên chóng trái với chánh pháp, đi ngược chánh pháp. Như vậy thật là cứng đầu khó hóa độ.

Đức Thế Tôn trong bốn mươi năm, nhiều phen khiển trách, đến đây căn cơ đã chín muồi, cho nên lập tức nhổ gốc nghi, xô dẹp tà kiến, khiến cho họ một phen phát chánh tín, liền có thể chứng vô sanh.

Đó là “lòng nghi hối đã dứt, an trụ trong thật trí”. Cho nên kinh này ròng rặc đoạn nghi phá tà, hiển bày tự giác thánh trí, đó là lý do Bồ tát Đại Huệ đã nhờ ơn khai thị, lại theo dấu vết mà lần lượt nêu nghi ngờ vấn nạn.

Thẳng muốn người tu hành trừ sạch lưới nghi, mới có thể tin được tự tâm, không tìm cầu bên ngoài. Chư Tổ từ trước là những bậc tin tự tâm đến chỗ không nghi. Ngoài việc này không riêng có phương tiện nào khác. Từ đây đến hết quyển, ý chỉ không ra ngoài điều vừa trình bày.

🪷

Phật bảo Đại Huệ:

Tất cả pháp có hai tướng duyên. Nghĩa là ngoại duyên và nội duyên. Ngoại duyên như hòn đất, cây cọc, bánh xe, nước, gỗ, nhân công, do các phương tiện này làm duyên nên có ra bình. Các thứ tơ lụa, lát, chiếu, giống mầm, tô lạc… cũng giống như bình đất, từ phương tiện làm duyên sanh ra. Đó là ngoại duyên trước sau lần lượt sanh.

GIẢI

✅ Đây là chỉ tướng của ngoại duyên.

Điều kiện tự thân sanh khởi là nhân, điều kiện bên ngoài để trợ giúp sanh khởi là duyên. Tất cả chư pháp đều theo nhân duyên. Như khối đất là nhân; cây cọc, bánh xe, nước, gỗ, nhân công là duyên, làm thành ra bình là quả. Đến như sợi chỉ, cỏ lát, hạt giống, sữa… là nhân; vải lụa, chiếu, mầm cây, bơ… là quả, suy ra các pháp đều như vậy. Pháp duyên sanh là trước nhân sau quả lần lượt mà sanh, nên nói trước sau lần lượt sanh. Nội ngoại là: nội tức thân căn, ngoại tức thế giới vật chất.

🪷

Thế nào là nội duyên? Nghĩa là các pháp vô minh, ái, nghiệp… tên là duyên. Từ đó sanh ra ấm, giới, nhập tên là “duyên sở khởi”. Nó không sai biệt mà do người ngu vọng tưởng. ✅ Đây là pháp nội duyên.

GIẢI

Đây chỉ ra tướng nội duyên.

Nghĩa là từ vô minh, ái, nghiệp… 12 nhân duyên thành lập ra danh từ “duyên”. Từ duyên đó sanh ra ấm, giới, nhập, được tên là duyên sở khởi (cái được khởi lên từ duyên). Tuy có chia ra nhân quả ba đời, trọn không sai biệt, chỉ do ngu phu vọng tưởng phân biệt thôi. Đây tức nêu nghĩa duyên sanh vô tánh.

🪷

Đại Huệ!

Nhân kia có sáu thứ, là đương hữu nhân, tương tục nhân, tướng nhân, tác nhân, hiển thị nhân, đãi nhân. Đương hữu nhân là tạo nhân rồi pháp trong ngoài sanh.

GIẢI

Đây chỉ về tướng nhân.

Nhân tức là duyên, vì do tâm cảnh lẫn nhau làm duyên khởi, nhưng đứng về mặt sanh khởi thì gọi nhân, đứng về mặt trợ giúp cho sanh khởi thì gọi duyên. Bản Đường dịch: “Nghĩa là pháp trong ngoài làm nhân sanh ra quả. Từ chỗ một niệm khởi liền tạo thành sanh tử, ắt có quả đời sau, cho nên là Đương hữu nhân”. Tạo tác tức là sanh khởi. ✅ Đây là tương đương với nghĩa nhân duyên. Nếu rõ được sanh vốn vô sanh, thì sanh tử mênh mông chóng đoạn dứt.

🪷

Tương tục nhân là tạo phan duyên rồi pháp trong ngoài sanh ấm, chủng tử…

GIẢI

Đây tương đương với nghĩa sở duyên duyên. Đường dịch “Nghĩa là pháp trong ngoài làm sở duyên (bị duyên) sanh kết quả là ấm, chủng tử…”. Nghĩa là hoặc căn (trong) hay cảnh (ngoài) chung làm sở duyên (bị duyên) rồi khởi lên ghét, thương, chấp trước, có khả năng dẫn đến “hậu hữu” không dứt, nên gọi là Tương tục nhân.

🪷

Tướng nhân là tạo ra tướng không gián đoạn tương tục sanh.

GIẢI

Đây tương đương với nghĩa đẳng vô gián duyên. Đường dịch “Tạo nên tướng không gián đoạn, sanh ra quả tương tục.” Vì vọng tưởng không gián đoạn, nhân quả tiếp nối nên gọi là vô gián.

🪷

Tác nhân là làm việc tăng thượng như chuyển luân vương.

GIẢI

Đây tương đương với nghĩa tăng thượng duyên. Đường dịch “Nghĩa là làm cho việc tăng thượng để sanh kết quả”. Có nghĩa rằng một mình cảnh không thể sanh quả, ắt phải có tâm làm tăng thượng. Do vậy, tâm là duyên tăng thượng của cảnh, dụ như chuyển luân vương, đối với cảnh thọ dụng biến hiện tự tại.

🪷

Hiển thị nhân là việc vọng tưởng sanh rồi hiện tướng năng tác, sở tác như đèn chiếu rõ các vật…

GIẢI

Đây tương đương với nghĩa phân biệt duyên. Ngụy dịch là “liễu nhân”. Đường dịch là “hiển liễu nhân”. Nghĩa là khi phân biệt sanh khởi thì hay hiển bày tướng trạng của cảnh, như đèn chiếu vật. Có câu “Cảnh duyên không tốt xấu. Tốt xấu khởi từ tâm. Nếu một tâm chẳng sanh. Thì muôn pháp đều dứt”. Cho nên hết thảy pháp chỉ do phân biệt làm nhân. Trong kinh Lăng Nghiêm phần phân biệt duyên của “bát hoàn” (tám chỗ trả về), tức là nghĩa này. Bốn nhân trước là tâm cảnh hội họp tác nghiệp thành tựu; đến đây thì phân biệt hiển bày, nhân quả rõ ràng, cho nên nói là “liễu nhân”.

🪷

Đãi nhân là khi diệt, sự tiếp nối chấm dứt, tánh chẳng vọng tưởng sanh.

GIẢI

✅ Đây là nhân của vô tưởng đoạn diệt.

Nghĩa là định vô tưởng của ngoại đạo, tâm tư suy nghĩ đều ngừng bặt khô cạn, nơi vọng tưởng diệt mà cho là tương tục đã dứt, bèn sanh kiến chấp về không vọng tưởng. Lấy đây làm nhân, chiêu cảm quả vô tưởng. Do đợi cái diệt làm nhân nên gọi là đãi nhân. Trong luận không có nhân này, vì mục tiêu chính của kinh là dẹp tà nên đặc biệt đưa ra nhân này.

Sáu nhân trên đây, chân vọng đều đủ, thánh phàm cùng có. Vì chỗ lập tông của pháp giới không lìa duyên khởi. Bởi không biết lý duyên khởi, vọng chấp các pháp thật có tự tánh cho nên thành thiên lệch (Nhị thừa) tà (ngoại đạo), chỉ gọi là vọng tưởng. Nếu rõ được duyên sanh vô tánh, thì pháp vốn vô sanh, chân vọng đều không, thánh phàm đều dứt bặt, tức là tự giác thánh trí. Vả lại nhân duyên của các pháp đều thuộc về sanh diệt, ý muốn hiển bày nghĩa bất sanh không thuộc nhân duyên. Cho nên sau đây nói tiệm đốn đều chẳng phải để nêu nghĩa vô sanh chân thật.

🪷

Này Đại Huệ! Ấy là tự tướng vọng tưởng của ngu phu, chẳng có gì là thứ lớp sanh (tiệm sanh) hay đồng thời sanh (đốn sanh).

GIẢI

Đây nói rõ nghĩa vốn chẳng sanh.

Đường dịch: ✅ Đây là ngu phu tự phân biệt, chẳng thứ lớp sanh cũng chẳng đồng thời sanh.

🪷

Vì sao? Nếu đồng thời sanh thì không phân biệt được năng tác sở tác, vì không có tướng nhân. Nếu thứ lớp sanh thì vì không có tướng ngã nên thứ lớp sanh chẳng thể được. Như không sanh con thì không có tên cha.

GIẢI

✅ Đây là giải thích nghĩa vô sanh.

Nghĩa là các pháp không đồng thời sanh, cũng chẳng thứ lớp sanh. Nếu đồng thời sanh thì không thể phân biệt năng sở, trước sau, không có tướng nhân quả. Nếu thứ lớp sanh thì khi chưa được tướng quả làm sao nói do nhân sanh, như chưa có con do đâu gọi là cha. Bản Ngụy dịch: Nếu tất cả pháp sanh một lần, thì không có sự sai khác giữa nhân quả, vì không thấy được thân tướng của nhân quả. Nếu thứ lớp sanh thì chưa được thân tướng, không được nói thứ lớp sanh, như chưa có con làm sao kêu là cha. Chưa được thân tướng đó là nói riêng chưa được tướng quả, không được nói nhân.

🪷

Đại Huệ! Thứ lớp sanh phương tiện tương tục, không phải như thế, chỉ là vọng tưởng thôi. Do nhân, phan duyên, thứ đệ, tăng thượng duyên… nên có sanh và sở sanh. Đại Huệ Không có thứ lớp sanh, vì chỉ là tướng chấp trước của tự tánh vọng tưởng.

GIẢI

Đây nói pháp vốn lìa duyên, chỉ là vọng chấp tướng nhân duyên.

Nghĩa là đương thể các pháp vắng lặng vốn tự vô sanh. Nếu nói nhân nơi nhân duyên mà sanh các pháp, đều là vọng tưởng phân biệt. Bản Ngụy dịch: “Phàm phu ngu si, vì tự tâm quán sát thứ lớp tương tục chẳng được tương ưng, nên nói rằng: nhân duyên, thứ đệ duyên, duyên duyên duyên, tăng thượng duyên… hay sanh ra các pháp. Đại Huệ! Như thế các pháp chẳng thứ lớp sanh, chỉ là hư vọng phân biệt chấp giữ thể tướng của pháp”. Bản Đường dịch: “Những người chấp trước cho rằng do nhân duyên, sở duyên duyên, vô gián duyên, tăng thượng duyên… năng sanh sở sanh hỗ tương trói buộc mà có thứ lớp sanh. Lý ấy chẳng thành, vì đều là tướng vọng tình chấp trước”.

Nói nhân duyên…, là điều kiện tự thân khiến sanh khởi gọi là nhân duyên. Tâm chấp giữ các trần bên ngoài như sắc… gọi là phan duyên tức là sở duyên duyên. Pháp trong ngoài xen nhau chuyển tiếp sanh khởi, tương tục không gián đoạn, gọi là thứ đệ duyên, tức là đẳng vô gián duyên. Tâm là tăng thượng duyên của cảnh. Thức Luận giảng rộng, chỉ là đồng tên khác nghĩa. Vì ở đây nói rõ duyên sanh các pháp, kia luận về tướng duyên đầy đủ của thức.

🪷

Thứ lớp và đồng thời đều chẳng sanh vì tự tâm hiện thọ dụng, tự tướng cộng tướng, ngoại tánh phi tánh. Đại Huệ! Thứ lớp và đồng thời đều chẳng sanh, trừ tự tâm hiện bất giác vọng tưởng, nên tướng sanh. Vì thế, đối với tướng nhân duyên tạo tác phương tiện phải lìa kiến chấp về thứ lớp và đồng thời sanh.

GIẢI

✅ Đây là kết luận nêu lên pháp vốn vô sanh, không thể khởi kiến chấp về nhân duyên.

Vì sao các pháp đồng thời hay thứ lớp đều chẳng sanh? Vì tất cả đều duy tâm hiện. Đã là duy tâm hiện thì ngoài tâm không có pháp, không có cái khả sanh. Vì tự tướng cộng tướng đều không tự tánh, đã không tự tánh thì cái gì là sanh? Cho nên đều chẳng sanh. Chỉ trừ khi vọng thức phân biệt cho là có sanh mà thôi, kỳ thật vô sanh.

Bản Đường dịch: “Thứ lớp và đồng thời thảy đều chẳng sanh, chỉ là tự tâm hiện thân tài… nên tự tướng cộng tướng bên ngoài đều vô tánh, chỉ trừ thức khởi ra kiến chấp tự phân biệt. Thế nên này Đại Huệ! Phải lìa kiến chấp do nhân duyên tạo tác, trong tướng hòa hợp có tiệm sanh, đốn sanh”.

🪷

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này bèn nói kệ:

Tất cả đều chẳng sanh

Cũng không nhân duyên diệt

Trong cái sanh diệt kia

Mà khởi tưởng nhân duyên

Chẳng ngăn diệt lại sanh

Tương tục nhân duyên khởi

Chỉ vì đoạn phàm ngu

Duyên vọng tưởng si hoặc

Pháp duyên khởi có không

Thảy đều không có sanh

Bị tập khí mê chuyển

Từ đó ba cõi hiện

GIẢI

✅ Đây là tụng pháp không sanh diệt, vốn tự lìa duyên.

Một bài kệ đầu nói rằng tất cả pháp vốn không sanh diệt, chỉ vì các phàm ngu nơi vô sanh vọng thấy sanh diệt, mà khởi lên tưởng nhân duyên.

Nửa bài kệ tiếp theo, là để ngừa vấn nạn. Vấn nạn rằng: Trước đó, nhân phàm ngu vọng chấp chư pháp diệt rồi lại sanh, nên Thế Tôn nói tướng nhân duyên để ngăn dẹp, nay tại sao lại nói rằng nhân duyên cũng không?

Vì thế, kệ đáp rằng: Chẳng phải ngăn cái diệt rồi lại sanh kia mà nói nhân duyên, chỉ là tạm mượn danh từ nhân duyên để phá vọng tưởng của phàm ngu ấy thôi. Cũng chẳng thật có tướng nhân duyên để làm pháp sanh cho kia. Huống chi tất cả pháp duyên khởi có không, thảy đều là vô sanh, há lại có tướng nhân duyên ư?

Nửa bài kệ sau chót là cũng để đả thông nghi ngờ.

❔ Gạn hỏi rằng: Đã không nhân duyên nay ba cõi này từ đâu mà có?

📣 ĐÁP: Chỉ theo tập khí mê mờ của chúng sanh chuyển biến bèn tự vọng thấy tướng của ba cõi. Nên nói Bị tập khí mê chuyển, từ đó ba cõi hiện.

🪷

Chơn thật không duyên sanh

Cũng lại không có diệt

Quán tất cả hữu vi

Như hoa đốm trong không

Năng nhiếp và sở nhiếp

Lìa kiến chấp hoặc loạn

Không đã sanh sẽ sanh

Cũng lại không nhân duyên.

Tất cả vô sở hữu

Đây đều là ngôn thuyết

GIẢI

Bài tụng này chính là hiển bày thật nghĩa.

Nghĩa là tất cả nhân duyên sanh diệt của các pháp hữu vi thảy đều thuộc về kiến chấp hư vọng.

Thật ra các pháp xưa nay vốn không sanh diệt, chỉ cần thấy tất cả pháp hữu vi như hoa trong hư không, xa lìa tất cả vọng kiến năng thủ sở thủ, thì liền nhận ra các pháp vốn không có đã sanh, sẽ sanh, tất cả tướng nhân duyên hòa hợp đều là ngôn thuyết, chẳng phải là pháp thật.

Ban đầu do phàm ngu vọng chấp có “dị nhân” 5 hay sanh các pháp, khởi lên hai kiến chấp hữu vô, đoạn thường, nên đức Thế Tôn đầu tiên chỉ dạy nhân duyên sanh pháp để phá chấp vô nhân của họ, khiến họ quán các pháp duyên sanh vô tánh, liễu ngộ vô sanh.

Nay lý vô sanh đã tỏ rõ, nghĩa chơn thật đã hiển hiện, nên ở đây đặc biệt nêu lên lý vốn không sanh diệt, không mượn nhân duyên vì chỉ có ngôn thuyết hoàn toàn không có thật nghĩa.

✅ Đây là trực chỉ nguồn chơn nhất tâm, để hiển bày cứu cánh đệ nhất nghĩa đế, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, lìa tướng ngôn thuyết. Người xem nên biết.

  • Phần trên nói về duyên sanh vô tánh phá Y tha khởi xong. Dưới đây nói vọng tưởng vô tánh để phá chấp biến kế.

K₂ - Nói vọng tưởng vô tánh để phá chấp biến kế

🪷

Lúc bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tâm kinh tên Tướng Ngôn Thuyết Vọng Tưởng. Thế Tôn! Con và các Đại Bồ tát khác, nếu hiểu rõ tâm kinh Tướng Ngôn Thuyết Vọng Tưởng (Hai bản dịch đều dùng chữ Pháp môn tâm) thì có thể thông đạt hai nghĩa năng thuyết và sở thuyết, mau chứng quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Dùng hai môn ngôn thuyết sở thuyết để làm thanh tịnh tất cả chúng sanh.

GIẢI

Đây cũng là theo dấu mà khởi nghi để thưa hỏi cho rõ vọng tưởng vô tánh, để phá biến kế chấp vậy.

Đây chỉ ra tướng vọng tưởng ngôn thuyết. Nghĩa là vọng thấy dung mạo thân hình của nam nữ, đẹp xấu và tướng tất cả đồ vật tốt xấu… vọng khởi phân biệt mà có ngôn thuyết, gọi là tướng ngôn thuyết. Trước mộng trải qua thấy những cảnh giới, tỉnh rồi nhớ lại, vọng chấp phân biệt cho là lành dữ, tốt xấu… gọi là mộng ngôn thuyết.

Nhớ nghĩ đến những nghiệp đã tạo nào là tự mình, do người, oán, thân, thương ghét… vọng sanh phân biệt mà có ngôn thuyết gọi là quá vọng tưởng chấp trước ngôn thuyết. Từ vô thủy đến giờ trong tám thức hàm chứa những tập khí chủng tử hí luận về tự loại, mạnh mẽ trồi dậy nên sanh ra phân biệt, gọi là vô thủy vọng tưởng ngôn thuyết. Tất cả ngôn thuyết không ra ngoài bốn thứ này. Vì lấy vọng tưởng làm nhân cho ngôn thuyết, nên lìa ngoài bốn thứ này ắt không có ngôn thuyết. Chỗ không ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa đế 6, chẳng phải ngôn thuyết có thể hiển bày đệ nhất nghĩa đế.

🪷

Lúc bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ lại đem nghĩa này khuyến thỉnh Thế Tôn: Cúi xin lại nói về cảnh giới do ngôn thuyết hiện ra. Thế Tôn! Chỗ nào, cớ gì, vì sao, nhân gì mà chúng sanh sanh vọng tưởng ngôn thuyết? (Ngụy dịch: Cúi xin vì con lại nói về bốn thứ tướng chấp trước hư vọng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ của chúng sanh ở chỗ nào phát ra? Làm sao phát? Nhân gì phát? Đường dịch: Xin lại vì nói sự vận hành của ngôn ngữ phân biệt). Phật bảo Đại Huệ: Do đầu, ngực, cổ họng, mũi, môi, lưỡi, nướu, răng, hòa hợp mà phát ra âm thanh. (Đường dịch: Căn cứ vào đầu, ngực, họng, mũi, môi, nướu, răng, lưỡi hòa hợp mà phát ra).

GIẢI

Đây chỉ về tướng nhân duyên của ngôn ngữ. Nghĩa là chỗ xuất phát ngôn ngữ của chúng sanh, do bốn thứ vọng tưởng trước làm nhân, tám thứ ở đây như: Đầu, ngực… làm duyên cho nên có ngôn thuyết. Lão Tử nói: “Khoảng giữa trời đất như ống bế lò rèn, rỗng mà không bị đè bẹp, càng chuyển động càng phát ra” 7. Đây chính là duyên khí vọng tưởng, gió thức thổi động, vô cớ mà phát ra, không cớ mà vẫn nói. Do đây quán tướng ngôn ngữ, thể của âm thanh vốn không, vốn chẳng có. Ngôn ngữ chúng sanh như thế. Đến như ngôn thuyết của Phật, như tiếng trống trời, cho nên lời thuyết pháp có 64 loại phạm âm, chẳng phải vọng tưởng có thể so sánh.

🪷

Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Ngôn thuyết và vọng tưởng là khác là chẳng khác? Phật bảo Đại Huệ: Ngôn thuyết và vọng tưởng chẳng phải khác, chẳng phải giống. Vì sao? Vì từ nhân sanh khởi của chúng.

Đại Huệ! Nếu vọng tưởng khác ngôn thuyết, vọng tưởng không phải là nhân (của ngôn thuyết). Nếu không khác thì lời nói chẳng hiển rõ nghĩa, mà ở đây có hiển rõ, cho nên chẳng khác, chẳng không khác.

GIẢI

Đây nêu nghĩa ngôn thuyết vọng tưởng cả hai đều là tánh không.

Nghĩa là vọng tưởng và ngôn thuyết nếu mỗi cái đều có tự tánh riêng thì nhất định là khác. Nếu chẳng nhờ nhân để sanh khởi, không bày tỏ được điều gì thì nhất định là một. Nay ngôn ngữ nhân vọng tưởng mà phát sanh, chẳng quyết định là khác.

Ngôn ngữ chỉ là tướng âm thanh, bản chất của âm thanh không có văn tự, như gió, như tiếng trống, không bày tỏ được gì. Do sức vọng tưởng, cái chất chứa bên trong phát ra ngoài, có thể bày tỏ được, năng sở rõ ràng, chẳng quyết định là một. Vì chẳng phải một, chẳng phải khác, cả hai đều là tánh không, cho nên đều không có nghĩa thật.

🪷

Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Ngôn thuyết tức là đệ nhất nghĩa hay sở thuyết là đệ nhất nghĩa.

Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa, cũng chẳng phải sở thuyết là đệ nhất nghĩa. Vì sao? Nghĩa là đệ nhất nghĩa thánh lạc, chỗ ngôn thuyết vào được là đệ nhất nghĩa, chẳng phải ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa.

GIẢI

Đây nói về đệ nhất nghĩa đế lìa tướng ngôn thuyết.

Ý của Đại Huệ cho rằng hàng phàm phu do vọng tưởng ngôn thuyết đã có thể bày tỏ được thế tục đế, mà thánh nhơn cũng dùng ngôn thuyết để bày tỏ đệ nhất nghĩa đế.

Nay vọng tưởng ngôn thuyết đã chẳng phải một, chẳng phải khác, vậy không biết thánh ngôn lượng và đệ nhất nghĩa đế là khác hay không khác.

Nên hỏi: Ngôn thuyết tức là đệ nhất nghĩa vì chẳng khác? Sở thuyết là đệ nhất nghĩa vì chẳng phải chẳng khác?

Phật trả lời rằng khác và chẳng khác cả hai đều chẳng phải.

Đường dịch: “Vì sao? Vì đệ nhất nghĩa là chỗ thánh lạc, do lời nói mà vào, chẳng phải đệ nhất nghĩa tức là lời nói”.

Chỗ thánh lạc là cảnh giới tự thọ dụng của chư Phật, lìa tâm ý ý thức, chẳng phải ngôn thuyết đến được. Song nói về đệ nhất nghĩa, như ngón tay chỉ mặt trăng.

Như ngón tay chỉ có thể nêu mặt trăng, không thể đến được mặt trăng, nhân ngón tay nhìn thấy mặt trăng, mặt trăng chẳng phải là ngón tay.

Cho nên nói: Chỗ ngôn thuyết vào được là đệ nhất nghĩa, chẳng phải ngôn thuyết là đệ nhất nghĩa.

🪷

Đệ nhất nghĩa là chỗ nhận được của thánh trí tự giác, chẳng phải cảnh giới của ngôn thuyết vọng tưởng hiểu tới, cho nên ngôn thuyết vọng tưởng không hiển thị đệ nhất nghĩa.

GIẢI

Đây nói rõ ngôn thuyết không những chẳng phải là đệ nhất nghĩa, mà cũng không thể hiển bày đệ nhất nghĩa để thuyết minh đệ nhất nghĩa đế lìa tướng ngôn thuyết.

Bởi đệ nhất nghĩa là cảnh giới sở đắc của thánh trí tự giác, chẳng phải là cảnh giới của ngôn thuyết vọng tưởng hiểu được, làm sao ngôn thuyết vọng tưởng có thể chỉ bày?

Vì chỉ có ngôn thuyết, hoàn toàn không có nghĩa thật. Ý chỉ của giáo ngoại biệt truyền dạy tâm tức lầm, động niệm liền trái, dứt đường ngôn ngữ, diệt chốn tâm hành, năng sở đều quên, tâm cảnh mất dấu, chỉ chứng mới tương ưng, há vọng tưởng ngôn ngữ phân biệt có thể đến sao?

🪷

Ngôn thuyết là sanh diệt lay động, do nhân duyên lần lượt khởi lên. Nếu do nhân duyên lần lượt khởi thì nó không thể hiển bày đệ nhất nghĩa.

Đại Huệ! Vì tướng tự tha vô tánh nên tướng ngôn thuyết không thể hiển thị đệ nhất nghĩa (Đường dịch: Đệ nhất nghĩa không có tướng tự tha, ngôn ngữ có tướng nên không thể hiển thị).

Lại nữa Đại Huệ! Vì tùy vào tâm hiện lượng, mọi thứ tướng, ngoại tánh phi tánh, nên ngôn thuyết không thể hiển thị đệ nhất nghĩa. (Đường dịch: Đệ nhất nghĩa chỉ duy tự tâm, các thứ ngoại tướng đều không có, ngôn ngữ phân biệt không thể hiển thị).

Cho nên này Đại Huệ! Nên xa lìa tướng ngôn thuyết vọng tưởng.

GIẢI

Đây nói lại lý do vì sao ngôn thuyết không thể hiển thị đệ nhất nghĩa.

Bởi ngôn thuyết rốt ráo không thể hiển thị đệ nhất nghĩa vì có ba nghĩa:

  1. Đệ nhất nghĩa bất sanh bất diệt trạm nhiên thường tịch, không lay động, không thuộc vào điều kiện nhân duyên hòa hợp khởi, thì làm sao tướng ngôn ngữ sanh diệt lay động do nhân duyên khởi lên kia, lại có thể hiển thị ư?

  2. Đệ nhất nghĩa siêu nhiên tuyệt đối đãi, không có tướng tự tha, há tướng ngôn ngữ tự tha đối đãi kia có thể hiển thị ư?

  3. Đệ nhất nghĩa là cảnh giới tự tâm hiện, xa lìa tất cả các thứ ngoại tướng, há ngôn ngữ do vọng tưởng phân biệt ngoài tâm chấp pháp kia có thể hiển thị ư?

Do 3 nghĩa này nên ngôn thuyết rốt ráo không thể hiển thị đệ nhất nghĩa đế.

Kết luận khuyên: Nếu quán đệ nhất nghĩa nên lìa tướng ngôn thuyết vọng tưởng, mới có thể được vào. Đó gọi là Lìa tâm ý tham, lìa cảnh giới vọng tưởng cầu mới có chút ít phần tương ưng. Cho nên đoạn trước nói Nên y cứ vào nghĩa, đừng kẹt trong ngôn thuyết. Vì vậy đức Thế Tôn một hôm lên tòa, Văn Thù bạch chùy rằng: Xem kỹ pháp của đấng pháp vương, pháp của đấng pháp vương như thế.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ:

Các tánh không tự tánh

Cũng không có ngôn thuyết

Nghĩa không không rất sâu

Người ngu không thể hiểu.

Tất cả tánh tự tánh

Ngôn thuyết như bóng ảnh

Đệ tử bậc đại giác

Ta dạy cho mé thật

GIẢI

Bài tụng này hiển bày thẳng chỗ lìa ngôn ngữ mới là mé thật, để rửa sạch tập khí danh ngôn của hành giả, mới có thể thật chứng.

Kệ này chỉ nói giản lược, bản Đường dịch: “Các pháp không tự tánh, cũng không có ngôn thuyết, không thấy nghĩa không không, nên người ngu lưu chuyển. Tất cả pháp không tánh, lìa ngôn thuyết phân biệt, hữu vi như mộng hóa, chẳng sanh tử, Niết-bàn. Như vua và trưởng giả, vì muốn các con vui, trước đưa vật tương tự, sau đổi cho đồ thật. Nay ta cũng như vậy, trước nói pháp tương tự, sau mới vì họ giảng, pháp thật tế tự chứng”.

Xem thí dụ vua và trưởng giả, đủ làm bằng cớ rằng các pháp được nói trải qua 40 năm trước kinh Lăng Già đều là lời tương tự, chưa hiển bày lý chân thật. Trải qua lắm phen gạn lọc, căn cơ đã thuần thục, mới nói đạo tự chứng chơn thật lìa ngôn ngữ. Chính là chỗ kinh Pháp Hoa nói: “Trước đem ba xe dụ dẫn các con, sau mới đều tặng cho xe lớn, có các báu vật trang hoàng, khiến các con dạo chơi vui vẻ khoái lạc”. ✅ Đây là nghi thức thuyết pháp của bậc Thánh.

❔ HỎI:

Các nhà phán giáo chỉ nói Pháp Hoa khai quyền hiển thật (mở phương tiện để hiển bày chỗ thật) mà chưa từng nghe nói kinh này dự vào chỗ khai hiển ấy, vì sao lại gồm chung?

📣 ĐÁP: Các đức Phật chỉ vì một nhân duyên trọng đại mới hiện thân ở thế gian, là vì muốn chúng sanh khai thị ngộ nhập Phật tri kiến. Phật tri kiến là tự giác thánh trí duy tâm hiện lượng, chính là nghĩa Phật tánh Như Lai tạng tâm, tất cả chúng sanh vốn sẵn đủ. Chỉ vì một việc này, không có việc gì khác.

Các đức Phật nhân “việc này” duyên “việc này” mà xuất hiện nơi đời. Cho nên những lời thuyết pháp của các Ngài từ đầu đến cuối, chỉ là khai mở hiển bày “một việc này” thôi.

Vì chúng sanh đức mỏng nghiệp nặng, không thể chỉ thẳng e rằng họ kinh sợ nghi ngờ chẳng tin, trở lại phỉ báng chánh pháp, cho nên bậc đại từ ẩn nhẫn chỉ dùng nhánh nhóc nói quanh, đến khi chí khí của chúng đã thuần, mới có thể nói thật.

Nên kinh này chỉ thẳng Như Lai tạng tâm tự giác thánh trí, nếu có người ngộ được tâm này, trong một niệm liền lên vị Phật, không cần tu hành nhọc nhằn nhiều kiếp. Đây chính là pháp môn đốn giáo.

Vì muốn bỏ cái tệ chậm chạp của ba thừa kia nên nói là Đại thừa đốn giáo. Bởi vì là tiền phong cho Pháp Hoa, nên kinh Lăng Già cũng khai quyền hiển thật.

Bậc Thánh nhân thuyết pháp, phần đầu phần cuối chỉ một mạch, trước sau giúp nhau, cho nên có giáo lý bí mật, bất định. Vả lại tuy thuyết pháp có nhiều loại, đại khái không ra ngoài bốn môn lý hạnh nhân quả, mỗi môn đều có quyền và thật. Bốn môn này tột cùng đều trở về một lý thật, vào trong một lý thật rồi thì sự nghiệp của bậc Thánh đã xong vậy.

Pháp được nói trong bốn mươi năm, không ra ngoài đối đãi về tâm cảnh năng sở chân vọng, sanh tử Niết-bàn. Vì thế người nghe sẽ cho là pháp thật, chưa bỏ được tập khí về danh ngôn, rốt cuộc vẫn đứng ở ngoài cửa, ngủ tại am tranh.

Đến kinh này thì gây óng gió cùng cực, đả phá tận hang ổ, tất cả đều lìa, chỉ thẳng nhất tâm tự giác thánh trí. ✅ Đây là hiển lý đã tột. Bởi chỗ khai hiển là khai trừ lý tạm của Ba thừa, để hiển lộ lý thật của Nhất thừa. Dùng thật lý chánh trí này làm nhân chân thật, nghĩa là dùng tâm không sanh diệt làm gốc tu nhân.

Đến Pháp Hoa thì mượn “thật trí” này làm nhân để giúp thêm cho diệu hạnh, vì vậy cúng dường một hoa một hương, ngẩng đầu, cúi mặt, chắp tay, xưng danh đều được thành Phật. Đó là hạnh chân thật khế hợp với quả chân thật. Bởi chỗ khai trừ, là khai trừ hạnh tạm thời của Ba thừa để hiển lộ hạnh chân thật của Nhất thừa, dùng hạnh thật này mới mong chứng được quả thật.

Nên hàng Tam thừa mỗi mỗi đều được thọ ký, trải qua công phu thừa sự nhiều đức Phật mới thành Phật đạo. Nếu không mượn nhân chân thật này, dù cho trải qua nhiều kiếp số như bụi, e rằng cũng chỉ kẹt nơi hóa thành mà thôi. Tông thú của hai kinh tuy khác, nhưng thật lý thầm hợp.

Đến kinh Lăng Nghiêm thì lý, hạnh, nhân, quả mỗi mỗi đều chân thật, đó là gồm chung những phương tiện tạm trước đều quy về một thật. Ba thừa thâu chung, năm tánh đồng vào, dung hội lý hạnh nhân quả, nhân pháp một đời đều vào biển Như Lai diệu trang nghiêm. Đây mới thấy Như Lai nói pháp trước sau một mạch.

Người tu nếu không biết con đường chung của nghi thức thuyết pháp này, dù cho ngộ tự tâm cũng không thể dẫn dắt chỉ dạy cho kẻ mới học. Đó là “Tông thông thế thuyết chẳng thông, như mặt trời bị mây che” cũng không thể đến mé thật rốt ráo, vì không đạt được bổn hoài của Như Lai vậy. Nhân thuận tiện đề cập đến vấn đề này, người xem đừng chán mà cho là rắc rối.

  • Trước nói vọng tưởng vô tánh để phá biến kế xong.

  • Sau đây nói tâm cảnh đều quên để hiển Viên thành.

I₃ - Hiển lý Viên thành

🪷

Lúc bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin vì nói lìa một khác, chung chẳng chung, hữu vô, phi hữu phi vô, thường vô thường. Đó là chỗ tất cả ngoại đạo không thể làm, là chỗ tự giác thánh trí thực hành, lìa vọng tưởng tự tướng cộng tướng, vào đệ nhất nghĩa chân thật.

GIẢI

Đây cũng là theo vết mà hỏi, sắp nói rõ về tâm và cảnh đều quên để hiển tánh Viên thành thật.

Bởi từ quyển đầu, Phật trách ngoại đạo không hiểu được các pháp vô tánh, đối với đệ nhất nghĩa vọng khởi hai kiến chấp hữu vô, đoạn thường, chấp chặt luận thuyết về tứ cú quyết định là một, quyết định là khác, chung không chung. Đó là cảnh giới hành động của ngu phu chẳng phải cảnh giới của tự giác thánh trí, thế nên y tha, biến kế, từ đó dấy khởi, viên thành không hiển lộ.

Nay Đại Huệ nghe nói về đệ nhất nghĩa, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm duyên, thế là đường ngôn ngữ dứt, lối tâm hành diệt, tứ cú đã lìa, trăm phi đều dẹp.

Đây chẳng phải là cảnh giới của ngoại đạo, mà là cảnh giới sở hành của tự giác thánh trí. Song không biết ngoài việc lìa tứ cú ra, cảnh giới của Thánh trí rốt cuộc như thế nào?

Ý rằng: Nếu biết việc này thì hai tánh (biến kế, y tha) chóng trừ, tánh viên thành thật hiển lộ, tức có thể vào được đệ nhất nghĩa chân thật. Nên đặc biệt nêu lên câu hỏi này, để cho rõ tự tánh viên thành.

🪷

Các địa tiếp nối, tướng thanh tịnh lần lượt tăng tiến, tùy vào địa tướng Như Lai, bổn nguyện không khai phát (Đường dịch: Vì do sức bổn nguyện vô công dụng). Ví như hạt châu ma-ni nhiều màu, hiện hành tướng vô biên của cảnh giới. (Ngụy dịch: Như hạt bảo châu như ý, tướng tu hành của vô lượng cảnh giới, tự nhiên vận hành).

Tướng tự tâm hiện thú bộ phận tất cả các pháp. (Đường dịch: Tất cả các pháp đều là tự tâm hiện sai biệt). Con và các Đại Bồ tát khác, lìa những kiến chấp về vọng tưởng tự tánh tự tướng cộng tướng như thế, mau chóng được đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác, khiến tất cả chúng sanh được tất cả an lạc đầy đủ sung mãn.

GIẢI

Ở đây nêu lên nhân duyên được lợi ích, là lý do ý Bồ tát Đại Huệ muốn hỏi.

Nghĩa là nếu được hiểu rõ nghĩa ly tứ cú, vào pháp chân thật, thì có thể lần lần tăng tiến các địa vị cho đến chứng Như Lai địa, đem vô công dụng hạnh thành tựu chúng sanh, như hạt châu ma-ni biến hiện tùy tâm ứng khắp tất cả. Chứng ngộ cảnh duy tâm, không phải chỉ lìa kiến chấp ngoại đạo, mà cũng xa lìa kiến chấp về ấm giới nhập vọng tưởng tự tướng cộng tướng của hàng Nhị thừa.

✅ Đây là ra sức dụng công ít mà mau được Bồ-đề, tự lợi lợi tha pháp lợi sung mãn. Có lợi ích lớn như vậy cho nên thỉnh vấn.


GHI CHÚ

⏯️ (tiếp theo)

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Lành thay! Lành thay! Ông có thể hỏi ta nghĩa như vậy, có rất nhiều an lạc, nhiều lợi ích, vì thương xót tất cả trời người. Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ, ta sẽ vì ông giảng giải phân biệt.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Lành thay! Thế Tôn! Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Hàng phàm phu ngu si không biết tâm lượng, chấp giữ tánh trong ngoài, căn cứ vào tự tánh một khác, chung chẳng chung, có không chẳng có không, thường vô thường, nhân nơi tập khí vọng tưởng chấp trước.

GIẢI

Đại Huệ ngoài việc thưa hỏi về ly tứ cú, còn riêng hỏi thêm về cảnh giới sở hành của bậc Thánh trí, tức cho là thật có tứ cú để lìa, thật có Thánh trí để được.

Ý của Phật đáp là vốn không có tứ cú để lìa, cũng không Thánh trí để được. Vì sao? Vì trong đệ nhất nghĩa chân vọng đều dứt. Tứ cú là do phàm phu ngu si, không hiểu được cảnh giới như mộng chỉ do tâm hiện, vọng chấp tất cả các pháp trong và ngoài thật có tự tánh, cho nên vọng sanh những kiến chấp phân biệt một khác…

Đó là tập khí hí luận làm nhân, vọng sanh chấp trước, chẳng phải thật có tứ cú. Bởi vì tâm cảnh như hư không chẳng có chỗ nương gá, cảnh giới bị phân biệt đã không thì vọng tâm phân biệt làm sao có.

Nếu một tâm chẳng sanh thì muôn pháp tự vắng lặng, há thật có tứ cú để lìa. Chỉ dứt hết tình phàm không có thêm thánh giải, nếu sanh thánh giải liền rơi vào tình phàm, nên cũng không thánh trí để đắc. Bản Đường kết thúc rằng: Nên đối với pháp sở chứng của thánh trí, lìa tất cả phân biệt về sanh trụ diệt một khác… Đến cảnh giới này không còn suy nghĩ nói năng, mới là cùng tột.

Vì vậy Tăng hỏi Mã đại sư: “Lìa tứ cú tuyệt bách phi xin Thầy chỉ thẳng ý Tây lai”. Sư bảo: “Hôm nay ta nhức đầu, không thể nói cho ông được”. Văn-thù hỏi cư sĩ Duy-ma về pháp môn bất nhị, cư sĩ nín thinh.

Sau đây Thế Tôn đáp, chỉ mượn mười hai thí dụ để phát minh. 7 thí dụ trước dụ cho cảnh giới vốn không, chỉ vì người nghe vọng sanh phân biệt, hiển bày vọng tưởng chẳng thật có, để nói rõ chỗ vốn chẳng có tứ cú để lìa. 5 thí dụ sau, dụ cho Phật thuyết pháp tùy cơ lập bày, vốn vì phá chấp, như đem chốt tháo chốt, vốn chẳng có pháp thật cho người.

Nên kệ nói rằng: Ngôn giáo chỉ giả danh, nó cũng không có tướng để biết cũng không thánh trí có thể được. Song thí dụ của chương này dường như rõ ràng dễ thấy, kỳ thật hàm ý sâu xa khó tỏ tường! Người xem cần phải khéo hội mới khế hợp Phật tâm. Đó gọi là nương ngôn ngữ cần hội tông chỉ, chẳng nên tự lập khuôn mẫu. Người trí nên xét kỹ.

🪷

Thí như bầy nai bị cơn khát bức ngặt, thấy nắng mùa xuân khởi tưởng là nước, mê lầm chạy đuổi loạn xạ, chẳng biết vốn không có nước. Người ngu cũng thế, bị vọng tưởng hư ngụy từ vô thủy huân tập, tam độc thiêu đốt tâm, ưa cảnh sắc, thấy có sanh trụ diệt, chấp giữ tánh trong ngoài, bị chi phối bởi các kiến chấp vọng tưởng về một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường…

GIẢI

Thí dụ này làm sáng tỏ ý cảnh vốn vô sanh, nhân tâm phân biệt mà có chấp giữ.

Nắng lóa không phải là nước, do bầy nai bị cơn khát thúc bách mà tưởng là nước, vọng sanh rong ruổi, không biết vốn chẳng phải nước. Để dụ cho tất cả cảnh giới vốn tự vô sanh, cũng không thể tham muốn. Bởi tập khí chủng tử tham ái từ vô thủy của người ngu, bên trong huân ba độc, ngoài phát hiện hành, bị khát ái bức bách, đối với tất cả cảnh sắc khởi lên tham cầu ưa muốn. Thế là trong cái vô sanh vọng thấy sanh diệt, chấp giữ thân căn thế giới các pháp trong ngoài, vọng khởi lên kiến chấp về một khác, thường vô thường… tứ cú, mà chẳng biết vốn tự vô sanh. ✅ Đây là bị vọng tưởng chi phối, chẳng phải chánh kiến.

🪷

Như thành Càn-thát-bà, phàm ngu vô trí khởi tưởng thành, tướng chấp trước của tập khí vô thủy hiện. (Đường dịch: Người vô trí vì sự huân tập chủng tử chấp trước về thành từ vô thủy nên khởi tưởng là thành).

Kia chẳng phải có thành, chẳng phải không thành. Như thế hàng ngoại đạo do tập khí chấp trước hư ngụy từ vô thủy, y cứ kiến chấp một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường, không thể hiểu rõ tự tâm hiện lượng.

GIẢI

Thí dụ này chuyển tiếp giải thích ý đoạn trên.

Nghĩa là hàng ngu phu sở dĩ đối với chỗ không thể ham muốn vọng sanh tham đắm mà tạo nên tứ cú phân biệt ấy, vì không biết tất cả cảnh giới chỉ do tâm hiện. Đó là “Tự tâm chấp tự tâm, pháp phi huyễn thành huyễn”.

🪷

Thí như có người mộng thấy nam nữ, voi ngựa xe cộ, thành ấp vườn rừng, núi sông ao hồ các thứ đẹp đẽ, tự mình vào trong đó, tỉnh rồi nghĩ nhớ.

Đại Huệ! Ý ông nghĩ sao, người đó đối với việc chiêm bao trước tưởng nhớ không bỏ, là trí huệ chăng?

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn, không!

Phật bảo Đại Huệ: Người ngu cũng như vậy, bị ác kiến nhai nuốt, hàng ngoại đạo trí huệ không biết tự tâm hiện tánh như mộng, y cứ kiến chấp một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường.

GIẢI

Thí dụ này giải thích chung ý trên.

Nghĩa là ngoại đạo không biết cảnh giới như mộng do tự tâm hiện, vọng sanh chấp giữ, tham đắm theo đuổi. Đối với đây khởi lên những kiến chấp phân biệt một khác…, đó là ngu si ác kiến, chẳng phải trí huệ.

🪷

Thí như tượng vẽ không cao không thấp mà phàm ngu kia khởi tưởng cao thấp. Như thế, ngoại đạo vị lai tập khí ác kiến đầy dẫy, dựa vào kiến chấp một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường, tự hoại mình làm hoại người khác. Họ đối với luận thuyết khác lìa có không, vô sanh (khác với họ) cũng nói là không (Ngụy dịch: Song ngoại đạo ấy tự hoại người, nói như thế này: Các pháp không sanh không diệt, hữu vô đều vắng bặt. Hàng ấy là người không chánh kiến. Đường dịch: Đối với luận thuyết lìa hữu vô, vô sanh, cũng nói là không).

Kiến chấp bài báng nhân quả, nhổ cội gốc lành, hoại nhân thanh tịnh. Người cầu sự thù thắng (Hai bản dịch đều nói: Muốn cầu pháp thù thắng) phải xa lìa hoàn toàn. Tạo các luận thuyết như vậy, họ đã rơi vào những kiến chấp vọng tưởng có không, tự tha, tự tha gồm chung, rơi vào dựng lập và phỉ báng. Do những ác kiến ấy sẽ rơi vào địa ngục.

GIẢI

Thí dụ này nói về ngoại đạo tà kiến kiêu mạn cố chấp vào ác kiến, trở lại phỉ báng chánh pháp, bác không nhân quả, tha thiết khuyên người tu hành nên dứt tuyệt.

“Tâm như người thợ vẽ, vẽ ra các hình ảnh”. Tất cả các pháp chỉ do tâm hiện, đương thể vắng lặng, vô sanh, không có cao thấp, mà ngoại đạo kia tự ý thị vào ác kiến sanh diệt, kiêu ngạo tự cho mình là hơn, đối với luận vô sanh lìa có không của Phật pháp trở lại phỉ báng nói là không. ✅ Đây là phỉ báng nhân quả, nhổ gốc lành, hoại nhân thanh tịnh.

Nên biết người như thế rơi vào vọng tưởng tự tha, có không, lạc vào hai kiến chấp đoạn thường. Do ác kiến ấy, sẽ rớt xuống địa ngục. Nên răn người tu hành muốn cầu pháp thù thắng, phải gấp xa lìa.

🪷

Thí như người bệnh mắt thấy có tóc rủ, bảo các người khác rằng: Các ông xem này. Nhưng tóc rủ ấy rốt ráo chẳng có tánh, chẳng không tánh, vì thấy và chẳng thấy (Đường dịch: Thí như bệnh mắt thấy trên hư không có vòng xoay, bảo người khác rằng: “Có màu xanh vàng và vòng xoay ấy vốn không tự thể. Vì sao? Vì có thấy và không thấy). Như thế hàng ngoại đạo vọng kiến hy vọng, dựa vào kiến chấp một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường, phỉ báng chánh pháp, tự hại hại người.

GIẢI

Thí dụ này giải thích nghĩa tự hoại, hoại người ở trên.

Nghĩa là ngoại đạo kia tự ý vào tà kiến, chuyển dạy người khác giống mình, cũng như người nhặm mắt tự thấy trên không có vòng tròn, rồi trở lại trách người khác không thấy giống mình. Vòng tròn trên không, chỉ có người bệnh mắt mới thấy, người mắt tốt không thấy, để nói rằng loại tứ cú một khác, có không, chỉ có tà kiến chấp, chánh kiến ắt lìa xa.

Hơn nữa ngoại đạo kia ngang bướng chấp chặt, tự cho mình đúng người khác sai, phỉ báng chánh pháp, tiếp tục dạy người, gọi là Từ trước đến nay thành sự tiếp nối huân tập giáo hóa thành hành, tự hãm hại, hãm hại người, là cái hại lớn của Phật pháp! Cho nên tha thiết răn nhắc người tu hành nên gấp xa lìa, ý rằng không những không thân cận hạng người như thế, mà còn ngăn đừng cho rằng thật có kiến chấp tứ cú. Vì vậy dùng thí dụ tóc rủ để so sánh.

🪷

Thí như vòng lửa chẳng phải có vòng thật, người ngu tưởng là vòng, chẳng phải người trí. Như thế hàng ngoại đạo ác kiến hy vọng nơi một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường, tưởng tất cả tánh sanh.

GIẢI

Thí dụ này giải thích nghĩa vốn không có tứ cú.

Lửa quay nhanh chẳng phải vòng, nhưng người ngu vọng khởi tưởng có vòng, để dụ cho pháp vốn không có tứ cú, chỉ vì ngoại đạo tà chấp, vọng khởi lên bốn thứ so đo, cho nên nói tất cả tánh sanh. Vĩnh Gia nói: Tất cả số câu chẳng phải số câu, cùng với linh giác ta nào giao thiệp.

🪷

Thí như bọt nước giống hạt châu ma ni, người ngu và trẻ nhỏ vô trí tưởng là châu ma ni, chấp trước tìm cầu. Nhưng bọt nước kia chẳng phải ma ni, chấp trước tìm cầu là ma ni, vì giữ và không giữ. Như thế ngoại đạo vọng tưởng ác kiến, bị tập khí huân đối với chỗ không sanh nói có sanh, duyên nơi có nói rằng mất.

GIẢI

Thí dụ này nói ngoại đạo vọng chấp nhân quả của tứ cú chẳng chân thật.

Bọt nước giống hạt châu, thật chẳng phải châu, mà người ngu và trẻ nít vô trí chấp giữ cho đó là thật. Người trí biết rõ nên không chấp giữ. Để dụ cho tứ cú của ngoại đạo, giống như một, giống như thường, thật chẳng phải đạo chân thường. Do họ vô trí chấp vọng cho là chân, nếu người biết duy tâm hiện lượng thì không chấp giữ, nên nói vì giữ và chẳng giữ.

Bởi họ bị huân bởi vọng tập bền ở trong vô sanh vọng thấy có sanh, nên nói đối với chỗ không sanh nói có sanh. Nơi pháp duyên sanh lại chấp đoạn diệt, phá hoại nhân duyên, nên nói duyên nơi có nói rằng diệt mất.

Do đây vọng tạo tác hí luận về tứ cú. Nhân quả chẳng phải chân nhân, quả chẳng phải chân quả, vọng chấp cái bọt nước tưởng là hạt châu thật, cho nên dụ như trẻ nít nhận bọt nước tưởng là hạt châu. Tứ cú ấy chỉ là vọng tưởng, nếu biết vọng tưởng vô tánh, thì tứ cú thế không có gì để lìa. Vì vậy bảy thí dụ trên là gồm nói rõ không tứ cú để lìa.

🪷

Lại nữa, này Đại Huệ! Có 3 lượng, 5 phần luận, mỗi thứ dựng lập xong, được Thánh trí tự giác, lìa hai sự tự tánh. Song điều ấy cũng là tánh vọng tưởng chấp trước.

GIẢI

Sau đây nói rõ cũng không thánh trí để được.

Đường dịch “Lập ba lượng rồi, đối với pháp thánh trí nội chứng lìa hai tự tánh mà khởi phân biệt có tánh”. Ngụy dịch “Mà nói thế này, thật có pháp nội chứng của bậc thánh, lìa hai tự tánh, hư vọng phân biệt”.

Ý Thế Tôn trách Đại Huệ rằng, ta đã vì các ông lập ba thứ lượng, năm phần luận, xác định phải trái khiến cho bỏ tà chấp. Tại sao đến đây lại ở trong pháp thánh trí tự chứng lìa hai tự tánh, mà khởi lên kiến chấp cho rằng thật có thánh trí có thể được? Nếu thánh trí thật có tự tánh có thể được, cũng là vọng kiến. Vì vậy, luận Tam Thập Tụng nói, “Hiện tiền lập chút vật, cho là Tánh duy thức, vì có chỗ sở đắc, chẳng thật trụ duy thức”. Nghĩa là nếu còn mảy may kiến chấp chưa quên, cũng là việc bên mé sanh tử. Chừng nào vô trí vô đắc mới là cứu cánh.

3 lượng là: Hiện lượng, tỷ lượng, thánh giáo lượng.

  • Hiện lượng: Hiện tức là hiện tiền, là biết rõ ràng cảnh trước mặt, không kẹt vào danh ngôn, không có tâm so đo, đích thân được pháp thể, lìa phân biệt hư vọng mà không lầm lẫn, nên gọi là hiện lượng.
  • Tỷ lượng: Tỷ tức là so sánh loại suy, dùng nguyên nhân lý do thí dụ để so sánh phân loại suy lường mà biết.
  • Tỷ lượng có 3 chi. Thánh ngôn lượng: Dùng thánh giáo của Phật làm tiêu chuẩn.

5 phần luận là: tông, nhân, dụ ba chi, với hợp, kết là năm phần đã ghi đầy đủ trong Nhân minh luận.

Nói rằng đã lập 3 lượng 5 phần luận, tức chỉ cho những điều đã nói trong quyển một, thảy đều không ra ngoài 3 lượng 5 phần luận. Như nói tự tâm hiện tự giác thánh trí… đó là hiện lượng. Nói như huyễn, trăng dưới nước, bóng nắng, hoa trong không và vi trần, cục đất, binh… dùng thí dụ để phát minh, đều là tỷ lượng.

Nói tất cả các đức Phật Như Lai đều trước dùng phương tiện tạm sau mới nói thật, và Pháp thân Phật, Báo thân Phật, Hóa thân Phật nói pháp… đều là thánh ngôn lượng. Đây đều dựng lập ba lượng rồi. Còn nói, ta dùng Như Lai tạng đệ nhất nghĩa làm tông, ngoại đạo dùng thần ngã, thắng tánh… làm tông. Đó là tông.

“Ta dùng đệ nhất nghĩa tự giác thánh trí… làm nhân, ngoại đạo kia dùng chủng tử tập khí hư vọng từ vô thỉ làm nhân” và “tạo tác không tạo tác, vô sanh, thường, vô thường…”. Đó đều là nhân. Như hư không, xương Phật, mâm cháy, bình bể… là dụ.

Ba chi này tự có văn hợp, kết. Gồm lại là năm phần luận, nên nói dựng lập xong. Phật thuyết pháp không ra ngoài ba lượng năm phần luận lấy đó làm nghi thức.

🪷

Đại Huệ!

Tâm, ý, ý thức, thân tâm chuyển biến, tự tâm hiện, các vọng tưởng năng nhiếp sở nhiếp dứt sạch, đến Như Lai địa tự giác thánh trí. Người tu hành đối việc ấy không khởi tưởng tánh hay phi tánh (Đường dịch: Các vị tu hành chuyển tâm ý ý thức, đoạn dứt tâm chấp thủ và cảnh bị chấp thủ, trụ ở địa vị Như Lai tự chứng thánh pháp, đối với hữu và vô không khởi tưởng).

Nếu lại có người tu hành đối với cảnh giới ấy khởi sanh tưởng chấp thủ là tánh là phi tánh, tức là họ chấp thủ tướng dưỡng và chấp thủ ngã nhân. (Đường dịch: Những người tu hành, nếu đối cảnh giới khởi lên kiến chấp hữu vô, tức là chấp trước vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng).

Đại Huệ!

Nếu nói về tánh, tự tánh, tự tướng cộng tướng, tất cả những thứ đó đều là do Hóa thân Phật nói, chẳng phải Pháp thân Phật nói. Lại nữa, những ngôn thuyết đều là vì người ngu hy vọng mà phát sanh, không phải vì chỉ dạy cho người hướng đến tự tánh pháp được thánh trí tự giác trụ tam-muội lạc mà có kiến lập riêng.

GIẢI

✅ Đây là trách Đại Huệ không nên ở trong pháp tự chứng thánh trí mà khởi lên kiến chấp hữu vô, để nói rõ vốn không thánh trí để được 8.

Nghĩa là những người tu hành đã chuyển tâm, ý, thức, lìa năng sở thủ, an trụ cảnh giới Như Lai tự chứng, há có thể lại ở trong tự giác thánh trí kia mà khởi lên tưởng hữu vô ư? Nếu ở trong ấy khởi lên chấp trước hữu vô, đó là bị kẹt vào kiến chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng. Đó là còn ngã giác ngã nêu là chướng ngại. Chính như Viên Giác đã trình bày rõ về bốn tướng vi tế, vì do còn thấy có chứng ngộ, năng sở chưa quên.

Từ câu Nếu nói về tánh tự tánh trở xuống là để ngừa nạn vấn chuyển tiếp. Nghĩa là tiếp theo đó gạn hỏi rằng: “Chân như, tự tánh, Niết-bàn, chứng đắc, Phật chủng, duyên khởi… đều là lời Phật nói, tại sao bây giờ lại nói không có trí để được”.

Thế Tôn đáp rằng: “Nếu nói trong pháp tự chứng thánh trí kia, thật có tự tánh để đợi duyên sanh, đó là lời của Hóa thân Phật nói không phải Pháp thân Phật nói”. Song Hóa thân Phật nói như vậy, cũng chẳng phải là bổn hoài, chỉ vì chúng sanh ngu si trông mong có chỗ chứng đắc, lấy đó làm kết quả mới chịu thâu hướng.

Nếu nói vô ngã, vô trí, vô đắc thì đâm ra e sợ, nên bất đắc dĩ tùy thuận hợp với căn cơ, phương tiện tạm nói như vậy, vốn chẳng có pháp thật. Cho nên nói: Thảy đều do kiến chấp hy vọng của người ngu mà sanh khởi, chẳng phải để phân biệt chỉ dạy cho hạng người căn cơ tối thượng hướng đến chỗ pháp tự tánh, tu hành như thật được tự giác thánh trí, trụ vào tam-muội lạc.

Ý rằng, nay pháp Đại thừa đốn giáo này, đặc biệt vì người căn cơ tối thượng chỉ thẳng cảnh giới tự giác thánh trí lìa tâm ý ý thức, là pháp chân thật do Pháp thân Phật nói, đâu được chấp vào lời dạy phương tiện mà hy vọng chứng đắc.

❔ HỎI:

Chân như pháp tánh vì sao cũng nói là tự tướng cộng tướng?

📣 ĐÁP:

Tự thể của chư pháp chỉ có bậc trí chứng biết, nói năng chẳng đến kịp, đương thể như như, đó là tự tướng. Nếu thể tánh của pháp dùng nội năng mà hiểu, tạm mượn trí để vịn vào, không đạt được tự tướng, đó là cộng tướng. Nay trong tông Đại thừa đốn giáo này, thẳng vì chỉ dạy đệ nhất nghĩa tâm, lìa tướng ngôn thuyết, chỉ có thể tự chứng, đều không có thể cộng tướng. Tự tướng chỉ hiện lượng chứng được, nên nói giác trụ tam-muội lạc mà phân biệt chỉ bày.

❔ HỎI:

Hóa Phật dạy về tự tướng cộng tướng, là những gì?

📣 ĐÁP: Hóa Phật nói chân như tự tánh lặng yên bất biến là tự tướng, theo duyên nhiễm tịnh thành tất cả pháp thể xuất thế, là cộng tướng. Nay Đại Huệ cho là thật có thánh trí để được, chính là chấp về duyên nhân Phật tánh, đợi duyên mới hiện vì có chứng đắc vậy.

🪷

Thí như trong nước có bóng cây cối, nước kia chẳng phải bóng, chẳng phải không bóng, chẳng phải bóng cây, chẳng phải không bóng cây. Như thế ngoại đạo bị tập khí kiến chấp huân, vọng tưởng chấp trước y cứ vào tướng một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường, không thể biết tự tâm hiện lượng.

GIẢI

Đây dụ Phật hiện thân như hình ảnh trong nước, nước dụ cho tâm chúng sanh, cây dụ cho Pháp thân Phật, thân Bồ-đề, thân nguyện. Bởi Pháp thân chẳng phải thân, nương nguyện lực mà hiện, cho nên “Nước tâm chúng sanh trong sạch, bóng Bồ-đề hiện trong ấy” 9.

Nói là Pháp thân hiện, thật ra chúng sanh vốn không thể nghĩ bàn, chỉ là nhất tâm, nên bóng và cây đều chẳng phải. Ngoại đạo không hiểu duy tâm sở hiện cho nên vọng chấp một khác…

🪷

Thí như gương sáng tùy duyên hiện hiện tất cả sắc tượng, hiện mà không vọng tưởng. Gương kia chẳng phải tượng, cũng chẳng phải không là tượng, mà thấy là tượng chẳng là tượng, vì ngu phu vọng tưởng mà khởi tưởng về tượng. Như thế ngoại đạo ác kiến tự tâm hiện sắc tượng, vọng tưởng chấp trước y cứ vào kiến chấp một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường.

GIẢI

Đây thí dụ Phật vô tâm mà cảm ứng theo căn cơ, tùy duyên thành việc, theo căn cơ sai khác, như gương hiện hình tượng. Ngụy dịch: Vì có duyên thấy được, vô duyên không thấy.

🪷

Thí như gió và nước hòa hợp phát ra âm thanh, âm thanh kia chẳng phải tánh chẳng phải không tánh. Như thế ngoại đạo ác kiến vọng tưởng, y cứ vào kiến chấp một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường.

GIẢI

Đây thí dụ Phật thuyết pháp, là duyên của âm thanh phát ra, như gió nước hòa hợp rồi sau có tiếng, cho nên tất cả ngôn âm dạy dỗ vốn không là thật pháp. Người ngu vọng cho là thật. Bản Đường dịch: Thí như tiếng vang trong hang.

🪷

Ví như đất đai chỗ không cây cỏ, do sức nắng nóng thấy như nước tràn, sóng dậy, mây dồn (Đường dịch: Ánh mặt trời chiếu gắt gao, thấy dợn sóng lung lay).

Kia chẳng phải tánh, chẳng phải không tánh, vì có tham và không tham. Như thế người ngu bị tập khí hư ngụy vô thủy huân tập, vọng tưởng chấp trước y cứ vào sanh trụ diệt, một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường, vin theo phương diện tự trụ sự, cũng như nắng nóng, sóng mồi.

GIẢI

Đây thí dụ từ gốc vô trụ lập tất cả pháp, nên như đất đai nơi không cây cỏ, do sức nắng nóng thấy như nước tràn, sóng dậy, mây dồn. Bởi pháp tánh vô sanh, nơi pháp vô sanh vọng thấy sanh diệt. Bản Đường dịch: Trong môn pháp tánh thánh trí tự chứng thấy sanh trụ diệt, một khác, chung chẳng chung…

🪷

Thí như có người chú thuật máy phát động, chẳng phải số chúng sanh. (Đường dịch: Người gỗ máy móc, không có thể chất của chúng sanh). Do phương tiện của quỷ Tỳ-xá-xà hợp thành, cử động lăng xăng. Phàm ngu vọng tưởng chấp trước cho là có qua lại. Như thế ngoại đạo ác kiến hy vọng, y cứ vào kiến chấp một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường, hí luận chấp trước, dựng lập không thật.

GIẢI

Đây thí dụ Pháp thân chẳng phải thân, chỉ dùng sức vô tác nhiệm mầu mà thành tựu cho chúng sanh, vốn không có tướng xuất hiện, nhập diệt, đến hoặc đi, phàm ngu không hiểu vọng cho là thật.

🪷

Đại Huệ!

Cho nên muốn được tự giác thánh trí sự, nên xa lìa vọng tưởng ác kiến về sanh trụ diệt, một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường…

GIẢI

✅ Đây là kết luận khuyên người tu hành, nên xa lìa vọng tưởng ác kiến tứ cú một khác… như trên; tự nhiên được vào Tự giác Thánh trí.

Bởi chúng sanh như, Phật như. Chỉ có một như không có hai như. Nếu quán ba cõi, năm uẩn không thật, đương thể như như tức là tự giác thánh trí. Nếu ở trong môn tự chứng thánh trí pháp tánh, khởi lên kiến chấp về Phật, về pháp, phân biệt là một là khác… tức là rơi vào tà kiến của ngoại đạo.

Bởi đối với cảnh giới sở hiện của nhất tâm tịch diệt mà khởi lên kiến chấp tứ cú, chỉ là vọng tưởng thôi, chẳng phải thật pháp. Thế nên vốn không tứ cú để lìa, nếu một niệm chẳng sanh, tình quên chấp rớt, vốn tự như như. Đó là chỉ hết phàm tình, không thêm thánh giải, nên cũng không thánh trí để được.

Đến đây tình phàm và thánh giải một lúc đều dứt sạch, mới là việc rốt ráo của tự giác thánh trí. Nếu còn một mảy may chỗ thấy chưa quên, tức rơi vào ác kiến của ngoại đạo.

Song ngoại đạo có ba hạng. Một là hạng ngoại đạo ngoài Phật pháp, hai là hạng ngoại đạo dựa vào Phật pháp, ba là hạng học Phật pháp thành ngoại đạo. Một, hạng ngoại đạo ngoài Phật pháp, vốn có 3 phái:

  • Một là Ca-tỳ-la, Trung Hoa dịch là Hoàng Đầu, chấp trong nhân có quả.
  • Hai là Âu-lâu-tăng-khu, Trung Hoa dịch là Hưu Đầu, chấp trong nhân không quả.
  • Ba là Lặc-sa-bà, Trung Hoa dịch Khổ Hạnh, chấp trong nhân cũng có quả cũng không quả.

Luận Nhập Đại Thừa nói:

  • Ca-tỳ-la có lỗi chấp một, là tác và tác giả là một, tướng và tướng giả là một, như thế gọi là chấp một.
  • Âu-lâu-tăng-khu chấp khác.
  • Ca-lâu-ưu-đà chấp cũng một cũng khác.
  • Nhược-đề-tử chấp chẳng một chẳng khác.

Tất cả những dị chấp của ngoại đạo, đều không ra khỏi 4 cái này. Từ các phái đó xuất phát ra chi nhánh, đến thời đức Phật có 6 đại sư:

  • Một là Phú-lan-na Ca-diếp (Purana Kassapa): chấp bất sanh bất diệt, là Thường kiến.
  • Hai là Mạt-già-lê Câu-xá-lê-tử (Makkhali Gosala): chấp khổ vui của chúng sanh không có nhân duyên, tự nhiên như vậy, là Đoạn kiến.
  • Ba là Na-xà-dạ Tỳ-la-chi-tử (Sanjaya Belatthiputta): chấp chúng sanh đến thời tiết thuần thục thì đắc đạo, dùng số 9 là cùng cực.
  • Bốn là A-xà-đa Xi-xá-khâm-bà-la (Ajita Kesakambali): chấp cái khổ của tội báo có thể chun vào chuồng ngựa, hoặc nhổ tóc để thay thế.
  • Năm là Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên (Pakudha Kaccayana): chấp cũng có cũng không.
  • Sáu là Ni-kiền-đà Nhược-đề-tử (Nigantha Nathaputta): chấp rằng nghiệp được tạo tác là có định không thể sửa. Tóm lại, những lối chấp ấy không ra ngoài hai lối có không, đoạn thường, đây chính là hàng ngoại đạo ngoài Phật pháp.

Hai, hàng ngoại đạo dựa vào Phật pháp, khởi lên từ Độc Tử Phương Quảng, tự chính ông đem sự thông minh xem các kinh sách Phật rồi phát sanh một thứ kiến giải riêng, dựa vào Phật pháp mà có ra, nên gọi tên như thế. Độc Tử đọc bộ Xá Lợi Phất Tỳ Đàm, tự lập thành nghĩa riêng, nói có ngã ở ngoài tứ cú, trong bát khả thuyết tạng. Thế nào là tứ cú? Ngoại đạo chấp tức sắc là ngã, lìa sắc là ngã, trong sắc có ngã, trong ngã có sắc, 4 ấm kia cũng như vậy. Gồm lại có hai mươi kiến chấp về thân. Đại luận nói “Phá hai mươi kiến chấp về thân thành Tu-đà-hoàn”, tức là nghĩa này. Nay phái Độc Tử chấp ngã khác với lục sư ngoại đạo, cũng không phải Phật pháp, các luận đều bài xích không chấp nhận, bèn trở thành người tà pháp tà dựa vào Phật pháp.

Ba, học Phật pháp thành ngoại đạo, nghĩa là chấp vào lời dạy của Phật mà sanh phiền não, không nhập được lý.

Đại luận nói: Nếu không được phương tiện Bát-nhã, nhập vào A-tỳ-đàm, tức rơi trong hữu; nhập vào không tức rơi trong vô, nhập vào Tỷ-lặc thì rơi trong cũng có cũng không.

Trung Luận nói: Chấp chẳng có chẳng không, gọi là luận ngu si, chấp ngược chánh pháp trở thành người tà. Cho nên học bốn môn Đại thừa nếu không đạt được ý Bát-nhã liền rơi vào bốn lối phỉ báng bị đốt bởi lửa tà, trở thành người tà pháp tà. Tiểu thừa chấp thật giả hai bên, Đại thừa chấp không hữu hai bên. Tiểu thừa bác bỏ ngoài tâm có pháp là kẹt hữu, Đại thừa bác bỏ Bồ-đề Niết-bàn thảy đều vô là kẹt không. Thế nên là hạng học Phật pháp mà thành kiến chấp ngoại đạo. Thảy đều do không hiểu được cảnh giới duy tâm hiện lượng nên vọng khởi chấp trước như thế.

Kinh này tối tả hiển chánh, tất cả đều phá.

  • 7 thí dụ trước là phá 4 chấp của ngoại đạo bên ngoài và ngoại đạo dựa vào Phật pháp, để hiển tự giác thánh trí vốn không tứ cú để lìa.
  • 5 dụ sau phá hạng học Phật pháp thành ngoại đạo, để chứng tịch diệt nhất tâm, nên nói không thánh trí để được. Nếu các kiến chấp tiêu vong thì nhất tâm tự hiển, người đọc nên biết điều này, chớ chán vì sự rắc rối.

🪷

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Huyền, mộng, bóng trong nước,

Tóc rủ, khí nắng nồng

Như thế quán ba cõi

Rốt ráo được giải thoát

Thí như nai khát tưởng

Tâm mê loạn lăng xăng,

Nai tưởng cho là nước,

Mà thật chẳng có nước.

Chúng tử thức như thế

Thấy cảnh giới động tĩnh

Người ngu sanh vọng tưởng

Như mắt nhặm bị lòa.

Nói sanh từ vô thủy

Chấp trước tánh nhiếp thọ

Như ngược chốt tháo chốt

Xa lìa tham nhiếp thọ.

Như huyền chú, máy động

Mây nổi, mộng, điện chớp

Quán vậy được giải thoát

Vĩnh đoạn ba tướng tục.

Nơi kia không tạo tác

Như nắng lòa hư không

(Đường dịch: Như sóng nắng trong không)

Biết các pháp như thế

Tức là không chỗ biết.

GIẢI

Đây dùng chung các thí dụ để trước tiên tụng rằng vốn không tứ cú để lìa.

Hai bản dịch Ngụy Đường đều trước tiên nêu năm uẩn, sau nêu ba cõi không thật như bóng, như huyễn… Bởi vì chúng sanh đối với thân tâm năm uẩn, không biết là như bóng ảnh, như huyễn, vọng chấp cho là thật, cho nên không thể giải thoát khỏi sanh tử ba cõi. Song 5 uẩn và các pháp vốn tự vô sanh, nay ở trong vô sanh vọng thấy có sanh diệt, nên thí dụ như nai khát nước, ở chỗ không có nước vọng khởi tưởng có nước.

Chúng sanh cũng thế, đều do tập khí chủng tử nghiệp thức huân phát nên phàm phu vọng thấy sanh tử, ngoại đạo Nhị thừa vọng thấy Niết-bàn, vì thế nói: thấy cảnh giới động tĩnh. Đây đều do vọng tưởng của người ngu sanh ra, cũng như mắt nhặm vọng thấy hoa đốm. Vì vậy nói nơi vô thủy sanh tử vọng tính toán chấp trước cho rằng thật có tự tánh rồi khởi lên các ác kiến tứ cú về một khác, có không, đoạn thường…

Thế Tôn thương đám người mê, nói pháp lìa tứ cú, phá tâm tham trước của họ, như ngược chốt tháo chốt nên khiến xả bỏ tham chấp giữ, chẳng phải thật có tứ cú để lìa. Bởi các pháp ấy vốn không có tạo tác, cũng chẳng phải là việc thật nên chỉ như huyễn, chú thuật máy phát động, mây nổi, chiêm bao, điện chớp, nắng lòa mà thôi.

Đó là “Sanh tử Niết-bàn như giấc mộng đêm qua”, nếu có thể quan sát như vậy thì các pháp đương thể vắng lặng, rõ được không tướng sanh từ Niết-bàn. Nên kệ nói Biết các pháp như thế, tức là không chỗ biết. Do không chỗ biết nên các kiến chấp tự tiêu vong, tứ cú chóng trừ, tức gọi là tự giác thánh trí.

🪷

Ngôn giáo chỉ giả danh

Chúng cũng không có tướng

Với chúng khởi vọng tưởng

Ấm hành như tóc rủ.

Như vẽ, tóc rủ, huyễn

Mộng, thành Càn-thát-bà

Vòng lửa, sóng nắng nóng

Không mà hiện chúng sanh

Thường vô thường, một khác

Chung, chẳng chung cũng vậy

Lỗi vô thỉ tiếp nối

Kẻ ngu si vọng tưởng

Gương sáng, nước trong, mắt

Ma ni, diệu bảo châu

Trong ấy hiện các vật

Mà thật không thể có

Tất cả tánh hiển hiện

Như vẽ, sóng nắng nóng

Các thứ sắc hiện bày

Như mộng, không thể có

GIẢI

Bài tụng này nói cũng không thánh trí để được.

Đường dịch: “Các uẩn như búi cỏ, trong đó vọng phân biệt, chỉ giả danh lập bày, tìm tướng vốn không thể được”. Nghĩa là năm uẩn, các pháp vốn không có, hư dối chẳng thật như huyễn, chiêm bao… Do người ngu không thấu hiểu duy tâm, vọng khởi phân biệt nên khởi lên bốn lối chấp. Nếu biết rõ các pháp chỉ do tâm hiện, như gương sáng, nước lắng trong, mắt sáng, châu ma-ni, tuy hiện các vật mà vốn tự vô sanh, đương thể tròn sáng, tức là tự giác thánh trí, ngoài ra lại không có thánh trí để được.

  • Trên phá chung hai kiến để hiển bày Viên thành thật xong.
  • Sau đây kết luận hiển bày lìa lỗi dứt quấy.

I₄ - Hiển bày lìa lỗi dứt quấy

🪷

Lại nữa này Đại Huệ! Như Lai nói pháp lìa tứ cú như thế, nghĩa là một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường, lìa sự phân biệt về dựng lập hay bác bỏ hữu vô, kết tập chốn đế duyên khởi đạo diệt khó giải thoát. Như Lai thuyết pháp lấy đây làm tiêu chuẩn. (Ngụy dịch: Như Lai thuyết pháp, căn cứ vào thật tế nhân duyên tịch diệt giải thoát). Chẳng phải tánh, chẳng phải trời Tự tại, chẳng phải vô nhân, chẳng phải vi trần, chẳng phải thời, chẳng phải tự tánh tiếp nối mà vì thuyết pháp.

GIẢI

✅ Đây là kết đáp lại ý hỏi, để hiển bày lìa lỗi dứt quấy.

Do Đại Huệ thưa hỏi về lìa tứ cú một khác, có không… là sở hành của tự giác thánh trí, các ngoại đạo không thể làm được. Phật đáp chỉ đối với năm ấm, các pháp, thấu rõ duy tâm, không khởi phân biệt thì ngay đó như như, vốn không tứ cú để lìa, cũng không thánh trí để được.

Thế nên đây kết luận rằng: Sở dĩ Như Lai nói pháp lìa tứ cú như thế, vì căn cứ vào thật tế nhân duyên tịch diệt giải thoát mà nói, không thể so sánh với ngoại đạo vọng chỉ các tà nhân Tánh, Tự tại… mà nói pháp, cho nên hằng lìa các lỗi.

🪷

Lại nữa này Đại Huệ! Vì muốn sạch các phiền não, sở tri chướng, thí như thương chủ, thứ lớp dựng lập trăm lẻ tám câu và phân biệt tướng các thừa và tướng các địa.

GIẢI

✅ Đây là ngừa nạn vấn.

Gạn rằng: Như Lai thuyết pháp đã lìa tứ cú thời không có pháp để nói, vì sao lại thứ lớp dựng lập trăm lẻ tám câu và phân biệt tướng các thừa, các địa?

Thế nên ✅ Đây giải thích: Vì muốn dẹp sạch hai thứ chướng phiền não và sở tri của chúng sanh, như thương chủ vì dẫn đường cho mọi người đến chỗ châu báu, mới lập các phương tiện.

Như Lai thuyết pháp cũng như thế, chẳng phải thật có việc để nói. Nên kinh nói: Biết pháp không nơi lời, khéo vào mé vô ngôn, nhưng hay nêu ngôn thuyết, như tiếng vang khắp thế gian.

Cũng chẳng phải là nín thinh không nói. Bảo Cảnh nói: “Tuy chẳng có lời, chẳng phải không lời”. Đoạn trước nói trăm lẻ tám câu căn cứ vào tứ cú tà chánh của ba cõi hai mươi lăm loài mà dựng lập, nghĩa này thấy rõ ở đây.

  • Về trước trong phần nói về hạnh, ban đầu nêu chung về phương tiện chánh hạnh đã xong.

  • Tiếp theo đây, nói lược về tướng nhân quả tà chánh, chia làm bốn. Phần đầu chỉ dạy tóm lược hai nhân. Trước tiên chỉ dạy về lỗi thiên tà nhân của Nhị thừa và ngoại đạo.

H₂ - Lược chỉ nhân quả tà chánh. Có 4

I₁ - Sơ lược hai thứ nhân tà và chánh. Có 2

K₁ - Chỉ tà nhân ngoại đạo và Nhị thừa

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Có 4 loại thiền. Những gì là bốn? Là Ngu phu sở hành thiền, Quán sát nghĩa thiền, Phan duyên như thiền, Như Lai thiền.

Thế nào là Ngu phu sở hành thiền? Nghĩa là hàng Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo tu hành, quán nhân vô ngã, tánh tự tướng cộng tướng, tướng các lông xương, vô thường, khổ, bất tịnh, chấp trước như thế làm đầu mới cho là trên hết. Tưởng như vậy không quán khác hơn. (Đường dịch: Quán sát như vậy, chấp giữ chặt chẽ không bỏ).

Trước sau chuyển tiến, tướng chẳng trừ diệt. (Đường dịch: Thứ lớp tăng tiến đến diệt định, vô tưởng). ✅ Đây là Ngu phu sở hành thiền.

GIẢI

Đây nói sơ lược về 2 thứ nhân tà và chánh, ban đầu chỉ tả nhân của ngoại đạo Nhị thừa.

Sở dĩ Như Lai nói pháp không giống ngoại đạo, vì nhân hạnh không giống. Đây đặc biệt nói về 4 thứ thiền để lựa riêng hai nhân chánh và tà, muốn khiến người tu hành biết mà lựa chọn. Phương tiện nhập lý của nhà thiền chỉ là nhân hạnh mà thôi.

Nhị thừa ngoại đạo không thấu đạt lý tự tâm hiện lượng chọn vô ngã, tuy quán ngã không, mà vì chỗ chấp trước chưa quên, càng tăng thêm ngã kiến, nên tướng chẳng trừ diệt. Vì nhân địa không chân nên kết quả không thật, đó là lý do Niết-bàn của hạng này cũng chẳng chân thật. Đây gọi là Ngu phu sở hành thiền.

K₂ - Chánh nhân của tam thừa

🪷

Thế nào là Quán sát nghĩa thiền? Là nhân vô ngã tự tướng cộng tướng, ngoại đạo tự tha chung, không tánh rồi. (Đường dịch: Nghĩa là biết tự tướng cộng tướng nhân vô ngã rồi, cũng lìa ngoại đạo tự tha chung tạo).

Quán pháp vô ngã, nghĩa tướng các địa kia lần lượt tăng tiến. (Đường dịch: Đối với pháp vô ngã, nghĩa tướng các địa, tùy thuận quán sát).

Đây gọi là Quán sát nghĩa thiền.

GIẢI

Đây gọi là phương tiện tu hành của Bồ tát, để chỉ ra nhân chánh.

Từ hàng Tam hiền cho đến Thất địa, hành tướng đều nêu ở đây. Đó gọi là, hai chướng về phân biệt ngã và pháp đến Bát địa không còn. Còn chướng về câu sanh pháp chấp thì ở mỗi địa mỗi địa lần lượt trừ. Nên nói Quán pháp vô ngã, nghĩa tướng các địa kia lần lượt tăng tiến.

Thế nào là Phan duyên như thiền? (Ngụy dịch: Quán chân như thiền. Đường dịch: Duyên chân như thiền). Nghĩa là vọng tưởng về 2 vô ngã chỉ là vọng tưởng, chỗ như thật chẳng sanh vọng tưởng. Đây gọi là Phan duyên như thiền.

✅ Đây giải thích về hành tướng của Bát địa trở lên đến giải thoát đạo.

Đường dịch: “Nếu phân biệt rằng vô ngã có 2, đó là ý niệm hư vọng, nếu biết như thật thì ý niệm này không khởi”. Nghĩa là nếu Bồ tát phân biệt thật có lý 2 vô ngã, thì cũng là vọng tưởng, nên nói Vọng tưởng về 2 vô ngã cũng chỉ là vọng tưởng.

Nếu xứng thật mà quán thì nhân pháp vốn không, nay làm gì có không hai, bình đẳng như như, phân biệt chẳng khởi. Bản Ngụy dịch: “Không ở trong tâm phân biệt, được cảnh giới tịch tĩnh, đó gọi là Quán chân như thiền”.

Trên đây là hành tướng của 3 thừa.

Thế nào là Như Lai thiền? Nghĩa là vào địa vị Như Lai, được tướng tự giác thánh trí, 3 thứ lạc trụ, thành tựu việc bất khả tư nghị cho chúng sanh. ✅ Đây là Như Lai thiền.

✅ Đây là hành tướng nhất thừa tối thượng. Nói là Như Lai thiền, chẳng phải là Như Lai sở hành thiền, mà là dùng quả giác ngộ của Như Lai làm tâm bốn nhân. Nghĩa là dùng tâm bất sanh diệt làm nhân gốc để tu, nên nói “Phương tiện rộng lớn của bậc tu hành”.

Hai thứ thiền trước tuy là hạnh chân chánh, cũng còn thuộc tiệm tu. Đây thì đốn ngộ nhứt tâm, đón chứng địa vị Phật, ba đức bí tạng liền được trong một niệm.

Tức liền có thể thành tựu chúng sanh bất khả tư nghì, nên gọi là Như Lai thanh tịnh thiền. Đây chính thiền tông của Đạt-ma truyền, ba đời chư Phật, tâm ấn lịch đại Tổ sư, chỉ thủ của kinh này ý nằm trong ấy.

Há cho phép tả thiền của ngoại đạo Nhị thừa và loại vọng tưởng phan duyên chúng đắc, có thể so sánh ư? Thế nên muốn người tu hành thảy đều lấy đây làm chân nhân, mới được quả vô thượng đại Niết-bàn của Như Lai, vì nhân chân thì quả chánh. ✅ Đây là lý do Như Lai nói pháp không giống như ác kiến của ngoại đạo.

🪷

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ:

Ngu phu sở hành thiền

Quán sát tướng nghĩa thiền

Phan duyên như thật thiền

Như Lai thanh tịnh thiền

Thí như hình nhật nguyệt

Bát-đầu-ma lặng sâu

Như hư không, lửa tắt

Người tu hành quán sát.

Các thứ tướng như thế

Ngoại đạo nói thông thiền

Cũng rơi vào Thanh văn

Và cảnh giới Duyên giác.

GIẢI

✅ Đây là tụng chung về tướng bốn thứ thiền, sau sẽ lựa riêng về tả chánh.

✅ Đây tụng về hành tướng tà thiền của ngoại đạo Nhị thừa, răn nhắc khiến người tu hành đừng lầm rơi vào đó.

Nghĩa là ngoại đạo chấp thần ngã, nên khi nhập định thấy hình ảnh như mặt trời, mặt trăng, sáng suốt trong trẻo rõ ràng, hoặc thấy như hoa sen hồng ở trong biển (bát-đầu-ma: hoa sen hồng), lấy đây làm chân.

Nhị thừa vọng chấp năm ấm thật có tự tướng cộng tướng nên khởi quán vô thường, khổ, không… dập tắt tâm, tiêu diệt trí đồng với hư không, như củi hết lửa tắt, cho là Niết-bàn.

Nên răn nhắc rằng: Người tu hành quán sát, nếu thấy những cảnh tướng như vậy, quyết định không thể lầm rơi trong ấy.

🪷

Xa lìa những thứ ấy

Tức là vô sở hữu.

Chư Phật tất cả cõi

Dùng tay bất tư nghì

Đồng thời xoa đầu kia

Tùy thuận vào tướng như.

GIẢI

Bài tụng này hiển chánh hạnh.

Ý muốn người tu hành không những bỏ các tà thiền của ngoại đạo Nhị thừa, cũng đừng thân cận tập tành. Nếu y theo Phật môn, rõ thấu duy tâm hiện lượng, thì hai thứ thiền Quán sát, Duyên như cũng chẳng cần phải thân cận tập tành.

Vì thế kệ nói: Xa lìa những thứ ấy, tức là vô sở hữu. Do nương vào “vô sở hữu” mà quán thì có thể đốn nhập chơn như, đó gọi là Như Lai thanh tịnh vô tướng thiền. Hành giả y theo đây mới gọi là chánh hạnh, ắt có thể chóng khế hợp Phật tâm, nên liền cảm được mười phương chư Phật, dùng tay bất tư nghì đồng một lúc xoa đầu.

  • Trên nói lược về nhân hạnh tà chánh không giống nhau.

  • Sau đây lược nói về quả tướng tà chánh không giống.

I₂ - Lược nói về quả tướng của tà chánh không giống

🪷

Lúc bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng:

Thế Tôn! Nhập Niết-bàn ấy, những pháp gì gọi là Niết-bàn?

GIẢI

Trên nói nhân hạnh chẳng giống, đây nói quả tướng cũng khác.

Đại Huệ nghe nói nhân hạnh không giống, bèn hỏi Thế Tôn, đã dùng Như Lai thanh tịnh thiền làm nhân, chẳng biết dùng những pháp gì làm quả tướng. Thế nên ở đây thưa hỏi về Niết-bàn để hiển bày quả đức không giống.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Tất cả tập khí tự tánh, tạng, ý, ý thức, kiến lập chuyển biến, gọi là Niết-bàn. Niết-bàn của ta và chư Phật là cảnh giới tự tánh không sự.

GIẢI

Đây nói về chuyển sanh tử thành Niết-bàn để hiển chân quả của Như Lai.

Đường dịch: “Tất cả thức tự tánh, tập khí và tạng thức, ý thức, kiến lập chuyển, ta và chư Phật nói đó là Niết-bàn, tức là cảnh giới các pháp tánh không”. Nghĩa là thức tự tánh, tập khí, và tâm, ý, ý thức kiến lập vô minh, đều là nhân sanh tử.

Ý rằng: Nếu biết những thứ ấy tánh không, tức ngay nơi sanh tử chuyển làm Niết-bàn, tức là cảnh giới các pháp tánh không. Không phải như hàng Nhị thừa và ngoại đạo vọng cho có chứng đắc, chấp làm Niết-bàn. Do nhân địa của họ không chân, nên Niết-bàn của họ cũng chẳng phải cứu cánh, vì không lìa được nhân sanh tử vậy.

🪷

Lại nữa này Đại Huệ! Niết-bàn là cảnh giới tự giác thánh trí, lìa vọng tưởng về đoạn thường, tánh chẳng phải tánh.

Thế nào là chẳng phải thường? Nghĩa là vọng tưởng về tự tướng cộng tướng đoạn dứt cho nên chẳng phải thường? Thế nào là chẳng phải đoạn? Nghĩa là tất cả bậc thánh ở quá khứ, hiện tại, tương lai đều được tự giác cho nên chẳng phải đoạn.

Đại Huệ! Niết-bàn chẳng hoại chẳng tử. Nếu Niết-bàn tử, đáng lý phải thọ sanh tương tục, nếu hoại, đáng lý phải rơi vào tướng hữu vi. Thế nên Niết-bàn lìa hoại lìa tử, là chỗ trở về nương tựa của người tu hành.

GIẢI

Đây chỉ ra tướng Niết-bàn.

Vì Niết-bàn là cảnh giới tự giác thánh trí, chẳng phải là cảnh giới vọng tưởng của Nhị thừa ngoại đạo, vì lìa sự phân biệt về đoạn thường, hữu vô. Vì lìa cái ngã giả dối của phàm phu và thần ngã của ngoại đạo nên chẳng phải thường. Bởi lìa trống rỗng của ngoại đạo và đoạn diệt của Nhị thừa cho nên không phải đoạn.

Vì chẳng hoại nên chẳng diệt. Vì chẳng chết nên chẳng sanh. Vì chẳng diệt nên đó là đất linh của chư thánh. Vì chẳng sanh nên là ngôi nhà an ổn của chúng sanh.

Thế nên nói: “Tất cả chư thánh ba đời đều được tự giác, chỗ quy y của người tu hành”. Trong đây, phàm phu vọng nhận năm uẩn giả ngã làm tự tướng, ngoại đạo vọng lập thần ngã chủ tể làm cộng tướng.

🪷

Lại nữa này Đại Huệ! Niết-bàn chẳng xả chẳng đắc, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng phải một nghĩa, chẳng phải nhiều nghĩa, gọi là Niết-bàn.

GIẢI

Đây kết luận chỉ ra nghĩa chính của Niết-bàn.

Bởi hàng Tam thừa vọng thấy thủ xả, ngoại đạo vọng chấp đoạn thường một khác, thảy đều thuộc vọng kiến phân biệt. Tướng đại Niết-bàn Như Lai tự tánh thanh tịnh lìa các lỗi này, tất cả đều chẳng phải. Nên Lục tổ nói:

Đại Niết-bàn vô thượng, tròn sáng thường tịch chiếu. Phàm ngu cho là chết, ngoại đạo chấp là đoạn. Những người cầu Nhị thừa, gọi đó là vô tác. Đều thuộc về tình chấp, gốc 62 kiến. Vọng lập danh hư dối. Không có gì chân thật. Chỉ có người siêu xuất. Thông đạt không thủ xả. Vì biết pháp ngũ uẩn. Và cùng ngã trong uẩn. Các sắc tượng hiện ngoài, mỗi mỗi tướng âm thanh, bình đẳng như huyễn mộng, không khởi thấy thánh phàm, không khởi hiểu Niết-bàn. Dứt hai bên ba mé. Thường ứng các căn dụng, không khởi tưởng tác dụng. Phân biệt tất cả pháp, không khởi tưởng phân biệt. Kiếp lửa thiêu tột biển, gió thổi núi va chạm, vẫn chân thường tịch diệt, tướng Niết-bàn như thế.

Xem Lục tổ nói về tướng Niết-bàn, như người ngắm trái cây trong bàn tay. Đó chính là chuyển tâm, ý, ý thức, kiến lập thành Niết-bàn, vào cảnh giới các pháp tánh không vậy.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Niết-bàn của Thanh văn, Duyên giác, biết tự tướng cộng tướng, không gần gũi cảnh giới (Đường dịch: Xa rời cảnh ồn náo), thấy chẳng điên đảo, vọng tưởng chẳng sanh, họ đối với những điều này cho là Niết-bàn.

GIẢI

Đây nói về quả Niết-bàn không thật của hàng Nhị thừa.

Nhị thừa tuy vượt khỏi tà kiến ngoại đạo, song cũng chưa phải cứu cánh. Nghĩa là chỉ dứt sanh tử mà cho đó là giải thoát. Ngụy dịch: Hàng Thanh văn, Bích chi Phật, nơi chẳng cứu cánh khởi tưởng là Niết-bàn.

  • Trên chỉ dạy về hai quả xong. Dưới đây chỉ dạy chuyển hai tánh.

I₃ - Lược chỉ cách chuyển 2 tánh

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Có 2 thứ tướng tự tánh. Những gì là 2? Là chấp trước tướng tự tánh ngôn thuyết và chấp trước tướng tự tánh sự. Chấp trước tướng tự tánh ngôn thuyết là, từ vô thỉ tập khí hư ngụy về ngôn thuyết sanh. Chấp trước tướng tự tánh sự là, từ bất giác tự tâm hiện chứng ngần sanh.

GIẢI

✅ Đây giải thích về tướng tất cả tự tánh tập khí ở trên, chỉ dạy sơ lược về cách chuyển 2 tánh, để nói rõ lý do quả đức không đồng.

Sở dĩ Niết-bàn của Như Lai không giống với ngoại đạo Nhị thừa vì Như Lai chuyển tất cả tự tánh tập khí làm Niết-bàn, còn ngoại đạo Nhị thừa chấp có tự tánh làm Niết-bàn, cho nên không giống.

Ở đây đặc biệt chỉ ra hai thứ tướng tự tánh, muốn khiến cho biết chỗ chuyển vậy.

Tự tánh ngôn thuyết là, Pháp Hoa nói “Tướng tịch diệt của các pháp không thể dùng ngôn ngữ nói bày”.

3 cõi vốn không có pháp thật, chỉ dùng danh ngôn làm thể, hết thảy chỉ có ngôn thuyết không có nghĩa thật.

Vì phàm phu ngoại đạo không biết danh ngôn tánh không, vọng chấp ngôn thuyết âm thanh thật có tự thể, nương vào đó phân biệt rồi tạo các thứ nghiệp từ xưa quen như vậy.

Thế nên nói Từ vô thỉ tập khí hư ngụy về ngôn thuyết sanh. Nếu biết rõ âm thanh như tiếng vang, thì ngôn thuyết tánh không như gió thổi qua hốc cây.

Rỗng rang vắng lặng, thái hư tịch nhiên, phân biệt chẳng khởi, thì pháp tánh trạm nhiên, chỉ một viên minh, dứt xong tập khí bụi mờ. Đây gọi là chuyển tự tánh ngôn thuyết thành Niết-bàn.

Ngoại đạo không biết lối ra này bèn vọng khởi các kiến chấp, nên biết Niết-bàn của họ đều từ sự chấp trước tự tánh ngôn thuyết do tập khí hư ngụy vô thỉ sanh, chẳng phải chân thật.

Sự tự tánh là, Kinh nói “Pháp trong ba cõi chỉ là nhất tâm tạo”.

Vì các pháp chỉ do tâm hiện như bóng trong gương, vốn chẳng thật có, chỉ là nhất tâm lại không có pháp khác.

Hàng nhị thừa không rõ duy tâm, ngoài tâm chấp có pháp, vọng chấp các pháp thật có tự thể.

Do không hiểu các pháp xưa nay là tướng tịch diệt nên vọng thấy có sanh tử đáng sợ, Niết-bàn nên chứng.

Vì thế Niết-bàn của nhị thừa chứng đắc đều là chấp trước về tướng tự tánh sự, từ bất giác tự tâm hiện chừng ngần sanh, chẳng phải thật diệt độ. Do nhân không chân thật nên quả chẳng rốt ráo. ✅ Đây là chỗ Như Lai nói lý do Niết-bàn không giống ngoại đạo.

  • Phần sau nêu bày hai cảm ứng.

I₄ - Nêu bày hai cảm ứng

🪷

Lại nữa này Đại Huệ! Như Lai dùng 2 thứ thần lực dựng lập (Đường dịch: Thần lực gia trì) Đại Bồ tát đảnh lễ chư Phật, nghe thọ hỏi nghĩa.

Thế nào là hai thứ thần lực dựng lập? Là thần lực tam-muội chánh thọ vì hiện tất cả thân mật ngôn thuyết, và thần lực tay xoa đầu.

GIẢI

Đây nêu sơ lược về 2 loại cảm ứng.

Nói rằng người tu hành bên trong đầy đủ nhân chân thật, bên ngoài cảm đến duyên tốt, do nương nhờ 2 thứ thần lực ủng hộ, nên không rơi vào ngoại đạo, Thanh văn và Bích chi Phật.

Ý muốn người tu hành sanh lòng tin chắc chắn, hướng về quả rốt ráo. Xem các hàng Đại Bồ tát phù trợ chánh pháp trụ đời, đều đã trồng cội lành từ lâu, đích thân thừa sự bên Phật.

Hạnh chứng của các ngài đều nương vào sức thần ủng hộ của Phật, huống gì đời mạt pháp.

Thương thay! Thời nay cách xa thánh hiền, ma mạnh pháp yếu, thiện căn của chúng ta mỏng cạn, nếu không ngưỡng nhờ nguyện lực của chư Phật giúp cho, muốn ra khỏi sanh tử phá oán tặc ma, cũng khó lắm đấy.

Gia trì có hai, một là đại nguyện lực của chư Phật, hai là sức tin mạnh của hành giả.

Kinh Pháp Hoa nói: “Nếu có người tu hành kinh pháp này, lúc ấy ta vì họ hiện thân sáng suốt thanh tịnh…”.

Đây chính là nguyện lực của Phật.

Kinh Lăng Nghiêm nói:

Nếu chúng sanh đời sau muốn ngồi đạo tràng, trước tiên giữ giới cấm thanh tịnh tụng thần chú do tâm Phật nói này, thiết lập đạo tràng, cầu các đức Thế Tôn hiện trụ nơi 10 phương cõi nước, phóng ánh sáng từ bi rót trên đảnh đầu của mình. Ta sẽ tự hiện thân ra trước người ấy, xoa đầu an ủi, khiến cho họ khai ngộ.”

Đây chính là sức tin của người tu hành.

Kinh Lăng Già đây tuy chỉ nói riêng về nguyện lực, ý muốn tăng lòng tin quyết định vậy.

Lại sức gia trì có hai: Một thầm, hai hiện rõ; hai thần lực trên đều là sức gia trì hiện rõ.

Nói “Tam-muội chánh thọ vì hiện thân mật ngôn thuyết…” là khi hành giả vào trong tam-muội mới được hai thứ thần lực gia trì này, chẳng phải tâm tán loạn mà được.

Cho nên kệ trước nói: “Xa lìa những thứ ấy, ắt là vô sở hữu, chư Phật tất cả cõi, dùng tay bất tư nghì, đồng một lúc xoa đầu, tùy thuận vào tướng Như”.

🪷

Đại Huệ! Hàng Đại Bồ tát từ Sơ địa trụ thần lực Phật, nghĩa là vào tam-muội Bồ tát Đại thừa chiếu minh, vào tam-muội này rồi, tất cả chư Phật ở mười phương thế giới dùng sức thần thông vì Bồ tát ấy hiện tất cả thân mặt ngôn thuyết. (Đường dịch: Mười phương chư Phật đều hiện ở trước).

Như Đại Bồ tát Kim Cang Tạng, và các Đại Bồ tát khác thành tựu tướng công đức như thế.

Đại Huệ! Đây gọi là Đại Bồ tát Sơ địa được thần lực tam-muội chánh thọ của Bồ tát, là sự thành tựu do căn lành tích tập từ trăm nghìn kiếp.

GIẢI

✅ Đây là thần lực hiện thân mặt ngôn thuyết.

Song nói hàng đăng địa mới được gia bị, hàng tam hiền không được gia bị, vì chưa vào được tam-muội chân như vô tướng. Một phen lên Sơ địa liền được gia bị, bởi sự thành tựu của thiện căn tích chứa từ nhiều kiếp, chẳng phải riêng đặc biệt.

Cho nên chư Tổ từ trước, tuy một niệm đốn ngộ tự tâm, không phải từ người khác mà được, bởi đã nhiều kiếp tích tập thiện căn Bát-nhã, lâu dần được chư Phật hộ niệm, do bên trong công huân đã đủ, nên bên ngoài cảm sức gia trì. Há người mỏng cạn có thể được ư?

🪷

Các địa thứ lớp, tướng đối trị và bị đối trị thông suốt rốt ráo, đến Pháp vân địa, an trụ trong cung điện đại liên hoa vi diệu, ngồi tòa báu sư tử đại liên hoa, các Đại Bồ tát tương đương làm quyến thuộc vây quanh, trên thân trang sức các chuỗi anh lạc báu sáng rỡ như mặt trời, mặt trăng, vàng ròng, hoa chiêm bặc.

Các tối thắng tử từ mười phương đến, tề tựu trên tòa cung điện đại liên hoa mà xoa đảnh kia, như nghi thức quán đảnh thái tử của trời Đại Tự tại, Chuyển luân thánh vương và trời Đế Thích. Đó gọi là thần lực tay xoa đảnh Bồ tát.

GIẢI

✅ Đây là thần lực xoa đảnh gia trì.

Pháp thân lưu chuyển trong năm đường gọi là chúng sanh, do hai chướng ràng buộc nên pháp thân ẩn không hiện, thế là chỉ có sức chấp giữ mà không thể cảm được sức gia trì.

Nay hành giả nhập tam-muội Đại thừa chiếu minh, dùng sức tam-muội chóng đoạn ba chướng thô trọng, chứng chân như bình đẳng được thân pháp tánh, giao tiếp với khí phần mười phương Phật.

Nên liền cảm đến chư Phật hiện thân thuyết pháp, dùng thần lực ủng hộ. Do trong ngoài giao nhau huân tập, trừ sạch hai chướng vi tế rốt ráo không còn thừa, trong một niệm chóng chứng hai quả chuyển y.

Do pháp tánh viên minh, cùng với mười phương chư Phật đồng thể không hai cho nên cảm đến thần lực xoa đảnh ủng hộ.

🪷

Đại Huệ! Đó gọi là Đại Bồ tát được hai thứ thần lực. Nếu Đại Bồ tát trụ hai thần lực này được thấy chư Phật Như Lai, nếu không như thế ắt không thể thấy.

GIẢI

✅ Đây là kết hai thứ gia trì để nói rõ nghĩa ba thứ Phật tánh.

Phật tánh có ba: chánh duyên, duyên nhân, liễu nhân. Mỗi mỗi chúng sanh tuy đủ chánh nhân Phật tánh, nếu không gặp thiện tri thức chân chánh dùng phương tiện khéo léo để trợ phát, cũng không thể tỏ ngộ rõ ràng. Thí như vua muốn tìm tiếng đàn cầm, dù có chặt cây đàn, hay xẻ dòng nước ra mà tìm, rốt ráo không được, vì không có nhân duyên phương tiện khéo.

Hàng nhị thừa ngoại đạo kia cũng đồng có chánh nhân, chỉ vì ác kiến huân tập, vọng chấp hai thứ tự tánh cho đó là Niết-bàn, tuy muốn cầu tìm lại càng tăng thêm tà chấp, rốt cuộc không thấy rõ Phật tánh. Cho nên nói Nếu không như thế ắt không thể thấy.

Ý nói hàng ngoại đạo, Nhị thừa nếu quả của họ là chân quả, thì cảm được sức gia trì như thế. Nay quả đã không chân cho nên không thể thấy. Pháp Hoa nói: “Nếu khi được làm Phật, đầy đủ ba mươi hai tướng, chúng trời người dạ-xoa rồng thần đều cung kính, lúc ấy mới có thể gọi rằng, vĩnh viễn diệt độ không còn thừa”. Nay đã không như vậy, đủ biết chẳng phải diệt độ chân thật.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Hàng Đại Bồ tát phân biệt được tam-muội, thần túc, hành tướng các pháp, tất cả những việc như thế đều do trụ trong hai thứ thần lực của Như Lai. (Đường dịch: Hàng Đại Bồ tát, vào tam-muội hiện thần thông thuyết pháp, tất cả những việc như thế đều do hai thứ thần lực của chư Phật).

Đại Huệ! Nếu hàng Đại Bồ tát, lìa thần lực chư Phật mà có thể biện thuyết, thì tất cả phàm phu cũng có thể nói. Vì sao? Vì chẳng trụ thần lực vậy.

GIẢI

Đây nói Bồ tát thấy rõ Phật tánh, cho nên có hành động tạo tác nói nín đều trụ trong hai thứ thần lực của Phật.

Tất cả phàm phu đồng có Phật tánh mà không thể thuyết pháp, vì hằng ngày sử dụng mà không biết. Do không biết nên riêng không trụ trong thần lực, chớ không phải không gia hộ, vì Như Lai không bỏ một chúng sanh nào.

Lão Bàng nói: “Lão quê vác củi về, gái làng dệt thoăn thoắt, nhìn họ bận rộn thế, thử nói nhờ sức ai, hỏi họ họ chẳng biết, riêng lòng sanh nghi hoặc, thương cho người xưa nay, mấy ai biết ân đức”.

Vì thế nên bốn mươi hai pháp môn trong kinh Hoa Nghiêm, đều do Bồ tát nương thần lực Phật mà nói. Đến như loài dị sanh đều có thể thuyết pháp, đều được một thứ pháp môn, vì nhờ trụ trong hai thứ thần lực của Phật.

🪷

Đại Huệ! Núi đá cây cỏ và các thứ nhạc khí, thành trì cung điện, do sức oai thần Như Lai khi vào thành, đều tự nhiên phát ra âm nhạc, huống gì người có tâm.

Những người điếc, đui, câm ngọng, các khổ nhiều vô số, đều được giải thoát. Như Lai có vô lượng thần lực như thế, làm lợi lạc an ổn cho chúng sanh.

GIẢI

Đây hiển bày ngược lại, Như Lai không phải không gia bị chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không rõ tự tâm, nên không được thọ dụng chân thật của Như Lai, chẳng phải Như Lai bỏ chúng sanh, vì thế nói Có vô lượng thần lực làm lợi lạc an ổn chúng sanh.

Do đây để thấy, loài vô tình được gia bị còn phát ra âm thanh, huống chi ngoại đạo Nhị thừa hữu tình ư? Nên nói “Hàng nhứt xiển đề từ bỏ thiện căn, do thần lực Như Lai cũng có khi thiện căn phát sanh”, đây chẳng phải hoàn toàn không gia bị. Thí như ánh sáng mặt trời, đối với người mù đâu không lợi ích.

🪷

Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn, do nhân duyên gì, chư Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác khi Bồ tát trụ tam-muội chánh thọ, và khi quán đảnh cho hàng thắng tấn địa lại gia bị thần lực cho kia?

Phật bảo Đại Huệ: Vì muốn cho họ lìa ma nghiệp phiền não, và không rơi vào thiền Thanh văn, vì được Như Lai tự giác địa, và vì muốn họ tăng tấn pháp đã được.

Cho nên Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác đều dùng thần lực dựng lập các Đại Bồ tát. Nếu không dùng thần lực dựng lập cho họ, thì e rơi vào ác kiến vọng tưởng của ngoại đạo và Thanh văn, chỗ chúng ma hy vọng, không được đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì lý do đó, chư Phật Như Lai đều dùng thần lực nhiếp thọ các Đại Bồ tát.

GIẢI

Đây nương trước mà hỏi.

Ý Đại Huệ là Như Lai đã có vô lượng thần lực lợi ích an lạc chúng sanh, tại sao chỉ nói gia bị hàng Bồ tát địa thượng, mà không nói đến các chúng sanh khác?

Thế Tôn đáp: Vì hàng Bồ tát đăng địa mới vào chân kiến đạo, phần nhiều dùng hữu tướng quán, nếu không được gia trì ắt rơi vào ma nghiệp.

Kinh Hoa Nghiêm nói: Bồ tát có mười thứ ma. Quên mất tâm Bồ-đề mà tu các căn lành, đó là ma nghiệp. Vì thế nếu hàng Sơ địa không được gia bị ắt rơi vào ma nghiệp.

Hàng Bồ tát Thất địa chưa lìa tâm lượng, nếu không được gia bị ắt rơi vào đường tà ngoại đạo, hàng Bồ tát Bát địa thuần dùng vô tướng quán, đắm trước vào tam-muội, không khởi tâm độ sanh, cho nên mười phương chư Phật ba phen ủng hộ, bảy lần khuyến khích lay nhở họ ra khỏi định lặng lẽ, nói rằng: “Dậy, thiện nam tử! Đừng ưa trụ trong tam-muội, tam-muội của ông hàng Nhị thừa cũng được”.

Thế nên ở đây mà không gia bị thì rơi vào thiền của nhị thừa, không thể đến địa vị Như Lai tự giác. Hàng Thập địa trở lên, được định vững như kim cang, cũng còn hai thứ chướng rất nhỏ nhiệm, cho nên hàng thắng tấn không được gia bị thì không thể dứt liền hai chướng nhỏ nhiệm này, không thể chóng được đạo Vô thượng Bồ-đề.

Vì thế chư Phật Như Lai đều dùng thần lực nhiếp thọ các Bồ tát, còn các hàng chưa đăng địa chẳng phải chân tu, cho nên không nhiếp thọ.

Thương thay cho ngoại đạo Nhị thừa, đã không thể dùng tâm bất sanh diệt làm gốc tu nhân, lại không được mong nhờ mười phương Như Lai dùng thần lực gia trì, làm sao có thể được quả chân thường rốt ráo? Sở dĩ như vậy nên cam chịu rơi vào trầm luân, thích làm việc nhỏ mọn.

Đáng tiếc! Thế nên kinh Viên Giác thiết lập ba kỳ hạn, kinh Lăng Nghiêm dạy lập đạo tràng chẳng phải là việc vô ích.

Người tu hành cần phải biết rõ.

🪷

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ rằng:

Thần lực của Thế Tôn

Nguyện lớn thảy thanh tịnh

Tam-ma-đề xoa đảnh

Sơ địa và Thập địa

GIẢI
  • Trên đây đã chỉ bày sơ lược về tướng nhân quả tà chánh xong.

  • Sau đây:

H₃ - Giải thích rộng về tướng sai biệt của nhân quả tà chánh. Có 2

I₁ - Giải thích rộng về ba thứ thiền để hiển bày tướng nhân quả sai biệt của ba thừa. Có 2

K₁ - Nói về nhân sai biệt. Có 3

L₁ - Giải thích Ngu phu sở hành thiền. Có 2

M₁ - Ngoại đạo tà thiền. Có 2

🪷

Lúc ấy Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Phật nói duyên khởi tức là nói nhân duyên, không tự nói đạo. (Ngụy dịch: Như Thế Tôn nói mười hai nhân duyên từ nhân sanh quả, không nói sanh từ sức kiến chấp của tự tâm vọng tưởng phân biệt. Đường dịch: Phật nói duyên khởi là do tạo tác khởi, chẳng phải tự thể khởi).

Thế Tôn! Ngoại đạo cũng nói nhân duyên, nghĩa là do Thắng,

(Ngụy dịch: Trời Đại Tự tại, Đường dịch: Thắng tánh), Tự tại, Thời, Vi trần sanh, các tánh sanh như thế.

Song Thế Tôn nói nhân duyên sanh các tánh ngôn thuyết, hữu gián tất đàn, vô gián tất đàn.

GIẢI

Đây Đại Huệ nghi Phật thuyết pháp cũng giống ngoại đạo, để phát khởi ngoại đạo tà thiền trong ngu phu thiền.

✅ Đây là gạn hỏi: “Phật nói nhân duyên thì cũng giống ngoại đạo rơi vào Có”.

Do đoạn trước nói Như Lai thuyết pháp lìa Có Không, y cứ chân đế duyên khởi làm đầu mối, chẳng giống như ngoại đạo dùng Thắng tánh, Tự tại, Vô nhân, Vi trần, Thời gian… làm đầu mối.

Nên đây gạn hỏi rằng: Phật nói duyên khởi là do tác giả, chẳng phải tự thể khởi, như vậy cũng giống ngoại đạo nói y cứ vào Thắng tánh, Tự tại, Thời gian, Ngã, Vi trần sanh ra các pháp, đó là Phật rơi vào Có.

Đường dịch: “Nay đức Thế Tôn chỉ dùng tên khác để nói tác giả duyên khởi.

Song Thế Tôn nói nhân duyên sanh pháp, cùng với ngoại đạo nói Thắng tánh… là có sai khác về ý nghĩa, hay không sai khác về ý nghĩa?”

Do đây có câu hữu gián tất đàn, vô gián tất đàn. Đàn, Trung Hoa dịch là Thí, Hoa ngữ và Phạn ngữ đều gọi là Biến thí, là nói pháp thí của Phật.

Đây gạn hỏi Phật nói nhân duyên chưa lìa Có, phần sau gạn hỏi vô nhân chưa lìa Không.

🪷

Thế Tôn! Ngoại đạo cũng nói Có Không có sanh; Thế Tôn cũng nói Không có sanh, sanh rồi diệt.

GIẢI

Đây gạn hỏi Phật nói vô nhân, cũng giống như ngoại đạo rơi vào Không.

Ngoại đạo chấp Có từ nhân Có sanh, chấp Không từ nhân Không sanh, nên nói Có Không có sanh, nghĩa là hoặc Có hoặc Không cả hai đều có sanh.

Trong đây Đại Huệ chính là lấy ý vô nhân, bởi Thế Tôn cũng nói Không, có sanh, sanh rồi diệt, đây chính là giống ngoại đạo nói cái Không có sanh, là vô nhân.

Vô nhân thì giống ngoại đạo chấp vô.

🪷

Như Thế Tôn nói vô minh duyên hành, cho đến lão tử. Đó là Thế Tôn nói “vô nhân” chẳng phải nói “hữu nhân”.

Thế Tôn đưa ra câu nói này: “Cái này có nên cái kia có”, chẳng phải thứ lớp sanh. Xem ngoại đạo nói “Thắng”, chẳng giống Như Lai.

GIẢI

✅ Đây là chứng minh chỗ Phật nói vô nhân, trái lại không giống như ngoại đạo nói “Thắng”.

Nghĩa là Phật nói vô minh là nhân, sanh ra các quả như hành, thức… Đây không nói tự tâm sanh mà nói vô minh sanh, là vô nhân.

Cái này có nên cái kia có, nghĩa là vô minh này một phen có, thì hành kia… cho đến lão tử cũng có một lúc, nên nói chẳng lập thứ lớp sanh. Ngoại đạo nói từ thần ngã chủ tể làm minh sơ, từ minh sơ sanh giác, từ giác sanh ngã tâm, từ ngã tâm sanh ngũ trần, từ ngũ trần sanh ngũ đại, từ ngũ đại sanh 11 căn, cộng cả thảy 25 pháp mà dùng thần ngã làm thắng tánh, nên lấy thắng tánh làm “sanh nhân”. Như thế họ kiến lập thứ lớp sanh.

Đây thì Như Lai nói: “Cái này có nên cái kia có”, đồng thời sanh, không có thứ lớp. Thế ấy là quả sanh nhân diệt, trái lại không bằng ngoại đạo nói “Thắng tánh”.

🪷

Vì sao? Thế Tôn! Ngoại đạo nói nhân chẳng từ duyên sanh, mà có sở sanh. Thế Tôn nói xem nhân có sự, xem sự có nhân. (Đường dịch: Thế Tôn nói quả đợi nhân, nhân đợi quả). Như thế nhân duyên tạp loạn, như thế lần lượt không cùng.

GIẢI

✅ Đây giải thích lý do Như Lai nói pháp không bằng ngoại đạo.

Nghĩa là ngoại đạo nói “Thắng tánh…” làm nhân, không từ nơi duyên khác sanh mà hay sanh vật khác.

Đó là dùng “Thường” làm nhân, “Thường” không làm quả, như thế nhân quả phân minh. Còn Thế Tôn nói mười hai nhân duyên, dùng vô minh làm nhân, sanh hành là quả, lại dùng hành làm nhân, sanh thức là quả, cho đến lão tử là nhân, lại sanh vô minh là quả.

Một pháp như vậy vừa là nhân vừa là quả. Cho nên nói Xem sự có nhân, xem nhân có sự là nhân quả rối loạn xoay chuyển trong ba đời không nhất định, nên không bằng ngoại đạo nói “Thắng tánh”. Vậy thì Như Lai nói pháp chưa thể không giống ngoại đạo.

Đây Đại Huệ dùng nhân duyên để nạn vấn, muốn biện cho rành về duyên khởi vô tánh, hiển bày chân như lìa tướng ngôn thuyết, để phá ngoại đạo chấp trước tướng tự tánh ngôn thuyết.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Ta chẳng nói “vô nhân” và nói nhân duyên rối loạn. Câu “Vì cái này có nên cái kia có” ấy là nhiếp và sở nhiếp không tánh 1, giác tự tâm hiện lượng. (Đường dịch: Đại Huệ! Ta biết rõ các pháp chỉ duy tâm hiện, nên nói “Cái này có nên cái kia có”, chẳng phải có lỗi về vô nhân và nhân duyên).

Đại Huệ! Nếu chấp trước nhiếp sở nhiếp, không biết tự tâm hiện lượng cảnh giới bên ngoài tánh phi tánh, kia có lỗi như vậy, chẳng phải như ta nói duyên khởi. (Đường dịch: Nếu chẳng rõ các pháp chỉ duy tâm hiện, chấp có năng thủ và sở thủ, chấp trước ngoại cảnh hoặc có hoặc không, kia có lỗi như thế, chẳng phải chỗ ta nói). Ta thường nói nhân duyên hòa hợp sanh các pháp, chẳng phải vô nhân sanh.

GIẢI

✅ Đây là Thế Tôn giải thích lý do không đồng với luận thuyết ngoại đạo, để rõ duyên khởi vô tánh.

Ý nói rằng ta biết rõ các pháp duy tâm hiện, vốn không có pháp thật, vì vô minh không biết tự tâm hiện lượng, vọng thấy cảnh giới cho là có thật, nên ta nói Cái này có nên cái kia có, chẳng phải ta có lỗi vô nhân và nhân duyên.

Vì sao? Vì ngoại đạo kia không rõ các pháp duy tâm hiện, chấp có năng thủ sở thủ, chấp trước ngoại cảnh nên vọng chấp về có không, đoạn thường, một khác…

Họ có những lỗi như thế, chẳng phải như ta nói pháp duyên khởi, nên ta nói nhân duyên để phá vọng kiến của họ, chẳng phải ta rơi vào “Có”.

Vả lại ta đã nói nhân duyên hòa hợp sanh các pháp, sao lại vô nhân được? Vì không giống như ngoại đạo nói, cho nên chẳng phải vô nhân sanh.

  • Trên biện luận về duyên khởi vô tánh đã xong.

  • Kế đây hiển bày chân như lìa tướng ngôn thuyết.

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn, chẳng phải ngôn thuyết có tánh có tất cả tánh ư? Thế Tôn! Nếu vô tánh thì ngôn thuyết chẳng sanh, cho nên ngôn thuyết có tánh có tất cả tánh.

GIẢI

Đây chấp các pháp thật có tự tánh mà nói về ngôn thuyết, là sắp hiển bày chân như lìa ngôn thuyết để phá chấp trước về tướng tự tánh của ngôn thuyết.

Do ở trên Phật nói các pháp không tánh nên nói duyên sanh, vì thế đây gạn hỏi rằng: Há chẳng phải ngôn thuyết có tánh mà các pháp cũng thật có tánh ư?

Ý nói rằng: Đã có ngôn thuyết ắt có các pháp, nếu không các pháp ngôn thuyết khởi làm gì.

✅ Đây là chấp các pháp và ngôn thuyết đều có thật thể, cho nên đoạn sau Phật dùng hai nghĩa để phá. Một là các pháp tuy không, chẳng ngăn có ngôn thuyết như lông rùa sừng thỏ… Hai là tuy không ngôn thuyết mà cũng có thể trình bày rõ như nhìn ngắm…

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Vô tánh mà có ngôn thuyết như lông rùa sừng thỏ… điều này thế gian hiện có nói.

Đại Huệ! Chẳng tánh chẳng không tánh, chỉ có ngôn thuyết. Như ông nói ngôn thuyết có tánh có tất cả tánh, lý luận của ông ắt hoại.

GIẢI

Đây nói các pháp tuy không, mà chẳng ngăn ngôn thuyết.

Đường dịch: Các pháp tuy không có mà cũng có ngôn thuyết, há chẳng thấy người đời vẫn nói lông rùa, sừng thỏ, con của gái đá…

Chúng chẳng có chẳng không, chỉ có ngôn thuyết thôi.

Đại Huệ! Như ông nói, có ngôn thuyết mới có các pháp, nếu các pháp không, thì không có ngôn thuyết, nay lông rùa… tuy không có, mà chẳng ngại có lời nói. Lấy đây mà xét thì nghĩa của ông không thành, nên nói Lý luận của ông ắt hoại.

🪷

Đại Huệ! Không phải tất cả các cõi nước đều có ngôn thuyết. Ngôn thuyết là tạo tác. (Đường dịch: Ngôn thuyết là giả an lập).

Hoặc có cõi Phật chỉ nhìn ngó mà hiển bày pháp, hoặc hiển thị hình tướng, hoặc nhướng mày, hoặc có cõi chớp mắt, hoặc cười hoặc ngáp, hoặc khảy móng tay, hoặc suy niệm, hoặc lay động. (Đường dịch: Hoặc có cõi Phật nhìn ngó để thuyết pháp, hoặc có cõi hiện tướng lạ, hoặc có cõi nhướng mày, hoặc liếc nhìn, hoặc biểu lộ bằng nụ cười, hoặc ngáp, hoặc khảy móng tay, nhớ nghĩ, lay động… dùng những việc đó để hiển bày pháp).

Đại Huệ! Như cõi nước Chiêm Thị và cõi nước Hương Tích. (Đường dịch: Như thế giới Bất Thuấn, thế giới Diệu Hương).

Cõi nước của Phật Phổ Hiền chỉ dùng ngó nhìn mà khiến các Bồ tát được vô sanh pháp nhẫn và các tam-muội thù thắng. Thế nên chẳng phải ngôn thuyết có tánh có tất cả tánh. (Đường dịch: Chẳng phải do ngôn thuyết mà có các pháp).

Đại Huệ! Thấy ở thế giới này các loài ruồi lằn, trùng, kiến… không có ngôn thuyết mà mỗi loài đều làm xong việc.

GIẢI

Đây nói về tuy không có ngôn thuyết cũng có thể hiển bày pháp.

Bởi ngôn thuyết chỉ có ở cõi Ta-bà chúng ta, thế nên nói “Giáo thể chân thật của cõi này, thanh tịnh tại âm thanh”.

Còn ở những cõi khác thì không cùng tận, nên nói Chẳng phải tất cả cõi nước đều có ngôn thuyết. Đến như các cõi Phật khác không dùng ngôn thuyết, hoặc chỉ dùng cách nhìn ngó để giảng pháp, hoặc nhướng mày chớp mắt, khảy móng tay, ho hen, nhớ nghĩ, lay động… đều là Phật sự.

Lại như cõi nước Hương Tích dùng mùi hương làm Phật sự. Vả lại như cõi này các loài ruồi lằn, trùng, kiến đều không nói mà mỗi loài đều làm xong việc, như vậy đâu phải đợi ngôn thuyết mới hiển bày pháp? Thế là không những các pháp vô tánh, mà ngôn ngữ cũng không tánh. Đó là “Tướng tịch diệt của các pháp, không thể dùng lời phô bày”.

Từ trước Phật tổ truyền trao đạo vô ngôn, nghĩa ấy thấy được tại đây. Cho nên Lâm Tế, Đức Sơn gậy hét xen nhau, Ngưỡng Sơn vẽ vòng tròn, Thạch Củng giương cung, Đạo Ngô múa hốt, đều là thâm chứng tam-muội ly ngôn này.

Đó là: Núi sông đất liền cùng chuyển bánh xe pháp căn bản, loài lông cánh, mai vẩy đều khắp hiện sắc thân tam-muội. Cho nên nơi cửa sáu căn sử dụng thường ngày của chúng sanh đều là chỗ nhập lý, há lại đợi ngôn thuyết ư!

🪷

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này bèn nói kệ:

Như hư không, sừng thỏ

Cùng với Bàn đại tử.

(Hai bản dịch đều là gái đá)

Không mà có ngôn thuyết

Tánh vọng tưởng như thế.

Pháp nhân duyên hòa hợp

Phàm ngu khởi vọng tưởng.

(Đường dịch:

Trong nhân duyên hòa hợp

Người ngu sanh vọng tưởng)

Không thể biết như thật

Luân hồi trong tam hữu.

GIẢI

Các pháp vốn không, do duyên hội mà sanh, đã do duyên hội mà sanh thì sanh vốn vô sanh. Tức là duyên sanh ấy cũng giả danh.

Thế là pháp tánh vô sanh tướng ngôn ngữ vắng lặng, năng sở đều quên, trạm nhiên thường trụ, há có thể vọng chấp ngôn thuyết có tánh, có tất cả tánh ư? Vì vậy nói Tánh vọng tưởng như thế. Phàm có phân biệt đều là vọng tưởng, nên nói Pháp nhân duyên hòa hợp, phàm ngu khởi vọng tưởng.

Do không thể biết pháp tánh vô sanh một cách như thật, nên vọng thấy lưu chuyển luân hồi trong ba cõi.

  • Chương trên nói về chân như lìa tướng ngôn thuyết để phá chấp trước về tướng tự tánh ngôn thuyết đã xong.

  • Chương sau nói về lìa tướng tâm duyên để phá chấp trước về tướng tự tánh sự.

QUYỂN THỨ IV

CHƯƠNG HAI - PHẦN CUỐI

Dưới đây biện biệt vọng tưởng vô tánh để nói về chân như lìa tướng tâm duyên, để phá ngoại đạo chấp trước về tướng tự tánh sự. Có 7 phần. Phần đầu phá đoạn kiến.

N₂ - Biện vọng tưởng vô tánh để phá tự tánh tướng. Có 7:

O₁ - Nói rõ vọng cảnh chân thường để phá đoạn kiến

O₂ - Nói rõ pháp vốn là một, do căn cơ thấy mỗi mỗi khác nhau để phá thường kiến

O₃ - Nói rõ tâm cảnh như như để phá kiến chấp một khác

O₄ - Nói duyên sanh như huyễn để phá kiến chấp có không

O₅ - Nói rõ sanh vốn tự vô sanh để phá kiến chấp sanh nhân

O₆ - Nói rõ ngôn thuyết vô tánh để phá tập khí danh ngôn

O₇ - Nói rõ danh ngôn cùng dứt để vọng ngôn mặc chứng

🌳🌲🌵

O₁ - Nói rõ vọng cảnh chân thường để phá đoạn kiến

🪷

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Tiếng “Thường” đó là nói về việc gì?

GIẢI

Đây cũng là theo dấu khởi nghi, sắp nói về vọng cảnh chân thường để phá đoạn kiến.

Do đoạn trước nói rằng pháp lìa có không, đoạn thường… lại nói rằng Niết-bàn chẳng phải đoạn chẳng phải thường, nên trước là nghi về có không, đây nghi về thường vô thường.

Ý rằng Thế Tôn thuyết pháp đã lìa đoạn thường, lại nói Niết-bàn chẳng phải thường, là vô thường. Hơn nữa sừng thỏ tuy không có, nhưng đã căn cứ vào thỏ mà nói, thì Phật nói chân thường là căn cứ vào chỗ nào mà nói? Bởi cốt yếu chỗ y cứ lập thuyết, chính là chấp trước về tướng tự tánh sự.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Là hoặc loạn. (Đường dịch: Y cứ vào vọng pháp mà nói). Hoặc loạn kia, chư thánh cũng thấy nhưng chẳng điên đảo.

Đại Huệ! Như nắng mùa xuân, vòng lửa, tóc rủ, thành Càn-thát-bà, huyễn mộng, bóng trong gương, thế gian điên đảo chẳng phải trí sáng, song không phải không hiện bày.

GIẢI

✅ Đây là ngay pháp vọng để chỉ chân thường, để phá chấp trước về tướng tự tánh sự.

Đại Huệ nghi rằng sanh diệt vô thường là căn cứ vào vọng pháp mà nói, không biết chân thường căn cứ vào đâu mà nói?

Thế Tôn đáp: Nói là chân thường, tức cũng y nơi vọng pháp mà nói. Hoặc loạn là vọng pháp. Sợ đối chấp rằng: Thánh nhân không thấy vọng pháp, tại sao căn cứ vào đó mà nói chân thường? Nên dự phòng mà nói rằng: Vì hoặc loạn kia, các bậc thánh cũng thấy, nhưng chẳng hề điên đảo. Ý rằng: Các vọng pháp kia vốn tự vô sanh, người phàm ngu không hiểu thấu, cho nên sanh kiến chấp điên đảo, vọng sanh chấp trước. Thánh nhân cũng thấy, chỉ là không khởi tưởng điên đảo thôi.

Nên chánh văn nói: Như sóng nắng, vòng lửa, huyễn mộng, bóng trong gương. Người vô trí vọng cho là thật, người trí thì không thế, song không phải không thấy. Ôi! Cảnh huyễn hóa không khác mà thánh và phàm thấy khác, đó là “Chẳng như ba cõi mà thấy ba cõi”. Thế nên không đối các pháp khởi kiến chấp một khác, gọi là chánh kiến.

🪷

Đại Huệ! Hoặc loạn kia hiện ra các thứ, chẳng phải hoặc loạn làm nên vô thường. Vì sao? Vì lìa tánh phi tánh.

Đại Huệ! Thế nào là hoặc loạn lìa tánh phi tánh. Nghĩa là vì các thứ cảnh giới của ngu phu. (Đường dịch: Khi vọng pháp hiện có vô lượng sai biệt, nhưng chẳng phải vô thường.

Vì sao? Vì lìa có không. Vì sao lìa có không? Vì các hiểu biết của ngu phu).

Như sông Hằng kia, loài ngạ quỷ thấy và chẳng thấy, không có tánh hoặc loạn, vì ở chỗ khác không hiện, chẳng phải vô tánh. Hoặc loạn như thế, chư thánh lìa điên đảo và chẳng điên đảo. Thế nên hoặc loạn thường, nghĩa là vì tướng tướng chẳng hoại.

Đại Huệ! Chẳng phải hoặc loạn tạo các thứ tướng, tướng vọng tưởng hoại. Thế nên hoặc loạn thường.

GIẢI

✅ Đây giải thích nghĩa các pháp rốt ráo chân thường.

Đại Huệ nghe nói tức hoặc loạn kia ngay đó là chân thường.

Nhân đó mới nghi: Hiện thấy các pháp sai biệt nhiều loại đều là vô thường, vì sao tức là chân thường?

✅ Đây giải thích rằng: Vọng pháp hiện thời tuy có các thứ sai biệt, song chẳng vô thường.

Vì sao? Vì lìa có không. Vì sao lìa có không? Vì pháp chẳng phải có không, chỉ vì người ngu vọng khởi thấy có không.

Như nước sông Hằng, vốn chẳng phải lửa, mà loài ngạ quỷ thấy là lửa, những người khác không thấy.

Để thí dụ các pháp vốn tự vô sanh, mà người ngu vọng thấy sanh diệt, thánh nhân không thấy như vậy, nên nói Vì thấy và chẳng thấy.

Do thánh nhân không thấy các pháp, là câu “Không thấy một pháp tức Như Lai”, nên nói Không có tính hoặc loạn. Còn các chúng sanh khác vọng thấy là có (hoặc loạn) nên nói Chẳng phải vô tánh.

Thế thì chư Phật thánh nhân không khác chúng sanh, chỉ đối với các pháp không khởi kiến chấp điên đảo, nên nói Chư thánh lìa điên đảo và chẳng điên đảo. Thế nên ta nói hoặc loạn chân thường, nghĩa là vì tướng tướng chẳng hoại.

Đó chính là “pháp ấy trụ vị trí ấy, tướng thế gian thường trụ”. Các pháp tịch diệt, đương thể như như, nên nói Tướng tướng chẳng hoại. Song chẳng phải các pháp có các tướng sai biệt, chỉ do ngu phu vọng tưởng phân biệt có sai khác.

Nên nói Chẳng phải hoặc loạn tạo các thứ tướng, tướng vọng tưởng hoại là ý ta nói hoặc loạn chân thường.

🪷

Đại Huệ! Vì sao hoặc loạn là chân thật? Nếu có nhân duyên, các thánh đối với hoặc loạn này không khởi biết là điên đảo hay không là điên đảo. (Đường dịch: Thế nào mà được vọng pháp chân thường? Nghĩa là các bậc thánh đối với vọng pháp không khởi biết là điên đảo hay không điên đảo).

Đại Huệ! Trừ các bậc thánh, đối với hoặc loạn này có chút ít tưởng, chẳng phải là sự tướng của thánh trí.

Đại Huệ! Nếu có đó, là ngu phu vọng nói, chẳng phải ngôn thuyết của thánh.

GIẢI

Đây dạy quán như thật. Tất cả các pháp vốn tự như như, chỉ đối với chúng không khởi cái thấy điên đảo chẳng điên đảo.

Do một niệm chẳng sanh tức gọi là thánh. Nếu đối với các pháp có chút ít vọng tưởng, khởi tâm động niệm liền trái pháp thể, liền chẳng phải cảnh giới thánh trí. Bản Đường dịch: Có chút ít tưởng, nên biết tức là ngu phu hí luận, chẳng phải thánh ngôn vậy.

  • Sau đây phá thường kiến.

O₂ - Nói rõ pháp vốn là một, do căn cơ thấy mỗi mỗi khác nhau để phá thường kiến

Hoặc loạn kia, từ vọng tưởng điên đảo chẳng điên đảo khởi lên hai chủng tánh, là chủng tánh thánh và chủng tánh ngu phu.

Đây nói pháp vốn là một, do căn cơ thấy mỗi pháp mỗi pháp khác nhau, để phá thường kiến.

Cái thấy điên đảo là phàm tình, cái thấy không điên đảo là thánh giải. Do phàm tình nên khởi lên chủng tánh ngoại đạo.

Do thánh giải nên khởi lên chủng tánh tam thừa. Đường dịch: “Nếu phân biệt vọng pháp là điên đảo chẳng điên đảo, những người ấy thành tựu hai chủng tánh”.

Đây chính là “pháp vốn không khác, khác tự căn cơ vậy”. Ở trước nói năm tánh, là nói thừa có khác mà tánh chỉ một, nên nói là vô gián.

Nay nói hai thứ chủng tánh, là nói pháp vốn một mà kiến chấp khác, nên nói Khởi.

Song đều căn cứ vào hoặc loạn vọng tưởng mà khởi, vì tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt.

🪷

Chủng tánh thánh, phân biệt có 3: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Phật thừa. Thế nào là ngu phu vọng tưởng khởi lên chủng tánh Thanh văn thừa?

Nghĩa là tự vọng tưởng chấp trước khởi lên chủng tánh Thanh văn thừa, gọi là vọng tưởng khởi chủng tánh Thanh văn thừa.

Đại Huệ! Tức hoặc loạn kia vọng tưởng khởi chủng tánh Duyên giác thừa, nghĩa là tức ngay nơi hoặc loạn tự tướng cộng tướng, không gần gũi chấp trước, khởi lên chủng tánh Duyên giác thừa.

GIẢI

✅ Đây là ngu phu y nơi vọng pháp kia khởi lên chủng tánh thánh nhị thừa.

Nghĩa là vọng thấy năm uẩn, các pháp trong tam giới thật có tự tướng cộng tướng, bèn sanh chấp trước khởi tướng chán lìa, tức gọi chúng tánh Thanh văn.

Ngay nơi năm uẩn kia hiểu thấu duyên sanh, không tham đắm chấp trước, lìa chỗ ồn náo, tức gọi chủng tánh Duyên giác.

🪷

Thế nào là bậc trí ngay hoặc loạn kia khởi chủng tánh Phật thừa?

Nghĩa là biết tự tâm hiện lượng ngoại tánh phi tánh, không có tướng vọng tưởng, khởi lên chủng tánh Phật thừa.

GIẢI

Đó gọi là ngay hoặc loạn ấy khởi chủng tánh Phật thừa.

✅ Đây là người trí ngay vọng pháp ấy khởi chủng tánh Phật thừa.

Đường dịch: “Thế nào gọi là người trí phân biệt vọng pháp mà được thành tựu chủng tánh Phật thừa?

Nghĩa là thấu rõ tất cả các pháp chỉ là chỗ thấy biết của tự tâm phân biệt, không có pháp ngoài tâm. Nghĩa là chỉ cần quán sát ngoài tâm không có pháp, đó là người trí, tức là chủng tánh Phật thừa. Đường dịch: “Quán hoặc loạn ấy không khởi phân biệt tức thành tựu chủng tánh Phật thừa”.

Kinh này bảo ngay trên các pháp không khởi phân biệt, liền thành nghĩa chủng tánh Phật. Thỉnh bậc trí xét kỹ lời này.”

🪷

Lại trên tánh các sự vật mà người ngu vọng tưởng mê hoặc, khởi thành chủng tánh ngu phu.

GIẢI

✅ Đây là giải thích về chủng tánh ngu phu thứ hai.

Đường dịch: “Có các người ngu phân biệt vọng pháp các thứ sự vật, cho là quyết định như thế, quyết định không khác, đây tức là thành tựu chủng tánh sanh tử”.

Pháp Hoa nói: “Các pháp thường vô tánh, Phật chủng theo duyên sanh”. Bởi Phật chủng còn tùy duyên sanh khởi, huống gì chủng tánh Nhị thừa ngoại đạo, sanh tử ư?

Thế nên vọng cảnh vốn chân mà tùy theo chỗ thấy phân biệt. Do vọng thấy các pháp thật có tự tướng cộng tướng, không rõ duyên sanh vọng sanh chán lìa, tức gọi là Thanh văn.

Tuy rõ duyên sanh mà không đạt vô tánh, tức gọi là Duyên giác. Nếu rõ các pháp vô tánh duyên sanh, duyên sanh vô tánh, tức gọi là Phật. Đó là “Một pháp vốn không khác, ba người bèn thấy khác”.

Ngài Vĩnh Gia nói về năm uẩn trong một niệm, cần phải đối chiếu với đoạn này để quán sát. Người tu rõ được ý chỉ này, tự nhiên tình phàm thánh dứt, được vào vô sanh.

🪷

Kia chẳng có sự chẳng không sự, gọi là nghĩa chủng tánh.

GIẢI

✅ Đây là giải thích nghĩa chủng tánh.

Chủng nghĩa là nhân, do các pháp chẳng phải có, nên từ nhân đó mà khởi lên chủng tánh thánh ba thừa; do chẳng phải không nên từ nhân đó mà khởi phàm tình sanh tử.

Luận nói: “Nên biết chân như chẳng có tướng, chẳng không tướng, chẳng phải chẳng có tướng, chẳng phải chẳng không tướng. Nếu lìa tứ cú, dẹp bách phi, thì tình thánh phàm hết, ngay đó như như, không cho nghĩ nghị”.

  • Phần sau kết luận nêu chân như lìa tướng, để phá kiến chấp một khác.

O₃ - Nói rõ tâm cảnh như như để phá kiến chấp một khác

🪷

Đại Huệ! Ngay hoặc loạn kia không vọng tưởng, các bậc thánh chuyển biến lỗi tập khí của tâm, ý, ý thức; ba tự tánh, năm pháp, đó gọi là Như. Cho nên nói Như lìa tâm. Ta nói câu này hiển thị lìa tướng, tức là nói lìa tất cả tưởng.

GIẢI

Đây kết luận chỉ các pháp vốn Như, lìa tướng tâm duyên để phá kiến chấp một khác.

Luận nói: “Tất cả các pháp, chỉ y nơi vọng niệm mà có sai biệt, nếu lìa tâm niệm thì không có tướng tất cả cảnh giới, cho nên tất cả pháp từ xưa đến nay, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, không có biến đổi, không thể phá hoại, chỉ là nhất tâm, cho nên gọi là chân như”.

Chỉ vì chúng sanh vọng tưởng phân biệt tùy theo tập khí chuyển biến của tâm, ý, ý thức, nên biến chân như thành danh tướng.

Nay chỉ cần một niệm chẳng sanh, tình quên chấp mất, tức ngay tâm thức ấy chuyển làm chánh trí, chiếu soi các pháp đương thể như như. Đường dịch: “Ngay vọng pháp kia mà các bậc thánh chuyển tập khí ác của tâm, ý, ý thức, ba tánh, năm pháp liền nói tức vọng ấy là chân như, chẳng phải ngoài pháp ấy riêng có chân như”.

Vì thế Luận nói: “Nói chân như ấy, cũng không có tướng, vì tất cả các pháp đều đồng là Như. Nên biết tất cả các pháp không thể nói, không thể nhớ nghĩ, nên gọi là chân như”.

Đoạn kinh đây nói: Nên nói Như lìa tâm thức. Sở dĩ ta nói câu này, vì hiển thị pháp lìa phân biệt, vì muốn khiến người tu hành lìa tất cả phân biệt. Luận nói: “Nếu lìa niệm, gọi là đắc nhập”, lại nói “Cảnh giới lìa niệm, chỉ chứng mới tương ưng”, ở đây nói Lìa tất cả tưởng.

  • Sau đây phá kiến chấp có không.

O₄ - Nói duyên sanh như huyễn để phá kiến chấp có không

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Hoặc loạn là có là không?

Phật bảo Đại Huệ: Như huyễn, không có tướng chấp trước, nếu hoặc loạn có tướng chấp trước, tánh chấp trước không thể diệt, thì lý duyên khởi của ta sẽ như ngoại đạo nói nhân duyên sanh pháp.

GIẢI

Đây dạy rõ các pháp duyên sanh như huyễn để phá kiến chấp có không.

Do đoạn trên Phật nói vọng pháp tức chân, ý Đại Huệ rằng các pháp đã tức chân, thì chân như lìa tướng không thể cho là có, nhưng hiện thấy có các pháp không thể cho là không.

Nên đây nghi hỏi là có là không? Thế Tôn đáp Như huyễn, không có tướng chấp trước. Nghĩa là các pháp duyên sanh như huyễn chẳng thật, không thể chấp trước là tướng có không.

Nếu chấp trước các pháp là có là không, thì có không là nhất định không thể biến đổi.

Như thế, Phật nói duyên khởi cũng giống như ngoại đạo nói nhân duyên sanh pháp, từ tác giả sanh.

Ý khiển trách Đại Huệ không nên khởi kiến chấp có không.

🪷

Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Nếu hoặc loạn như huyễn, thì lẽ ra nó phải làm nhân cho các hoặc khác?

Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải huyễn hoặc làm nhân, vì chẳng gây lỗi.

Đại Huệ! Huyễn không gây lỗi vì không có vọng tưởng.

Đại Huệ! Huyễn ấy từ minh xứ khác sanh, chẳng phải từ chỗ tập khí lỗi vọng tưởng sanh, thế nên không lỗi.

Đại Huệ! ✅ Đây là tâm ngu phu mê hoặc chấp trước chẳng phải thánh hiền.

GIẢI

Trước nói lìa vọng tưởng là tâm chẳng gá cảnh, đây nói huyễn chẳng tạo lỗi, để rõ cảnh chẳng lôi tâm.

Đại Huệ nghe nói các pháp duyên sanh như huyễn, bèn nghi rằng, nếu hoặc loạn như huyễn, thì huyễn ấy lẽ ra lại làm nhân cho các hoặc khác.

Ý rằng: Trước do không biết các pháp như huyễn, vọng chấp là thật, nên y cứ vào đó khởi hoặc tạo nghiệp. Thế là vọng pháp làm nhân cho hoặc. Nay tuy biết cảnh như huyễn, nhưng huyễn cảnh vẫn còn, há chẳng làm nhân cho các hoặc khác hay sao? Ý muốn dứt tuyệt cảnh mới không còn sanh tâm.

Thế Tôn đáp rằng: Đã là huyễn sự, đâu có thể làm nhân cho các hoặc khác. Vì sao? Vì người huyễn không thể gây lỗi. Sở dĩ không gây lỗi vì người huyễn vô tình thức, nên nói không có vọng tưởng.

Sở dĩ người huyễn hóa không có tình thức vì nương vào sức chú thuật khéo mà sanh, không phải từ tham ái, căn, chủng tử tập khí mà sanh. Ở đời há có người thấy pho tượng mà sanh tình ái ư? Cho nên huyễn chẳng gây lỗi.

Kinh nói: “Như nhà huyễn thuật khéo, huyễn tạo các nam nữ, tuy thấy căn cứ động, nhưng chỉ do máy móc, ngừng máy liền đứng yên, các huyễn thành vô tánh”.

Vì vậy, người trí quán sát thân tâm năm uẩn của mình và người cũng như thế. Nếu không quán như vậy, đối với huyễn sự phân biệt tốt xấu, khởi tâm động niệm sanh chấp trước, là phàm phu ngu si, chẳng phải thánh hiền. Lão Bàng nói: “Chỉ cần vô tâm với vạn vật, nào ngại vạn vật thường quấy rối, trâu sắt không sợ sư tử rống, dường như người gỗ xem chim vẽ. Chim vẽ gặp người cũng chẳng sợ, người gỗ bản chất tự vô tình, tâm cảnh như như chỉ thế đó, lo gì đạo Bồ-đề không thành”.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Thánh chẳng thấy hoặc loạn

Khoảng giữa cũng không thật

Khoảng giữa nếu chân thật

Hoặc loạn tức chân thật.

Xa lìa tất cả hoặc

Nếu có tướng sanh ấy

Đó cũng là hoặc loạn

Chẳng sạch như mắt nhặm

GIẢI

✅ Đây là tụng có không, cả hai đều lìa.

Thánh chẳng thấy hoặc loạn vì khoảng giữa không chân thật. Kinh nói: “Cũng như trong bó lau, có không cả hai đều chẳng phải”.

Nếu khoảng giữa hoặc loạn thật có, thì mỗi pháp nhất định phải có tự tánh, nhất định không thể biến đổi. Cho nên nói Hoặc loạn tức chân thật. Chẳng những vọng pháp chẳng phải chân, ngay khi xả lìa vọng hoặc mà vọng thấy có tánh chân thật, tức chân thật đó cũng là hoặc loạn.

Vì sao? Vì sanh tử Niết-bàn đều là tướng hoa đốm điên đảo nhọc nhằn, cho nên Chẳng sạch như mắt nhặm.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Chẳng phải huyễn thì không có cái gì tương tự (để so sánh) để thấy tất cả pháp như huyễn.

GIẢI

✅ Đây là Thế Tôn chỉ ra sức tri kiến chân thật, để kết thành nghĩa trên.

Bởi do Như Lai thấy rõ tướng của ba cõi không lầm lẫn, quán tất cả pháp duyên sanh chẳng thật, trừ “huyễn” ra không thể lấy gì để thí dụ, cho nên đặc biệt dạy rằng: Chẳng phải huyễn thì không có cái gì tương tự.

🪷

Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Vì chấp trước các thứ tướng huyễn hóa mà nói tất cả pháp như huyễn hay là vì tướng chấp trước khác? (Đường dịch: Vì y cứ vào sự chấp trước các thứ tướng huyễn hóa mà nói tất cả pháp cũng như huyễn ư? Hay vì khác đi, y cứ vào sự chấp trước tướng điên đảo ư?).

Nếu chấp trước các thứ tướng huyễn hóa mà nói tất cả tánh như huyễn, thì thưa Thế Tôn, cũng có tánh chẳng phải như huyễn. Vì sao? Nghĩa là sắc và các thứ tướng chẳng phải nhân. Thế Tôn! Không nhân nơi sắc, các thứ tướng hiện như huyễn.

Thế Tôn! Thế nên không chấp trước các thứ huyễn tướng, tánh tương tự nó cũng giống như huyễn.

GIẢI

✅ Đây là gạn hỏi để cho rõ nghĩa như huyễn.

Đại Huệ nghe nói tất cả pháp như huyễn, bèn khởi nghi hỏi: Nói như huyễn ấy, là y cứ vào chỗ chấp trước huyễn tướng nhiều thứ không đồng mà nói tất cả pháp như huyễn ư?

Hay là không y cứ tướng huyễn, chỉ y cứ vào tâm điên đảo chấp trước mà nói như huyễn, nên nói là tướng chấp trước khác? Ý rằng nếu y cứ vào tâm chấp trước điên đảo mà nói như huyễn thì được, còn nếu nói chấp trước các thứ tướng huyễn hóa mà nói tất cả như huyễn thì không được.

Vì sao? Vì các pháp cũng có cái không như huyễn. Bởi huyễn sự vô cớ mà khởi, là vô nhân, mà hiện thấy các thứ sắc pháp chẳng phải là vô nhân, nếu nói nó như huyễn, ắt là nó vô nhân.

Cho nên nói Các thứ sắc tướng chẳng phải nhân. Nếu đều vô nhân mà khiến thấy các thứ sắc tướng hiển hiện như huyễn thì đồng với ngoại đạo vô nhân sanh.

Đường dịch: Thế Tôn! Thế nên không thể nói rằng y cứ vào sự chấp trước các thứ huyễn tướng mà nói tất cả pháp cũng như huyễn.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải chấp trước các thứ huyễn tướng mà cho tất cả pháp tương tự như huyễn.

Đại Huệ! Mà vì tất cả pháp chẳng thật chóng diệt như điện, đó là như huyễn. (Đường dịch: Không thể y cứ vào sự chấp trước các thứ huyễn tướng mà nói tất cả pháp như huyễn. Vì tất cả các pháp chẳng thật, chóng diệt mau như điện chớp, nên nói như huyễn).

Đại Huệ! Thí như điện chớp, hiện trong chớp mắt, hiện rồi liền tắt, chẳng phải ngu phu hiện. (Ngụy dịch: Vừa thấy liền mất, phàm phu không thể thấy. Đường dịch: Phàm phu ở thế gian thảy đều hiện thấy).

Tất cả tánh như thế, tự vọng tưởng quán sát tự cộng tướng, vô tánh chẳng hiện, chấp trước sắc tướng.

GIẢI

Đây chỉ sanh tức vô sanh nên như huyễn.

Phật dạy: Ta nói tất cả pháp như huyễn chẳng phải là y cứ vào sự chấp trước các thứ đa dạng của huyễn tướng mà nói tất cả pháp như huyễn.

Bởi nói các pháp chóng khởi chóng diệt, không thật như điện chớp, cho nên nói như huyễn. Cũng như sấm chớp vừa xẹt liền tắt, chính ngay lúc vừa hiện cũng chính là diệt, chẳng phải sau khi diệt mới nói diệt.

Nếu biết sấm chớp vừa xẹt lên liền tắt, ắt biết các pháp sanh vốn vô sanh, nên đoạn sau kệ nói:

Vừa sanh liền có diệt.

Không vì người ngu nói”

Chỗ này chẳng phải phàm phu biết được, vì thế nói Chẳng phải ngu phu hiện.

Vậy nên nói tất cả pháp vốn tự chẳng sanh, chỉ y cứ vào tự tâm phàm phu phân biệt, thấy có tự tướng cộng tướng, cũng như điện chớp xẹt đó tắt đó, chẳng thật có. Chúng sanh chẳng thấu hiểu các pháp vốn không, mà vọng đối với các thứ sắc tướng chấp cho là thật, nên nói vô tánh chẳng hiện, chấp trước sắc tướng.

Ta nói các pháp như huyễn để chỉ ra ý nghĩa sanh vốn vô sanh, chẳng phải y cứ vào sự chấp trước huyễn tướng các pháp nói như huyễn.

🪷

Bấy giờ, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên mà nói kệ:

Không huyễn chẳng thể dụ

Nói pháp tánh như huyễn

Chẳng thật mau như điện

Cho nên nói như huyễn

GIẢI

✅ Đây tụng thành nghĩa huyễn.

Nói huyễn đó, vì chẳng thật nên như huyễn, vì chóng diệt như điện nên như huyễn.

Song huyễn sự không thật người dễ biết, nếu huyễn sự chóng diệt như điện ắt khó biết.

Nói diệt nhanh, chẳng phải là cái nhanh chóng của sanh rồi diệt, mà để nói “vốn chẳng sanh”.

Vĩnh Gia khi vừa gặp Lục Tổ nói: Sanh tử là việc lớn, vô thường mau chóng.

Tổ hỏi: Sao chẳng nắm lấy thể vô sanh, rõ cái chẳng chóng?

Vĩnh Gia nói: Thể tức vô sanh, rõ vốn chẳng chóng.

Tổ nói: Ông thâm đắc ý vô sanh.

  • Sau đây phá sanh kiến.

GHI CHÚ

⏯️ (tiếp theo)

O₅ - Nói rõ sanh vốn tự vô sanh để phá kiến chấp sanh nhân

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: Như Thế Tôn nói, tất cả tánh vô sanh và như huyễn, có phải lời của Thế Tôn trước sau trái nhau, nói tánh vô sanh như huyễn.

GIẢI

✅ Đây là nghi Phật tự ngữ tương vi.

Đại Huệ nhân trước đó nghe Phật nói tất cả pháp vô sanh, lại nói như huyễn. Bởi tất cả pháp đã vốn vô sanh, lại nói như huyễn, như huyễn thì có sanh.

Mới nói vô sanh lại nói sanh, há chẳng phải là lời nói của chính mình trước sau trái nhau.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải ta nói tánh vô sanh như huyễn có lỗi trước sau trái nhau. Vì sao? Nghĩa là sanh vô sanh, giác tự tâm hiện lượng, hữu phi hữu, ngoại tánh phi tánh, vô sanh hiện. (Đường dịch: Không trái nhau. Vì sao? Ta thấu rõ nơi sanh tức là vô sanh, vì chỉ là cái thấy của tự tâm. Tất cả pháp bên ngoài hoặc có hoặc không, thấy chúng vô tánh, vì vốn chẳng sanh).

Đại Huệ! Chẳng phải ta có lỗi nói trước sau trái nhau, song vì muốn phá gốc sanh của ngoại đạo nên ta nói tất cả tánh vô sanh.

Đại Huệ! Nhóm ngoại đạo ngu si muốn khiến “có-không” có sanh, chẳng phải duyên tự vọng tưởng chấp trước. (Đường dịch: Ngoại đạo ngu si một bọn cùng khởi ác kiến, nói từ “có, không” sanh tất cả pháp, chẳng phải tự chấp trước phân biệt làm duyên).

Đại Huệ! Ta chẳng phải nói “có, không” sanh, nên ta dùng thuyết vô sanh để nói.

GIẢI

Đây nói rõ sanh vốn vô sanh, để phá kiến chấp nhân sanh.

Phật nói ta chẳng có lỗi trước sau trái nhau. Vì sao? Ta biết rõ tất cả pháp sanh vốn vô sanh, vì biết các pháp chỉ là sự hiển hiện của tự tâm. Hoặc có hoặc không, thấy chỗ vô tánh duyên sanh của chúng, vì sanh vốn vô sanh nên nói như huyễn.

Chẳng phải ta có lỗi trước sau trái nhau. Ta nói vô sanh cũng chẳng nói suông, mà để phá ngoại đạo vọng lập nhân sanh. Vì vậy ta nói tất cả pháp vốn tự vô sanh.

Ngoại đạo chấp nhân sanh ấy vì chúng là bọn ngu si, cùng dấy lên ác kiến cho rằng Có từ “nhân có” sanh, Không từ “nhân không” sanh. Nên văn kinh nói Muốn khiến có, không có sanh. Không biết các pháp từ nơi vọng tưởng phân biệt chấp trước làm duyên sanh khởi. Thế nên ta nói các pháp chẳng phải do “có, không” sanh, do duyên sanh như huyễn nên nói vô sanh, chẳng phải một bề tuyệt nhiên chẳng sanh.

🪷

Đại Huệ! Nói tánh ấy vì nhiếp thọ sanh tử, vì phá hoại “vô kiến, đoạn kiến”, vì đệ tử ta nhiếp thọ các thứ nghiệp chỗ thọ sanh. Dùng tánh âm thanh nói nhiếp thọ sanh tử.

GIẢI

✅ Đây là phòng ngừa nạn vấn.

Sợ người ngu nghe nói các pháp chẳng do “có, không” sanh, bèn nghi rằng: Bởi vì Thế Tôn đã nói kiến, ái, phiền não, các pháp thiện ác, những việc nhân quả luân hồi trong ba cõi, là nói chư pháp thật có tánh, vì sao lại nói là không?

Nên ở ✅ Đây giải thích điều này. Đường dịch: “Nói các pháp đó, là vì khiến hàng đệ tử biết rằng, y cứ vào các nghiệp nhiếp thọ sanh tử, vì để ngăn cái kiến chấp đoạn diệt không trơn của họ”.

Nghĩa là kiến, ái, tập khí các phiền não là nhân của sanh tử, chỗ thọ sanh trong ba cõi là quả của sanh tử. Cho nên nói Các thứ nghiệp chỗ thọ sanh.

Tịnh Danh nói: “Không làm, không gây tạo, không người thọ, mà nghiệp thiện ác cũng chẳng mất”. Đó là không muốn cho chúng sanh rơi vào kiến chấp đoạn diệt, bác không nhân quả vậy. Song tuy nói như vậy, cũng chỉ dùng danh từ, câu nói, đoạn văn làm thể, cũng chẳng phải pháp thật, cho nên nói Dùng tánh âm thanh mà nói.

🪷

Đại Huệ! Nói tướng tánh tự tánh huyễn ấy vì lìa tướng tánh tự tánh. Hàng phàm phu ác kiến, trông mong, không biết tự tâm hiện lượng phá hoại nhân sanh khởi, duyên chấp trước tự tánh. Nói huyễn, mộng là tướng tự tánh của tất cả pháp, không để cho hàng phàm phu ác kiến trông mong, chấp trước vào tất cả pháp tự và tha, (đối với) chỗ thấy như thật làm luận bất chánh.

Đại Huệ! Chỗ thấy như thật về tất cả pháp là siêu tự tâm hiện lượng.

GIẢI

Đây nói về Như Lai thuyết pháp, chỉ là tùy theo ý niệm và ngôn ngữ của chúng sanh.

Pháp vốn vô sanh, không cho có nói năng. Song Phật nói như huyễn, nói vô sanh đó, chỉ vì phá tình chấp trước, như ngược chốt tháo chốt nên mới như thế.

Do người ngu không biết các pháp chỉ tự tâm hiện, vọng chấp các thứ thật có tự tánh, nên ta nói như huyễn để phá cái chấp kia. Lại vì ngoại đạo không thấu rõ năm uẩn các pháp duyên sanh vô tánh, vọng chấp tác giả làm nhân sanh, ta vì phá hoại tình chấp “có nhân sanh khởi” của họ nên nói năm uẩn các pháp duyên sanh như huyễn, không thật như mộng, khiến họ không vọng chấp về tự tướng của thân tâm mình và người, xả bỏ tà chấp.

Lại vì chúng sanh đối với chỗ như thật vọng thấy sanh diệt, làm luận bất chánh cho nên ta nói vô sanh. Nếu quả thật có người có thể thấy một cách như thật tất cả pháp siêu tự tâm hiện lượng, thì lúc ấy ta đối với hai tiếng “vô sanh” cũng không nói. Chẳng phải ta nói như huyễn vô sanh có lỗi trái nhau.

🪷

Bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên mà nói kệ:

Vô sanh làm phi tánh

Hữu tánh chịu sanh tử

Quán sát như huyễn thảy

Nơi tướng chẳng vọng tưởng.

GIẢI

Nói các pháp vô sanh ấy là vô tác, vì vô tác nên vô tánh. Song nói có nghiệp tánh đó là vì ngăn đoạn kiến nhiếp thọ sanh tử.

Nếu hay quán sát các pháp như huyễn thì nơi tất cả pháp tướng không khởi phân biệt. Không phân biệt thời tâm cảnh tịch diệt, tịch diệt ắt chẳng sanh, thế là như huyễn vô sanh vốn không hai vậy.

  • Trên phá sanh kiến.

  • Sau đây phá tập khí danh ngôn.

O₆ - Nói rõ ngôn thuyết vô tánh để phá tập khí danh ngôn

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Ta sẽ nói về tướng của danh từ, câu, nét chữ. Chư Đại Bồ tát khéo quán sát về danh từ, câu, nét chữ theo đó nhận được nghĩa của câu, chữ (Đường dịch: Ta sẽ nói về tướng của danh từ, câu, nét chữ. Các Đại Bồ tát khéo quán sát tướng ấy, sẽ rõ thấu nghĩa của nó) mau chóng chứng Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Biết như thế rồi, giác ngộ cho tất cả chúng sanh.

GIẢI

Đây nói về ngôn thuyết vô tánh để phá tập khí danh ngôn.

Do ở trước từng nói rằng: “Nên y nơi nghĩa chớ chấp trước ngôn thuyết”. Lại nói: “Ngôn thuyết đó là tạo tác”. Lại nói “dùng tánh âm thanh để nói”.

Sợ người nghe không thấu hiểu ngôn thuyết tánh không, không thể lìa ngôn thuyết nhận nghĩa, nên ở đây đặc biệt nêu ra danh từ, câu, nét chữ khiến cho khéo quán sát theo đó nhận được nghĩa.

Bởi vì ngôn thuyết dùng danh từ, câu văn, nét chữ làm thể, đã do ba pháp hợp thành đủ biết vốn không tự tánh. Như Lai chỉ mượn nó để nói pháp tiêu biểu, chẳng phải pháp thật. Thế nên dạy quán sát để có thể lìa bỏ, lìa tánh ngôn thuyết ắt tự nhận được nghĩa vậy.

🪷

Đại Huệ! Danh thân là nếu y cứ vào sự vật đặt tên, gọi là danh thân (danh từ).

GIẢI

Căn cứ vào sự vật đặt tên, tên tức là bản thân của vật, nên gọi là danh thân. Như căn cứ vào bình, bồn đặt tên bình, bồn.

Nghĩa là một tên, hai tên, nhiều tên, có thể biểu thị tự tánh, tên khác mà nghĩa có một nên gọi là danh thân. Thân nghĩa là nhiều pháp nhóm họp.

🪷

Cú thân là câu có ý nghĩa, tự tánh quyết định rốt ráo, gọi là cú thân (câu văn).

GIẢI

Câu có thể hiển bày xác định rốt ráo. Vả như bình bồn, chỉ có danh từ chưa hiển bày nghĩa, vì chẳng biết bình bồn là thế nào. Nếu nói rằng bình bồn sắt, đồng, thiếc, cây… hoặc nói bình bồn đựng nước, dầu, gạo, muối…

Nghĩa mỗi câu đều khác. Như thế là hiển lộ rõ nghĩa quyết định trọn vẹn không lầm. Một câu, hai câu, nhiều câu hay biểu thị sai biệt. Nhân danh từ thành câu, cho nên gọi là cú thân.

Hình thân là nêu bày danh từ và câu, gọi là hình thân (mẫu tự).

Hình tức là văn thân, là nét chữ. Y cứ vào nét chữ mà thành danh từ, câu. Nghĩa là một chữ, hai chữ, nhiều chữ làm chỗ y cứ cho danh và cú nên gọi là văn thân. Thuyết văn nói: “Y cứ vào loại để tượng hình là nét chữ, hình và tiếng tương xứng là chữ viết”.

🪷

Lại hình thân đó, nghĩa là dài, ngắn, cao, thấp.

GIẢI

Chữ có 4 thanh tám vận: Thanh, trầm, nặng, nhẹ, lên, xuống, cao, thấp. Ngụy dịch: Thanh có dài ngắn, âm vận có cao thấp.

🪷

Lại Cú thân là đường lối dấu vết, như voi, ngựa, người, thú… đi có đường có dấu, được tên là cú thân.

GIẢI

Cú thân là dấu vết đường, nghĩa là theo dấu vết mà tìm thấy voi, ngựa. Để dụ cho nhân lời nói mà được nghĩa, được nghĩa rồi thì quên lời, như được voi ngựa thì xóa dấu vết.

🪷

Đại Huệ! Danh và hình nghĩa là dùng danh từ để nói về bốn uẩn không sắc chất 1, nên gọi là danh. Tự tướng hiện nên gọi là hình.

GIẢI

Danh tự, như là bốn uẩn không sắc chất, căn cứ vào tên mà nói. Tướng danh tự, là vì có thể hiểu được qua danh từ nên nói bốn uẩn đều có tự tướng.

✅ Đây đưa ra bốn uẩn y cứ trên danh từ mà nói, chỉ có danh từ, vốn không pháp thật, không thể so sánh với sắc uẩn còn có chất giả, vì cốt yếu hiển bày danh tự tánh không.

Nói “tự tướng”, chỉ cho bốn uẩn này mỗi mỗi tự không giống nhau, cũng chẳng thật có tướng trạng thấy được. Nếu biết bốn uẩn chỉ có danh tự, thì các pháp được nói ra có thể theo đó mà biết. Nên kinh Mật Nghiêm nói: “Các pháp ở thế gian, tất cả chỉ là danh”.

Vì vậy ta nói vô sanh, như huyễn, cho đến Bồ-đề, Niết-bàn, tự giác thánh trí… đều là tùy theo để phá tình vọng chấp của chúng sanh, vốn không có pháp thật. Người nghe nên nhân nơi lời mà hiểu nghĩa, đừng chấp trước vào ngôn thuyết.

🪷

Đó gọi là danh, cú, hình thân. Nói về tướng ngắn mé của danh, cú, hình thân nên tu học.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ:

Danh thân cùng cú thân

Và hình thân sai biệt

Phàm phu ngu chấp trước

Như voi lún sình lầy.

GIẢI

Như Lai không có pháp để nói, chỉ vì phàm phu đối với đệ nhất nghĩa vọng khởi những tà chấp về một khác, có không, thường vô thường…, nên ngài bất đắc dĩ mượn ngôn thuyết để phá tình chấp của họ. Ý ở chỗ hiển bày cảnh giới đệ nhất nghĩa như thật, như ngón tay chỉ mặt trăng.

Không ngờ người ngu lại chấp vào ngôn thuyết mà sanh các kiến chấp, như voi sa lầy, không biết làm sao thoát ly được. Nên Lăng Nghiêm nói: “Các ông nếu dùng tâm phan duyên để nghe pháp thì pháp ấy cũng là phan duyên”.

Thế là nhân tiếng mà có phân biệt, chẳng nhận được pháp tánh.

Bởi Phật dùng âm thanh nói pháp vô sanh, âm thanh tức vô sanh; nếu đem tâm sanh diệt phân biệt theo âm thanh, thì âm thanh vô sanh ấy cũng sanh diệt. Nếu rõ tánh âm thanh là vô sanh, thì cũng biết nói vốn không nói.

Nên đoạn sau nói rằng chẳng nói tức là nói, nói tức chẳng nói. Hai thứ nghĩa sâu xa này để rửa sạch tập khí danh ngôn, nên đặc biệt nêu ra Như Lai nói pháp có bốn thứ lý luận, song lấy Chỉ luận làm đệ nhất nghĩa.

  • Trên phá tập khí danh ngôn.

  • Dưới khuyên vong ngôn mặc chứng.

O₇ - Nói rõ danh ngôn cùng dứt để vong ngôn mặc chứng

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Đời sau những người có trí đem chỗ thấy lìa một khác, chung chẳng chung… thông nghĩa của ta để hỏi người vô trí. Người vô trí liền đáp: Đây chẳng phải câu hỏi chính. Nghĩa là hỏi về sắc… thường, vô thường là khác chẳng khác. Cũng như thế các hạnh Niết-bàn tướng và sở tướng, cầu na sở cầu na (Đường dịch: Y và sở y), tạo sở tạo, kiến sở kiến, trần và vi trần (Ngụy dịch: Bùn đất vi trần), tu và người tu (Đường dịch: Trí và người trí), so sánh như thế các thứ tướng lần lượt. Những câu hỏi như thế (Đường dịch: Những việc không thể ghi ra như thế, lần lượt mà hỏi.

Thế Tôn nói như thế) mà nói Phật nói là vô ký (Đường dịch: Nên đáp bằng cách chỉ ký) chỉ luận, chẳng phải chỗ có thể biết của người ngu kia.

Nghĩa là vì văn huệ không đủ. Bậc Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác vì muốn khiến họ lìa kinh sợ nên nói vô ký, chẳng vì nói ký. Lại vì muốn ngăn dừng luận tà kiến của ngoại đạo mà chẳng vì họ nói.

GIẢI

✅ Đây nói về Chỉ luận để nêu ra chẳng nói mà nói, sắp hiển bày danh ngôn đều dứt, răn nhắc khiến quên lời thầm chứng.

Ý Phật rằng ta thường nói về lìa một khác… những thứ lìa kiến chấp tứ cú, vì muốn thông đạt chỗ vô ngôn thuyết đệ nhất nghĩa đế, vì trừ dẹp lỗi tập khí danh ngôn của người ngu.

Đời vị lai, trong hàng đệ tử của ta có người trí huệ, nếu đem nghĩa này để hỏi người ngu vô trí, họ sẽ lại cho đó là câu hỏi không đúng. Vì sao? Vì người ngu kia chỉ chấp về danh ngôn, không ngộ thật nghĩa.

Rồi họ lại đem những luận thuyết kiến chấp tứ cú hư vọng như thường vô thường, một khác… lần lượt đến hỏi đệ tử ta rằng: Thế Tôn cũng nói những pháp này chăng? Đệ tử ta chỉ nên đáp rằng: Phật nói những thứ ấy đều là vô ký luận. Phải dùng chỉ ký để đáp, chắc chắn không thể dùng lối ly tứ cú để ứng đáp lại cho họ. Vì sao? Vì nghĩa của ly tứ cú là chỉ luận, không phải chỗ hiểu của người ngu kia.

Vì họ không đủ văn huệ, không đạt nghĩa thật. Bởi người ngu kia một bề chấp chặt danh ngôn, nếu nghe nói tướng ly ngôn thuyết liền sanh sợ hãi.

Phật muốn họ lìa sợ hãi, nên chỉ nói với họ là vô ký, lại chẳng vì nói quyết định.

Đối với điều này ta không nói, ý muốn khiến hàng ngu phu ngoại đạo kia, vĩnh viễn xa lìa luận thuyết tà kiến về tác giả, nên chẳng vì họ nói. ✅ Đây là chẳng nói mà nói, không phải chẳng nói suông đâu.

Có ngoại đạo hỏi Phật: “Không hỏi có lời, không hỏi không lời”. Đức Thế Tôn lặng yên giây lâu. Ngoại đạo liền lễ bái nói: “Thế Tôn đại từ đại bi, vén mây mù cho con”.

Đây chính là vì muốn khiến vĩnh viễn xa lìa tà kiến ngoại đạo nên chẳng nói. Thật là sâu xa! Tất cả chúng sanh bởi tập khí danh ngôn hí luận từ vô thủy tham chấp nơi nơi, như chó điên đuổi theo hòn đất, nên đức Thế Tôn đóng cửa thất ở thành Ma-kiệt-đà, Duy-ma lặng thinh ở Tỳ-da, chính là để tẩy trừ tập khí về tà kiến hí luận danh ngôn này.

🪷

Đại Huệ! Ngoại đạo lập thuyết như thế này: Mạng tức là thân, những loại vô ký luận như thế.

Đại Huệ! Hạng ngoại đạo ngu si ấy, đối với nhân tác (Đường dịch: Chấp có tác giả) vô ký luận, chẳng phải chỗ ta nói. (Ngụy dịch: Vì ngoại đạo mê mờ nghĩa nhân quả, cho nên vô ký, không phải trong pháp ta gọi là vô ký).

Đại Huệ! Chỗ ta nói là lìa nhiếp sở nhiếp, vọng tưởng chẳng sanh.

GIẢI

✅ Đây nêu ra ý vô ký luận của ngoại đạo, và chỉ luận của Phật.

Do ở trên Phật nói ngoại đạo là vô ký luận, không biết thế nào là vô ký. Nên ✅ Đây giải thích rằng: Do ngoại đạo vọng chấp tức ấm là ngã, lìa ấm là ngã, vì vậy nói thân với mạng là một, là khác… Đó là vô ký. Vì ngoại đạo kia mê mờ nghĩa nhân quả nên gọi là vô ký, chẳng phải trong pháp ta gọi là vô ký. Trong giáo lý của ta nói lìa năng thủ sở thủ, không khởi phân biệt, vọng tưởng chẳng sanh gọi là vô ký.

Phật nói thức Yên-ma-la, tên là Bạch tịnh vô ký, song vô ký ấy là vì không thể ghi chép.

Còn ngoại đạo mê mờ thật nghĩa của nhân quả, nên không có quả thật để ghi lại, nên gọi vô ký.

Phật nói thức Yên-ma-la cũng gọi Như Lai tạng, cũng tức là chân như.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Trong Như Lai tạng, tìm cầu đến đi, mê ngộ, sanh tử trọn không thể được”.

Vì Như Lai tạng không thuộc nhân quả, không thể dùng lời luận bàn, tâm suy tính, không thể ghi chép, nên cũng gọi vô ký, chẳng phải là chỗ hàng ngoại đạo Nhị thừa hiểu được, nên phải ngăn dứt họ, đó là chỉ luận vậy.

Pháp Hoa nói: “Giả sử đầy mười phương, đều như Xá-lợi-phất, nhiều như lúa, mè, tre, lau.

Các Bồ tát bất thối cũng đầy mười phương cõi, cùng suy chung so lường, không thể biết trí Phật”. Vì sao? Vì Phật trí không phải tâm thức có thể đến. Vì chẳng phải tâm thức có thể đến nên Xá-lợi-phất ba phen thỉnh, Thế Tôn ba phen ngăn lại mà nói: “Thôi thôi không nên nói, pháp ta diệu khó nghĩ”.

Ôi! Xá-lợi-phất còn như vậy, huống gì ngoại đạo, cho nên phải ngăn họ.

Vì sao ngăn họ? Đại Huệ! nếu người chấp trước nhiếp sở nhiếp, không biết tự tâm hiện lượng nên ngăn dứt họ.

✅ Đây nói lý do của chỉ luận.

Sở dĩ ngăn họ mà không đáp đó, vì ngoại đạo kia chấp trước vọng pháp năng thủ sở thủ, không biết đấy chỉ là tự tâm hiện.

Nếu nói với họ về cảnh giới lìa tâm thức, chắc họ sẽ kinh sợ không tin, trở lại sanh khinh chê, phá pháp đọa vào đường ác. Hoặc là họ sẽ y vào tập khí danh ngôn lại chấp vào ngôn thuyết, tăng thêm tà kiến.

Vậy nên Phật khuyên răn hàng đệ tử đời ác sau này, ở trong nhóm người vô trí chớ nói kinh này. Vì muốn ngăn ác kiến của những hạng này nên ngăn dừng họ mà không đáp.

🪷

Đại Huệ! Bậc Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác, dùng 4 thứ ký luận vì chúng sanh thuyết pháp.

Đại Huệ! Chỉ ký luận đó, ta thường nói luôn, vì người căn cơ chưa thuần thục, chẳng phải vì người thuần thục.

GIẢI

✅ Đây giải thích về hàng phục nạn vấn để rõ Như Lai thuyết pháp nhiều phương ứng biến không chấp một chỗ.

Gạn rằng: “Phật đã đối với những hạng người ấy dùng lối vô ký gác lại không đáp, song cũng có đáp, là sao?”. ✅ Đây giải thích rằng: Như Lai thuyết pháp ứng biến không phải một. Hoặc có khi một bề đáp thẳng, hoặc có khi hỏi lại, hoặc có khi vì họ giảng rộng.

Như Lai điều phục chúng sanh, ứng hợp căn cơ lập bày, như hạt châu ma-ni chiếu khắp, năm sắc rỡ ràng, nêu đoạt tùy nghi, giết tha tự tại. Cho nên có khi nói, có khi không nói, có khi nói tức là chẳng nói, có khi chẳng nói tức là nói.

Đó là “Khi nín mà nói, khi nói mà nín, cửa đại thí mở rộng không bế tắc”. Nhưng nói cùng chẳng nói, đều là hiển thị đệ nhất nghĩa đế, chỗ lìa ngôn thuyết, há có thể nhất định chấp là nói hay không nói.

Kinh nói Như Lai dùng bốn thứ ký luận vì chúng sanh thuyết pháp, e người nghe lại nghi rằng: Đã dùng bốn thứ ký luận thuyết pháp, tại sao trong đây đặc biệt vì ngoại đạo nói rõ về Chỉ luận? Đây đáp rằng: Chỉ ký luận, chẳng những ngày nay ta thường nói, song không phải vì căn cơ ngoại đạo, mà trong hàng đệ tử của ta cũng có căn cơ mau và chậm, đã thành thục và chưa thành thục.

Nếu hàng căn cơ chưa thuần thục, thì dừng không nói, vì để đợi lúc có thể nói. Hoặc vì khai phát cho đương cơ khiến sanh hâm mộ, như với Xá-lợi-phất nơi hội Pháp Hoa, với Bồ tát Kim Cang ở hội Hoa Nghiêm, ba phen thỉnh, ba phen ngăn, song chẳng phải là giữ kín không nói. Tức là dừng không nói với ngoại đạo, chỉ vì ngăn ác kiến của họ thôi, chỗ dừng tức là nói, cũng không phải có ý dứt tuyệt, vì Như Lai không bỏ một chúng sanh nào.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Tất cả pháp lìa sở tác, nhân duyên chẳng sanh, không có Tác giả, cho nên tất cả pháp chẳng sanh.

GIẢI

Từ đây cho đến câu Tất cả pháp thường là nói chung Phật dùng Chỉ luận để chế ngự ngoại đạo, không giống với điều họ đã nói.

Bởi Phật tuy dùng 4 thứ luận thuyết pháp, trùm khắp ba căn cơ, mà Chỉ luận này cũng có khi dùng. Đến như nói pháp cho ngoại đạo, một bề riêng dùng Chỉ luận, vì nói cùng không nói đều là chỉ luận. Vì sao? Vì ngoại đạo không hiểu được các pháp vốn tự vô sanh, vọng chấp có Tác giả sanh hoặc vọng chấp Nhân sanh.

Do vọng chấp riêng có Nhân khác hay sanh ra các pháp, đó là vô nhân, nên ta nói nhân duyên chẳng sanh. Ngụy dịch: “Tất cả pháp, lìa Tác giả và Nhân, cho nên chẳng sanh, vì không có tác giả nên ta nói tất cả pháp chẳng sanh”.

Hơn nữa, ngoại đạo kia vọng chấp các pháp nhất định có cái hay sanh, ta chỉ dùng chữ “bất” để ngăn dừng, mà không từng riêng dùng ngôn thuyết để nói cho họ. Ngoại đạo chấp trước các pháp tự sanh, hoặc chấp các pháp tha sanh, hoặc chấp cộng sanh, hoặc chấp vô nhân sanh.

Trung Luận nói: Các pháp không tự sanh, cũng chẳng từ tha sanh, không cộng và không vô nhân. Cho nên nói vô sanh. ✅ Đây chính là chỉ dùng chữ “bất” (chẳng) để ngăn đó, nên là Chỉ luận.

🪷

Đại Huệ! Vì sao tất cả tánh lìa tự tánh? Vì khi tự giác quán (Ngụy dịch: Dùng tự trí quán sát) tánh của tự tướng và cộng tướng chẳng thể được, nên nói tất cả pháp chẳng sanh.

GIẢI

Đây lại giải thích vi tế về nghĩa vô sanh, để phá kiến chấp “sanh” của ngoại đạo.

Do ở trên Phật nói rằng: Ta nói các pháp không tánh vì lìa tự tánh, nên Đại Huệ nghi rằng: Cớ sao tất cả pháp đều lìa tự tánh? Vì vậy đến đây Phật đáp lặp lại rằng: “Khi ta dùng tự giác thánh trí quán sát, thấy tất cả pháp tự tướng cộng tướng đều chẳng thể được, cho nên nói tất cả pháp vốn tự vô tánh, nên chẳng sanh”.

❔ HỎI:

Đã nói vì tất cả pháp lìa tự tánh nên nói vô sanh, tại sao lại nói tự tướng cộng tướng chẳng thể được mới gọi là lìa tự tánh?

📣 ĐÁP:

Vì ngoại đạo kia không biết các pháp chỉ do tâm hiện, vọng chấp thần ngã là tác giả thật có tự tánh, hay sanh ra các pháp. Hoặc lại chấp Phạm thiên hay sanh các pháp. Hoặc chấp rằng Tứ đại, Cực vi, Thời… mỗi cái đều có tự tánh, hay sanh các pháp.

Hoặc chấp các pháp từ tám vạn kiếp đến nay, vô nhân tự có, tự nhiên mà sanh. Bởi chấp Thần ngã làm tác giả là chấp về tự sanh, từ Phạm thiên, tứ đại… là chấp tha sanh cộng sanh, từ tự nhiên là chấp vô nhân sanh.

Do vọng chấp 4 thứ này, mỗi cái đều có tự thể, hay sanh các pháp, đó là tự tướng. Do không rõ lý duy tâm, vọng thấy các pháp từ 4 thứ đó sanh, đó là cộng tướng. Thế nên đây Thế Tôn phá rằng: Các pháp không phải từ bốn pháp ấy sanh.

Vì sao? Vì 4 pháp ấy đều không tự tướng, không thể hòa hợp mà sanh các pháp, nên nói Tự tướng cộng tướng chẳng thể được. 4 pháp ấy đã chẳng thể được, đủ biết tất cả pháp không tự tánh vậy.

Đã không tự tánh, thì các pháp lại từ đâu sanh? Đây chính là lý do vì tất cả pháp lìa tự tánh, nên nói các pháp vốn tự chẳng sanh. Bởi ngoại đạo kia dùng vọng chấp tự tướng cộng tướng chẳng lìa tự tánh, nên sanh, ta dùng chánh trí quán sát tất cả đều lìa, nên chẳng sanh. Đoạn văn sau, câu Vì sao… đều là lặp lại câu nghi vấn.

🪷

Vì sao tất cả pháp không thể đem đi, không thể đem lại? (Ngụy dịch: Tất cả các pháp cũng không tướng thủ, cũng không tướng xả).

Vì tự tướng cộng tướng muốn đem đến không chỗ đến, muốn đem đi không chỗ đi. (Đường dịch: Vì tự tướng cộng tướng đến không từ đâu đến, đi không chỗ đi).

Cho nên tất cả pháp lìa đến đi.

GIẢI

✅ Đây giải thích nghĩa tự tướng không thể được ở đoạn trên để phá kiến chấp về tướng.

Do ngoại đạo kia vọng thấy chư pháp, chấp tự tướng cộng tướng thật có tự thể. Ta dùng chánh trí quán, đều chẳng thể được. Vì sao? Nếu tự tướng cộng tướng thật có tự thể, thì có thể giữ lấy.

Đã có thể giữ lấy thì có thể đem đến. Đã có thể giữ thì cũng có thể bỏ. Có thể bỏ thì có thể đem đi. Nay quán các pháp đến không từ đâu, đi không chỗ về. Đã không đến đi ắt không thể được. Trong cái không thể được mà vọng chấp thật có tự tướng cộng tướng, đều là tà kiến vậy.

Nên Vĩnh Gia nói: “Lấy chẳng được, bỏ chẳng được. Trong cái chẳng được, được cái gì”.

Do chẳng thể được nên nói các pháp lìa tự tánh chẳng sanh, sở dĩ vậy nên nói “thể tức vô sanh”. Nhị Tổ xin Tổ sư pháp an tâm, Tổ nói: “Đem tâm đến, ta an cho”. Nhị Tổ nói: “Con tìm tâm không được”.

Tăng hỏi Vân Môn: “Khi một vật không thể đem đến thì thế nào?”. Sư nói: “Buông hết đi!”. Tăng nói: “Một vật không đem đến, buông cái gì?”. Sư nói: “Buông không được thì gánh đi!”.

🪷

Đại Huệ! Vì sao tất cả pháp không diệt? Nghĩa là vì tướng tánh tự tánh Không, nên tất cả pháp chẳng thể được, nên tất cả pháp không diệt.

GIẢI

✅ Đây là phá kiến chấp sau khi chết đoạn diệt của ngoại đạo.

Do tất cả pháp không tự tánh nên chẳng sanh, vì chẳng sanh nên chẳng diệt. Chẳng phải sanh rồi sau mới diệt, cũng không phải sau khi chết đoạn diệt.

🪷

Đại Huệ! Vì sao tất cả pháp không diệt? Nghĩa là vì tướng tánh tự tánh Không, nên tất cả pháp chẳng thể được, nên tất cả pháp không diệt.

GIẢI

Đại Huệ! Vì sao tất cả pháp vô thường? Nghĩa là khi tướng khởi, tánh nó vô thường nên nói tất cả pháp vô thường.

Đây phá kiến chấp xác định thường của phàm phu ngoại đạo.

Vì phàm phu vọng nhận tứ đại làm tự thân tướng. Chấp quả báo nhất định trong một thời và những kế hoạch ngàn năm trăm năm là thường.

Ngoại đạo vọng chấp chúng sanh trong mười phương sanh diệt tuần hoàn, không từng tan mất, đều là thể hằng còn, chấp cho là thường. Do nhận vô thường là thường, nên ở đây Phật nói tất cả pháp vô thường.

Vì tướng vừa khởi liền diệt, sát-na chẳng trụ, không có tánh thường, nên ta nói vô thường để ngăn kiến chấp thường của ngoại đạo, chẳng phải thật là vô thường.

🪷

Đại Huệ! Vì sao tất cả pháp thường. Vì tướng khởi tánh vô sanh, vô thường là thường, nên nói tất cả pháp thường.

GIẢI

Đây phá Nhị thừa dùng chơn thường làm kiến chấp vô thường. Vì Nhị thừa không rõ các pháp đương thể chơn thường, mà sanh nhàm lìa, nên ở đây Phật nói tất cả pháp thường. Vì tướng các pháp khởi tức là chẳng khởi, như sấm chớp liền diệt.

Vì vô sở hữu nên tánh vô thường là thường, nên ta nói tất cả pháp thường. Vì mới sanh liền có diệt, vì vốn là tánh vô sanh, nên nói: Tướng khởi tánh vô sanh, vô thường là thường, chẳng phải lìa ngoài các pháp này, riêng cầu cái chơn thường. Vì tất cả đều đồng “như” nên trừ ngoài chân như, không mảy may việc có thể được, nên tức các pháp kia sanh mà tánh vô sanh, đương thể chân thường. Đây đồng với đoạn trước nói hoặc loạn thường.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên mà nói kệ:

Ký luận có bốn thứ

Nhất hướng, gạn hỏi lại

Phân biệt và chỉ luận

GIẢI

✅ Đây là tụng Như Lai dùng 4 thứ ký luận vì chúng sanh thuyết pháp.

4 thứ ký luận: Một, tùy theo câu hỏi mà đáp đó là nhất hướng (Ngụy dịch: ĐÁP thẳng).

Hai, hỏi lại câu hỏi mà đáp, gọi là gạn hỏi lại (Đường dịch: Chất vấn để đáp).

Ba, biện luận tỉ mỉ để đáp, gọi là phân biệt. (Đường dịch: Chất vấn để đáp).

Bốn, vì chiết phục ngoại đạo nên gác qua một bên mà chẳng đáp, gọi là chỉ luận (Đường và Ngụy dịch là trí đáp).

Để hàng phục ngoại đạo

Từ có và không sanh Thầy Tăng-khư, Tỳ-xá.

Ý bài kệ này nói rằng Phật dùng bốn thứ luận không phải riêng vì đệ tử thuyết pháp, mà cũng vì hàng phục ngoại đạo.

Đường dịch: Số luận cùng Thắng luận, do danh từ Phạn ngữ Tăng-khư chính là Tăng-khư-da, Trung Hoa dịch là Số thuật.

Số tức là huệ số, nghĩa là ước độ nguồn gốc các pháp, lập tên theo số.

Cho nên lập thần ngã chủ tể, từ minh sơ sanh giác… vị chi là hai mươi lăm minh đế, nên cũng gọi là Số luận.

Tỳ-xá cũng gọi là Tỳ-thế, nói đủ là Phệ-thế-sử ca-sa đa-la, Trung Hoa dịch là Thắng luận, vì phái này thành lập “Lục Cú Nghĩa” làm Thắng tánh, hoặc cũng vì do người tối thắng tạo ra.

Lục cú: Một là thật, hai là đức, ba là nghiệp, bốn là đại hữu, năm là đồng dị, sáu là hòa hợp.

Tuy nói lục cú, mà dùng hòa hợp nhân duyên làm ngã hay sanh các pháp. Thầy tức là hai luận sư ấy.

Tất cả đều vô ký Họ hiển thị như vậy.

Đây kết luận nêu những lập thuyết của ngoại đạo đều là vô ký. Đường dịch: Các thứ pháp như thế, tất cả đều vô ký.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên mà nói kệ:

Bậc chánh giác phân biệt ¹

Tự tánh không thể được

Vì lìa các ngôn thuyết

Nên nói lìa tự tánh

GIẢI

✅ Đây tụng về nghĩa của năm đoạn, từ lìa tự tánh trở xuống.

Do tất cả pháp đều không tự tánh, bình đẳng như như, lìa tướng ngôn thuyết, vì lìa ngôn thuyết nên nói là lìa tự tánh.

Vì không tự tánh nên sanh diệt đoạn thường… đều là vọng kiến.

  • Từ trước, Đại Huệ hỏi Phật nói duyên khởi tức là nói

về nhân duyên khởi dừng ngang đây, phá chung hết hai thứ chấp trước của ngoại đạo về ngôn thuyết tự tánh và sự tự tánh; những tà kiến về có không, đoạn thường… để giảng rõ về ngoại đạo tà thiền.

  • Chương sau sẽ nói về tướng chung, tướng riêng của Thanh văn, để giảng rõ về thiền định thiên lệch của hàng Nhị thừa. Tổng kết phần giải thích về ngu phu thiền trong bốn thứ thiền của chương trên.

M₂ - Thiền định thiên lệch của Nhị thừa

🪷

Lúc bấy giờ Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin vì chúng con nói về tướng chung và tướng sai biệt của quả Tu-đà-hoàn, Tu-đà-hoàn hướng.

GIẢI

Đây hỏi về hành tướng chung và riêng của Nhị thừa, để giải thích về hành tướng thiền định thiên lệch của Nhị thừa trong phần ngu phu thiền.

Tướng chung và tướng sai biệt nghĩa là Thanh văn là tên chung, mà có hành tướng của bốn quả mỗi mỗi riêng khác. Cho nên bắt đầu hỏi từ Sơ quả, ý tại chỗ trải qua tứ quả, để nói rõ cũng có đốn tiệm không đồng.

🪷

Nếu Đại Bồ tát hiểu được tướng chung và tướng sai biệt của Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, tướng phương tiện, phân biệt biết rồi, vì chúng sanh thuyết pháp như thế, như thế. Nghĩa là tướng hai vô ngã và hai chướng đã sạch, vượt qua các địa tướng, thông suốt rốt ráo, được cảnh giới cứu cánh bất tư nghị của chư Như Lai. Như hạt châu ma-ni nhiều màu, khéo hay làm lợi ích tất cả chúng sanh, dùng tất cả pháp, cảnh giới và thân mạng tài sản vô tận để nuôi dưỡng tất cả.

GIẢI

✅ Đây là thuật rõ lợi ích của câu hỏi.

Do trước đức Thế Tôn đã từng một phen quở trách, bảo đừng rơi vào ác kiến của ngoại đạo Nhị thừa. Lại nói: Như Lai dùng hai thứ thần lực để gia trì người tu hành, không rơi trong ma nghiệp ngoại đạo, và chỗ thiền định của Thanh văn.

Nên đây Đại Huệ từng nghe Phật nói về hành tướng tà thiền ngoại đạo rồi, chỉ không biết tướng chung và tướng riêng của Thanh văn thiền như thế nào. Ý rằng Thanh văn, danh từ tuy gọi chung là một, mà có bốn quả sai biệt không đồng.

Nếu biết rõ hành tướng sai biệt của mỗi quả vị, ắt khả dĩ tự trừ sạch hai chướng mà không rơi vào trong đó, cũng có thể giáo hóa chúng sanh xa lìa tâm tăng thượng mạn, không đến nỗi được ít cho là đủ, rồi có thể vượt qua các địa, rốt ráo được quả Phật, mà dùng thân mạng, tài sản vô tận để dạy dỗ, nuôi dưỡng chúng sanh.

Có lợi ích thù thắng như thế, nên mới thỉnh vấn như thế. Nói Tướng phương tiện, nghĩa là sự tu hành tứ quả, mỗi mỗi đều có phương tiện hành tướng, tức là quán hạnh vậy.

Tu-đà-hoàn, dịch là Dự lưu, nghĩa là phần Kiến hoặc, 88 kiết sử của Tứ đế trong 3 cõi đã đoạn tận, tức chứng Sơ quả. 25 Vì mới vào dòng Thánh nên gọi là Dự lưu.

Tư-đà-hàm, dịch là Nhất vãng lai, nghĩa là trong tám mươi mốt phẩm Tu hoặc của 3 cõi chín địa, chỉ mới đoạn sáu phẩm trước của Dục giới (ngũ thú tạp cư địa) là chứng Nhị quả.

Từ đây tới khi chết, còn phải một phen sinh lên hai cõi Sắc và Vô sắc, một phen trở lại Dục giới, mới đoạn trừ hết 3 phẩm Tu hoặc còn lại; cho nên gọi là Nhất lai.

A-na-hàm, dịch là Bất lai, nghĩa là chín phẩm Tu hoặc của Dục giới đã dứt sạch, liền chứng Tam quả. Từ đây vĩnh viễn không thọ sanh trong Dục giới, không còn trở lại, nên gọi là Bất lai. 3 quả trên đây gọi là hữu học.

A-la-hán dịch là Vô sanh, cũng gọi là Sát tặc, là Ứng cúng, nghĩa là 72 hai phẩm Tu hoặc của 2 cõi (Sắc, Vô sắc) 8 địa đã dứt sạch, liền chứng Tứ quả A-la-hán, gọi là địa vị vô học, vượt khỏi ba cõi, lìa hẳn 4 loài sanh (noãn, thai, thấp, hóa) nên gọi là vô sanh.

✅ Đây là do chứng được lý diệt đế, không còn thọ thân sau, nên được tên Vô sanh, không phải là cái vô sanh chân thật của hàng Bồ tát Bát địa.

Vì hay phá phiền não nên gọi là Sát tặc, có thể làm ruộng phước nên gọi là Ứng Cúng.

Tu-đà-hàm đoạn phần A và B của Dục giới. Còn trở lại cõi Dục một phen nữa (Nhất lai) để đoạn nốt phần C.

Từ đây chín phẩm tư hoặc của Dục giới đã đoạn sạch không còn tái sanh trở lại cõi Dục chứng quả A-na-hàm (Bất lai).

Còn lại 72 phẩm tư hoặc của cõi Sắc và Vô sắc (trong 81 đã trừ 9, còn 72), đoạn sạch hết thì gọi là A-la-hán (Vô sanh).

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, nay ta sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật: Lành thay Thế Tôn! Con xin vâng nghe.

Phật bảo Đại Huệ: Có ba bậc Tu-đà-hoàn, quả Tu-đà-hoàn sai biệt. Thế nào là ba? Là hạ, trung, thượng.

GIẢI

Trước hỏi về Tu-đà-hoàn và tướng chung tướng riêng của quả vị Tu-đà-hoàn. Nên ở đây đáp rằng nói chung có ba bậc. Nghĩa là người có ba căn cơ nên quả cũng có ba bậc. Do căn cơ có mau chậm, bén nhạy trì trệ, chẳng phải thật có ba bậc. Cho nên nói hạ, trung, thượng.

🪷

Bậc hạ là tột cùng 7 lần sanh.

GIẢI

✅ Đây là nói về hạng căn cơ quá chậm lụt.

Đường dịch: “Ở trong các cõi sanh lại bảy lần là tột cùng”.

Nghĩa là chín phẩm câu sanh phiền não của Dục giới, cộng lại có nhuận thất sanh. Nhuận thất sanh là phẩm đầu sanh lại 2 lần, 3 phẩm tiếp theo mỗi phẩm sanh 1 lần, 2 phẩm kế cộng chung sanh 1 lần, 3 phẩm cuối cộng chung sanh 1 lần.

Vì phẩm đầu sức mê hoặc mãnh liệt thô trọng, những phẩm sau sức yếu vi tế. Vì trên cõi trời rất vui, không có sức đoạn trừ hoặc nghiệp, nên cần phải hạ sanh cõi người, gặp cảnh rồi mới đoạn dứt. Vì căn cơ chậm lụt, nên phải tái sanh hết bảy lần rồi sau mới đoạn dứt. Câu sanh phiền não được nói ở đây, là ái dục, chẳng phải là câu sanh vô minh.

🪷

Bậc trung, sanh trở lại ba hoặc năm lần, rồi mới nhập Niết-bàn.

GIẢI

✅ Đây là căn cơ bậc trung.

Do căn cơ có chút ít lanh lẹ, nên trải qua sự thọ sanh không giống nhau, nên ba phen hay năm phen tái sanh rồi nhập Niết-bàn.

🪷

Bậc thượng tức ngay đời này mà chứng Niết-bàn.

GIẢI

✅ Đây là căn cơ bậc thượng.

Nghĩa là bậc Tu-đà-hoàn thượng căn, ngay trong đời này liền chứng quả A-la-hán, gọi là hiện diệt Tu-đà-hoàn. Không nói đến khoảng giữa trải qua nhị quả, tam quả.

Xem phần nói về 2 căn cơ Trung và Thượng, có câu Nhập Niết-bàn đó là hàng căn cơ bậc trung cũng không trải qua 2 quả vị sau, thế thì trải qua 2 quả vị sau là hạng căn cơ bậc hạ. Nếu theo kinh 42 Chương nói, thì Tu-đà-hoàn 7 lần tử, 7 lần sanh mới được quả A-la-hán. Còn với bậc đoạn ái dục như đoạn tứ chi, thì căn cơ bậc hạ cũng không trải qua 2 quả sau.

🪷

Ba bậc này có ba kiết sử là thượng, trung, hạ.

GIẢI

Đây nói phần kiết sử bị đoạn có 3 bậc, trong 1 bậc lại chia ra 3 bậc Thượng, Trung, Hạ nữa, nên các kiết sử ở mỗi địa, mỗi địa tổng cộng có 9 bậc, 9 địa cộng chung có 81 mốt bậc.

🪷

Thế nào là 3 kiết sử: Nghĩa là thân kiến, nghi, giới cấm thủ là ba kiết sử sai biệt.

GIẢI

✅ Đây là tên của 3 kiết sử.

3 kiết sử này là 3 thứ trong 10 Sử phiền não. Nghi là 1 trong 5 Độn Sử, Thân kiến, Giới thủ là 2 trong 5 Lợi Sử.

❔ HỎI:

3 sử phiền não trên, là cội gốc sanh tử trong 3 cõi, hàng Thanh văn thừa đoạn tận 10 Sử mới ra khỏi 3 cõi. Tại sao ở đây chỉ nói đoạn 3 Kiết Sử?

📣 ĐÁP:

Trong 5 độn sử, chỉ nêu riêng nghi đó, vì thân kiến đoạn thì tham, si tự nhiên không sanh. Đã theo lời Phật dạy điều phục tâm nên không sân. Còn tâm mạn, trong bốn quả chưa đoạn sạch nên không kể đến mạn. Vì chưa vào trong vị Phật pháp, ban đầu tôn trọng thiên ma, trở lại nghi ngờ Phật. Nay đã khiến vào chánh tín, thì không nghi Phật nghi pháp, đã thấy lý chắc thật, cũng không tự nghi mình, nên riêng nói đoạn nghi.

Trong 5 lợi sử không kể đến 3 cái kia (biên kiến, tà kiến, kiến thủ) vì đều là tà kiến của ngoại đạo. Nay đã nương giáo lý của Phật, nên không kể ở đây.

Lại có ý rằng: Si là vô minh, còn tham là đắm trước Niết-bàn, tuy đoạn dục tham mà chưa đoạn được tham Niết-bàn, cả hai cái này (si và tham) đều chưa đoạn tới, nên không nói.

🪷

Tăng tấn lên bậc thượng thượng, được A-la-hán.

GIẢI

✅ Đây là chỉ chung tướng đoạn Kiết Sử chứng Quả vị. Tăng tấn lên bậc Thượng Thượng, là có thể đoạn nhanh chóng các lậu hoặc Thượng Thượng phẩm, liền chứng quả A-la-hán Thượng Thượng.

🪷

Đại Huệ! Thân Kiến có 2 thứ, là câu sanh và vọng tưởng (Đường dịch: Phân biệt), như duyên khởi vọng tưởng, tự tánh vọng tưởng.

GIẢI

Ở đây nêu ra Thân Kiến, để giải thích hành tướng của Sơ quả.

Thân là thân 5 uẩn, chính là danh sắc. Câu sanh là Danh, nghĩa là Thọ, Tưởng, Hành, Thức - 4 Uẩn, vốn không tự tánh, chỉ dùng danh ngôn làm thể. Một thứ vọng chấp từ thời vô thủy đến giờ, nên gọi là Thân Kiến câu sanh. Vọng tưởng phân biệt là Sắc. Nghĩa là thân tứ đại huyễn sắc này xưa nay không có, chỉ dùng sức của nhân duyên, hòa hợp vọng thành, thí như người huyễn hóa giả danh là người, ngu phu không hiểu, vọng chấp thật có tự tánh, phân biệt là xấu là đẹp, sanh tham dục, nên gọi là Thân Kiến phân biệt.

🪷

Thí như y cứ tự tánh duyên khởi mà các thứ tự tánh vọng tưởng chấp trước sanh. Vì nó chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải có không, không thật, vì là tướng vọng tưởng. Người ngu vọng tưởng các thứ tự tánh vọng tưởng chấp trước, như sóng nắng giữa trưa, nai khát tưởng nước. Thân Kiến phân biệt này, Tu-đà-hoàn dùng nhân vô ngã nhiếp thọ vô tánh để đoạn trừ cái chấp trước vô tri từ lâu xa.

GIẢI

✅ Đây giải thích về hành tướng đoạn trừ Thân Kiến phân biệt.

Bởi vì cái sắc thân huyễn vọng của mình của người, từ xưa đến nay vốn không có, chỉ y cứ vào nghiệp vọng tưởng huyễn hóa tứ đại giả hợp mà thành hình thể. Giống như người huyễn hóa nương vào duyên mà khởi. Như thầy huyễn thuật giỏi ở đời, huyễn tạo các người nam nữ, người ngu không rõ, vọng sanh phân biệt chấp trước đẹp xấu.

Nên nói Như y cứ vào duyên khởi mà có tánh chấp trước. Vả lại thân năm uẩn giả hợp duyên sanh ấy, không mà chợt có, thật ra chẳng có chẳng không, đã chẳng có không, thì không có thật thể, mà hàng phàm phu ngu si vọng sanh chấp trước, chấp giữ cho là thật, như sóng nắng vốn chẳng phải là nước, mà bầy nai khát vọng sanh tưởng là nước. ✅ Đây gọi là tướng thân kiến phân biệt của Tu-đà-hoàn.

Ngụy dịch: “Vì vô tri nên từ đời vô thủy đến giờ hư vọng chấp tướng. Thân kiến nhơ cấu này, khi được nhân vô ngã bèn có thể xa lìa”.

Nên nói Thân kiến phân biệt này, Tu-đà-hoàn dùng nhân vô ngã nhiếp thọ vô tánh, để đoạn trừ cái chấp trước vô tri từ lâu xa. Nghĩa là ban đầu ở địa vị Kiến đạo, chứng đắc ngã không bèn có thể đoạn trừ. ✅ Đây là mới phá riêng sắc ấm, là đoạn ngã kiến phân biệt vậy.

🪷

Đại Huệ! Câu sanh đó, là thân kiến về bốn ấm… thân mình thân người của Tu-đà-hoàn. Vì là tướng vô sắc, vì là sắc sanh tạo và sở tạo, vì là tướng lần lượt làm nhân cho nhau, vì đại chủng và sắc không nhóm họp vậy.

GIẢI

✅ Đây giải thích về hành tướng đoạn trừ thân kiến câu sanh.

Đường dịch: “Do quán sát khắp cả thân mình thân người, nên thấy thọ… bốn uẩn là tướng vô sắc, nên thấy sắc do đại chủng mà được sanh khởi, do các đại chủng xen nhau làm nhân”. Lấy đó làm đại diện để quán 4 uẩn thọ… của mình của người, chỉ có danh từ vốn không có thật thể. Hơn nữa sắc ấm tuy có giả tướng, mà chỉ là được tạo tác từ bốn đại chủng, lần lượt làm nhân cho nhau để thành ra hình vóc này.

Đã có hình vóc này thọ sanh thì 4 ấm kia cũng đồng thời mà có, nên gọi là câu sanh. Song trong 4 đại, mỗi đại không có chủ tể, ai có thể nhóm họp để thành sắc?

Nên nói Vì sắc không nhóm họp. Sắc ấm có chất ngại còn không, huống hồ thọ… 4 ấm kia, vốn không có sắc tướng, chỉ có danh tự, đâu chẳng không ư? Song cái câu sanh này, là đứng về mặt bốn uẩn căn cứ vào sắc, vọng chấp tự tướng của thân tâm mà nói, chẳng phải câu sanh vô minh, học giả nên biết.

🪷

Tu-đà-hoàn quán các thứ có không chẳng hiện, thì thân kiến đoạn, thân kiến đoạn như thế, thì tham không sanh, đó gọi là tướng thân kiến.

GIẢI

✅ Đây là kết luận quán hạnh thành tựu về thân kiến.

Có là sắc, không là 4 uẩn kia. Nghĩa là Tu-đà-hoàn hay quán thân năm uẩn mình và người, thảy đều không, vô sanh, ắt đoạn được thân kiến. Nếu thân kiến đoạn, thì tham ái không sanh, tham ái chẳng sanh, thì mầm mống sanh vĩnh viễn tuyệt dứt, chẳng thọ sanh trở lại.

Nên Pháp Hoa nói: “Các nhân của khổ, tham dục là gốc, nếu diệt tham dục, khổ không chỗ nương gá”. Thế nên thân kiến đoạn thì chứng Sơ quả. ✅ Đây gọi là tướng đoạn trừ thân kiến.

🪷

Đại Huệ! Tướng nghi đó nghĩa là do được tướng pháp thiện kiến, và vì hai thứ vọng tưởng thân kiến trước đã đoạn, nên nghi không sanh. Không ở chỗ khác khởi tưởng cho là bậc đại sư, là tịnh và chẳng tịnh. ✅ Đây gọi là Tu-đà-hoàn đoạn dứt tướng nghi.

GIẢI

✅ Đây giải thích về hành tướng đoạn nghi.

Luận nói rằng: “Nghi đó, là đối với các lý chân thật có tánh do dự, vì hay làm chướng ngại lòng tin chắc thật không nghi”. Nghi có 3 thứ, là nghi lý, nghi pháp, nghi thầy. Được tướng pháp thiện kiến là đối với pháp chân đế đã được, khéo hay quán sát thấy lý chân thật ấy, nên đối với lý không nghi.

Và hai thứ thân kiến ở trước đã đoạn, nên đối với các pháp không sanh nghi, đó là đối pháp không nghi. Vì nếu đối với lý, với pháp có nghi, thì cũng nghi người. Chỉ biết tôn trọng hàng thiên ma ngoại đạo cho đó là đại sư, trở lại nghi Phật là thanh tịnh chẳng thanh tịnh. Nay đã thấy lý chân thật, đối với pháp không nghi, thì không nghi người, nên nói Không ở chỗ khác khởi tưởng cho là bậc đại sư. Đây gọi tướng đoạn nghi của Tu-đà-hoàn.

🪷

Đại Huệ! Giới thủ đó, sao gọi là Tu-đà-hoàn không có giới thủ? Nghĩa là vì khéo thấy được tướng khổ của sự thọ sanh, nên không chấp thủ.

Đại Huệ! Thủ đó, là hạng người ngu quyết định giữ cái thói quen khổ hạnh, cho là có nhiều thứ vui thích, nên cầu thọ sanh. Các bậc Tu-đà-hoàn kia ắt không chấp thủ như thế, trừ phương tiện của các bậc hướng đến tự giác, lìa vọng tưởng, được pháp vô lậu thọ trì trì giới. Đó gọi là tướng đoạn dứt giới thủ của Tu-đà-hoàn.

GIẢI

✅ Đây là giải thích hành tướng đoạn giới thủ.

Bởi vì giới lành hữu lậu, là nhân của trời người, mà Tu-đà-hoàn sở dĩ không chấp thủ đó, vì thấy rõ tướng khổ của sự thọ sanh. Phàm người chấp thủ, là hàng phàm ngu đối với các cõi, tham đắm cái vui thế tục, nên khổ hạnh trì giới, nguyện sanh về cõi đó cõi kia. Vì vậy phàm phu nguyện sanh trong cõi trời người, mới giữ năm giới mười điều lành.

Còn người ngu ngoại đạo, sợ tướng khổ đời sau, nên giữ giới trâu, giới chó…, nhổ tóc, bôi mũi, nằm trên gai nhọn, chông nhọn, các thứ khổ hạnh. Nói rằng đời này chịu khổ nếu tận, tương lai một bề được vui. Đó là tướng chấp thủ giới tà. Hàng Tu-đà-hoàn không giữ những tướng như vậy.

Song ở đây cũng có người giữ giới phẩm, là chỉ vì cầu pháp tối thắng vô lậu vô phân biệt. Vì thế chỗ tu ấy là định cọng giới, không phải là phàm ngu chấp thủ giới tà. Đó gọi là tướng đoạn dứt giới thủ.

🪷

Tu-đà-hoàn đoạn ba kết, tham, si không sanh. Nếu Tu-đà-hoàn khởi ý niệm này: “Các kết này ta không thành tựu” thì sẽ có hai lỗi là rơi vào thân kiến và các kết không đoạn.

GIẢI

Đây kết luận lìa lỗi. Bởi tham ái từ thân kiến sanh, si từ nghi và giới thủ sanh.

Nay ba kết đã đoạn, thế là nhân đoạn và duyên không sanh. Ba kết đã đoạn, nếu còn tâm hay đoạn, thì cũng rơi vào thân kiến, trở lại không thể đoạn các kết sử.

Thế là có 2 lỗi, nên Ngụy dịch: Nếu họ như thế, không lìa hai lỗi.

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Thế Tôn nói các thứ tham dục, trong những thứ đó đoạn cái tham nào? 3

Phật bảo Đại Huệ: Yêu thích người nữ, trói buộc đắm trước, các thứ phương tiện tạo nghiệp ác thân, khẩu, được vui hiện tại, gieo khổ đời sau. Tu-đà-hoàn không sanh.

Vì sao? Vì được cái vui tam-muội chánh thọ, nên họ đoạn (tham dục) mà chẳng hướng đến đoạn tham Niết-bàn.

GIẢI

Đây nêu lên chỗ đoạn dứt cội gốc sanh tử.

Kinh nói: “Tất cả chúng sanh đều lấy dâm dục làm tánh mệnh chính, hay khiến tất cả chúng sanh bị sanh tử chẳng dứt, là ái và dục vậy”.

Tu-đà-hoàn đã biết dục lạc hiện tại là nhân khổ đời sau, nên vĩnh viễn đoạn dứt tâm dâm dục.

Nên nói: Họ không sanh. Vì sao? Vì cái vui của thiền định giải thoát, cái vui của ngũ dục thế gian không thể so sánh được.

Do được vui thiền định nên có thể đoạn dứt dục lạc kia. Nhưng họ chỉ đoạn dục tham, chưa đoạn tham thú hướng Niết-bàn.

Vì sao? Vì hàng Nhị thừa tham trước cái vui tịch diệt của tam-muội, không khởi một niệm độ sanh, nên Phật quở rằng: “Uống rượu tịch diệt, nằm trên giường vô vị, là hạng mầm cháy giống hư”.

Nên đây đặc biệt nói Chẳng hướng đến đoạn tham Niết-bàn. Xem chỗ không đoạn tham Niết-bàn này, thì Sơ quả ở đây không phân chia lanh lợi hay chậm lụt, chỉ cần đoạn ba kiết sử liền chứng Tứ quả vậy.

🪷

Đại Huệ! Thế nào là tướng Tư-đà-hàm? Nghĩa là vì chiếu soi nhanh chóng sắc tướng sanh tướng vọng tưởng, kiến tướng không sanh, vì khéo thấy tướng thú hướng của thiền, chóng đến đời này, chấm dứt mé khổ được Niết-bàn. Đó gọi là Tư-đà-hàm.

GIẢI

✅ Đây giải thích hành tướng của Nhị quả.

Tư-đà-hàm tên là Nhất vãng lai. Chóng là chỉ một phen đến. Sắc tướng là sắc uẩn, vọng tưởng là thọ… 4 uẩn sau. Nghĩa là do trí quán sanh không, một phen quán chiếu sanh tướng của ngũ uẩn, không khởi tâm phân biệt. Ngụy dịch: “Chẳng phải là tưởng kiến hư vọng phân biệt”, nên nói kiến tướng không sanh, vì khéo thấy tướng thú hướng của thiền.

✅ Đây là hàng phàm phu lợi căn, không cần trải qua ba lần, năm lần, bảy lần sanh trở lại để đoạn kiết sử, không vào Sơ quả, một phen phát tâm liền lên Nhị quả. Chỉ cần một lần trở lại liền chứng Niết-bàn, nên nói Chóng đến đời này, chấm dứt mé khổ được Niết-bàn.

Do đây mà xem thì quả Tu-đà-hoàn có ba hạng căn cơ, vì căn có nhanh chậm, mê hoặc có dày mỏng nên phần đoạn kiết sử có lâu mau không đồng. Nay quả Tu-đà-hàm này với quả A-na-hàm sau đều đứng về mặt phàm phu lợi căn chướng mỏng, vừa phát tâm liền chứng quả, trong một đời đắc đạo, không cần trải qua thứ lớp trước sau.

Vì sao? Vì ở đoạn trước nói rằng “Ngay nơi hoặc loạn khởi lên chủng tánh Thanh văn”, nên ở đây là quán thẳng năm uẩn cạn sâu để nói về quả vị.

🪷

Đại Huệ! Thế nào tướng A-na-hàm? Nghĩa là tánh của sắc tướng ở quá khứ, vị lai, hiện tại là phi tánh, thấy lỗi lầm của sanh, vì khiến vọng tưởng chẳng sanh, và vì kiết sử đoạn dứt gọi là A-na-hàm.

GIẢI

✅ Đây giải thích hành tướng của Tam quả.

A-na-hàm dịch là Bất lai. Bởi ở trước, Tư-đà-hàm chỉ có thể quán năm uẩn trong hiện tại, không khởi phân biệt, chưa quán được vị lai, nên cần phải một phen trở lại, sau mới được Niết-bàn.

Nay A-na-hàm, căn tánh rất lanh, có thể quán sắc uẩn trong ba đời đều vô tánh, lại thấy được chỗ sanh ở đời sau đều có các khổ, tai họa lỗi lầm, nên chán khổ đoạn tập, khiến cho 4 uẩn sau chẳng sanh vọng tưởng, liền chóng dứt được ba kiết sử.

Đây tức là ngay một đời chứng quả, không còn trở lại, nên gọi là Bất lai. Đây cũng là từ phàm phu vào thẳng Tam quả, chóng chứng vô sanh.

🪷

Đại Huệ! A-la-hán là các thiền, tam-muội giải thoát, lực, minh; phiền não, khổ, vọng tưởng phi tánh, cho nên gọi là A-la-hán.

GIẢI

✅ Đây là giải thích hành tướng của Tứ quả. Nghĩa là quả vị A-la-hán này, là chỗ rốt ráo mà ba quả vị trước, dù căn cơ nhanh chậm đều thú hướng đến.

Nếu đến quả vị này, thì các thiền tam-muội và bát giải thoát tự nhiên liễu đạt, cũng có thể chứng một phần thập lực, tam minh lục thông thảy đều thành tựu.

Đến như phiền não phát nghiệp, chiêu cảm các khổ đều đã đoạn vĩnh viễn. Tất cả vọng tưởng đều diệt sạch không còn thừa, nên đây được danh xưng A-la-hán.

Bởi 4 quả này, đều đứng về mặt quán thẳng vọng pháp năm uẩn, để rõ nghĩa “Ngay nơi hoặc loạn khởi lên chủng tánh Thanh văn”.

Chỉ do căn cơ bén nhạy hay chậm lụt cho nên có ba quả trước sai biệt không đồng, kỳ thật đều gọi chung là Thanh văn, để hiển rõ tướng chung, tướng riêng, chẳng phải như các kinh khác nói có quả vị nhất định.

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Thế Tôn nói có ba bậc A-la-hán. Ở đây nói về A-la-hán nào? Thế Tôn, là A-la-hán được đạo Nhất thừa tịch tịnh 4, là bậc Đại Bồ tát phương tiện thị hiện làm A-la-hán hay là do Hóa Phật hóa ra? 5

Phật bảo Đại Huệ: Là hàng Thanh văn được đạo nhất thừa tịch tịnh, chẳng phải hàng khác. Đường dịch: Ở đây nói về hàng thú tịch chẳng phải những hàng khác. Hàng khác là những người hành Bồ tát hạnh, và Phật biến hóa, vì bổn nguyện phương tiện khéo, ở trong đại chúng thị hiện thọ sanh, vì trang nghiêm quyến thuộc Phật.

GIẢI

Đây kết nêu bày chẳng phải chân quả.

Ý của Đại Huệ là phân biệt rõ ràng chân ngụy, nên hỏi trong ba bậc A-la-hán, đây thuộc A-la-hán nào.

Phật nói: Chỗ ta nói là hàng định tánh Thanh văn thú hướng tịch diệt, đoạn bốn trụ kiết, ra khỏi khổ sanh tử, được Niết-bàn, là danh tự La-hán, chẳng phải A-la-hán chân thật.

Hàng Bồ tát Thập địa trong Hoa Nghiêm là A-la-hán chân thật, tức trong kinh này nói những người hành Bồ tát hạnh, là những vị nguyện phương tiện, tức là trong ẩn hạnh Bồ tát, bên ngoài hiện tướng Thanh văn.

Ngoài ra còn có các vị do Phật hóa hiện là vì trang nghiêm các cõi nước Phật, và vì làm chúng hội quyến thuộc. Hai hạng Thanh văn này, chẳng phải chỗ ta đề cập đến trong đây. Bởi các Thanh văn ở đây, quả đã không thật mà nhân cũng không thật, nên văn sau kết lỗi.

🪷

Đại Huệ! Ở chỗ vọng tưởng thuyết pháp các thứ, nói rằng được quả được thiền. Vì người tu thiền, nhập thiền thảy đều viễn ly (Đường dịch: Vì người tu thiền và thiền đều là tánh ly). Thị hiện được tự tâm hiện lượng, được quả tướng, gọi là đắc quả.

GIẢI

Đây kết hàng Nhị thừa nhân chẳng phải chân nên quả chẳng rốt ráo.

Bởi vì hàng Thanh văn ưa tịch diệt ấy, chỉ chứng thiên không, chưa đạt thật tướng của chân lý. Do vô minh còn đủ nên y cứ vọng tưởng mà thuyết pháp thì pháp chẳng phải chân pháp. Vì chỉ cùng tận sanh tử mà cho là giải thoát, kỳ thật chưa được giải thoát tất cả, mà dối xưng là đắc quả.

Chỉ có Diệt định chưa được đại định Thủ Lăng Nghiêm mà dối xưng là được thiền. Trong vô sở đắc dối cho là có chứng đắc. Vì không hiểu rằng người nhập thiền định và thiền định, thảy đều viễn ly, nên vọng chấp Niết-bàn cho là chân quả.

Chỗ được diệt độ của họ cũng chẳng phải là thật diệt độ, chỉ theo tự tâm vọng thấy mà nói có tướng đắc quả. Nên văn trước nói: “Trước sau chuyển tiến, tướng chẳng trừ diệt”. ✅ Đây là ngu phu sở hành thiền.

Luận nói: “Hiện tiền có mảy may, cho là tánh duy thức, vì còn có sở đắc, chẳng thật trụ duy thức”. Bồ tát còn vậy, huống hàng định tánh Thanh văn ư!

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Người muốn vượt qua cảnh giới thiền, vô lượng, vô sắc, nên lìa tướng tự tâm hiện lượng (Đường dịch: Nếu muốn vượt qua các thiền vô lượng, vô sắc giới, nên lìa các tướng do tự tâm hiện).

Đại Huệ! Những loại thiền Thọ tưởng, chánh thọ, vượt qua tự tâm hiện lượng ấy, không thể được (bất nhiên). Vì sao? Vì còn có tâm lượng.

GIẢI

✅ Đây là tổng kết phần ngu phu sở hành thiền của ngoại đạo Thanh văn trên đều chẳng phải nhân chân thật, dạy bảo nên lìa lỗi dứt quấy.

Thiền, chỉ chung thiền ngoại đạo và Nhị thừa. Vô lượng là chỉ riêng cõi trời Quảng Quả của người tu Tứ vô lượng tâm; loại thiền dị sanh hữu lậu.

Vô sắc giới là chỉ riêng Tứ không xứ định. Các loại thiền kể trên, tuy có khác biệt giữa thế và xuất thế, kỳ thật thảy đều chưa lìa khỏi tướng tâm lượng.

Nên ở đây khuyên hành giả tu như thật, nếu muốn vượt qua các thiền Nhị thừa và ngoại đạo, cần phải xa lìa tướng tự tâm hiện lượng.

Nhân Minh Luận nói rằng: “Hiện lượng có hai thứ là Chân và Tự”. ✅ Đây là Tự hiện lượng.

Vì chưa quên tâm lượng, còn có tướng chấp thủ nên khuyên cần vượt qua. Chữ Nhiên ở đây là cho phép.

Nghĩa là không những không cho phép thân cận tập tành ngoại đạo tà thiền, mà ngay nơi loại tam-muội Diệt thọ tưởng của hàng Nhị thừa, ở trong pháp vượt qua tự tâm hiện lượng của ta cũng quyết định không cho phép.

Vì sao? Vì những loại ấy còn có tâm lượng, cho nên phải xa lìa.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói

Những người tu không thể thành Vô thượng Bồ-đề, mà chỉ riêng thành Thanh văn, Duyên giác, và thành ngoại đạo, chư thiên, ma vương và quyến thuộc của ma, đều do không biết hai thứ căn bản, tu tập lầm lộn như nấu cát muốn thành cơm, dù cho trải qua số kiếp nhiều như vi trần, rốt cuộc không thể được.

Vì cát chẳng phải là căn bản của cơm, nên muốn chứng vô sanh cần phải xa lìa tâm tướng là chỗ đệ nhất nghĩa. Vì thế ở đây đặc biệt răn dạy.

🪷

Lúc ấy Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này bèn nói kệ:

Các thiền Tứ vô lượng

Vô sắc tam-ma-đề

Tất cả thọ tưởng diệt

Tâm lượng kia không có

GIẢI

✅ Đây tụng tổng kết về ngu phu thiền. Tứ vô lượng tức là tứ vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả.

Người cõi trời Quảng Quả, vì muốn trừ cái sân não tăng ái không vui của chúng sanh nên tu 4 tâm này. Đây cũng là dị sanh hữu lậu thiền, không phải là Tứ vô lượng tâm của Phật. Nghĩa là các hành tướng thiền của ngoại đạo Nhị thừa, đều là mỗi mỗi vọng kiến, chấp giữ tướng tự tâm, kỳ thật bọn họ vốn không có

🪷

Lúc ấy Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này bèn nói kệ:

Tu-đà, A-na-hàm

Vãng lai và Bất hoàn

Và cùng A-la-hán

Những tâm ấy hoặc loạn.

Thiền giả, thiền và duyên

Đoạn tri thấy chân đế 6.

✅ Đây là lượng vọng tưởng

Nếu giác được giải thoát

GIẢI

✅ Đây tụng riêng Nhị thừa không chân thật.

Nghĩa là hàng Thánh nhân tứ quả mà tâm chưa lìa hoặc loạn.

Tức là chỗ tu thiền định, vào được quán ngã không, mà các tướng bị quán như xương trắng, vô thường, khổ, bất tịnh… đều không lìa chấp trước. Tức là cái chân đế được thấy do đoạn hoặc, cũng không lìa vọng kiến, chấp thủ tướng Niết-bàn. Nên nói Thiền giả, thiền được duyên; đoạn tri, thấy chân đế, đây là lượng vọng tưởng.

Nếu biết những việc đây không chân thật, tức được giải thoát rốt ráo. Chữ tri trong đoạn tri, là phân biệt.

  • Trên đây giảng chung về ngu phu thiền đã xong.

  • Kế sau đây nói về quán sát nghĩa thiền.

L₂ - Quán sát nghĩa thiền

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Có 2 thứ giác là Quán sát giác và Tướng vọng tưởng nhiếp thọ chấp trước kiến lập giác.

GIẢI

Đây nêu ra hai loại giác chân và vọng, để giải thích về hành tướng của quán sát nghĩa thiền trong bốn thứ thiền ở trước.

Đường dịch: Có hai thứ giác trí, là quán sát trí và tướng chấp thủ phân biệt chấp trước kiến lập trí. Bởi pháp chẳng phải có không, chỉ theo trí mà chuyển biến. Nếu y theo chánh trí quán sát thì các pháp chẳng có, nếu dùng tà trí quán sát thì các pháp chẳng không.

Chẳng không thì tứ cú khởi, chẳng có thì nhất chân riêng lập. Nhất chân lập thì tứ cú ly, tứ cú ly thì tâm cảnh tuyệt, tâm cảnh đã tuyệt thì người pháp đều quên, nên quán sát nghĩa thiền này là vì để phá pháp chấp.

Văn trước nói “Nghĩa là nhân vô ngã tự tướng cộng tướng, ngoại đạo tự tha đều vô tánh rồi, quán pháp vô ngã, nghĩa của địa tướng này, lần lượt tăng tiến, đó gọi là quán sát nghĩa thiền”. Văn sau tự nói rõ. Song ở đây nêu lên cả chân lẫn vọng vì ý muốn bỏ tà về chánh vậy.

🪷

Đại Huệ! Quán sát giác nghĩa là nếu giác tướng tánh tự tánh, chọn lựa lìa tứ cú không thể được, đó gọi là quán sát nghĩa thiền.

GIẢI

✅ Đây là giải thích về chánh trí quán sát. Nghĩa là ngoại đạo Nhị thừa vọng chấp các pháp thật có tự tánh nên khởi lên tứ cú. Nay dùng chánh trí quán sát các pháp, vốn không tự tánh. Pháp đã không tự tánh thì tứ cú không chỗ nương, chọn lựa tìm cầu ngoài việc lìa tứ cú trọn không thể được. Vì không thể được nên thấy các pháp vô tánh gọi là Quán sát nghĩa thiền.

🪷

Đại Huệ! Tứ cú là lìa một khác, chung chẳng chung, có không, chẳng có chẳng không, thường vô thường. Đó gọi là tứ cú.

Đại Huệ! Lìa tứ cú này gọi là tất cả pháp 7.

Đại Huệ! Tứ cú này quán sát tất cả pháp, nên tu học.

GIẢI

Đây dạy người tu nên lìa tứ cú mà quán sát các pháp. Đó gọi là chánh quán. Nếu quán khác gọi là tà quán, nên khuyên tu học.

🪷

Đại Huệ! Thế nào là tướng vọng tưởng nhiếp thọ chấp trước kiến lập giác? Là tướng vọng tưởng nhiếp thọ, chấp trước tướng vọng tưởng chẳng thật của tứ đại chủng như cứng, ướt, nóng, động.

Tông, nhân, tướng thí dụ, chấp trước chỗ chẳng thật dựng lập mà dựng lập. Đó gọi là tướng vọng tưởng nhiếp thọ chấp trước kiến lập giác.

GIẢI

✅ Đây là tướng của hai thứ giác quán.

Đây nói về ngoại đạo tà trí.

Bởi, ngoại đạo kia không rõ các pháp vô tánh, vọng chấp các pháp thật có tự tánh.

Nên đối với tánh của bốn đại chủng là cứng, ướt, nóng, động, giữ tướng chấp trước, hư vọng phân biệt. Dùng tông, nhân, dụ mà vọng kiến lập. Đó gọi là tà trí thủ tướng phân biệt chấp trước kiến lập. Căn cứ vào tà trí này nên đối với các pháp vọng chấp một khác, có không… tà kiến về tứ cú.

Ý muốn người tu hành bỏ tà kiến này, liền gọi là chánh trí. Thế nên lìa tứ cú tức gọi là quán sát nghĩa thiền. Tông, nhân, dụ đó là ngoại đạo dùng ba chi này để kiến lập quả của họ, vì hiểu sai nên đều không thành tựu rốt ráo.

Nhân Minh Luận đưa ra ba mươi ba lỗi của họ, nên nói Chẳng thật dựng lập mà dựng lập.

Nếu Đại Bồ tát thành tựu hai thứ giác tướng này, sẽ được tướng rốt ráo của nhân pháp vô ngã, khéo biết phương tiện, hành tướng quán sát giác vô sở hữu, được Sơ địa 8.

Nhập trăm tam-muội, được tam-muội sai biệt, thấy trăm đức Phật và trăm Bồ tát, biết sự việc trăm kiếp quá khứ vị lai, ánh sáng soi trăm cõi nước.

Đây nói về tướng quán thành tựu đắc quả. Nghĩa là Đại Bồ tát lập chí liền dùng trí vô tướng thiện xảo để quán các pháp vốn không tự tánh, chóng đoạn hai chấp ngã pháp, bèn ở địa vị giải hạnh liền vào Sơ địa và Như Lai địa rốt sau.

Giải tức thập trụ, hạnh tức thập hạnh. Đây tuy nói giải hạnh, ý ở chỗ không cần trải qua tam hiền, để hiển bày khi vừa phát tâm liền lên địa vị Phật. Hoa Nghiêm nói: “Khi mới phát tâm liền được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, biết tất cả pháp là tự tánh của tâm, thành tựu huệ thân không do ngộ nơi khác”.

Nhập trăm tam-muội… xưa dẫn Nhiếp Luận rằng: “Bồ tát khi vào Sơ địa, chứng được mười loại trăm pháp môn”.

  • Một, trong khoảng sát-na chứng trăm tam-ma-đề.
  • Hai, dùng thiên nhãn thanh tịnh thấy trăm cõi Phật.
  • Ba, dùng sức thần thông có thể lay động trăm thế giới Phật.
  • Bốn, hay ở trăm cõi Phật giáo hóa chúng sanh.
  • Năm, hay dùng một thân hóa ra trăm loại thân hình khiến loài hữu tình được thấy.
  • Sáu, hay thành tựu trăm loại hữu tình được hóa độ.
  • Bảy, nếu vì lợi ích có thể lưu thân trụ thế trăm kiếp. Tám, có thể biết việc của trăm kiếp trước và sau.
  • Chín, hay dùng trí huệ vào trăm pháp môn.
  • Mười, có thể dùng thân quán sát trăm loại quyến thuộc. Các địa khác tăng sự thù thắng gấp bội lần, trong Hoa Nghiêm nói đủ.

🪷

Biết địa tướng thượng thượng, nguyện lớn thù thắng, thần lực tự tại, Pháp Vân quán đảnh, sẽ được địa vị tự giác của Như Lai, khéo buộc tâm trong 10 vô tận cú, thành thục chúng sanh, các thứ biến hóa quang minh trang nghiêm, được tam-muội chánh thọ tự giác thánh lạc.

GIẢI

Đây nói hành tướng từ Sơ địa đến tột cùng Như Lai địa.

Khéo buộc tâm trong mười vô tận cú thành thục chúng sanh nghĩa là khéo thuyết pháp, có thể đem một câu quảng diễn vô tận câu, có thể đem một pháp diễn vô tận pháp. Hành tướng của Bồ tát Cửu địa, theo Hoa Nghiêm như thế.

❔ HỎI:

Kinh này là pháp môn đốn giáo, những điều nói trên đều hiển bày thẳng đốn ngộ nhất tâm liền lên địa vị Phật. Vì sao trước sau mỗi phen ở chỗ chánh trí hiện tiền hay chỗ quán hạnh thành tựu, đều nêu đủ hành tướng Thập địa, há không rơi vào giai cấp sao?

📣 ĐÁP:

Kinh này thánh đế cũng không lập còn có giai cấp gì, bởi ở đây nêu quả để nghiệm nhân. Song, Thập địa cũng gọi là Phật địa, bởi vì chân như bình đẳng vô tướng, là chỗ Phật dạo chơi.

Chúng ta nếu có thể chóng vượt hữu tướng, tâm khế hợp nhất chân, cùng pháp thân dạo khắp, mỗi mỗi ứng hợp an nhiên tự tại nghiệp dụng rộng lớn, không cần theo thứ tự từ địa này đến địa kia. Nêu lên quả thù thắng này, cốt yếu hiển bày nhân chân thật, nếu là tà nhân vô nhân, làm sao đủ sức đến đó. Hơn nữa muốn người tu hành biết việc này để cũng đừng được ít cho là đủ, do hâm mộ tăng tiến thượng thượng, quyết được an trụ tự giác thánh trí tam-muội thù thắng sau rồi mới thôi.

  • Trên giải thích quán sát nghĩa thiền xong.

  • Sau ✅ Đây giải thích phan duyên như thiền. Ban đầu quán tứ đại như.

L₃ - Giải thích phan duyên như thiền

M₁ - Quán tứ đại như

M₂ - Quán ngũ ấm như

M₃ - Chỉ chánh quán

🌳🌲🌵

M₁ - Quán tứ đại như

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Đại Bồ tát nên khéo biết về tứ đại tạo sắc.

Thế nào là Đại Bồ tát khéo biết tứ đại tạo sắc?

Đại Huệ! Đại Bồ tát biết như thế này: Chân đế là tứ đại chẳng sanh, đối với tứ đại chẳng sanh ấy, quán sát như vậy, quán sát rồi biết ngằn mé của danh, tướng, vọng tưởng, ngằn mé tự tâm, ngoại tánh phi tánh. ✅ Đây gọi là ngằn mé tâm hiện vọng tưởng, là ba cõi 9 Quán tứ đại tạo sắc ấy tánh ly, rành rẽ tứ cú thanh tịnh, lìa ngã ngã sở, trụ trong tướng tự tướng phân đoạn như thật, thành tựu tự tướng vô sanh.

GIẢI

Đây nói tứ đại vốn tự chẳng sanh, để giải thích phan duyên như thiền. Phan duyên là vọng tưởng. Tứ đại là danh tướng. Bởi vọng tưởng nguyên là chánh trí, danh tướng vốn tự như như.

Do phàm phu không biết ba cõi chỉ do tâm hiện, nên vọng thấy tứ đại và tứ đại sở tạo là thật có, nên vọng chấp đại chủng cho là sanh nhân. Thế là mê chánh trí làm vọng tưởng, biến như như thành danh tướng. Do đó khởi lên phan duyên, tạo ra tứ cú lầm lạc, vì các thứ tà chấp nên nơi như mà chẳng như.

Nay Bồ tát dùng chánh trí quán sát các đại chủng, đương thể vắng lặng, chân thật chẳng sanh. Thấy rõ tất cả danh tướng trong ba cõi, chỉ là vọng tưởng phân biệt do tâm hiện, vốn không có vật nào ngoài tâm.

Khi quán như thế, ắt đại chủng sở tạo thảy đều tánh ly, nếu đại chủng tánh ly, ắt bốn chấp chóng dứt, vật ngã đều không. Như thế thì ngay vọng tưởng là chánh trí, rõ danh tướng vốn như như. Nhất tâm trụ chỗ như thật, vạn pháp thảy đều chẳng sanh.

Bản Đường dịch: “Trụ chỗ như thật, thành tựu tướng vô sanh”. ✅ Đây là lý do quán tứ đại chẳng sanh là phan duyên như thiền. Vì phan duyên tức là Như, chẳng phải phan duyên đến Như vậy.

Nên nói Khéo biết tứ đại tạo sắc… Do thấu rõ tứ đại chẳng sanh, nên nói là khéo biết, ngoại đạo không rõ, nên nói là không khéo biết.

🪷

Đại Huệ! Tứ đại chủng ấy, làm sao sanh tạo sắc? Nghĩa là vọng tưởng về đại chủng thấm ướt, sanh thủy giới trong và ngoài. Vọng tưởng về đại chủng năng lượng 10 sanh ra hỏa giới trong và ngoài.

Vọng tưởng về đại chủng phiêu động sanh ra phong giới trong và ngoài. Vọng tưởng về đại chủng chặt đứt sanh ra địa giới trong và ngoài.

GIẢI

✅ Đây nói tứ đại từ vọng tưởng sanh, để phá ngoại đạo vọng chấp tứ đại là sanh nhân, để nói rõ về chỗ “Không khéo biết tứ đại tạo sắc, thành nghĩa tướng vọng tưởng nhiếp thọ chấp trước kiến lập giác” ở trước.

Do ngoại đạo kia không hiểu năm uẩn và các pháp đều do tâm hiện, bèn vọng chấp tứ đại chủng cho là sanh nhân hay tạo các pháp. Nên ở đây trách rằng Chỗ họ chấp về tứ đại chủng, làm sao có thể tạo sắc được ư? Chữ “làm sao” cũng như chữ “thế nào” là từ ngữ dùng vừa trách vừa hỏi.

Bởi, ta chỉ nói tứ đại từ vọng tưởng sanh, chẳng phải từ tứ đại sanh. Thế là vọng tưởng làm tứ đại chủng, chẳng phải tứ đại làm tứ đại chủng. Nhưng vọng tưởng vô tánh, tức tứ đại vốn tự chẳng sanh. Nay hàng phàm phu tà chấp kia hiểu lầm, không những thấy tứ đại sanh, còn thêm vọng chấp tứ đại hay sanh các thứ khác.

Đó là lý do không khéo biết về tứ đại tạo sắc, vọng khởi lên bốn lối chấp, cho nên nơi như mà chẳng như. ✅ Đây là ngôn thuyết của ngu phu, không phải thánh hiền vậy. Vậy nên sau kết luận rằng “Chẳng phải chỗ ta nói”.

Bởi vì kinh này văn xưa mà vắn tắt, ý Phật sâu xa thâm trầm, rất khó thầm thông huyết mạch. Chú thích xưa dẫn chứng Lăng Nghiêm, đoạn nói về thế giới tương tục đối chiếu để giải thích đoạn kinh này. Tuy trên văn từ tạm có căn cứ, kỳ thật nghĩa rất khó hội thông.

Vì sao? Vì đằng kia (Lăng Nghiêm) nói về lý do sanh khởi của thế giới, để nói tình trạng thứ lớp sanh thành lẫn nhau. Nay kinh này chỉ nói tứ đại từ vọng tưởng sanh, để phá ngoại đạo vọng chấp tứ đại là sanh nhân thôi. Hai kinh tuy lời giống mà nghĩa khác. Nếu chấp vào lời văn rõ ràng của kinh kia, thì trở lại mê lầm ý chỉ của kinh này.

Người đọc cẩn thận chớ ức. đoán, văn sau tự sẽ chứng minh. Câu văn sau thế này “Nghĩa là đất… tứ đại, và những vật được tạo… có duyên của tứ đại, chẳng phải do tứ đại kia làm duyên, mà vọng tưởng là nhân của tứ đại, chẳng phải tứ đại làm nhân cho tứ đại”.

🪷

Sắc chung với hư không, chấp trước tà đế, ngũ ấm nhóm họp, tứ đại tạo sắc sanh.

GIẢI

✅ Đây là nương vào văn trên, lặp lại lối chấp của ngoại đạo, để rõ tứ đại không thể tạo sắc sanh; để phá ngoại đạo vọng chấp tức sắc là ngã… tứ cú.

Tà đế là minh đế. Tức Số Luận sư lập ra 25 minh đế, cho là từ thần ngã làm minh sơ chủ đế, từ minh sanh giác, từ giác sanh ngã tâm, từ ngã tâm sanh ngũ trần, từ ngũ trần sanh ngũ đại, từ ngũ đại sanh mười một căn.

Trong câu này chữ Sắc và hư không là chỉ ngũ đại, chữ ngũ ấm là chỉ mười một căn, bởi ngoại đạo vọng chấp ngũ đại sanh ngũ ấm, vì hư không vô hình, chỉ hay hòa với sắc, nên chỉ nói Ngũ ấm nhóm họp từ tứ đại tạo sắc sanh. Chữ chung là hòa hợp.

Lại Thắng luận sư chấp lục cú là sanh nhân. Một là Thật, hai là Đức, ba là Nghiệp, bốn là Đại hữu, năm là Đồng dị, sáu là Hòa hợp. Lại ở trong Thật, chấp có chín pháp. Là ngũ đại, thời, phương, hòa, hợp. Chín pháp này hay sanh ra năm ấm, các pháp.

Nên chấp “Sắc tức là ngã, ngã ở trong sắc…”, bốn lỗi tà kiến. Nay Thế Tôn muốn phá điều ấy, bèn trước đưa ra lối chấp của họ, nói rằng Sắc chung với hư không, đó là chấp trước tà đế, vọng nói ngũ ấm tích tụ do tứ đại tạo sắc sanh.

Văn sau, trước phá sắc chẳng tức ngã, ngã không ở trong sắc… Sau nữa phá tứ đại tạo sắc không thể sanh ra ngũ ấm. Trước phá sắc chẳng tức là ngã, vì ngoại đạo vọng chấp tám thức làm thần ngã, nên đứng về mặt thức để phá đó.

🪷

Đại Huệ! Thức đó, là vì nhân ưa mến những dấu vết của cảnh giới, nên các nẻo tương tục.

GIẢI

✅ Đây ý phá sắc chẳng tức ngã… bốn lối chấp.

Bởi, ngoại đạo kia vọng chấp tứ đại tạo sắc hay sanh ngũ ấm, nên vọng chấp ngã ở trong sắc, sắc tức là ngã… Phật cho rằng lối chấp thần ngã của họ, tức là Thức trong pháp ta. Nếu nói sắc tức là ngã, thì khi người chết, tứ đại sắc diệt mà thức chẳng diệt, vì thức này nhân yêu mến tham trước cảnh giới lục trần nên tạo nghiệp thiện ác, lại chiêu cảm quả báo vị lai, trở lại thọ sanh các nẻo, tiếp nối không dứt.

Nếu quả nhiên sắc tức là thức, thì khi sắc kia diệt, thức cũng cùng với sắc chung diệt, há chẳng phải đoạn diệt ư? Nay đã thọ sanh tiếp nối qua các loài, thì đủ biết thức chẳng diệt, thế thì sắc chẳng phải tức ngã, điều đó rõ ràng. Chẳng những sắc chẳng tức ngã mà tứ đại tạo sắc không thể sanh ngũ uẩn, nên văn sau phá luôn.

🪷

Đại Huệ! Địa,… bốn đại và tạo sắc… có tứ đại duyên, chẳng phải tứ đại kia làm duyên.

GIẢI

✅ Đây nói tứ đại không thể tạo sắc.

Do ngoại đạo chấp tứ đại là năng tạo, các pháp năm uẩn là vật được tạo (sở tạo), là tứ đại làm sanh duyên cho tứ đại. Duyên tức là nhân. Nên Phật lập lại lối chấp ấy mà phá đó, nói rằng: Tứ đại và năm uẩn sở tạo… sắc pháp tự có tứ đại để làm nhân, đó chỉ là vọng chấp. Không phải tứ đại kia cùng năm ấm làm nhân. Vì sao? Vì tứ đại kia không thể tạo sắc, sanh ra năm uẩn. Văn sau nêu phá.

🪷

Vì cớ sao? Nghĩa là tánh, hình, tướng, xứ, những phương tiện được tạo là vô tánh, đại chủng chẳng sanh.

Đại Huệ! Tánh, hình, tướng, xứ, phương tiện được tạo hòa hợp sanh, chẳng phải vô hình. Cho nên tướng tứ đại tạo sắc, là vọng tưởng của ngoại đạo, chẳng phải ta.

GIẢI

✅ Đây nêu lý do phá tứ đại chẳng thể tạo năm ấm.

Tánh là tự thể của tứ đại. Hình, tướng, xứ là các pháp trên có những hình trạng dài, ngắn, cao, thấp, lớn, nhỏ… Phương tiện tức là phương pháp tạo tác. Do ở trước, Phật nói tứ đại không thể tạo sắc, nên ở đây đưa lý do để phá. Nói rằng tại sao không thể tạo sắc? Do tìm cầu tự thể, hình tướng của tứ đại năng tạo và phương tiện tạo tác, đều chẳng thể được, vì không tự tánh.

Đã không tự tánh thì đại chủng vốn tự chẳng sanh, vốn tự vô sanh há lại có thể sanh ra các pháp ư? Thế là chấp tứ đại hay tạo sắc là hư vọng. Nếu nói rằng năm uẩn, các pháp được tạo từ tứ đại sanh, điều này cũng không thành. Vì sao? Vì đại chủng năng tạo là vật có thể tướng hình trạng, nay vật năng tạo đã có hình tướng, thì năm uẩn được tạo đáng lẽ cũng phải có hình, chẳng phải vô hình.

Ý nói rằng, dù chấp nhận tứ đại có thể tạo năm uẩn, thì trong năm uẩn được tạo ấy, chỉ một sắc uẩn là có hình tướng, còn bốn uẩn kia vô hình, bốn uẩn ấy đâu phải vật được tạo? Thế là chấp sở tạo cũng là hư vọng. Ngoại đạo chấp sắc tức là ngã, khi sắc diệt mà thức không diệt, đủ biết năm ấm chẳng phải do tứ đại tạo.

Nay quán tứ đại vốn không thể tạo sắc, cho nên lối chấp tứ đại tạo sắc tướng ấy, là kiến chấp điên đảo vọng tưởng phân biệt của ngoại đạo, chẳng phải chỗ ta nói. Nên nói chẳng phải ta Do ở trên Phật nói tứ đại có hình không thể tạo vô hình, nên văn sau giải thích, để cho rõ phép quán năm ấm Như.

M₂ - Quán ngũ ấm như

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Sẽ nói về tướng tự tánh của các ấm.

Thế nào tướng tự tánh của các ấm? Là năm ấm.

Thế nào là năm? Là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Bốn ấm chẳng phải sắc ấy là thọ, tưởng, hành, thức.

GIẢI

Phật nói có hình không thể tạo ra vô hình, nên nói tướng tự tánh của năm ấm, để cho rõ 4 ấm chẳng phải là sắc được tạo, sắp hiển năm ấm vốn Như vậy.

🪷

Đại Huệ! Sắc đó, tứ đại và tạo sắc mỗi mỗi có tướng khác.

Đại Huệ! Chẳng phải vô sắc có bốn số, như hư không.

Thí như hư không vượt quá tướng số lượng, lìa khỏi số lượng, mà vọng tưởng nói là một hư không.

GIẢI

✅ Đây giải thích về bốn ấm vô hình, chẳng phải là sắc được tạo.

Tứ đại, là tứ đại bên ngoài. Tạo sắc, là tứ đại bên trong. Nghĩa là trong năm ấm, sắc là một ấm, có thể cho rằng do tứ đại tạo, vì bốn pháp cứng, ướt, nóng, động mỗi mỗi khác nhau về hình tướng, là có hình. Vì thế không thể so sánh với bốn ấm không sắc chất như hư không.

Đến như thọ… bốn ấm không có hình tướng cũng như hư không, chỉ do vọng tưởng danh ngôn nói là bốn ấm. Cũng như hư không vượt khỏi số lượng chỉ vì phân biệt mà nói một hư không thôi. Há lại có hư không vô hình mà thuộc về bốn đại sở tạo ư? Thế là vọng chấp tứ đại hay tạo năm ấm đều là tà kiến vậy.

🪷

Đại Huệ! Ấm như thế vượt quá tướng số lượng, lìa khỏi số lượng, lìa tánh phi tánh, lìa tứ cú. Tướng số lượng là ngôn thuyết của ngu phu, chẳng phải thánh hiền.

GIẢI

✅ Đây giải thích chung năm ấm đều là không.

Ấm như thế là chỉ chung năm ấm. Tánh là sắc ấm. Phi tánh là bốn ấm. Nghĩa là chẳng những bốn ấm như hư không, mà sắc ấm tìm cầu mỗi mỗi không tự tánh, đại chủng chẳng sanh mà sắc vốn không. Thế thì năm ấm đều không, vượt quá tướng số lượng, há lại có thể dùng số năm để tính đếm ư?

Cho nên nói Các ấm như thế vượt quá tướng số lượng, lìa khỏi số lượng. Bởi đã vượt quá danh số thì năm ấm vốn không, năm ấm đã không, thì lìa tánh phi tánh vậy. Lìa tánh, thì sắc không thể nói là có. Lìa phi tánh, thì bốn ấm kia bất tất nói là không.

Thế là có không đã lìa, tứ cú dựa vào đâu an lập? Nên nói Lìa tánh phi tánh, lìa tứ cú.

Song tứ cú đã ly thì bách phi đều dứt, đường danh ngôn dứt thì ấm vốn như như.

Lại há có thể dùng tướng số lượng để tìm cầu ư? Thế nên chấp có tướng số lượng là ngôn thuyết của ngu phu, không phải sức thấy biết chân thật của thánh hiền.

Ngài Vĩnh Gia nói: “Tất cả số câu chẳng số câu, cùng tánh linh ta nào quan hệ”. Thật là chứng sâu chỗ này!

🪷

Đại Huệ! Bậc thánh thấy các sắc tượng như huyễn, lìa lập bày về khác và chẳng khác. Lại như mộng, bóng, thân sĩ phu, vì lìa khác chẳng khác.

Đại Huệ! Chỗ thú hướng của thánh trí đồng với vọng tưởng ấm hiện.

GIẢI

✅ Đây giải thích hàng phục nạn vấn để rõ năm ấm vốn Như.

Do ở trên Phật nói năm ấm đều không, e người ngu nghi rằng: Hiện thấy thánh phàm đều có năm ấm. Vì sao nói không? Nên ✅ Đây giải thích rằng: Ta nói năm ấm đều không, chẳng phải là tuyệt đối không, chỉ là cái nhìn của bậc thánh trí thấy như huyễn chẳng thật. Đó là rõ thấu duyên sanh vô tánh, thể ấy toàn không, chỉ không khởi lên những vọng kiến lập bày về một, khác…, mà không phải tuyệt nhiên diệt mất, không có mặt. Bởi năm ấm này, là bóng sáng của pháp thân, như thân trong mộng, như bóng trong gương, không có cái riêng khác, nên nói chẳng khác chẳng không khác.

Thế nên ta nói năm ấm vốn Như, người ngu không biết điều này, bèn vọng khởi kiến chấp phân biệt là một là khác.

Ngài Vĩnh Gia nói “Huyền hóa không thân là pháp thân”. Thế thì năm ấm đương thể là pháp thân.

Khi vọng tưởng về năm ấm hiện, pháp thân cùng hiện, chỉ tùy theo chỗ thấy của thánh phàm không đồng nhau thôi. Nếu dùng vọng tưởng phân biệt thì pháp thân ẩn mà năm ấm hiện.

Nếu dùng thánh trí quán thì pháp thân hiện mà năm ấm mất. Nên văn trước nói “Bởi hoặc loạn ấy, chư thánh cũng hiện, mà chẳng điên đảo”. Nên nói Chỗ thú hướng của thánh trí đồng với vọng tưởng ấm hiện.

Kỳ thật vọng tưởng vốn như, hay quán sát được như thế, gọi là phan duyên như thiền. Văn sau kết luận rằng.

M₃ - Chỉ chánh quán

🪷

Đây gọi là tướng tự tánh của các ấm, ông nên trừ diệt.

Diệt rồi, nói pháp vắng lặng đoạn trừ kiến chấp ngoại đạo trong tất cả cõi Phật.

GIẢI

Kết luận này gọi là “Lìa lỗi”Bởi chưa đạt năm ấm vốn Như, nên vọng khởi kiến chấp sanh diệt một khác, pháp được nói ra đều là pháp sanh diệt.

Nên đây kết luận rằng: Năm ấm không tịch như thế, các ông nên diệt trừ kiến chấp tướng tự tánh.

Diệt kiến chấp sanh này liền chứng vô sanh, có thuyết pháp đều là pháp tịch diệt, lại đem chỗ chứng này, đoạn trừ tất cả tà kiến ngoại đạo.

🪷

Đại Huệ! Khi nói pháp tịch tĩnh, thấy pháp vô ngã thanh tịnh, vào Bất động địa. Vào Bất động địa rồi vô lượng tam-muội tự tại và được ý sanh thân, được tam-muội như huyễn thông đạt rốt ráo, lực minh tự tại, cứu độ nhiếp hóa lợi ích tất cả chúng sanh, cũng như đại địa nâng đỡ nuôi dưỡng chúng sanh. Đại Bồ tát cứu độ khắp hết chúng sanh cũng lại như thế.

GIẢI

Đây kết về tướng hạnh thành đắc quả của Phan duyên như thiền.

Phần trước nói về quán hạnh thành tựu của Quán sát nghĩa thiền, nghĩa là từ phàm phu vào địa vị giải hạnh, tức chứng Sơ địa, quán sát lần lượt vào đến địa vị thượng thượng. Do chóng thấy chân lý đoạn dần vô minh nên nói “đốn ngộ tiệm tu” là đây vậy. Nay quán hạnh của Phan duyên như thiền thành tựu, liền lên Bát địa, liền chứng vô sanh, liền đoạn vô minh, liền xả tạng thức, nên nói “đốn ngộ đốn tu” là như vậy.

Về trước, ba môn thiền là hành tướng của Tam thừa, thiền Nhị thừa cố nhiên bị quở trách, hai môn thiền sau tuy thù thắng hơn, vẫn còn thuộc nhân quả mê ngộ. Nên kệ nói “Các thừa chẳng rốt ráo”.

Vì sao? Vì trong tông môn, rõ ràng thân chứng chân như cũng coi là việc bên mé pháp thân, chẳng phải là việc hướng thượng.

Đến Như Lai thanh tịnh thiền thì không thuộc nhân quả, nên là Nhất thừa tối thượng, là tông thú của kinh này.

Sở dĩ chỉ nói về ba môn thiền trước mà thôi, tức là nói về hai quả tà chánh. Còn Như Lai thiền thì không cho nói năng, ý muốn chúng ta thầm hiểu chỗ biểu hiện không lời.

Đến sau, Đại Huệ đặc biệt thưa thỉnh, Thế Tôn chỉ nói: “Chỗ hiểu của các bậc thánh trước lần lượt truyền trao cho nhau, là vọng tưởng vô tánh”.

Một lời mà thôi. Đây là chỉ thẳng từ trước Phật tổ truyền tâm ấn, là bí quyết của thiền tông, ý muốn hiển bày tông thú của kinh này.

Người xem nên quán sát kỹ.

  • Từ trước đã giải thích nhân hạnh tà chánh không đồng.

  • Sau ✅ Đây giải thích về quả đức tà chánh không đồng. Trước nêu lên quả tà.

K₂ - Rộng biện về nhân quả không đồng

L₁ - Nêu lên quả tà

L₂ - Nêu lên quả chánh

🌳🌲🌵

L₁ - Nêu lên quả tà

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Các ngoại đạo có bốn thứ Niết-bàn. Thế nào là bốn? Nghĩa là:

  1. Tánh tự tánh phi tánh Niết-bàn.
  2. Các thứ tướng tánh phi tánh Niết-bàn.
  3. Tự tướng tự tánh phi tánh giác Niết-bàn.
  4. Các ấm tự cộng tướng tiếp nối lưu chú đoạn dứt Niết-bàn. Đây là bốn thứ Niết-bàn của ngoại đạo, chẳng phải là pháp ta nói.
GIẢI

Đây là biện luận về quả đức chẳng đồng. Đầu tiên nêu quả tà. Do ở trước Phật nói nhân hạnh đã có chân ngụy nên quả chiêu cảm cũng có tà chánh. Vì vậy ở đây trước nói bốn thứ Niết-bàn để hiển bày nhân hạnh không chân thật của ngoại đạo nhị thừa.

  1. Tánh tự tánh phi tánh Niết-bàn, là Số Luận sư, vọng lập thần ngã cho là chủ đế, thật có tự thể. Vì đây không phải cứu cánh Niết-bàn, nên Phật tùy tiện mà chiết phục, nói rằng “Chỗ chấp tự tánh của họ, kỳ thật chẳng phải tánh, chỉ là vọng chấp thôi”. Nên nói Tánh tự tánh phi tánh Niết-bàn.

  2. Các thứ tướng tánh phi tánh Niết-bàn, là ngoại đạo vọng chấp trời Sắc cứu cánh cho đó là Niết-bàn. Nghĩa là tột cõi hư không mười hai loài sanh, đều là một loại trong thân ta phát ra. Lại có phái ngoại đạo chấp trời Đại tự tại là Niết-bàn nói rằng: Chính thân tâm mình và mười phương hư không, đều từ trời Đại tự tại phát xuất.

Còn Thuận thế ngoại đạo chấp tứ đại là thật là thường, hay sanh các pháp, nên tìm cầu lửa sáng tỏ, thích nước trong sạch, yêu gió châu lưu, xem bụi kết thành, mỗi mỗi theo đó cho là thường trụ. Vì họ chấp các thứ tướng ấy thật có tự tánh, nên Phật chiết phục rằng “Chỗ chấp của họ, kỳ thật chẳng phải tánh, chỉ là vọng chấp thôi”. Nên nói Các thứ tướng tánh phi tánh Niết-bàn.

  1. Tự tướng tự tánh phi tánh giác Niết-bàn, là Thắng Luận sư, chấp tất cả vô tình hữu tri thành lập lục cú nghĩa là Thật, Đức, Nghiệp, Đại hữu, Đồng dị, Hòa hợp. Lấy cực vi làm thường trú nên cho cây cỏ trong mười phương đều xưng là hữu vi, không khác người. Cây cỏ làm người, người chết trở lại làm cây cỏ. Bản Đường dịch: Giác tự tướng, cũng nói vi trần tự tướng có tri giác.

Nên Phật chiết phục đó, nói rằng “Tự tướng tự tánh ấy, vốn không tự tánh, cũng chẳng có giác, chỉ là vọng chấp thôi”, nên nói Tự tướng tự tánh phi tánh giác Niết-bàn. 4. Các ấm tự cộng tướng tương tục lưu chú đoạn đoạn dứt Niết-bàn. Nghĩa là người ở cõi trời Vô tưởng, dùng cái diệt mất vĩnh viễn, y cứ vào đó cho là chỗ trở về. Thêm nữa, hàng định tánh Thanh văn, chứng Diệt đế rồi, ở trong Diệt đế ngưng dứt, lại không tiến tới trước.

Kế là hàng định tánh Bích chi, và các hàng Duyên giác không hồi tâm, quán các biến hóa biết là không, duyên nơi ly bèn chứng diệt, chấp các ấm đã diệt, không thọ thân sau, vĩnh viễn đoạn then chốt tái sanh, chấp đó cho là Niết-bàn. Nên nói Các ấm tự cộng tướng tương tục lưu chú đoạn Niết-bàn. Bốn thứ này đều là ngoại đạo tự chấp cho là Niết-bàn. Nên nói Chẳng phải ta nói. Bởi vì Nhị thừa không đạt tự tâm, ngoài tâm chấp có pháp nên cũng xếp vào ngoại đạo.

  • Sau đây nêu lên quả chánh.

L₂ - Nêu lên quả chánh

🪷

Đại Huệ! Điều mà ta nói là vọng tưởng thức diệt, gọi là Niết-bàn.

GIẢI

✅ Đây trình bày Niết-bàn do Phật nói là quả chánh.

Bởi Niết-bàn do ngoại đạo kia chấp giữ đều là vọng tưởng thức mà thôi.

Phật dạy rằng: Niết-bàn của ta nói đó, chẳng có riêng thể khác, ngay nơi vọng tưởng thức ấy vắng lặng, ngay đó liền là Niết-bàn, chẳng phải lìa ngoài đây riêng có Niết-bàn có thể chứng. Nên nói: Vọng tưởng diệt gọi là Niết-bàn.

❔ HỎI:

Đoạn trước, ban đầu nói chứng cảnh giới tự giác chuyển tạng thức sở y làm đại Niết-bàn, kế đến lại nói tất cả thức tự tánh tập khí, tạng thức ý thức kiến lập chuyển rồi, ta và các đức Phật gọi là Niết-bàn.

Đến đây chỉ nói vọng tưởng thức diệt gọi là Niết-bàn, là sao?

📣 ĐÁP:

Ba lối nói trên đây ý chỉ không giống, không thể cho rằng Phật nói về Niết-bàn có sai biệt.

Câu ban đầu là trách Nhị thừa do không biết chỗ chứng cảnh giới tự trí, chuyển tạng thức sở y làm đại Niết-bàn, nên vọng chấp cảnh giới căn diệt đời vị lai cho đó là quả Niết-bàn.

Song đưa ra câu: “Đại Niết-bàn”, ý ở chỗ trách kia không biết, chẳng phải chính nói về Niết-bàn.

Câu kế là để so sánh nhân quả tà chánh không đồng.

Ý nói rằng ngoại đạo Nhị thừa vì căn cứ vào có không, đoạn thường… tứ cú, dùng thiền ngu phu làm nhân tu, nên quả chứng cũng chẳng phải cứu cánh.

Ta dùng pháp ly tứ cú, tu hành quán sát nghĩa thiền, phan duyên như thiền, nên chuyển sanh tử thành Niết-bàn, nên nói: “Tất cả thức tự tánh tập khí, tạng thức ý thức kiến lập chuyển rồi, ta và chư Phật gọi là Niết-bàn”.

Nghĩa là không đồng với ngoại đạo dùng tập khí vọng kiến làm Niết-bàn.

Đến phần thứ ba này là giải thích lý do chẳng đồng ở trước, chính là nêu lên hành tướng của Niết-bàn, để hiển bày tông thú của kinh này. Nên chỉ nói Vọng tưởng thức diệt là Niết-bàn. Còn nói: “Ngay vọng tưởng vắng lặng tức là Niết-bàn, lại không đợi chuyển”, là sao? Vì vọng tưởng vô tánh, nên tức liền khi tập khí kiến chấp ngoại đạo Nhị thừa chấm dứt, đó là Niết-bàn, không cần tìm cầu riêng, vì đương thể là vô sanh, lại chuyển cái gì? Đây chính là nhất thừa tối thượng, thật là tông thú của kinh này. Nên, văn sau nói: “Thức thứ Bảy chẳng sanh”, vì lập ý chẳng đồng nên ngôn từ cũng khác. Bởi vọng tưởng này, tức là đệ lục ý thức, nên kế đây biện luận cho rõ.

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn không kiến lập thức thứ tám ư? Phật bảo: Có lập.

Đại Huệ bạch Phật: Nếu có lập, tại sao chỉ lìa ý thức mà chẳng lìa thức thứ bảy?

Phật bảo Đại Huệ: Vì thức thứ sáu làm nhân và duyên, thức thứ bảy chẳng sanh.

GIẢI

✅ Đây hỏi để rõ nghĩa đệ bát thức xưa nay là Niết-bàn.

Do trước Phật nói: Chuyển tập khí vọng kiến tạng thức làm Niết-bàn. Bởi tạng thức là thức thứ tám, kiến tập là thức thứ bảy.

Nay đây chỉ nói thức thứ sáu diệt là Niết-bàn, nên nghi mà hỏi rằng: Không kiến lập thức thứ tám sao?

Phật đáp: Có kiến lập.

Lại hỏi tiếp: Đã kiến lập, thì thức thứ bảy là cội gốc của sanh tử, tại sao chỉ nói thức thứ sáu diệt là Niết-bàn, mà không nói thức thứ bảy?

Phật nói: Thức thứ tám là Như Lai tạng thanh tịnh chân tâm xưa nay vắng lặng, còn thức thứ bảy không thể tướng, vốn tự vô sanh.

Chỉ có thức thứ sáu y vào thức thứ tám mà khởi phan duyên, thức thứ tám nhân bị thức thứ sáu phan duyên mà có sanh diệt, thế nên nói Vì thức thứ sáu làm nhân và phan duyên.

Nay ý thức nếu vắng lặng, thì thức thứ bảy chẳng sanh, mà thức thứ tám ngay đó nguyên là thanh tịnh Niết-bàn, đâu cần đợi chuyển rồi sao mới là Niết-bàn ư?

🪷

Ý thức là chấp trước cảnh giới phân đoạn sanh tập khí, nuôi lớn tạng thức, ý câu là ngã ngã sở chấp trước tư duy nhân duyên sanh, không hoại thân tướng.

GIẢI

✅ Đây giải thích nghĩa “Thức thứ bảy chẳng sanh” ở trên.

Đường dịch: “Khi ý thức phân biệt cảnh giới khởi chấp trước, sanh các tập khí, nuôi lớn Tạng thức.

Do đây ý câu là thức tư lương chấp ngã ngã sở theo đó chuyển, không có thể tướng riêng”.

Nghĩa là thức thứ bảy sở dĩ chẳng sanh, vì không có thể tướng.

Chỉ nhân khi ý thức phan duyên theo cảnh giới năm trần, sanh khởi tập khí huân vào tạng thức.

Tạng thức chịu huân tập, do sức tập khí ánh hiện ra căn thân và thế gian, rồi vọng thấy bóng ảnh của căn thân và thế gian này, bèn chấp làm ngã ngã sở, gọi tên là Thức thứ bảy, nên nói Ý câu.

Thế thì thức thứ bảy tư lương, chỉ tùy theo thức thứ sáu bên ngoài và thức thứ tám bên trong chuyển biến, nó là bóng sáng ánh hiện của thức thứ tám như quầng sáng của đèn, không có thể riêng, tuy có tên mà không có thực chất.

Vì chỉ là một tinh chân nên nói là không hoại thân tướng.

🪷

Tạng thức, nhân phan duyên chấp trước cảnh giới tự tâm hiện các nhóm tâm sanh, lần lượt làm nhân cho nhau.

GIẢI

✅ Đây nói Tạng thức nguyên là trí thể bất động, chỉ nhân thức thứ sáu phan duyên cảnh giới tự tâm, các thức làm nhân lẫn nhau mà sanh, nên được tên là Tạng thức.

Do ý thức một phen khởi thì các thức cùng khởi, nên nói Các nhóm tâm sanh. Bởi vì thức thứ 8 lặng sâu vốn không sanh diệt, chỉ nhân thức thứ 6 phan duyên mà có sanh diệt. Thức thứ 7 nhân thức thứ 8 mà khởi chấp trước. Thức thứ 6 nhân thức thứ 7 mà khởi phân biệt.

Năm thức trước nhân thức thứ 6 mà soi cảnh, thức thứ 6 lại nhân nơi 5 thức trước mà phan duyên, thức thứ 7 lại nhân thức thứ 6 mà tăng trưởng kiến tập. Thức thứ tám lại nhân cái chấp ngã nhiễm ô của thức thứ 7 mà không được giải thoát. Nên nói Lần lượt làm nhân cho nhau. Thế là, sanh thì từ thức thứ sáu cùng làm nhân với nhau mà sanh, diệt thì thức thứ sáu diệt mà các thức cùng diệt.

✅ Đây chính là “Một căn đã trở về nguồn, sáu căn đều giải thoát” (kinh Lăng Nghiêm).

Thí như sóng biển, bị gió cảnh giới tự tâm hiện thổi động, hoặc sanh hoặc diệt cũng như thế. Cho nên ý thức diệt, thức thứ bảy cũng diệt.

✅ Đây dùng thí dụ để hiển bày thức thứ bảy vốn bất sanh.

Biển dụ cho tạng thức, sóng dụ cho thức thứ bảy, cảnh giới như gió.

Nghĩa là biển tạng thức lặng sâu, vốn không có sóng mồi thức thứ bảy, chỉ tự ý thức phan duyên theo gió cảnh giới lục trần dấy động, nên có khởi diệt. Nay nếu ý thức không khởi, gió cảnh giới dừng, thì thức thứ bảy ngay đó vắng lặng. Thế là sanh chỉ là nhân duyên sanh, diệt chỉ là nhân duyên diệt, chẳng phải thức thứ bảy (sanh diệt), nên nói thức thứ bảy bất sanh.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Ta chẳng tánh Niết-bàn

Sở tác cùng với tướng

Vọng tưởng, sở tri, thức

Chúng diệt, ta Niết-bàn

GIẢI

✅ Đây tụng chung Niết-bàn của ngoại đạo chẳng phải nghĩa ta nói.

Nghĩa là ngoại đạo vọng chấp Niết-bàn thật có tự tánh, và có tướng bị tạo tác. Phật nói ta không chủ trương như vậy.

Ta nói rằng: “Chỉ do vọng tưởng, sở tri, thức diệt gọi là Niết-bàn”.

Nhân đó, phan duyên đó Ý hướng tới… thành thân Cùng nhân ấy là tâm Làm chỗ nương cho thức.

✅ Đây là tụng thức thứ bảy bất sanh.

Nghĩa là tạng thức kia, nhân có ý thức phan duyên nên có bảy thức thân sanh.

Bởi làm nhân cho ý là Tạng thức tâm vương, chẳng phải thức thứ 7, nên nói Cùng nhân ấy là tâm, vì tạng thức là chỗ nương cho các thức.

Thế thì cái sanh diệt của tạng thức, cái biết cảnh của tiền ngũ thức và cái giả danh của thức thứ bảy, thảy đều nhân nơi ý thức mà có. Nên nếu ý thức diệt, thì các thức ngay đó chẳng sanh. Vì vậy sau đây dùng dụ để lập thành.

🪷

Như dòng nước lớn cạn

Thì sóng mồi chẳng khởi

Như thế ý thức diệt

Các thứ thức chẳng sanh

GIẢI

✅ Đây dùng thí dụ để kết thành.

❔ HỎI:

Các kinh đều nói thức thứ bảy là ý căn, là then chốt của sanh diệt.

Nay nói thức thứ bảy bất sanh, chỉ nói ý thức diệt tức là Niết-bàn, là sao?

📣 ĐÁP:

✅ Đây chỉ thẳng yếu chỉ đốn ngộ vô sanh là bí quyết tu tâm của thiền tông.

Nếu bảo rằng nhất định có thức thứ bảy là ý căn, thì tiếp nối trường kiếp, làm sao có thể do một niệm mà đốn chứng vô sanh ư? Nay rõ được thức thứ bảy bất sanh, thì ý thức thoát thể không chỗ nương. Ý thức không chỗ nương thì vọng tưởng vô tánh, ngay đó vắng lặng. Vọng tưởng vắng lặng thì tất cả tâm cảnh trong ngoài đều vắng lặng. Kinh Tịnh Danh nói: “Tất cả chúng sanh xưa nay Niết-bàn, không cần lại diệt”, là chỗ này. Nên nói Như thế ý thức diệt, các thứ thức chẳng sanh.

✅ Đây thật là cảnh giới tự giác thánh trí, há hàng ngoại đạo tà kiến, hàng tam thừa trí nhỏ có thể vào ư? Nên cổ đức nói “Linh quang riêng chiếu, thoát khỏi căn trần, bày thể chân thường, không nệ văn tự, tâm tánh vô nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên, tức Phật như như”.

  • Trên đã giải thích rộng ba môn thiền trước để hiển bày tướng nhân quả sai khác của ba thừa.

  • Tiếp theo sau giải thích rộng Như Lai thiền dung hội năm pháp, tự tánh thảy đều trở về Như như để hiển tướng nhân quả bình đẳng của nhất thừa, có 3 phần.


GHI CHÚ

GHI CHÚ SƠ ĐỒ

  • 88 kiết sử (Theo luận Câu Xá):

Phiền não có 2: Kiến hoặc và tu hoặc [Mê lầm trên lý (nhận thức -> kiến hoặc) và mê lầm trên sự (hành động -> tư hay tu hoặc). Kiến hoặc: Đốn đoạn, tu hoặc: Tiệm đoạn].

Căn bản là 10 thứ: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, giới cấm thủ kiến, kiến thủ kiến, tham, sân, si, mạn, nghi.

Con số 88 được chia như sau (Trong 3 cõi và tứ đế):

  • Dục giới:
  • Khổ đế: 10 (đủ cả)
  • Tập đế: 7 (trừ thân, biên, giới cấm thủ)
  • Diệt đế: 7 (như tập đế)
  • Đạo đế: 8 (trừ thân kiến, biên kiến)
  • 32 hoặc cõi dục
  • Sắc giới: ~ Dục giới, nhưng mỗi đế đều trừ sân, 32-4=28 hoặc,

  • Vô sắc giới: ~ Sắc giới: 28 hoặc, (vì 2 cõi này không có sân)

Cộng 3 cõi là 88 hoặc hay 88 kiết sử.

  • 81 Tư hoặc:

Cũng 10 hoặc trên, nhưng chia ra tùy tánh chất mê lầm nặng nhẹ gọi là thượng phẩm, trung phẩm, hạ phẩm.

Thanh văn chia 10 hoặc ra làm 9 phẩm trong 9 địa (cửu địa)

  • Dục giới: Ngũ thú tạp cư : 1 địa
  • Sắc giới: Tứ thiền : 4 địa
  • Vô sắc giới: Tứ không : 4 địa

Tổng cộng: 9 địa. Mỗi địa, mỗi hoặc sẽ chia ra 9 phẩm. Cộng là 9 phẩm x 9 địa = 81 phẩm Tư hoặc

GHI CHÚ

Phiền não có hai thứ: Phân biệt khởi và Câu sanh khởi. Theo thầy tà, giáo lý tà, suy nghĩ tà nên khởi phiền não gọi là phân biệt khởi. Tập quen thành tánh, tự nhiên khởi lên gọi là câu sanh. Trong tám thức, ý thức là chủ động của hai thứ này.

Phiền não do phân biệt khởi tạo nghiệp thiện ác.

Phiền não do câu sanh khởi làm đậm, thấm nhuần thêm nghiệp chủng khiến thọ sanh nên gọi nhuận sanh.

Phiền não câu sanh trong ba cõi chín địa (tức tu hoặc) mỗi cái đều có chín phẩm. Trong đó tu hoặc của chín phẩm Dục giới, có tác dụng của nhuận thất sanh, nhân đó lập ra hai quả Nhất lai và Bất hoàn.

⏯️ (tiếp theo)

Phần một Tức vọng tức chân để hiển bình đẳng.

I₂ - Giải thích Như Lai thiền dung hội năm pháp vọng tưởng như như để hiển tướng nhân quả bình đẳng. Có 3:

K₁ - Tức vọng tức chân để hiển nhân bình đẳng

K₂ - Tức tâm tức cảnh để hiển quả bình đẳng

K₃ - Tức quyền tức thật để hiển pháp bình đẳng

🌳🌲🌵

K₁ - Tức vọng tức chân để hiển nhân bình đẳng

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Nay sẽ nói về tướng chung của tự tánh vọng tưởng phân biệt, nếu khéo phân biệt về tướng chung của tự tánh vọng tưởng phân biệt, ông và các Đại Bồ tát khác sẽ lìa vọng tưởng, đến tự giác thánh, khéo thấy đường hướng của ngoại đạo, giác ngộ về vọng tưởng nhiếp sở nhiếp, đoạn dứt vọng tưởng duyên khởi các thứ tướng tự tánh hành, không vọng tưởng trở lại.

GIẢI

✅ Đây là ngay nơi vọng tưởng sai biệt để chỉ ra hành tướng bình đẳng.

Nhân ở trước Phật đã nói vọng tưởng là cội gốc sanh tử Niết-bàn của mười cõi, năm tánh, ba thừa.

Sợ người tu không biết những gì là vọng tưởng, nên đây đặc biệt nêu lên tướng kia, muốn khiến cho người tu ngay nơi vọng tưởng liền chứng Như như.

Bởi, vọng tưởng tuy là tên chung, kỳ thật có nhiều thứ sai biệt không đồng. Nếu không biết rành tướng của nó, e rằng sẽ nhận vọng làm chân, nên Lăng Nghiêm nói: “Ví như quốc vương bị giặc xâm lấn, phát binh trừ giặc, binh đội đó cần yếu phải biết chỗ của giặc”. Đường dịch: Nay ta sẽ nói về tướng sai biệt của vọng tưởng tự tánh, khiến ông và các Đại Bồ tát khéo biết nghĩa này, vượt qua vọng tưởng, chứng cảnh giới thánh, biết pháp ngoại đạo, xa lìa về năng thủ sở thủ, nơi các tướng y tha lại không chấp nhận tướng chấp trước hư vọng.

🪷

Đại Huệ! Thế nào là tướng chung của tự tánh vọng tưởng phân biệt? 1

Nghĩa là ngôn thuyết vọng tưởng, sở thuyết sự vọng tưởng, tướng vọng tưởng, lợi vọng tưởng, tự tánh vọng tưởng, nhân vọng tưởng, kiến vọng tưởng, thành vọng tưởng, sanh vọng tưởng, bất sanh vọng tưởng, tương tục vọng tưởng, phược bất phược vọng tưởng. Đó gọi là tướng chung của tự tánh vọng tưởng phân biệt.

GIẢI

✅ Đây nêu tướng sai biệt của vọng tưởng.

Ở trước nói chuyển tất cả tự tánh tập khí tạng, ý, ý thức, kiến tập làm Niết-bàn, nên theo đó nói đến hai thứ tướng tự tánh, là ngôn thuyết tự tánh tướng chấp trước, và sự tự tánh tướng chấp trước. Đây là nêu lên chỗ đáng chuyển.

Ngôn thuyết tự tánh tướng chấp trước, là do tập khí từ vô thủy sanh chấp trước hư ngụy về ngôn thuyết, chính là danh. Sự tự tánh tướng chấp trước là từ bất giác tự tâm hiện chừng ngần sanh chấp trước, chính là tướng. Vì vọng tưởng nhân danh, tướng mà sanh, hai cái này là tướng chung của vọng tưởng.

Nay liệt kê mười hai loại vọng tưởng, cũng không ngoài hai thứ nêu trên đây, chỉ là nói rộng tướng ấy, đó cũng là những tướng sai biệt của hai thứ vọng tưởng trên mà thôi. Bởi vọng tưởng nhân danh, tướng bên ngoài mà có, đó gọi là duyên khởi. Nay hiển bày vọng tưởng vô tánh, vốn tự viên thành, thì danh, tướng kia tự như như, nên nói là tướng chung. Vì thế phần này gọi là chân vọng bình đẳng.

🪷

Đại Huệ! Thế nào là ngôn thuyết vọng tưởng? Nghĩa là chấp trước những âm thanh ca vịnh vi diệu hay ho đáng yêu, đó gọi là ngôn thuyết vọng tưởng.

GIẢI

✅ Đây là chấp về âm thanh ngôn ngữ của thế tục, và những câu thơ ca vịnh, cho là thật có tự tánh.

🪷

Đại Huệ! Thế nào là sở thuyết sự vọng tưởng? Nghĩa là có những việc được nói ra là chỗ biết của thánh trí, y cứ vào đó mà sanh ngôn thuyết vọng tưởng. Đó gọi là sở thuyết sự vọng tưởng 2.

GIẢI

✅ Đây là chấp về thánh ngôn lượng xuất thế, cho là thật có cảnh giới tự chứng được nói, căn cứ vào đó vọng khởi phân biệt.

Nghĩa là đối với những pháp xuất thế Phật nói ra như Bồ-đề, Niết-bàn, Chân như, Phật tánh, Đệ nhất nghĩa đế, Thánh trí tự chứng… cho là thật có tự tánh, y cứ vào đó lại khởi lên các thứ ngôn thuyết phân biệt, lấy đó làm thật pháp. Bản Đường dịch “Nghĩa là chấp có những việc được nói, như cảnh giới thánh trí tự chứng, y cứ vào đó khởi phân biệt”.

Đại Huệ! Thế nào tướng vọng tưởng? Nghĩa là ngay nơi sự việc đã nói, như nai khát tưởng nước, chấp trước các thứ mà chấp trước, nghĩa là tướng cứng, ướt, nóng, động, vọng tưởng về tất cả tánh. Đó gọi là tướng vọng tưởng.

✅ Đây là kết hợp hai vọng tưởng trên mà nói.

Do đối với những điều Phật nói về pháp xuất thế, chấp cho là thật, vọng có sở đắc, nên nói Đối với sự việc đã nói, như nai khát tưởng nước. Lại đối với trong pháp thế đế được nói, như các pháp căn, trần, tứ đại… chấp trước thật có tự tánh, nên nói Chấp trước các thứ mà chấp trước… Ba loại vọng tưởng trên đây là chấp trước về tự tánh của ngôn thuyết.

Đại Huệ! Thế nào là lợi vọng tưởng? Nghĩa là ưa thích các thứ vàng, bạc, châu báu. Đó gọi là lợi vọng tưởng.

Bảy thứ vọng tưởng sau đây, là vọng tưởng chấp trước về sự tự tánh (tự tánh của sự vật).

Đối với các thứ tài sản bảo vật không biết được nó là tánh không, nên nói lợi vọng tưởng (vọng tưởng về điều lợi).

Đại Huệ! Thế nào là tự tánh vọng tưởng? Nghĩa là chấp giữ tự tánh như vậy, là y như vậy không đổi khác, vọng tưởng ác kiến. Đó gọi là tự tánh vọng tưởng.

✅ Đây là vọng chấp các pháp ở thế gian, mỗi mỗi đều có tánh chất riêng, chấp vào đó cho là quyết định như vậy, không thể khác hơn. Cũng tức là ngoại đạo chấp bốn đại chủng mỗi thứ có tự tánh hay sanh muôn vật, nên nói vọng tưởng ác kiến.

  1. Đại Huệ! Thế nào là nhân vọng tưởng? Nghĩa là hoặc nhân hoặc duyên, phân biệt là có không, nhân tướng sanh, đó gọi là nhân vọng tưởng.

Đây là ngoại đạo vọng chấp các pháp, cái có từ nhân có sanh ra, cái không từ nhân không sanh, Đường dịch “Nghĩa là đối với nhân duyên phân biệt là có, hay không có, dùng nhân tướng có không này mà sanh các pháp, nên gọi là nhân vọng tưởng”.

Đại Huệ! Thế nào là kiến vọng tưởng? Nghĩa là những ác kiến về có không, một khác, chung chẳng chung, vọng tưởng của ngoại đạo là vọng tưởng chấp trước. Đó gọi là kiến vọng tưởng.

✅ Đây là ngoại đạo y cứ vào có không… khởi lên kiến chấp về tứ cú, nên nói kiến vọng tưởng.

Đại Huệ! Thế nào là thành vọng tưởng? Nghĩa là tưởng về ngã và ngã sở, thành lập luận chấp quyết định. Đó gọi là thành vọng tưởng.

Đây là ngoại đạo vọng chấp tức nơi sắc là ngã, lìa sắc là ngã… thành ra luận chấp quyết định. Bản Ngụy dịch “Chấp thủ tướng ngã và ngã sở, nói pháp hư vọng”. Đường dịch “Lý phân biệt là ở chỗ vô lý, dùng tông nhân dụ thành lập cho là có lý”, nên gọi là Thành vọng tưởng.

Đại Huệ! Thế nào là sanh vọng tưởng? Nghĩa là duyên nơi tánh có không, sanh chấp trước. Đó gọi là sanh vọng tưởng.

✅ Đây là kiến chấp về sanh.

Nghĩa là chấp trước các pháp hoặc có hoặc không, thảy đều có sanh, vì cho rằng có là có sanh, không cũng có sanh. Như nói Thái cực từ vô cực sanh ra, bởi thái cực vô hình mà vọng thấy có sanh, đây là cái không mà có sanh. Đến như lưỡng nghi, bát quái, tam tài, vạn vật đều nhất định có sanh, đây là cái có mà có sanh. Đường dịch “Hoặc có hoặc không, theo duyên mà sanh, gọi là phân biệt về sanh”.

Đại Huệ! Thế nào là vọng tưởng về bất sanh? Nghĩa là tất cả tánh vốn vô sanh, từ nhân duyên vô chủng sanh thân không nhân. Đó gọi là vọng tưởng về bất sanh.

Đây là kiến chấp bất sanh.

Nghĩa là các pháp xưa nay chẳng sanh. Vì trước khi chưa sanh, trước đó đã có thể bất sanh rồi. Thể này không từ nhân sanh, nên nói “Từ nhân duyên Không, sanh thân không nhân”.

Như Trang Tử nói “Sanh, sanh ấy là chẳng sanh”, chính là nói “Có một vật có trước cả trời đất” đó vậy. Đường dịch “Chấp trước tất cả pháp xưa nay chẳng sanh, chưa có các duyên mà trước có thể, không từ nhân khởi”. Đã chẳng từ nhân khởi, thế là vô nhân. Vô nhân ắt vô quả. Đã không nhân quả ắt thành đoạn diệt.

Thế thì tuy gọi tên là “bất sanh” mà thật là đoạn kiến. Cho nên trong giai thoại Bách Trượng, vị tăng đáp lầm học nhân một câu chuyển ngữ không rơi nhân quả, mà năm trăm kiếp đọa làm chồn hoang. Chính là rơi vào kiến chấp bất sanh này, vì hiểu lầm nghĩa vô sanh vậy. Xem nỗi đau này khiến người biết pháp e sợ.

Đại Huệ! Thế nào là vọng tưởng tương tục? Nghĩa là kia cùng tương tục, như giây vàng. Đó gọi là vọng tưởng tương tục.

Vọng tưởng tương tục này có hai. Một là pháp thế gian, như lý thuyết ngũ hành tương sanh tương khắc của thế tục, bát quái tứ thời qua lại không dứt. Gọi là tương tục. Hai là Phật pháp, nói về chúng sanh thế giới nghiệp quả tiếp nối không dứt cũng gọi đó là vọng tưởng.

Vì sao? Vì người thấu đạt lý vô sanh, nếu một niệm chẳng sanh thì mé trước mé sau dứt. “Một người phát khởi trở về nguồn chân, hư không trong mười cõi đều tiêu mất 3. Huống gì những thứ quốc độ ở trong hư không ấy mà không tan rã? Như thế thì từ đâu mà có tiếp nối. Thế là không biết rõ các pháp duy tâm hiện, bèn vọng chấp các pháp thật có tự tánh tiếp nối, chỉ là vọng tưởng thôi.

Đại Huệ! Thế nào là vọng tưởng về phược chẳng phược? Nghĩa là chấp trước về nhân duyên phược chẳng phược, như sĩ phu phương tiện hoặc trói hoặc mở. Gọi là vọng tưởng về phược chẳng phược.

✅ Đây là chấp thật có phiền não hay cột trói, Niết-bàn hay giải thoát.

Mười một loại vọng tưởng trước thuộc về ngu phu ngoại đạo. Một vọng tưởng này thuộc Nhị thừa. Vì hàng Nhị thừa không rõ phiền não tánh không nên cho sanh tử là có thể trói, không rõ Niết-bàn tánh không nên muốn đoạn phiền não mà chứng Niết-bàn. Như người bị trói, cần phải đợi cởi trói sau mới thoát được. Lăng Nghiêm nói: “Căn và trần đồng một nguồn, trói và mở không hai”, không phải chỗ hiểu của Nhị thừa.

Đối với các phân biệt tự tánh tướng vọng tưởng này, tất cả ngu phu chấp trước có không.

Đây là kết lỗi. Hễ có phân biệt đều là vọng tưởng. Người ngu không rõ, vọng chấp cho là thật có thật không.

Đại Huệ! Từ duyên khởi chấp trước mà chấp trước các thứ vọng tưởng chấp trước tự tánh, thị hiện các thân như huyễn, phàm phu vọng tưởng thấy khác với huyễn.

✅ Đây nói về tánh biến kế chấp là y tha duyên khởi, do không biết viên thành, nên vọng cho là thật.

“Từ duyên khởi chấp trước mà chấp trước tự tánh”, như trong luận Tam Thập Tụng nói: “Do các biến kế ấy, biến kế các thứ vật”. Song tánh biến kế này vốn không tự tánh, chỉ nương vào cái khác mà khởi lên, do phân biệt làm duyên sanh ra. Phàm ngu không biết, vọng cho là thật. Bản Đường dịch “Ở trong duyên khởi chấp trước các thứ vọng chấp tự tánh, như nương nơi huyễn thấy các thứ vật, phàm ngu phân biệt thấy các vật ấy khác với huyễn”. Kinh nói: “Chúng sanh chẳng khác huyễn, biết rõ huyễn thì không thấy có chúng sanh”. Vì không thể quán chúng sanh như huyễn mà vọng phân biệt có không, một khác, nên nói Thấy khác với huyễn.

Đại Huệ! Huyễn và các thứ chẳng khác chẳng giống. Nếu khác thì huyễn chẳng làm nhân cho các thứ, nếu giống thì huyễn với các thứ không sai biệt mà thấy có sai biệt: Thế nên chẳng khác chẳng giống. Vì vậy, này Đại Huệ! Ông và các Đại Bồ tát khác chớ chấp trước về tự tánh vọng tưởng duyên khởi như huyễn là khác chẳng khác, là có hoặc không.

✅ Đây kết luận chỉ ra tướng chân vọng bình đẳng.

Nghĩa là vọng tưởng vốn tự duyên sanh, hiểu rõ nó không tự tánh, thì không thể khởi lên sự phân biệt chấp trước là có không, một khác, nên nói rằng chẳng khác chẳng giống. Vì một, khác đều chẳng phải thì như như bình đẳng.

Huyễn dụ cho tâm, các thứ dụ cho vọng cảnh. Bởi các thứ nương huyễn mà khởi, nhưng huyễn vốn… không, huống gì nơi huyễn mà có ra các thứ, lại khởi các tà kiến một khác, có không… ư? Nên răn nhắc rằng: Chớ chấp trước về tự tánh vọng tưởng duyên khởi như huyễn, là một khác, có không. Nghĩa là tự tánh vọng tưởng ấy vốn không có, chỉ y cứ duyên khởi như huyễn thôi, thế nên đừng chấp trước về một khác, có không.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Tâm buộc nơi cảnh giới

Trí giác tưởng chuyển theo,

Vô sở hữu và thắng

Trí huệ bình đẳng sanh.

GIẢI

✅ Đây là tụng chung chân vọng nhất như, để hiển bày tướng bình đẳng.

Nghĩa là ba cõi, năm uẩn, tất cả cảnh giới chỉ chuyển biến theo vọng tưởng. Song ở mé thật đương thể vắng lặng, vốn tự như như, nên nói như thế. Giác tưởng là vô minh vọng giác. Trí là trí tướng trong lục thô, tức là tâm phân biệt. Chỗ tối thắng vô sở hữu là chân như thật tế, vì tự tha đều dứt nên nói bình đẳng. Do vô minh bất giác vọng thấy cảnh giới thì tâm chuyển theo cảnh, cảnh lại lôi tâm nên không bình đẳng. Nếu dùng chánh trí quán thì tâm cảnh đều dứt, thành ra bình đẳng.

Lăng Nghiêm nói: “Thấy biết chấp thấy biết tức là gốc vô minh, thấy biết không chấp thấy biết tức là Niết-bàn”.

🪷

Vọng tưởng tự tánh có

Nơi duyên khởi thì không

Vọng tưởng hoặc nhiếp thọ

Duyên khởi chẳng vọng tưởng 4

GIẢI

Các thứ chi phần sanh

Như huyễn ắt không thành.

Tướng kia có các thứ

Vọng tưởng ắt không thành.

Tướng kia có lỗi này

Đều từ tâm phược sanh

Bài tụng này nêu đại khái vọng tưởng cùng duyên khởi làm nhân cho nhau mà có.

Nghĩa là vọng tưởng vốn không tự tánh, sở dĩ có tự tánh là vì nơi pháp duyên khởi vọng sanh chấp trước.

Song các pháp duyên khởi kia chẳng phải vọng tưởng. Vì sao? Vì tất cả các pháp duyên sanh như huyễn, mà các sự vật như huyễn kia có phần vị rõ ràng, nếu sanh cũng đều như huyễn, nên tuy sanh mà chẳng sanh, nên nói như huyễn ắt không thành. Tướng huyễn kia tuy có nhiều, kỳ thật tánh nó vốn vô sanh cũng không có tướng. Người thấy huyễn có tướng chỉ là vọng tưởng thôi. Nếu rõ nó như huyễn thì vọng tưởng chẳng sanh.

Do không biết rõ như huyễn, dựa vào đó tạo nghiệp, nên tướng huyễn mới là lỗi. Đây đều từ tâm phược sanh. Tướng huyễn đã nhân vọng tưởng mà có, nếu vọng tưởng chẳng sanh các tướng tự vắng lặng thì tánh y tha không, tướng huyễn vốn chẳng có. Bởi tâm và cảnh hỗ tương làm duyên khởi, nay huyễn tướng chẳng thành, ắt không có cảnh để đối với tâm. Vọng tưởng không thành thì không có tâm biết cảnh.

Tâm cảnh đều không, đường ngôn ngữ suy tư dứt bặt, vốn tự như như.

Vọng tưởng không chỗ biết

Nơi duyên khởi vọng tưởng

Các tánh vọng tưởng này

Tức là duyên khởi kia

Vọng tưởng có các thứ

Nơi duyên khởi vọng tưởng

✅ Đây tụng vọng tưởng từ duyên khởi sanh.

Vì mé thật của vọng tưởng vốn không có cảnh được biết, chỉ ở nơi pháp duyên khởi không rõ vô tánh, mà trở lại đối với chúng vọng sanh phân biệt, chấp trước có không, chấp giữ thiện ác, nên nói Nơi duyên khởi vọng tưởng. Vả lại các tánh vọng tưởng này trừ ngoài duyên khởi không có riêng, nên nói Tức là duyên khởi kia. Thế nên vọng tưởng có nhiều thứ, chỉ là vọng tưởng trong duyên khởi thôi.

Thế đế, đệ nhất nghĩa

Thứ ba, vô nhân sanh

Vọng tưởng nói thế đế

Dứt tức cảnh giới thánh.

✅ Đây tụng thế đế tức đệ nhất nghĩa đế, để giảng rõ tức vọng tức chân.

Nghĩa là nếu vọng chấp vọng tưởng duyên khởi thật có tự tánh, tức đệ nhất nghĩa đế là thế đế. Nếu rõ vọng tưởng duyên khởi không tánh, tức thế đế là đệ nhất nghĩa đế. Nếu không biết các pháp duyên sanh, tức cho là vô nhân sanh, lại rơi vào lỗi chấp minh đế của ngoại đạo. Thế là vốn không có thế đế, mà thế đế chỉ căn cứ vào vọng tưởng nói thôi.

Ngay chỗ vọng tưởng dứt lại chính là cảnh giới thánh trí tự giác (Đường dịch: Vọng chấp là thế tục, dứt tức là cảnh giới thánh).

Ví như việc tu hành

Nơi một hiện các thứ Nơi kia không các thứ

Tướng vọng tưởng như thế.

✅ Đây tụng dụ chung cho vọng tưởng và duyên khởi làm nhân lẫn nhau sanh.

Nghĩa là đệ nhất nghĩa đế vốn không có các tướng, chỉ nhân vọng tưởng nên vọng thấy các pháp, mà lại ở trong đó chấp trước bao trùm, là tốt xấu, một khác, có không… chấp chặt cho là thật. Kỳ thật trong đệ nhất nghĩa đế vốn không có các việc này. Nên nói Nơi kia không các thứ. Người tu hành, là chỉ hàng nhị thừa căn cơ chậm lụt, tu bát bội xả, bốn thứ định thiên lệch. Khi quán màu xanh thấy tất cả trời đất muôn vật đều xanh. Khi quán vàng, trắng, đỏ; mỗi màu đều như vậy. Các vị ấy đối với một sắc pháp tùy tâm chuyển biến thấy các thứ tướng, vì ở trong không vọng thấy có, để dụ cho ở chỗ đệ nhất nghĩa đế lìa danh tướng, vọng thấy các pháp. Bởi chỗ thấy ấy đều là vọng tưởng, chẳng phải thật pháp, nên nói Tướng vọng tưởng như thế. Luận Tam Thập Tụng nói “Do các biến kế ấy, biến kế các thứ vật. Biến kế sở chấp này, tự tánh không thật có”.

Thí như bệnh nhặm mắt

Vọng tưởng thấy các sắc

Bệnh chẳng sắc phi sắc

Duyên khởi bất giác như vậy.

Bài kệ này dùng thí dụ để chuyển tiếp giảng rõ ý trên.

Nghĩa là ở trong đệ nhất nghĩa đế, chỗ không một pháp mà thấy có các thứ, vì bởi nhân vô minh bất giác và duyên y tha vọng phân biệt, sanh tất cả pháp. Luận Tam Thập Tụng nói: “Tự tánh y tha khởi, từ duyên phân biệt sanh”. Thí như mắt nhặm, ở trong chỗ không có sắc tướng mà vọng thấy các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Phàm ngu bất giác vọng chấp là thật, nên nói Duyên khởi bất giác như vậy.

Thí như luyện vàng ròng

Tách rời các cáu bẩn

Hư không chẳng mây che

Vọng tưởng sạch cũng vậy.

Tụng này dụ đệ nhất nghĩa đế xa lìa các lỗi, để hiển bày tánh Viên thành thật.

Luận Tam Thập Tụng nói: “Viên thành thật nơi ấy, thường xa lìa tánh trên”. Vì Viên thành thật, pháp vốn tùy duyên thành tất cả pháp, mà mỗi pháp đều chân thật, chỉ do vọng tưởng biến kế chấp trước nhiều thứ, nên nơi chân khiến chẳng chân. Nếu tình quên chấp dứt thời muôn pháp đều như, viên thành tự hiển lộ. Lúc đó chỉ nói rằng Vọng tưởng sạch cũng vậy. Văn sau nêu lỗi vọng tưởng.

Không có tánh vọng tưởng

Cũng không có duyên khởi

Thiết lập và phỉ báng

Thảy do vọng tưởng hoại.

Bài tụng này đặc biệt nêu lỗi vọng tưởng, ý nói rõ duyên khởi từ vọng tưởng mà có.

Nghĩa là sở dĩ nói có duyên khởi thiết lập và phỉ báng, bởi nhân vọng tưởng mà nói vậy thôi.

Nếu không vọng tưởng, mà nói có duyên khởi thiết lập hay phỉ báng, đây cũng là vọng tưởng phân biệt, là tự phá hoại tri kiến như thật. Nên nói Không có tánh vọng tưởng… Ý Thế Tôn rằng: Nếu các ông không vọng tưởng, thì ta có gì lại nói duyên khởi? Và nói các ông có lỗi thiết lập, phỉ báng? Xem đây thì biết mười phương ba đời tất cả chư Phật xuất hiện nơi đời không có pháp riêng, đặc biệt chỉ vì nói để phá vọng tưởng chúng sanh thôi.

Nên văn sau nói “Các bậc Thánh đều biết và lần lượt trao truyền cho nhau: Vọng tưởng không tánh”.

🪷

Vọng tưởng nếu không tánh 5 |

Mà có tánh duyên khởi

Không tánh mà có tánh |

Có tánh, không tánh sanh

Y nơi nhân vọng tưởng |

Mà được duyên khởi kia

Danh tướng thường theo nhau |

Mà sanh các vọng tưởng.

Rốt ráo không thành tựu |

Ắt qua khỏi vọng tưởng

Rồi sau trí thanh tịnh |

Gọi là đệ nhất nghĩa.

GIẢI

✅ Đây tụng chung ba tánh và năm pháp đều nương vọng tưởng mà lập.

Nghĩa là duyên khởi vốn không, chỉ nhân vọng tưởng mà có. Nếu không có vọng tưởng mà nói có duyên khởi, thế là không nhân mà có sanh, có sanh mà từ vô nhân sanh.

✅ Đây là hiển bày đảo ngược, nhân nương vọng tưởng mới có duyên khởi, nhân có duyên khởi nên danh tướng theo nhau sanh như bóng theo hình. Thế thì danh tướng lại nhân vọng tưởng duyên khởi mà có. Đã có danh tướng, ắt vọng tưởng lại theo danh tướng sanh, lần lượt cùng làm nhân không cùng tận, đều là lỗi của vọng tưởng.

Làm thế nào để lìa lỗi vọng tưởng? Tụng kế nói Rốt ráo không thành tựu, ắt qua khỏi vọng tưởng, rồi sau trí thanh tịnh, gọi là đệ nhất nghĩa.

Bởi câu Rốt ráo không thành tựu ấy, Hoa Nghiêm nói: Tự tánh như thế, như huyễn như mộng, như ảnh như tượng, thảy đều không thành.

Ngài Trí Chứng nói: “Vì tánh chân như, pháp nhĩ tùy duyên, tuy tức tùy duyên, pháp nhĩ trở về tánh.

Do khi tùy duyên dường có hiển hiện, như thấy pháp huyễn chẳng có mà có, như xem cảnh mộng không thấy mà thấy, như nhìn bóng dưới nước chẳng ra chẳng vào, như hình ảnh trong gương không trong không ngoài. Do không tánh tùy duyên nên lý chẳng thành tựu. Do tùy duyên không tánh nên sự chẳng thành tựu. Lý sự chẳng thành ắt tất cả pháp đều chẳng thành”. Song tất cả pháp đều chẳng thành tựu mà răn nhắc vọng tâm, thì lại dựa vào đâu? Nên nói: Rốt ráo không thành tựu, ắt qua khỏi vọng tưởng, rồi sau trí thanh tịnh, gọi là đệ nhất nghĩa. Thế là duyên khởi danh, tướng, vọng tưởng đều tức là chánh trí như như.

Bài tụng sau kết hiển điều này.

🪷

Vọng tưởng có mười hai |

Duyên khởi có sáu thứ

Trí tự giác, sở tri |

Chúng không có sai biệt.

Năm pháp là chân thật |

Tự tánh có ba thứ

Tu hành phân biệt đây |

Không vượt qua như như.

GIẢI

✅ Đây tụng tóm kết năm pháp, ba tự tánh… ở trên đều không vượt như như.

Bởi do chân như tùy duyên thành tất cả pháp, pháp pháp đều chân, chỉ do vọng tưởng chấp trước mà có sai biệt. Nếu dùng Tự giác thánh trí để quán sát, thì các pháp kia xưa nay vắng lặng. Đây là ba tánh không vượt như như.

Do mê lý chân như mà lập danh tướng nên chánh trí đổi thành vọng tưởng. Ngộ danh tướng vốn Như, tức vọng tưởng mà thành chánh trí. Đây là năm pháp không vượt như như. Nên răn nhắc người tu hành có thể quán như thế, ắt là nơi nơi vật vật nhật dụng đều như như.

Câu Duyên khởi có sáu thứ tức là ở quyển đầu nói về sáu nhân.

Các tướng và duyên khởi

Gọi là khởi vọng tưởng

Các tướng vọng tưởng ấy

Từ duyên khởi kia sanh.

Trí giác khéo quán sát

Không duyên không vọng tưởng

Viên thành rồi không tánh

Vì sao có vọng tưởng?

Đây nói về nhân y cứ của mê ngộ.

Khi mê thì duyên khởi vọng tưởng hỗ tương mà sanh khởi. Khi ngộ thì tánh là viên thành, không còn duyên khởi vọng tưởng. Đường dịch “Trong chỗ thật không vật, làm sao khởi phân biệt”. Ở đây nói Viên thành rồi không tánh.

Vì sao có vọng tưởng?

Bản Đường dịch phần này thêm bốn câu “Nếu có Viên thành thật, ắt là lìa có không, đã lìa có không rồi, sao có hai tánh kia” (Tức hai tánh Biến kế và Y tha).

Tự tánh vọng tưởng kia

Kiến lập hai tự tánh Vọng tưởng hiện các thứ

Cảnh giới thánh thanh tịnh.

✅ Đây nói hai nẻo thánh phàm chỉ nương vào vọng tưởng mà thành lập.

Nghĩa là, nếu nương tự tánh vọng tưởng, vọng thấy thật có căn thân thế giới tất cả các pháp, thì hai thứ tự tánh danh ngôn và sự tướng theo đó kiến lập. Đó là phàm ngu. Nếu có thể chính nơi chỗ hiện các vọng tưởng, ngay đó dùng trí quán sát vọng tưởng vô tánh, lìa thể toàn không tức là cảnh giới Tự giác thánh trí. Đây chính là hiểu rõ vọng vốn hư dối, tức tâm phàm mà thấy Phật.

Thanh tịnh là tên khác của Không. Hai tự tánh chính chỉ cho tướng chấp trước tự tánh ngôn thuyết, và chấp trước tự tánh sự. Tức là hai pháp danh và tướng vậy.

Vọng tưởng như vẽ màu

Duyên khởi chấp vọng tưởng

Nếu khác với vọng tưởng

Là nương luận ngoại đạo.

✅ Đây nói hai nẻo tà chánh đều nương vào vọng tưởng mà thành lập.

“Tâm như người thợ vẽ, hay vẽ các thế gian”.

Thế là duyên khởi của các pháp vốn từ vọng tưởng mà có.

Bởi người ngu không biết, chỉ ở trên pháp duyên khởi mà sanh phân biệt kiến chấp một khác, có không…, rồi chấp bướng riêng có sanh nhân. Há chẳng biết vọng tưởng là gốc sanh các pháp. Nếu bỏ vọng tưởng mà nói chư pháp riêng có nhân khác, từ minh đế, vi trần, tự tại, thắng tánh… sanh ra, thì rơi vào tà kiến của ngoại đạo. Nên nói Nếu khác với vọng tưởng, là nương luận ngoại đạo.

Vọng tưởng, nói chỗ tưởng

Nhân kiến hòa hợp sanh Lìa hai vọng tưởng này

Như thế ắt là thành.

✅ Đây là kết luận nêu ra nghĩa chánh.

Đường dịch: Vì các vọng kiến nên vọng chấp nơi vọng chấp.

Nghĩa là hàng phàm phu ngoại đạo, chỉ dùng vọng kiến để phân biệt pháp vọng chấp, cho nên không ra khỏi vọng tưởng điên đảo.

Nếu có thể lìa các vọng tưởng này, thì ngay đó vốn tự viên thành.

✅ Đây chính là chỗ Lăng Nghiêm nói: “Tâm cuồng không dứt, dứt tức Bồ-đề, tâm thắng tịnh minh, vốn chẳng từ bên ngoài được”.

Đâu cần phải mượn sự tu chứng nhọc nhằn, nên nói Lìa hai vọng tưởng này, như thế ắt là thành.

Chương này nói cách quán chung năm pháp ba tự tánh đều quy về vọng tưởng, song vọng tưởng vốn tự như như.

✅ Đây là lý do hành tướng nhất thừa bình đẳng.

Phần trên đã nói tức vọng tức chân để hiển nhân tướng bình đẳng.

Sau đây nói tức tâm tức cảnh để hiển quả tướng bình đẳng.

K₂ - Tức tâm tức cảnh để hiển quả bình đẳng

L₁ - Tức Tâm

L₂ - Tức cảnh

🌳🌲🌵

L₁ - Tức Tâm

Đại Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Cúi xin vì nói tướng tự giác thánh trí và nhất thừa. Nếu tướng tự giác thánh trí và nhất thừa, con và các Bồ tát thông đạt Phật pháp bằng cách khéo biết tướng tự giác thánh trí và nhất thừa, không cách nào khác bằng cách này”.

✅ Đây nói về Tự giác thánh trí, giải thích phần Như Lai thiền ở trên, để hiển bày quả tướng bình đẳng.

Do phần trước Phật đã theo phương diện sở quán là Duyên khởi và Vọng tưởng để nói rõ nhân bình đẳng rồi, song không biết trí năng quán là tự giác thánh trí và quả tướng là cứu cánh nhất thừa như thế nào. Sắp hiển bày Như Lai thiền cứu cánh thanh tịnh thật tướng bình đẳng đệ nhất nghĩa đế tối thắng, nên đưa ra câu hỏi này.

Phật bảo Đại Huệ: “Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ ghi nhớ, ta sẽ vì ông nói”.

Đại Huệ bạch Phật “Xin vâng thọ giáo”.

Phật bảo Đại Huệ “Điều mà các bậc tiên thánh biết, và lần lượt trao truyền cho nhau là vọng tưởng vô tánh”. Đó là điều mà bậc Đại Bồ tát ở riêng chỗ vắng tự giác quán sát, không dùng phương pháp khác, lìa kiến chấp vọng tưởng, tăng tiến lên các địa, vào Như Lai địa. Đó gọi là tướng Tự giác thánh trí.

✅ Đây chỉ bày trí như như.

Chính là yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền, mật ý chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, đặc biệt nêu ra ở đây.

Ngài Trí Chứng nói: “Cái diệu của vô tánh là điều bí mật của Phật Tổ, bởi thường thầm diễn bày mà không thường nói rõ”.

Vì sao biết? Viên Giác nói: Tự tánh Viên giác chẳng phải tánh mà có tánh, theo các tánh khởi, không thủ không chứng.

Kinh Duy Ma nói: Chẳng sanh chẳng diệt, là nghĩa vô thường.

Phẩm Thập Địa nói: Vì không thấu đạt đệ nhất nghĩa, nên gọi là vô minh.

Luận Khởi Tín nói: Vì không biết như thật về pháp chân như, bất giác mà có vọng niệm.

Phàm những câu nói: “Chẳng phải tánh mà có tánh”, “Không sanh diệt mà vô thường” và “Không thấu rõ”, đều là vì vô tánh vậy.

Song những lời ấy đều là lời ngăn, muốn cho học giả tự ngộ.

✅ Đây là chỗ mà tôi nói là “thầm diễn bày” vậy. Nay thì nói rõ vô tánh, đó chính là “nói tỏ rõ”.

✅ Đây nói: Điều mà các bậc tiên thánh biết chỉ là biết vọng tưởng vô tánh. Há thật có chỗ truyền trao ư? Chỉ ở chỗ thầm khế hợp, tự biết mà thôi.

Người xưa nói: “Được đắp y ngồi, về sau tự xem xét”, nên đây nói Riêng ở chỗ vắng tự giác quán sát, ý rằng nếu có thể quán sát điều này, thì không do bên ngoài.

✅ Đây gọi là Tự giác thánh trí, vì không có trí ngoài Như để chứng như, nên phần này gọi là Tức Tâm.

L₂ - Tức cảnh

🪷

Đại Huệ! Thế nào là tướng nhất thừa? Nghĩa là được đạo nhất-thừa-giác, ta nói là Nhất thừa. Thế nào là được đạo Nhất-thừa-giác? Nghĩa là tâm năng nhiếp và vọng tưởng sở nhiếp, chỗ như thật chẳng sanh vọng tưởng, gọi là Nhất-thừa-giác.

Đại Huệ! Nhất-thừa-giác không phải chỗ chứng đắc của ngoại đạo, Thanh văn, Duyên giác, Phạm thiên vương… Chỉ trừ Như Lai.

Vì thế nên gọi là Nhất thừa.

GIẢI

✅ Đây nói về quả giác bình đẳng, để nêu bày lý như như. Nghĩa là lìa phân biệt năng thủ sở thủ, trụ chỗ như thật, một niệm chẳng sanh, là chứng lý như như. Đó chính là không chấp giữ tướng, như như bất động là Nhất-thừa-giác.

✅ Đây chỉ có Phật với Phật mới có thể xét cùng thật tướng các pháp, nên nói Chỉ có Như Lai, chẳng phải hàng ngoại đạo, Thanh văn, Duyên giác, Phạm thiên vương… có thể chứng đắc. Do không có Như ngoài Trí để làm chỗ cho trí chứng nhập nên phần này gọi là Tức Cảnh.

Do lý trí nhất như nên nói tâm cảnh bình đẳng.

Trên nói tức tâm tức cảnh để hiển bày quả bình đẳng.

Sau đây tức quyền tức thật để hiển bày pháp bình đẳng.

K₃ - Tức quyền tức thật để hiển bày pháp bình đẳng

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: “Cớ sao Thế Tôn nói ba thừa, mà không nói nhất thừa?”.

Phật bảo Đại Huệ: “Vì pháp không tự nhập Niết-bàn, nên không nói nhất thừa cho tất cả Thanh văn, Duyên giác. Vì tất cả Thanh văn, Duyên giác, được Như Lai điều phục, trao cho phương tiện tịch tĩnh mới được giải thoát, không phải tự sức của họ, cho nên không nói nhất thừa.

Lại nữa Đại Huệ! Vì phiền não nghiệp chướng, tập khí không dứt nên không nói nhất thừa cho hết thảy Thanh văn, Duyên giác.

Họ không biết pháp vô ngã, không lìa được phần đoạn tử (Đường dịch: Chưa được gọi tên là Bất tư nghì biến dịch tử), nên nói Tam thừa (Ghi chú của ngài Đức Thanh: Chữ không lìa đáng lẽ là đã lìa, ý nói các bậc Nhị thừa đã lìa phần đoạn tử).

GIẢI

✅ Đây nói rõ ý sở dĩ Như Lai không nói Nhất thừa, để hiển bày tức quyền tức thật, để lìa lỗi chẳng bình đẳng.

Ý rằng một bề không vì hàng Thanh văn nói Nhất thừa, vì để đợi thời cơ chẳng phải tuyệt đối không nói.

Chỗ này hai ý, một là nhân vì hàng Thanh văn chỉ y cứ vào phương tiện tịch tĩnh do Như Lai trao cho mà điều phục, tuy chứng giải thoát song chẳng phải phần trí tuệ của họ, sợ họ kinh nghi nên không dám nói cho nghe.

Hai là do các vị ấy chưa dứt hết tập khí sở tri chướng, chưa biết được pháp vô ngã, chưa thể gọi là Bất tư nghì biến dịch tử, không kham thọ nhận pháp này, nên không nói cho nghe.

Cốt yếu là hãy đợi thời mới nói, chẳng phải rốt ráo không nói. Nếu rốt cuộc không nói thì có lỗi không bình đẳng. Ý rằng nếu lìa những lỗi trên thì cũng có thể được vào, nên sau đây nói rõ.

🪷

Đại Huệ! Những người ấy đoạn dứt tất cả lỗi tập khí về khởi phiền não, và biết pháp vô ngã. Họ đoạn tất cả lỗi tập khí phiền não, đắm trước vui tam-muội chẳng phải tánh giác, biết vô lậu giới (Đường dịch: Nếu họ có thể trừ được tất cả lỗi tập khí, biết pháp vô ngã, lúc ấy bèn lìa sự say đắm tam-muội, đối với vô lậu giới được giác ngộ, đã giác ngộ rồi). Giác rồi, lại vào vô lậu giới xuất thế gian thượng thượng, đầy đủ viên mãn, sẽ được pháp thân tự tại bất tư nghì của Như Lai.

GIẢI

✅ Đây nói về chủng tánh vô gián của Thanh văn, để hiển bày pháp bình đẳng.

Vì hàng Nhị thừa y cứ vọng tưởng mà chấp giữ quả Niết-bàn, nên bị tam-muội làm say, không được pháp vô ngã. Nếu họ có thể biết vọng tưởng vô tánh, thì đối với tam-muội Niết-bàn bị chấp, và tập khí phiền não, ngay đó liền lìa, liền được Niết-bàn vô thượng của Như Lai, chứng pháp thân tự tại bất tư nghì. Như thế thì nhân pháp không khác, nào có tam thừa.

🪷

Lúc ấy đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ:

Chư thiên và Phạm thừa |

Thanh văn, Duyên giác thừa

Chư Phật Như Lai thừa |

Ta nói các thừa ấy.

Cho đến có tâm chuyển

Các thừa chẳng cứu cánh

Nếu tâm kia diệt tận |

Không thừa và người thừa

Không dựng lập các thừa |

Ta nói là nhất thừa.

GIẢI

✅ Đây nói kiến giải thánh phàm dứt, tình chấp phân biệt quên, tức là Nhất thừa, chẳng phải ngoài đây riêng có Nhất thừa.

Chư thiên, Phạm… là chỉ phàm tình. Thanh văn Duyên giác chư Phật Như Lai là thánh giải. Nếu nói chuyển phàm thành thánh thì dù đắc thánh giải cũng rơi vào phàm tình. Vì sao? Vì rằng tâm Bồ-đề sanh tâm sanh diệt dứt, cũng còn thuộc vào sanh diệt, vừa khởi tâm động niệm liền trái pháp thể.

Thế nên việc hướng thượng trong tông môn thành Phật tác Tổ cũng còn mang ô danh, do không lìa được hữu tâm, nên nói Cho đến có tâm chuyển, các thừa chẳng cứu cánh. Nếu dứt sạch tâm lượng, tình phàm thánh quên, năng sở đều vắng, một niệm chẳng sanh, tức là cứu cánh nhất thừa tịch diệt, chân thật giải thoát, vậy.

🪷

Vì dẫn đạo chúng sanh |

Phân biệt nói các thừa

Giải thoát có ba thứ |

Và cùng pháp vô ngã.

Phiền não, trí tuệ thảy |

Giải thoát ắt lìa xa.

GIẢI

✅ Đây là đề phòng nạn vấn và dẹp tình chấp.

Sợ có người nghi rằng: Tam thừa đã chẳng phải cứu cánh, Như Lai cớ gì nói pháp không chân thật? Nên ✅ Đây giải thích: Như Lai vì dẫn đạo chúng sanh nên nói ba thừa, ba giải thoát, hai vô ngã, trừ sạch hai chướng… đều là tùy theo ý của chúng sanh mà nói, như dùng lá vàng để dỗ con nít khóc, vốn chẳng phải pháp thật. Chỉ vì hàng độn căn cho đó là pháp thật nên bị pháp trói buộc, không được giải thoát. Nếu là hàng lực lượng lớn, có thể chóng thấy tự tâm hiện lượng, trụ chỗ cứu cánh như thật, một phen nhìn thấu, thì ngay đó thoát thể vô y, liền có thể quét sạch kiến lượng của phàm thánh. Như sư tử thoát xiềng xích dạo chơi tự do mới gọi là người thật giải thoát, nhìn lại các pháp như tỉnh cơn mộng dài, chưa từng có cái chẳng lìa, nên nói Giải thoát ắt lìa xa.

Như cây nổi trên biển

Thường theo sóng gió trôi

Thanh văn ngu cũng vậy

Bị gió thổi trôi dạt

Khởi phiền não kia diệt

Tập phiền não còn ngu.

✅ Đây nói Thanh văn sở dĩ bị gió tự tướng cộng tướng xoay chuyển trôi lăn, vì các vị ấy chỉ dứt được tứ trụ phiền não, chưa đoạn được tập khí còn lại của căn bản vô minh.

Dòng sanh tử có ba thứ là dục lưu, hữu lưu, vô minh lưu. Vì các vị ấy chỉ đoạn hai dòng dục lưu và hữu lưu, chưa đoạn vô minh lưu. Đã bị vô minh trôi dạt nên do thân năm uẩn ở trong biển sanh tử như gốc cây nổi, thường theo sóng trôi. Vì thế họ vào trần ắt đọa.

Đắm trước vui tam-muội

An trụ cõi vô lậu

Không hướng đến cứu cánh

Cũng không có thối lui

Được các thân tam-muội

Cho đến kiếp không tỉnh.

✅ Đây nói lỗi của Thanh văn.

Do đắm trước tam-muội, nên tiến lên thì không thể hướng vào đất cứu cánh, vì an trụ trong cõi vô lậu nên cũng không lui sụt rớt trong sanh tử ba cõi. Do được tam-muội giữ tâm nên tuy trải qua kiếp số mà không tỉnh.

Thí như người say sưa

Rượu hết sau mới tỉnh

Kia giác pháp cũng vậy

Được thân Phật vô thượng.

✅ Đây tụng về tánh vô gián.

Bởi vì hàng Nhị thừa cùng với Phật, tánh vốn vô gián, chỉ tự bị pháp trói buộc, gọi là uống rượu vô vi, nằm giường tịch diệt. Rượu tỉnh, mộng thức, chưa từng chẳng đến địa vị Như Lai.

❔ HỎI:

Phần trên trách ngoại đạo Nhị thừa, có nói xiển đề cũng được thành Phật, còn đây chỉ hứa Nhị thừa mà không nói ngoại đạo, đó là sao?

📣 ĐÁP:

Theo phẩm vị mà nói, thì phàm phu lớn không bằng bậc thánh nhỏ. Theo căn tánh mà nói, thì bậc thánh nhỏ không bằng hàng phàm phu lớn. Ngoại đạo kia, tuy nói là tà kiến, mà có người căn cơ bén nhạy lanh lẹ, phần lớn có thể một bước nhảy liền vào. Như đồ tể Quảng Ngạch, buông dao mổ thịt liền làm Phật sự. Một ngày tu bằng gấp mấy kiếp đó vậy. Nếu hàng Nhị thừa, say chìm trong vô minh, cùng kiếp chẳng tỉnh, rất khó hóa độ. Nên ở đây đặc biệt nói, ý ở chỗ cổ động sự hiểu biết kém cỏi của họ, khuyến khích tiến lên bảo sở. Đây chính là mật ý dẫn quyền về thật. Thần lực gia trì của Như Lai, đâu thể dùng tâm hiểu tầm thường mà đo lường sức diệu dụng bất tư nghì được.

  • Trên ✅ Đây giải thích rộng về tướng sai biệt giữa nhân quả tà chánh đã xong.

GHI CHÚ

⏯️ (tiếp theo)

QUYỂN THỨ V

CHƯƠNG BA - PHẦN TRÊN

H₄ - Nêu quả nghiệm nhân, để hiển thị tướng chân thật của nhất thừa. Có 2:

I₁ - Nêu tướng chân quả Ý sanh thân

I₂ - Nêu ngũ vô gián hạnh để biện tướng chân nhân

🌳🌲🌵

I₁ - Nêu tướng chân quả Ý sanh thân

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo đại Bồ tát Đại Huệ rằng: Nay ta sẽ phân biệt về tướng chung của Ý sanh thân, lắng nghe lắng nghe, khéo suy nghĩ ghi nhớ.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Lành thay Thế Tôn, xin vâng lãnh thọ.

GIẢI

✅ Đây là biện biệt về quả đức để chứng nghiệm tướng nhân chân thật.

Do hai quyển trước, ban đầu Đại Huệ hỏi về hạnh vô gián, đức Phật đáp rằng: Thành tựu bốn pháp được đại phương tiện của bậc hành giả cho đến được vô sanh pháp nhẫn, trụ đệ Bát địa, được lìa tâm, ý thức, năm pháp, ba tự tánh, hai vô ngã, được Ý sanh thân.

Nên kế tiếp từ chỗ nói về nhân duyên cho đến hết quyển hai, nói chung duyên khởi vọng tưởng vô tánh, để hiển bày tướng lìa tâm ý thức, năm pháp, ba tự tánh, hai vô ngã, giải thích rộng về hạnh đại phương tiện vô gián. Ý nói rõ hạnh thành đắc quả.

Do vậy đến đây liền nói về tướng sai biệt của Ý sanh thân. Trước tiên tự giải thích: Ý sanh thân là thí như ý nghĩ nhanh chóng không chướng ngại, nên gọi là ý sanh. Vì trước đó chỉ nói hàng Bát địa được Ý sanh thân nên gọi là tướng chung, nay nói mỗi địa đều được nên nói: Phân biệt có ba tướng sai biệt trong tướng chung Ý sanh thân.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Có ba thứ Ý sanh thân. Thế nào là ba? Một là Tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân. Hai là Giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân. Ba là Chủng loại câu sanh vô hành tác (Hai bản dịch đều nói là Vô tác hành) ý sanh thân. Hành giả chứng Sơ địa tiến lên các địa trên, được ba thứ thân này.

GIẢI

✅ Đây kể ra các tên sai biệt của Ý sanh thân.

Tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân, từ Sơ địa đến Thất địa được. Giác pháp tánh tự tánh tánh ý sanh thân, từ Bát địa đến Thập địa được. Chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân, từ Đẳng giác vào Diệu giác chứng được. Tướng kia tự có sâu cạn khác nhau.

Tiếng Phạn nói Tam-muội, Trung Hoa dịch là Chánh định, vì trí thể không động gọi là Chánh định, để phân biệt với định của ngoại đạo và tiểu thừa, chính là Thủ Lăng Nghiêm đại định vậy.

Chánh thọ là không thọ các thọ gọi là chánh thọ, là thọ dụng trong chánh định. Dùng niềm vui tam-muội làm chỗ thọ dụng, nên nói tam-muội lạc chánh thọ.

🪷

Đại Huệ! Thế nào Tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân? Nghĩa là Tam địa, Tứ địa, Ngũ địa vì được tam-muội lạc chánh thọ, các thứ tự tâm tịch tĩnh, an trụ biển tâm, tướng sóng thức dấy khởi chẳng sanh, biết cảnh giới tự tâm hiện tánh phi tánh, gọi là Tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân.

GIẢI

✅ Đây giải thích thân tướng thứ nhất.

Nghĩa là mới lên địa vị Bồ tát, chứng chân như bình đẳng thẳng đến Thất địa, tận cùng mé chân như, đã xả tạng thức, nên nói các thứ tự tâm tịch tĩnh. Sóng mồi thất thức chẳng sanh nên nói an trụ biển tâm, tướng sóng thức dấy khởi chẳng sanh. Đã đoạn câu sanh ngã chấp, ngã chấp đã đoạn thì cảnh giới không chỗ nương, nên nói biết cảnh giới tự tâm hiện tánh phi tánh.

✅ Đây là sức định giữ gìn, cũng gọi là sức giữ thân, nên gọi là Tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân. Thất địa chứng đến đây mà nói Tam, Tứ, Ngũ địa đó là nêu khoảng giữa để gồm suốt đầu và cuối.

🪷

Đại Huệ! Thế nào là Giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân? Nghĩa là đệ Bát địa, quán sát biết rõ các pháp như huyễn, hết thảy vô sở hữu, thân tâm chuyển biến (Đường dịch: Biết pháp như huyễn đều không có tướng, tâm chuyển sở y) được Như huyễn tam-muội và các môn tam-muội khác, vô lượng tướng, lực, tự tại, minh (Đường dịch: Hay hiện vô lượng thần thông tự tại) như diệu hoa trang nghiêm, nhanh chóng như ý nghĩ, cũng như huyễn mộng, trăng dưới nước, bóng trong gương, chẳng phải tạo và sở tạo mà như tạo và sở tạo, tất cả sắc, các thứ chi phần đầy đủ trang nghiêm Ngụy dịch: Chẳng phải tứ đại sanh, giống như tướng tứ đại, đầy đủ thân phần). Tùy vào trong đại chúng tất cả cõi Phật. Do thông đạt tự tánh các pháp, nên gọi là Giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân.

GIẢI

✅ Đây giải thích thân tướng thứ hai.

Nghĩa là hàng Bồ tát Bát địa, chứng nhất tâm chân như tiến lên Cửu địa, phát khởi chân như dụng, được Như huyễn tam-muội. Nơi nhất tâm chuyển biến, hay hiện vô lượng thần thông tự tại, một lúc phát khởi, như hoa bừng nở, như ý xuyên qua vách đá không ngăn ngại, nên nói nhanh chóng như ý nghĩ. Chẳng phải thân mà hiện thân, nên như huyễn mộng trăng nước, bóng trong gương. Chẳng phải tứ đại sanh, mà giống tướng tứ đại, thân phần rõ ràng, nên nói đầy đủ trang nghiêm. Tiến đến Thập địa, tùy theo bổn nguyện nhớ nghĩ, hóa độ các chúng sanh, nên nói tùy vào trong đại chúng tất cả cõi Phật. Mười phương chư Phật có các mưa pháp, mây pháp thảy đều thọ lãnh, nên nói thông đạt tự tánh pháp.

✅ Đây gọi là Giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân.

🪷

Đại Huệ! Thế nào là Chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân? Nghĩa là biết tất cả Phật pháp, duyên tự đắc tướng lạc (Đường dịch: Rõ thấu chư pháp tự chứng pháp tánh). Đây gọi là Chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân.

GIẢI

✅ Đây giải thích thân tướng thứ ba.

Hàng Bồ tát Thập địa ở trước, đối với Phật pháp chỉ có thể thọ nhận mà thôi. Nay từ Đẳng giác vào Diệu giác, thì có thể liễu đạt tướng pháp tự chứng của chư Phật, đã được tự giác thánh trí thiện lạc của chư Phật. Thâm nhập biển diệu trang nghiêm, ngược dòng mà ra 1, hiện thân mười cõi, vô tư mà ứng hiện, gọi là tướng vi diệu trang nghiêm, các thứ thân của bậc Thánh một thời đều hiện cũng như ý sanh thân hình, cõi nước, mình, người không chướng ngại. Nên nói Biết tất cả Phật pháp chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân.

Duyên tự đắc tướng lạc là sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui, là pháp lạc thọ dụng của chư Phật tự chứng. Thế nên Bồ tát Quan Thế Âm, do sức Kim cang tam-muội như huyễn văn huân văn tu, sanh diệt đã diệt tịch diệt hiện tiền, đột nhiên vượt khỏi thế gian xuất thế gian, liền được trên cùng mười phương chư Phật đồng một sức từ, dưới cùng với Lục đạo chúng sanh đồng một bi ngưỡng, cho nên có thể một thân hiện khắp, được ba mươi hai ứng thân, bốn bất tư nghì, mười bốn vô úy, mười chín lối thuyết pháp, chính là chứng được Chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân này vậy.

🪷

Đại Huệ! Đối với ba thứ thân tướng này, quán sát biết rồi, nên cần tu học.

Lúc ấy Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Ta chẳng thừa Đại thừa,

Chẳng nói cũng chẳng chữ,

(Ngụy dịch: Thừa của ta chẳng phải Đại thừa Đường dịch: Đại thừa của ta chẳng phải thừa)

Chẳng đế, chẳng giải thoát,

Chẳng phải không cảnh giới.

Song thừa Ma-ha-diễn

Tam-ma-đề tự tại

Các thứ ý sanh thân

Tự tại hoa trang nghiêm.

GIẢI

✅ Đây là tụng kết thúc đoạn trước nói Đại thừa chẳng phải thừa, chỉ có ba thứ Ý sanh thân được chứng đắc thôi, chẳng phải thật có Đại thừa có thể được.

Bởi ngoại đạo Nhị thừa tu hành, không được chánh định chân thật của Như Lai, chỉ theo tập khí danh ngôn, nên đối với chỗ được vọng cho là có chứng đắc. Ngoại đạo vọng lập thần ngã minh đế, Nhị thừa vọng giữ sự giải thoát riêng mình, cho là cứu cánh. Vì thế đức Phật một bề phá chỗ tà kiến và thiên lệch ấy, chỉ rõ nhân quả chân chánh.

Đến đây giảng rộng ba thứ Ý sanh thân rồi, mà tụng tổng kết nghĩa trên rằng: Ta nói Đại thừa, chẳng phải thật có Đại thừa có thể thừa, cũng chẳng phải ngôn ngữ văn tự có thể đến, cũng chẳng phải là thần ngã minh đế của ngoại đạo, không phải giải thoát cô độc của Nhị thừa. Tất cả đều lìa, cũng chẳng phải đoạn diệt, nên nói chẳng phải không cảnh giới. Bởi chỗ thừa của ta là nương sức chỉ quán của Đại thừa, dùng nó để chứng được ba thứ Ý sanh thân, chỉ như thế mà thôi.

Trước nói ngoại đạo có bốn thứ Niết-bàn, mà chỗ ta nói là vọng tưởng thức diệt gọi là Niết-bàn. Lấy điều này để chứng minh, là trước chuyển tám thức thành 4 trí, nay gom 4 trí làm 3 thân. Như thế, Tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân là căn cứ vào thức thứ 6 khởi trí quán nhị không, chứng chân như bình đẳng, chuyển thức thứ 7 thành Bình đẳng tánh trí, tức ngay nơi thân 5 uẩn hư vọng chứng được pháp thân trong sáng. Song pháp thân này, chưa có thể thuần túy thanh tịnh, vào định thì rõ, ra định thì mờ. Cho nên chỉ được Tam-muội lạc chánh thọ ý sanh thân.

Khi xả Tam-muội lạc tiến đến Cửu địa Thập địa, tu nhiều nghiệp lành độ chúng sanh xứng hợp chân thật, xem căn cơ thuyết pháp, lợi lạc hữu tình muôn hạnh trang nghiêm, là từ chân như bình đẳng phát khởi dụng lợi ích lớn. Rồi nương Bình đẳng tánh trí khởi Diệu quan sát trí, được Như huyễn Tam-muội, hợp căn cơ Thập địa, hiện báo thân tha thọ dụng rộng lớn thù đặc, nên gọi là Giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân. Vì thế văn kinh nói như huyễn mộng, trăng nước, bóng trong gương. Do vạn đức viên mãn nên văn kinh nói như diệu hoa trang nghiêm, chính là thật báo thân vậy.

Đến như dùng tâm kim cang, cắt đứt sanh tướng vô minh, chuyển thức thứ tám thành Đại viên cảnh trí, thì năm thức trước một lúc đều chuyển làm Thành sở tác trí. Tức là hữu tác mà thành vô tác, nên nói là Chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân.

Bởi nương vào Đại viên cảnh trí bình đẳng hiển hiện, thì ngàn thứ muôn loại thân một lúc ứng khắp. Đến đây không một vật nào không rạng ngời diệu thể Lô-giá-na, không thời nào không tu hạnh Phổ Hiền. Đó là từ Pháp thân Báo thân mà phát khởi thân Tha thọ dụng và hóa thân lớn, nhỏ tùy loại.

✅ Đây là do chuyển tâm, ý, ý thức làm đại Niết-bàn, thì bốn trí ba thân trong một niệm chóng được.

Điều này há hàng ngoại đạo Nhị thừa vô nhân tà nhân mà có thể được ư? Nên ở đây kết luận rằng Đại thừa của ta không phải thừa… Những điều đã nói qua, cực điểm của nó ở đây. Người tu hành nên biết ý chỉ lớn của con đường chung. Xin xem kỹ điều này, quyết định không thể chấp ngu, mờ mịt đối với Tông thông và Thuyết thông vậy. Do trước nói Ý sanh thân y cứ vào hạnh vô gián mà được, nên sau đây hỏi về Ngũ vô gián hạnh, chính là chuyển tâm, ý, ý thức làm đại Niết-bàn vậy.

  • Trên biện biệt tướng chân quả.* Dưới nêu ra Ngũ vô gián hạnh để biện tướng chân nhân.

I₂ - Nêu ra Ngũ vô gián hạnh để biện tướng chân nhân.

🪷

Lúc bấy giờ đại Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Thế Tôn đã nói, nếu người nam người nữ tạo nghiệp ngũ vô gián, không rơi vào địa ngục Vô gián.

Thưa Thế Tôn! Tại sao người nam người nữ tạo nghiệp ngũ vô gián lại không rơi vào địa ngục Vô gián?

GIẢI

Do ở trước hỏi về tu hạnh vô gián, Phật đáp dùng bốn thứ tam-muội liền được ý sanh thân, nên ở đây nói rộng ba thứ ý sanh thân, biện biệt về quả đã xong. Nay tiện dịp hỏi luôn về tướng sai biệt của hạnh vô gián, để biện biệt về chân nhân.

Ý của Đại Huệ là nghiệp ngũ vô gián là cái nhân để rơi vào địa ngục Vô gián. Mà Thế Tôn lại nói rằng tạo nghiệp ngũ vô gián có khi không rơi vào ngục Vô gián đó, chẳng biết nghiệp ngũ vô gián nào không rơi địa ngục Vô gián? Nên đặc biệt thỉnh hỏi muốn cho hành giả biết chỗ lựa chọn. Vả lại ý hiển bày nương trí được ý sanh thân, nương thức được thân năm uẩn, nay chuyển thức thành trí thì ngay thân năm uẩn hư vọng mà chuyển thành ý sanh thân, vậy nên thứ lớp nói rõ điều này.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ ghi nhớ, ta sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật: Lành thay! Thế Tôn, xin vâng lãnh thọ.

Phật bảo Đại Huệ: Thế nào là nghiệp ngũ vô gián? Nghĩa là giết cha mẹ; hại A-la-hán; phá hoại chúng tăng (bản Ngụy, Đường đều nói: phá hòa hợp tăng); ác tâm làm thân Phật chảy máu.

Đại Huệ! Thế nào là mẹ chúng sanh? Là ái lại thọ sanh, chung với tham hỷ (Ngụy dịch: Là ái rồi thọ sanh đời sau tham hỷ đều phát xuất). Như duyên nơi mẹ thành lập, vô minh làm cha (Hai bản dịch đều có thêm bốn chữ sau: Thế nào là cha?), sanh trong làng xóm nhập xứ. Đoạn dứt hai cội gốc này, gọi là giết cha mẹ.

GIẢI

✅ Đây nói tham ái, vô minh là gốc sanh tử, đoạn dứt hai thứ này, thì sanh tử vĩnh viễn chấm dứt, chóng chứng Nhất thừa, liền có thể chuyển thân nghiệp thức năm uẩn thành pháp thân thanh tịnh, nên gọi là giết cha mẹ thành hạnh vô gián.

Ái lại thọ sanh là Phát nghiệp vô minh, nghĩa là ái dục là căn bản của sanh tử. Tham hỷ sanh chung là Nhuận sanh vô minh. Nghĩa là khi sắp thọ sanh, do ái làm nhân duyên, thấy cảnh đáng yêu liền khởi nước ái, chấp giữ cảnh đáng yêu, dòng ái tuôn chảy làm chủng tử, kết tưởng làm thai, nên nói tham hỷ sanh chung. Do tham nương ái mà sanh, kết sanh tiếp nối nên nói Duyên nơi mẹ thành.

Bởi vì riêng một mình ái thì chẳng thể sanh, cần phải hòa hợp với Nhuận sanh vô minh, mới có thể sanh mầm chồi danh sắc thành ra sáu căn thọ dụng, nên nói vô minh làm cha, sanh trong làng xóm nhập xứ. Nhập là Lục nhập, Xứ là mười hai xứ, làng xóm là thân năm uẩn. Bởi nhân si cùng với ái, phát nghiệp nhuận sanh nên có sanh tử, thế thì sanh tử thật từ hai nguồn gốc ấy mà sanh. Nếu hay đoạn được nguồn gốc thì sanh tử chóng dứt, mà ngay thân nghiệp năm uẩn này liền chuyển thành pháp thân thanh tịnh.

🪷

Các sử kia chẳng hiện, như chuột độc phát các pháp, rốt ráo đoạn chúng, gọi là hại La-hán.

GIẢI

✅ Đây nói hay đoạn các kiết tập vi tế, nên gọi hại bậc A-la-hán là hạnh vô gián.

Chú thích xưa nói chuột cắn người, vết thương tuy đã lành nhưng chất độc gặp sấm sét liền phát; các sử của bậc A-la-hán cũng thế, tuy ẩn không hiện gặp duyên liền phát khởi.

Hay đoạn dứt các tập sử vi tế gọi là hại A-la-hán. Bởi, tên A-la-hán chính là do chưa đoạn tập khí mà gọi như vậy. Nay hay đoạn dứt thì ngay A-la-hán liền đắc pháp thân Như Lai.

🪷

Thế nào gọi là phá tăng? Nghĩa là các ấm tướng khác hòa hợp tích tụ, rốt ráo đoạn dứt chúng, gọi là phá tăng.

GIẢI

✅ Đây nói về phá các ấm hòa hợp nên gọi phá tăng là nghiệp vô gián.

Tướng khác tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Các ấm hòa hợp chứa nhóm làm người. Bởi, tăng là nghĩa hòa hợp, nay gọi ấm là tăng đó là vì do vọng hòa hợp; hay đoạn dứt sự nhóm họp của các ấm, gọi là phá hòa hợp tăng. Các duyên hòa hợp đã đoạn, thì pháp thân bổn hữu tự hiển bày, đây là ngay nơi duyên sanh mà chứng thật tướng vậy.

🪷

Đại Huệ! Không biết các tự tướng cộng tướng bên ngoài là hiện tượng của tự tâm, 7 thức thân, dùng ác tưởng tam giải thoát vô lậu rốt ráo đoạn 7 thứ thức Phật kia (hai bản dịch đều nói 8 thức) gọi là ác tâm làm thân Phật chảy máu.

GIẢI

✅ Đây nói chuyển thức thành trí, nên gọi làm thân Phật chảy máu là hạnh vô gián.

Bởi thức thứ 8 vốn là căn bản pháp thân của chư Phật Như Lai, chỉ vì bị kiến tập vọng giác của tiền thất chuyển thức ô nhiễm nên gọi đó là “máu”.

Nay có thể dùng ba thứ trí vô lậu là Không, Vô tác, Vô nguyện đoạn trừ thất thức nhiễm ô vô tri kia, gọi là làm thân Phật chảy máu. Tức thức đệ bát chuyển thành căn bản chánh trí mà được pháp thân thanh tịnh của Như Lai.

🪷

Nếu nam tử nữ nhân làm những việc vô gián này, gọi là ngũ vô gián, cũng gọi là vô gián đẳng.

GIẢI

✅ Đây kết luận về vô gián hạnh.

Nghĩa là hay làm tội ngũ vô gián này, tức gọi là chứng pháp chân thật vô gián đẳng. Nên bản Ngụy dịch: “Gọi là chứng pháp như thật”, Đường dịch: “Liền được hiện chứng pháp thật”.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Có ngũ vô gián bên ngoài, sẽ nói ông và các đại Bồ tát khác nghe nghĩa này rồi, đời sau không rơi vào si ác.

GIẢI

✅ Đây là đề phòng tà kiến.

Nghĩa là tạo năm nghiệp vô gián bên trong, liền chứng pháp môn Thánh trí; tạo năm vô gián bên ngoài, nhất định nhập địa ngục Vô gián. Vì vậy Thế Tôn lại nói năm nghiệp vô gián bên ngoài, khuyên răn khiến chúng sanh đời sau biết nghĩa này rồi, không rơi vào mê lầm ngu si.

🪷

Thế nào là ngũ vô gián? Như trước đã nói về vô gián, nếu làm những nghiệp này thì đối với tam giải thoát môn, mỗi mỗi không được pháp vô gián đẳng.

GIẢI

✅ Đây nói về tạo ngũ vô gián bên ngoài, chẳng những đối với tam giải thoát mỗi mỗi không được chứng pháp chân thật, còn khiến phải vào ngục Vô gián, thọ khổ vô gián. Trước đã nói, tức chỉ năm việc vô gián ở trên vậy.

🪷

Trừ điều này, là trừ thần lực biến hóa hiện vô gián đẳng, như thần lực biến hóa của Thanh văn, thần lực biến hóa của Bồ tát, thần lực biến hóa của Như Lai. Vì trừ lỗi nghi hối, vì khuyến phát cho những người tạo tội vô gián nên dùng thần lực biến hóa, hiện vô gián đẳng, không phải một bề tạo nghiệp vô gián mà không được vô gián đẳng.

GIẢI

✅ Đây là giải nghi.

Sợ người nghi rằng: Có thể tạo nghiệp ngũ vô gián mà không vào địa ngục Vô gián. Bản Đường dịch: Chỉ trừ Như Lai, các đại Bồ tát, và đại Thanh văn, thấy người tạo nghiệp vô gián, vì muốn khuyến phát muốn họ sửa lỗi, dùng thần lực thị hiện cùng làm với họ, họ liền suy nghĩ hối hận bỏ nghiệp ác, chứng được giải thoát. Đây đều là hóa hiện, chẳng phải làm thật, không từng có người chuyên thật tạo nghiệp vô gián mà không vào ngục Vô gián. Bởi nói về nhân quả báo ứng thì không một mảy may sai chạy.

🪷

Trừ giác tự tâm hiện lượng, lìa vọng tưởng thân tài, lìa chấp trước ngã, ngã sở; hoặc người khi gặp thiện tri thức, giải thoát vọng tưởng luân hồi sanh tử.

GIẢI

✅ Đây nói về có thể quán tội tánh vốn không, cũng có thể giải thoát ngũ vô gián.

Nghĩa là phàm tạo nghiệp ngũ vô gián, chẳng từng không vào địa ngục. Chỉ trừ người rõ thấu tự tâm hiện lượng, biết được thân tâm vốn không, lìa phân biệt chấp trước ngã, ngã sở. Hoặc người nhiều đời từng gieo duyên trí huệ thuần thục, đời này gặp thiện tri thức chỉ dạy, chóng ngộ tự tâm, lìa các vọng tưởng, vĩnh viễn đoạn dứt cội gốc sanh tử trong các nẻo. Như vậy thì không đọa, không như vậy thì đọa.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Tham ái gọi là mẹ

Vô minh ắt là cha

Thức biết cảnh là Phật

Các sử là La-hán

Ấm hợp gọi là tăng

Vô gián thứ lớp đoạn

GIẢI

✅ Đây tụng dùng trí vô gián, thứ lớp đoạn dứt vô minh, tham ái… nên là hạnh vô gián.

Là 5 vô gián này — Không rơi ngục Vô gián.

Ý chánh của văn kinh nói rõ hạnh ngũ vô gián, chứng pháp chân thật, là giải nghi về nhân nên ở đây không tụng lại về ngũ vô gián bên ngoài.

  • Hai chương trên đây, nêu quả để nghiệm nhân, bày tướng chân nhân của nhất thừa đã xong. Trước đây, phần lớn của quyển hai, nói bỏ vọng về chân. Trong phần đầu biện biệt tà chánh chóng nêu bày tướng lý hạnh nhân quả của Nhất thừa, biện rõ nhân địa tâm đã xong.

  • Lời văn từ chương năm pháp quyển đầu đến đây dừng, tính ra có hơn một vạn bảy ngàn lời.

  • Sau đây biện biệt quả địa giác, chia làm ba. Phần đầu nói ba thân để hiển thường đức của pháp thân, chia ba. Phần đầu nêu chung trí giác của Phật.

E₂- Biện biệt quả địa giác. Có 3:

G₁ - Nói ba thân để hiển đức thường của pháp thân. Có 3:

H₁ - Nêu chung tri giác của Phật

H₂ - Hiển báo hóa hai thân

H₃ - Hiển pháp thân thường trụ

🌳🌲🌵

H₁ - Nêu chung tri giác của Phật

🪷

Lúc bấy giờ đại Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tri giác của Phật.

Thế Tôn! Những gì là tri giác của Phật?Trên biện biệt nhân địa tâm đã xong, đây nói về quả địa giác. Tri giác của Phật là quả địa giác. Do trước nói ta nói đạo giác ngộ nhất thừa gọi là Đại thừa, ý rằng Nhất thừa là tri giác của Phật. Không biết những gì là tri giác của Phật, nên đây biện biệt.

Phật bảo Đại Huệ: Biết nhân pháp vô ngã, biết rõ hai chướng, lìa hai thứ tử, đoạn hai phiền não, đó gọi là tri giác của Phật. Thanh văn, Duyên giác được pháp này, cũng gọi là Phật. Do nhân duyên này nên ta nói Nhất thừa.

GIẢI

✅ Đây nêu chung tướng tri giác của Phật.

Hai chướng là phiền não và sở tri. Hai tử là phần đoạn và biến dịch. Hai phiền não là căn bản và chi mạt, chú giải xưa cho là tứ trụ và vô minh, cũng không ngoài hai thứ này. Nghĩa là chỉ cần đoạn dứt những lỗi như trên tức gọi là tri giác Phật.

✅ Đây chính là “Ngũ trụ 2 rốt ráo tận, hai tử vĩnh viễn mất, người pháp cả hai không, các chướng vắng bặt, mới gọi là tri giác Phật”.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Khéo biết hai vô ngã

Hai chướng phiền não đoạn

Xa lìa hai thứ tử

Gọi là tri giác Phật

GIẢI

✅ Đây giảng chung tướng quả giác.

Bởi, quả Phật có hai: Một là Duyên sanh báo Phật, hai là Pháp thân chân Phật. Nếu duyên sanh báo Phật là trải qua nhiều kiếp tu mới thành. Ở đây pháp báo hợp một, ba thân không hai.

Nếu là Pháp thân chân Phật thì dù có Phật không Phật, tánh tướng thường trụ.

  • Kế hiển bày báo thân hóa thân.

H₂ - Hiển báo hóa hai thân

Lúc bấy giờ đại Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Vì cớ gì Thế Tôn ở trong đại chúng xướng lời thế này “Ta là tất cả Phật quá khứ và thọ sanh nhiều loài, lúc ấy ta làm Chuyển luân thánh vương Mạn-đà (hai bản dịch đều nói làm vua Đảnh Sanh), làm voi lớn sáu ngà và chim anh vũ, Thích đề hoàn nhơn, tiên nhơn thiện nhãn.

Các kinh nói trăm ngàn kiếp như thế?” (Ngụy dịch: Trăm ngàn kinh như thế, đều nói về Bổn sanh. Đường dịch: Nói trăm ngàn việc Bổn sanh).

Sau đây sắp nói về báo thân hóa thân duyên sanh, để hiển bày Phật Phật đạo đồng, quả đức không hai, nên đến đây bèn hỏi.

Nhân ở trước Phật nói: Biết vô ngã gọi đó là Phật. Ý của Đại Huệ rằng Thế Tôn đã nhân giác ngộ pháp mà thành Phật, là hiện tại tu thành, chẳng phải là Phật đã thành ứng hiện đến đây. Tại sao Thế Tôn còn nói ta là Phật quá khứ ư? Đã nói là Phật quá khứ, tại sao lại nói đời quá khứ Như Lai thọ các thứ thân, lại nói làm vua Đảnh Sanh, lại nói làm cầm thú, hoặc voi, hoặc anh vũ…

Lại nói làm thiên đế, lại nói làm tiên nhơn, nói việc của trăm ngàn bổn sanh như thế là sao? Như thế là tự ngữ tương vi. Bởi đây là chỗ nghi thường tình, nên nêu câu hỏi này.

Phật bảo Đại Huệ: Vì tứ đẳng (Đường dịch: Vì y cứ vào mật ý tứ bình đẳng) nên Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác ở trong đại chúng nói lời thế này: Bấy giờ ta làm Phật Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp. Thế nào là tứ đẳng? Là tự đẳng, ngữ đẳng, pháp đẳng, thân đẳng, đó gọi là bốn thứ bình đẳng. Do bốn thứ bình đẳng nên Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác ở trong đại chúng nói lời như thế.

Thế nào bình đẳng về danh tự? Nếu danh tự xưng ta là Phật, danh tự ấy cũng dùng cho tất cả chư Phật (Đường dịch: Nghĩa là ta tên là Phật, tất cả Như Lai cũng tên là Phật). Danh tự ấy, tự tánh không sai biệt, đó gọi là bình đẳng về danh tự.

✅ Đây nói về Phật Phật danh từ đồng nhau, là hóa thân bình đẳng. Bởi danh là biểu hiện của thật, vì thật bình đẳng nên danh cũng bình đẳng.

Hàng Tam thừa đều không được danh xưng này, vì chưa đến chỗ thật này.

Thế nào là bình đẳng về ngôn ngữ? Nghĩa là ta có sáu mươi bốn thứ ngôn ngữ Phạm âm, chư Như Lai Ứng cúng Chánh đẳng chánh giác kia cũng có sáu mươi bốn thứ ngôn ngữ Phạm âm như vậy, không thêm không bớt, không sai biệt.

Âm thanh như Ca-lăng-tần-già, Phạm âm.

✅ Đây nói về Phật Phật âm thanh đồng, là báo thân bình đẳng.

Sáu mươi bốn thứ Phạm âm ấy, bản chú giải xưa giảng kinh Mật Tích Lực Sĩ nói rằng âm thanh của Phật có tám chuyển là: Thể, Nghiệp, Cụ, Vị, Tùng, Thuộc, Ư, Hô là tám chuyển thanh.

Mỗi thứ đủ tám đức, là âm thanh điều hòa, tiếng nhu nhuyến, tiếng rõ ràng, tiếng dễ hiểu, tiếng không lầm lỗi, tiếng không nhỏ, tiếng rộng lớn, tiếng sâu xa.

Tám lần tám là sáu mươi bốn âm thanh.

Chẳng phải chỉ có một mình Phật Thích-ca, tất cả chư Phật âm thanh đều như thế.

Ca-lăng-tần-già, Trung Hoa dịch là chim Diệu Thanh. Kinh Chánh Pháp Niệm nói: Ca-lăng-tần-già phát ra diệu âm hoặc trời hoặc người, Khẩn-na-la… không sánh bằng, chỉ trừ âm thanh của Như Lai. Cho nên các kinh xưng tụng âm thanh của Phật, đều dẫn đó làm dụ. Kinh Lăng Nghiêm nói: Tiếng Ca-lăng-tần-già biến khắp mười phương.

Thế nào là bình đẳng về thân tướng? Nghĩa là ta và chư Phật, pháp thân và sắc thân tướng hảo, không sai khác. Trừ khi vì muốn điều phục các hàng chúng sanh khác nhau trong các nẻo, nên thị hiện các thứ thân sai khác. Đó gọi là thân bình đẳng.

Thế nào là pháp bình đẳng? Nghĩa là ta và chư Phật được ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần.

✅ Đây nói về chư Phật thân bình đẳng, pháp bình đẳng, vì pháp bình đẳng nên thân bình đẳng.

Hoa Nghiêm nói: Mỗi thân mỗi trí huệ, lực, vô úy cũng thế. Ở đây nói về ba thân đều bình đẳng. Ba thân là pháp thân, báo thân, hóa thân. Song pháp thân chỉ có một, báo thân thì có hai, là tự thọ dụng và tha thọ dụng. Hóa thân có ba, là đại hóa, thân Lô-xá-na một ngàn trượng, có vô biên tướng hảo. Tiểu hóa, là thân Phật Thích-ca trượng sáu. Tùy loại hóa, nghĩa là thọ sanh nhiều hình thức, hoặc làm vua Đảnh Sanh, làm Thiên đế, làm voi chúa, làm chim anh vũ cho đến làm vượn, nai nhiều loài khác nhau, không chỗ nào không đến.

Trong đây sắc thân tức là báo thân tự tha thọ dụng và hóa thân đại tiểu, các thứ thân tức là tùy loại hóa.

Tông Cảnh hỏi rằng: Chư Phật chỉ một pháp thân, tại sao nói có ba thân sai biệt?

Đáp: Đứng về dụng thì chia ba, thể chỉ là một. Thức Luận nói: “Pháp thân như thế, có ba tướng khác biệt”.

Một là Tự tánh thân là Như Lai chơn tịnh pháp giới, thọ dụng biến hóa đều bình đẳng. Y cứ vào đó, lìa tướng tịch diệt, dứt các hí luận, đầy đủ công đức chân thường không ngằn mé, là thật tánh bình đẳng của tất cả pháp. Tự tánh này cũng gọi là pháp thân vì là chỗ y chỉ của pháp đại công đức.

Hai là Thọ dụng thân, có hai loại: Một là Tự thọ dụng, nghĩa là các Như Lai tu tập vô lượng phước huệ tu lương, làm khởi lên vô biên công đức chân thật và sắc thân thanh tịnh tròn đầy thường biến khắp, nối tiếp lặng lẽ đến tận cùng mé vị lai, thường tự thọ dụng pháp lạc rộng lớn. Hai là Tha thọ dụng, nghĩa là các đức Như Lai do trí bình đẳng, thị hiện ra thân tướng công đức vi diệu thanh tịnh, ở cõi nước thuần tịnh, vì các chúng Bồ tát Thập địa, hiện đại thần thông, chuyển bánh xe chánh pháp giải quyết nghi ngờ của đại chúng, khiến cho họ hưởng thọ pháp lạc Đại thừa.

Ba là Biến hóa thân, nghĩa là các đức Như Lai do trí thành sự (Thành sở tác trí), biến hiện vô biên hóa

thân tùy theo loài ở cõi nước tịnh và uế, vì các hàng Bồ tát chưa đăng địa, các hàng Nhị thừa dị sanh, xứng hợp căn cơ của họ, hiện thần thông thuyết pháp, khiến mỗi mỗi đều được lợi ích an lạc.

Đó là chuyển diệt ba tâm được ba thân. Một là tâm căn bổn tức chuyển thức thứ tám được Pháp thân. Hai là tâm y bổn, tức chuyển thức thứ bảy được Báo thân. Ba là tâm khởi sự tức chuyển sáu thức trước được Hoá thân. Cũng gọi là ba đức. Một là Đoạn đức, là đoạn tất cả phiền não, tức Pháp thân. Hai là Trí đức, là bao gồm tứ trí, là Báo thân. Ba là Ân đức, là ân thương xót cứu giúp tất cả hữu tình là Hóa thân. Ba thân bốn trí đều y cứ vào nhất tâm chuyển bát thức mà thành. Các đức Phật đều chứng tâm này, nên thân tướng đồng nhau. Bởi thân và trí này là chỗ quay về rốt ráo của người tu, và chỗ hiển lộ của chánh giác, nên không thể không biết.

Đến như ba mươi bảy phẩm là niệm xứ, chánh cần, thần túc, căn, lực, giác, đạo tùy chỗ nói ra, e phiền phức nên không dẫn chứng. Vì ba mươi bảy phẩm hay đoạn trừ phiền não là chỗ hiển hiện của Pháp thân. Vì xứng chơn mà tu nên thân đồng pháp đồng, y vào chơn mà chứng nên pháp đồng thân đồng. Nên đạo phẩm này cũng gọi là Pháp thân, là nhân của Pháp thân vậy.

🪷

Nói lược về trí vô chướng ngại của Phật, gọi là Tứ đẳng. Cho nên Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác, ở trong đại chúng xướng nói lời như thế.

GIẢI

✅ Đây kết luận về lý do của tứ đẳng.

Nghĩa là các đức Phật sở dĩ có bốn thứ đồng nhau, bởi y cứ vào trí vô chướng ngại nhất chân pháp giới, bởi trí này làm thống lãnh pháp giới, là tông chỉ của chư Phật.

Do y cứ vào trí vô chướng ngại, nên mỗi pháp mỗi pháp bình đẳng, không riêng bốn pháp này thôi, nên gọi là nói lược.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên nghĩa này bèn nói kệ:

Ca-diếp, Câu-lưu-tôn

Câu-na-hàm là ta

Do bốn pháp đồng này

Ta vì Phật tử nói

GIẢI
  • Phần trên nói duyên sanh Báo thân Hóa thân đã xong.

  • Phần dưới nói pháp thân thường trụ bản hữu.

H₃ - Hiển pháp thân thường trụ

🪷

Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Như Thế Tôn đã nói “Ta từ đêm ấy được đạo chánh giác, cho đến đêm ấy nhập Niết-bàn, trong khoảng giữa, cho đến không nói một lời, cũng không có đã nói, đang nói. Không nói là Phật nói”. Thế Tôn, vì sao bậc Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác lại nói rằng không nói là Phật nói?

GIẢI

✅ Đây sắp hiển bày Pháp thân bản hữu chân Phật thường trú nên đặt câu hỏi này.

Do phần trước, Phật nói ta dùng sáu mươi bốn thứ Phạm âm vì chúng sanh thuyết pháp, vì thế Đại Huệ nêu lên điều đã được nghe từ trước mà đặt nghi vấn rằng: Thế Tôn thường nói trước sau chẳng nói một lời, rồi nói thêm, không nói là Phật nói. Ý muốn nói rằng: Con thấy Thế Tôn chưa từng chẳng nói. Dám hỏi Thế Tôn do nhân gì tự nói rằng: Không nói là Phật nói?

Sau đây Phật đáp có hai nghĩa.

Một là duyên nơi pháp tự được là đạo ly ngôn, vốn không có ngôn thuyết, thế nên ta nói về chỗ không nói ấy. Hai là, pháp bản trụ dù có Phật không Phật, pháp ấy thường trụ, như con đường cổ dẫn đến thành. Tức chư Phật xuất hiện ở thế gian, đặc biệt do đường ấy thôi. Bởi pháp thân bản hữu, chẳng phải là bên ngoài có thể tạo tác, đã không chỗ tạo tác, thì nói điều gì? Song có nói năng là nói về chỗ không thể nói đó, nên nói Không nói là Phật nói.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Nhân nơi hai pháp nên ta nói như thế. Thế nào là hai pháp? Là duyên pháp tự được, và pháp bổn trụ. Đó gọi là hai pháp. Nhân hai pháp này nên ta nói như thế.

GIẢI

✅ Đây nêu lý do không nói mà nói. Không từ nơi khác được, gọi là tự được.

Xưa nay vắng lặng trạm nhiên chẳng động, gọi là bổn trụ. Bản Đường dịch: Là pháp tự chứng.

🪷

Thế nào là duyên pháp tự được? Như chỗ được của chư Như Lai, ta cũng được như thế, không tăng không giảm, cảnh giới rốt ráo của duyên pháp tự được lìa vọng tưởng ngôn thuyết, lìa danh tự hai bên.

GIẢI

✅ Đây nói về pháp tự chứng, là đạo lý ngôn nên không pháp có thể nói.

Nghĩa là pháp tự được của chư Phật chứng, ta cũng được đó, không tăng giảm mảy may. Bởi pháp này rốt ráo là ngôn thuyết vọng tưởng, lìa văn tự hai bên, song chỗ nói của ta là cảnh giới lìa ngôn thuyết văn tự, chỗ không nói mà nói, nên nói lên chỗ không nói ấy.

🪷

Thế nào là pháp bổn trụ? Nghĩa là con đường của bậc tiên thánh xưa, là pháp giới thường trụ như tánh chất của vàng, bạc… Nếu Như Lai ra đời hay không ra đời, pháp giới thường trụ, như con đường dẫn về thành kia. Thí như người đi trên khoảng đồng trống, thấy con đường bằng phẳng dẫn về cổ thành, liền theo đó vào thành, hưởng thú vui như ý (Đường dịch: Thế nào là pháp bổn trụ? Nghĩa là bổn tánh của pháp, như vàng trong mỏ. Nếu Phật ra đời hay không ra đời pháp như thế, pháp vị, pháp giới, pháp tánh thảy đều thường trụ. Thí như có người đi giữa đồng trống, thấy con đường cũ ngay thẳng dẫn về cổ thành, liền đi theo đó vào thành, nghỉ ngơi vui chơi)

Đại Huệ! Ý ông thế nào? Người kia làm ra con đường đó và mọi thứ vui trong thành ư? (Ngụy dịch: Người kia mới làm nên con đường đó, rồi theo vào thành mới tạo nên các thứ trang nghiêm ư?)

Đại Huệ đáp: Thưa không!

Phật bảo Đại Huệ: Ta và tất cả chư Phật quá khứ, pháp giới thường trụ, cũng lại như vậy.

(Đường dịch: Ta và chư Phật, chỗ chứng pháp tánh chân như thường trụ cũng lại như vậy).

Cho nên nói rằng: Ta từ đêm đó được tối chánh giác, cho đến đêm đó nhập đại Niết-bàn, khoảng giữa không nói một chữ, cũng không có đã nói sẽ nói.

GIẢI

✅ Đây nói chư Phật chứng pháp bổn trụ, ta chỉ do theo đó mà thôi, nên cũng không có điều gì để nói.

Bổn trụ, là pháp tánh vốn tự thường trụ. Kinh Pháp Hoa nói: “Các pháp từ xưa nay, tướng thường tự vắng lặng. Như pháp trụ pháp vị, tướng thế gian thường trụ”. Như con đường bằng phẳng dẫn đến thành vua, các thánh đi chung, Phật Phật ra đời chỉ do theo đó mà thôi, chẳng phải mới tạo ra, vì không làm nên không có gì để nói. Thế thì Như Lai có thuyết pháp, đều là việc làm đã qua, con đường đã đi của chư Phật. Đến như đại đạo, và chỗ tự thọ dụng, chỉ tại chỗ tự làm tự biết, thầm hợp mà thôi. Há có được gì mà nói ra ư? Do pháp tự được và pháp bổn trụ, đều là không thể nói, nên đầu, cuối, giữa không nói một chữ.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Ta đêm ấy thành đạo

Đến đêm ấy Niết-bàn

Khoảng thời gian giữa đó

Ta đều không nói năng

Pháp tự được, bổn trụ

Nên ta nói như thế

Các Phật kia với ta

Thảy không có sai biệt

GIẢI

Bài tụng này nói Phật Phật đạo đồng, ý hiển bày chẳng phải chỉ có ta không nói một chữ, ngay cả tất cả chư Phật cũng đều không có pháp để nói vậy. Dấu vết đến đây, cứu cánh đã tột.

  • Phần sau nói về cứu cánh nhất tâm, lìa tướng có không để phá Nhị kiến, để hiển Niết-bàn lìa lỗi.

G₂ - Phá nhị kiến để hiển Niết-bàn lìa lỗi

🪷

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại thỉnh Phật: Cúi xin vì nói tướng có tướng không của tất cả pháp, khiến con và các đại Bồ tát khác, lìa tướng Có tướng Không chóng được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Lành thay Thế Tôn! Xin vâng thọ giáo.

GIẢI

✅ Đây nhân ở trên Phật nói rằng: Dù có Phật hay không Phật, pháp giới vẫn thường trụ. Vì thế ở đây đặc biệt hỏi về tướng Có Không để biện rõ bản tế rốt ráo, hai thứ có không đều lìa, để hiển bày Niết-bàn lìa lỗi.

Kinh Tịnh Danh nói: Bản tế không thể được, vì sanh tử Niết-bàn xưa nay bình đẳng, có không hai bên đều lìa. Bởi hai kiến chấp này, là y cứ vào Phật pháp mà khởi. Do chúng sanh không biết ba cõi duy tâm, vọng chấp các pháp cho là thật có, nên Phật nói duyên sanh để phá chấp ấy. Song người nghe pháp lại chấp pháp duyên sanh cho là thật có. Hàng Nhị thừa vọng chấp thật có sanh tử cần đoạn dứt, thật có Niết-bàn cần chứng, nên Phật lại nói cứu cánh thường trụ, sanh tử Niết-bàn xưa nay bình đẳng, để phá chấp ấy.

Rồi người nghe không hiểu ý Phật, lại cho đó là hoàn toàn không. Do hai kiến chấp Có - Không này chỉ theo lời nói mà sanh tri giải, nên đối với pháp bổn trụ không thể tự được. Ngài Đại Huệ nhân ở trên Phật nói cứu cánh đến chỗ này, ý muốn kín đáo phòng ngừa lối chấp trên, nên đặc biệt thưa hỏi vấn đề này.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Thế gian y cứ vào hai điều này, là y cứ vào Có và Không. (Đường dịch: Chúng sanh ở thế gian phần lớn rơi vào hai kiến chấp là kiến chấp Có và kiến chấp Không) rơi vào tánh và phi tánh muốn thấy chẳng lìa lìa tướng.

GIẢI

✅ Đây nêu lỗi nhị kiến.

Y cứ vào Có là y cứ vào Phật nói duyên sanh, do không hiểu thấu lý vô sanh, nên vọng chấp cho là thật có năng sanh sở sanh. Y cứ vào Không là y cứ vào Phật nói vọng tưởng không có tánh, sanh tử Niết-bàn xưa nay bình đẳng, do không thấu hiểu duy tâm cho nên vọng chấp tuyệt đối Không mà khởi lên kiến chấp bài bác tất cả cho là không.

Chấp có thì rơi vào tánh, giống như lối chấp vô nhân của ngoại đạo. Chấp không thì rơi vào phi tánh, đọa nhất xiển đề, bác không có nhân quả. Ngụy dịch rằng: Do thấy có các pháp, thấy không các pháp, nên đối với pháp chẳng cứu cánh khởi tưởng cho là cứu cánh, vì thế nói muốn thấy chẳng lìa lìa tướng. Song do đều chẳng rõ tự tâm hiện lượng, nên ở trong Phật pháp không thể được nghĩa ngoài lời, chỉ y cứ vào ngôn thuyết vọng tưởng phân biệt, khởi lên hai kiến chấp thôi.

Cổ đức nói: Chẳng cần cầu chân, chỉ cần dứt kiến. Bởi dù có Phật hay không Phật, pháp giới vẫn thường trụ, thế là chỗ hàng ngày hiện chứng của chúng sanh, nào có mượn bên ngoài? Chỉ cần một niệm không sanh, mé trước mé sau dứt, năng sở đều quên, vọng kiến chấm dứt, tự mình cùng với bổn pháp tương ưng vậy.

Song nhị kiến này, chính là chấp về Phật giáo mà sanh phiền não, không nhập lý được. Gọi là học Phật pháp mà thành ra kiến chấp ngoại đạo vậy. Đại Luận nói: “Nếu không được phương tiện Bát-nhã, thì vào A-tỳ-đàm liền rơi trong Có, vào Không liền rơi trong Không, chấp ngược lại chánh pháp, trở lại thành người tà”. Chính là hạng này vậy.

🪷

Đại Huệ! Thế nào thế gian nương Có? Nghĩa là có thế gian nhân duyên sanh chẳng phải chẳng có, từ Có sanh chẳng phải không có sanh. (Đường dịch: Nghĩa là có nhân duyên nên sanh các pháp, chẳng phải không thật có, thật có các pháp từ nhân duyên sanh, chẳng phải không có pháp sanh).

Đại Huệ! Lập thuyết như thế là lập thuyết thế gian vô nhân.

GIẢI

✅ Đây nói y cứ Phật pháp, nghe nói nhân duyên sanh pháp, chấp là thật có nhân duyên năng sanh, và các pháp sở sanh, rơi vào kiến chấp Có.

Nghĩa là các chúng sanh vọng chấp thế gian quyết định Có nhân duyên hay sanh ra các pháp.

✅ Đây là chấp nhân duyên thật sự Có, nên nói Chẳng phải không thật có.

Hơn nữa, đã có nhân duyên năng sanh, thì phải có các pháp sở sanh, đây là chấp các pháp thật có, nên nói chẳng phải không pháp được sanh. Bởi nếu họ cho là thật có nhân duyên hay sanh các pháp thì những người nói lời như thế, ắt thuộc rơi vào hàng ngoại đạo vô nhân, nên nói là lập thuyết thế gian vô nhân. Do ngoại đạo vọng chấp thật có sanh nhân, là Thắng tánh, Tứ đại, Thời, Hòa hợp, Vi trần, Tự tại… cho đó là cội gốc sanh ra các pháp. Bởi vốn không thể sanh, mà vọng cho là sanh nhân, đó là vô nhân vậy. Đem chẳng phải nhân chấp làm nhân, nên nói vô nhân. Bởi thuyết “Vô nhân” này, từ chấp Có mà ra, vì do chẳng thấu đạt các pháp vốn tự vô sanh.

  • Trên phá rơi vào kiến chấp Có.

  • Dưới phá rơi vào kiến chấp Không.

🪷

Đại Huệ! Thế nào là thế gian y cứ vào Không? Nghĩa là nhận tánh tham, sân, si rồi, về sau vọng tưởng chấp trước tánh tham, sân, si là phi tánh.

Đại Huệ! Nếu chẳng chấp giữ có tánh ấy thì tánh tướng vắng lặng?

GIẢI

✅ Đây nói y cứ vào Phật pháp, nghe nói sanh tử Niết-bàn xưa nay bình đẳng, bèn bác không nhân quả, là rơi vào kiến chấp Không vậy.

Do Phật một phen có nói những câu như hoặc loạn là thường, phiền não tánh không, vọng tưởng vô tánh… liền có kẻ tăng thượng mạn, chấp lời nói ấy cho là thật, bèn nói phiền não tức Bồ-đề, sanh tử tức Niết-bàn, dâm nộ si là phạm hạnh, rồi buông lung ý làm càn.

Mỗi hành động đều vướng vào Có mà miệng cứ nói Không, cho là ăn thịt uống rượu không chướng ngại Bồ-đề, ăn trộm dâm dục không ngại gì Bát-nhã. Lại nói: “Chỉ chẳng chấp giữ có tánh tội phước, ắt tự nhiên tâm cảnh vắng lặng, ngại gì chẳng hành động”. Nên nói nhận tánh tham sân si rồi, sau vọng tưởng chấp trước, tánh tham sân si là phi tánh (chẳng có). Đường dịch: Biết chấp nhận tánh tham sân si rồi, mà vọng chấp nói không, nghĩa là vì biết rõ mà làm, rồi nói dối là tánh không vô tội.

Thế nên Phật chỉ chỗ kiến chấp của họ mà trách hỏi rằng: Nếu chẳng chấp giữ có tánh thì tánh tướng vắng lặng. Ý rằng: Nếu họ quả nhiên không chấp nhận tham sân si là có tánh, thì tánh tướng vắng lặng. Tánh là tâm, tướng là cảnh. Thẳng muốn họ cứu xét lại tâm họ. Tâm cảnh có thật vắng lặng không? Tâm cảnh nếu quả nhiên vắng lặng thì đi trên nước sôi, nằm lửa nóng như ở hư không. Ăn phân uống rượu không phân biệt dơ sạch. Như thế thì có thể chấp nhận. Nay đã không được vậy, nhất định không phải tri kiến chân thật, chỉ là vọng tưởng chấp càn, là lối kiến chấp bác không nhân quả. Ngụy dịch: “Không có pháp, vì không thấy được tướng các vật”. Đường dịch: “Vì họ phân biệt các pháp mà không nhận các pháp có mặt”. Lấy hai bản dịch này để chứng minh nên biết câu vắng lặng này là Phật nêu ra lời vọng chấp của kẻ chấp kia.

Nghĩa là đem lý liễu nghĩa của Phật trở lại làm kiến giải của mình. Người xem nên khéo hiểu nghĩa này.

Nghĩa là các đức Như Lai, Thanh văn, Duyên giác, không nhận tánh tham sân si là Có, là Không.

✅ Đây nói người bác Không, vọng nghĩ rằng hàng Thánh nhân ba thừa cũng đồng với cái thấy của mình.

Nghĩa là họ vọng nói rằng hàng Thánh nhân ba thừa, cũng ban đầu có tham sân si, chỉ không nhận tánh nó mà thôi. Do Thánh nhân kia biết tham sân si xưa nay vắng lặng, nên không nhận là có, cũng không đoạn dứt tham sân si nên không nhận là Không.

Đường dịch: “Cũng biết các đức Phật, Thanh văn, Duyên giác không có tánh tham sân si mà vọng chấp là chẳng có”. Nghĩa là vọng chấp như mình chấp, chẳng nhận là không có. Đây thật là người ác kiến tăng thượng mạn, chưa được cho là được, thành đại xiển-đề, đoạn chủng tánh Phật, bác không nhân quả. Đây gọi là hạng ngoại đạo học Phật. Như Lai huyền ký đời mạt pháp rất nhiều hạng người như thế, nên ở đây đặc biệt đưa ra lỗi ấy, khiến biết chỗ kinh sợ, không rơi vào tà kiến.

🪷

Đại Huệ! Trong đây những người nào là hoại?

Đây là Phật hỏi Đại Huệ! Hai hạng người này người nào là hoại thiện căn, rơi vào kiến chấp không, dứt giống Phật. Hoại là nghĩa đọa, nghĩa đoạn diệt.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nếu là người chấp nhận tánh tham sân si, sau lại không nhận.

Đại Huệ nói: Hạng rơi vào kiến chấp cũng là hoại.

Phật bảo Đại Huệ: Lành thay! Lành thay! Ông hiểu như vậy. (Đường dịch: Ông hiểu lời hỏi của ta).

Đại Huệ! Chẳng những tham sân si tánh phi tánh là hạng người hoại, đối với Thanh văn, Duyên giác và Phật cũng là hạng người hoại. Vì sao? Vì trong ngoài không thể được, vì tánh phiền não khác, chẳng khác.

GIẢI

✅ Đây nêu ra chấp lầm của người bác Không.

Nghĩa là người bác Không, chẳng những tự đem tham sân si không tánh làm đoạn dứt thiện căn, họ cũng đem chỗ chứng của Phật, Thanh văn, Duyên giác, vọng cho là đồng với kiến chấp của mình, lại là hạng đoạn dứt giống Phật. Thế là người ấy chẳng những tự hoại, mà cũng hoại diệt Phật pháp. Cớ gì nói họ tự hoại cũng hoại Phật pháp? Vì họ hiểu sai lời Phật, vọng cho là vì trong ngoài không thể được, vì tánh phiền não khác chẳng khác.

Bởi trong ngoài là tâm cảnh, trong là nghiệp nhân ngoài là khổ quả, phiền não tức tham sân si, khác là nhiều thứ, không khác là nhất chân, nghĩa là phiền não tức Bồ-đề. Do người bác Không kia, vọng cho là tâm cảnh nhân quả trong ngoài đều không được nên là không nhân không quả, mà nói sanh tử tức Niết-bàn, phiền não tức Bồ-đề rồi cẩu thả không sợ sệt, phóng túng thân tâm cho là giải thoát, còn cho là chỗ chứng quả của Phật và Thanh văn, Duyên giác cũng chỉ như thế mà thôi.

✅ Đây chính là đoạn dứt giống Phật.

🪷

Đại Huệ! Tham sân si hoặc trong hoặc ngoài không thể được, vì tánh tham sân si không thân, không thủ. Chẳng phải Phật, Thanh văn, Duyên giác là hoại, vì Phật, Thanh văn, Duyên giác tự tánh giải thoát, vì trói buộc và nhân trói buộc chẳng phải tánh.

GIẢI

✅ Đây chính nêu chỗ thật chứng của hàng Thánh nhân ba thừa.

Bởi vì chỗ chứng của bậc Thánh tam thừa, đối với tham sân si, trong hay ngoài đều chẳng thể được. Dùng sức quán chiếu của trí tuệ, thấy rõ tánh tham sân si vốn không, không thể nắm bắt, há có thể giống với hạng người bác Không kia, đã thực hiện cảnh tham sân si, tạo các nghiệp, mà vọng tự cho là trong ngoài chẳng thể được ư? Tức là hiện tại thân tâm khổ não ràng buộc mọi nơi há có thể vọng cho là phiền não tánh khác chẳng khác ư? Thế nên ta nói hạng người bác Không đó, tự họ khởi lên ác kiến, đoạn dứt căn lành, không phải Phật, Thanh văn, Duyên giác là hoại. Vì Phật, Thanh văn, Duyên giác tự tánh giải thoát, vì trói buộc và nhân trói buộc chẳng phải tánh (chẳng thật có).

Giải thoát là Niết-bàn, trói buộc là sanh tử. Nhân trói buộc là ngũ trụ phiền não. Phật chứng vô dư, hàng Nhị thừa chứng hữu dư, tên chung là Niết-bàn, nên đều nói là tự tánh giải thoát. Tứ trụ phiền não là nhân phần đoạn, vô minh trụ địa là nhân biến dịch. Hàng Nhị thừa qua được phần đoạn tử, Phật qua được biến dịch tử nên đều nói là trói buộc và nhân trói buộc chẳng phải tánh. Hàng Thánh nhân ba thừa thật chứng như thế, hạng bác Không kia đâu thể sánh cùng.

🪷

Đại Huệ! Nếu có người trói buộc, lẽ ra phải có trói buộc là nhân để cột trói.

Đại Huệ! Như thế gọi kẻ hoại ấy là không tướng.

GIẢI

✅ Đây nêu lỗi của người bác Không.

Bởi hạng người bác Không ấy tự cho bằng với hàng Thánh nhân ba thừa. Song bậc Thánh kia đều được tự tánh giải thoát, cho đến đối với sanh tử trói buộc, phiền não là nhân trói buộc đều đã trừ sạch. Mà hạng bác không vẫn còn tự đắn đo thật có khổ sanh tử trói buộc chăng? Hay không có khổ trói buộc? Nếu quả thật không có khổ trói buộc thì được. Nếu vẫn còn khổ sanh tử trói buộc thì phải có phiền não làm nhân cho khổ. Nay nghiệp nhân đã chưa dứt, quả khổ khó trốn, sanh tử trầm luân nhanh như điện chớp, làm sao có thể vọng cho là không nhân không quả? Bởi nghiệp hoặc lẫy lừng, há có thể vọng y cứ vào bậc Thánh tam thừa, dẫn chứng làm hành trang cứu khổ, mà làm trò tự dối mình ư? Thật là quá ngu vậy! Thế nên ta gọi là kẻ bại hoại. Đó là người rơi vào kiến chấp Không, tướng kia như thế. Thương cho đời mạt pháp, nên phải nhắc nhở thống thiết.

🪷

Đại Huệ! Nhân đây nên ta nói thà giữ kiến chấp về nhân ngã như núi Tu-di, không nên khởi kiến chấp Không tăng thượng mạn không có gì.

GIẢI

✅ Đây nói nặng về lỗi của kiến chấp Không, ý ở chỗ thống thiết khuyên xa lìa.

Kiến chấp nhân ngã là kiến chấp Có. Đường dịch “Ta y cứ vào nghĩa này, mật ý mà nói rằng: Thà khởi ngã kiến như núi Tu-di, không nên khởi Không kiến ôm lòng tăng thượng mạn”. Song y cứ vào mật ý mà nói thà khởi ngã kiến như núi Tu-di, là chẳng phải cho phép khởi ngã kiến, mà để nói mạnh chỗ không nên khởi kiến chấp Không.

Bởi vì ngã kiến tuy cứng chắc khó hóa độ, nhưng kẻ lợi căn trong hàng ngoại đạo có thể một lời mà chuyển. Đến như Không kiến thật là bất khả đối trị, hàng Bồ tát quyền giáo, còn không biết về chân không, gọi là không loạn ý, huống kẻ ôm lòng tăng thượng mạn, khởi kiến chấp bác không. Ngài Vĩnh Gia nói: “Chấp không ngơ, bác nhân quả, thô tháo phóng túng, chuốc tai họa” là nói hạng này vậy.

Đại Huệ! Người tăng thượng mạn chấp Không, gọi đó là hoại, rơi vào hy vọng kiến chấp tự tướng cộng tướng, không biết tự tâm hiện lượng. (Đường dịch: Nếu khởi lên kiến chấp ấy gọi là hoại, rơi vào sự ham thích kiến chấp có tự tướng cộng tướng, không biết các pháp chỉ do tâm hiện). Thấy ngoại tánh vô thường, sát-na lần lượt hoại, ấm giới nhập tiếp nối trôi chảy biến diệt, vọng tưởng về tướng lìa văn tự, ấy gọi là kẻ hoại.

✅ Đây kết luận lý do trách cứ lỗi lớn của kiến chấp Không.

Sở dĩ ta gọi người tăng thượng mạn là kẻ hoại, vì họ rơi vào sự ưa muốn kiến chấp tự tướng cộng tướng, vì không biết các pháp chỉ do tâm hiện.

Tự tướng cộng tướng là năm ấm, căn, trần… Trông mong ưa muốn là bên trong chấp nhận căn thân, ngoài nhiễm sáu trần, khởi lên tham sân si, chấp chặt nơi ngũ dục. Kỳ thật không hiểu tự tâm hiện lượng, bên ngoài chạy theo thế giới vô thường sát-na lần lượt trôi qua, bên trong y cứ vào tướng của uẩn giới xứ, niệm niệm không dừng, sanh tử trôi chảy như đèn cháy liên tục, như nước rỉ rả chưa từng ngưng dứt một giây. Như vậy mà tự cho là đã chứng bất sanh bất diệt, dối nói là sanh tử bình đẳng, phiền não tánh không, lại thêm vọng phân biệt về Niết-bàn lìa tướng văn tự của chư Phật Như Lai, cho là kiến giải của mình.

✅ Đây thật là chưa được cho là được, chưa chứng cho là chứng, là người tăng thượng mạn, nên ta nói đó là kẻ phá hoại Phật pháp, đoạn gốc lành. Các kinh khác nói: “Thà khởi kiến chấp Có như núi Tu-di, không nên khởi kiến chấp Không như hạt cải”. Vì đó là rơi vào hầm nguy hiểm lớn, chẳng được chư Phật hóa độ.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Có Không là hai bên — Cho đến cảnh giới tâm (Đường dịch: tâm sở hành) Dẹp sạch cảnh giới kia — Tâm tịch diệt bình đẳng. Không chấp tánh cảnh giới — Diệt chẳng phải không có Mỗi việc thảy như như — Như cảnh giới thánh hiền.

✅ Đây tụng kiến chấp bác Không chẳng phải là tịch diệt chân thật, cũng chẳng phải cảnh giới thánh.

Nghĩa là hai bên Có, Không đều là cảnh giới vọng tưởng. Song bình đẳng tịch diệt chẳng phải chỗ tâm hành ắt cần trừ sạch vọng tưởng ấy mới thầm hợp. Vậy mà hạng người tăng thượng mạn kia, vọng cho là không nhận tánh tham sân si cho đó là diệt.

✅ Đây là diệt của đoạn diệt bác Không, chẳng phải là chân thật vô sở hữu.

Cho nên tụng nói diệt chẳng phải là không có. Nếu quả thật trên sự việc hữu vi hiện tiền thường nhật, mỗi chỗ mỗi vật một niệm không động, tâm cảnh như như, như thế mới giống cảnh giới thánh hiền. Huống chi họ hàng ngày sống trong vô minh, nghiệp thức mênh mang, theo tình tạo nghiệp, há có thể vọng cho là giống như thánh hiền ư? Một bài tụng này tụng chung lỗi của kẻ hoại.

Vô chủng mà có sanh — Sanh rồi lại diệt mất Nhân duyên có chẳng có — Không phải giáo pháp ta. Chẳng ngoại đạo, chẳng Phật — Chẳng ta, chẳng ai khác (Đường dịch: Chẳng phải chúng khác) Nhân duyên nhóm khởi lên — Làm sao mà được không? Ai nhóm nhân duyên có — Mà lại nói là không?

✅ Đây tụng lỗi lớn của hạng mượn ngoại đạo mà bác không.

Bài kệ đầu nói về tà luận của ngoại đạo. Nghĩa là ngoại đạo kia không biết các pháp vốn tự vô sanh, rồi vọng chấp vô chủng mà có sanh. Chủng là nhân.

Hoặc chấp sanh rồi lại diệt, hoặc chấp tứ đại, vi trần… hoặc chấp nhân duyên hòa hợp hay sanh các pháp.

Hoặc chấp các pháp cũng có cũng không. Những lối chấp ấy tuy là tà kiến song chưa phải là tuyệt diệt các pháp. Ta đã thống trách rằng: Đó đều là tà luận, không có chỗ đứng trong giáo pháp ta.

Hạng người bác Không kia, vọng cho rằng không chấp giữ tánh tham sân si lại là tịch diệt, nhân quả đều không. Thứ ác kiến này lại chẳng phải luận của ngoại đạo, chẳng phải là Phật pháp, chẳng phải ta nói, cũng chẳng phải các đệ tử của ta nói. Huống chi nhân duyên phiền não hiện tại của họ, nhóm họp khởi lên trong nghiệp quả sanh tử, khởi tâm động niệm đều là nghiệp, đều là tội, làm sao mà được chỗ không nhân không quả? Hơn nữa do nhân duyên phiền não nhóm họp mà có nghiệp quả sanh tử trong ba cõi, thiện ác báo ứng như bóng theo hình.

Ai dám ở trong cái nhân duyên tập khởi hiện tại đó mà lại nói là hoàn toàn không? Nên nói Ai nhóm nhân duyên có, mà lại nói là không? Rất thống thiết! Quở rất nặng! Người xem đâu thể không sợ.

Luận tà kiến sanh pháp — Vọng tưởng chấp có không Nếu biết không chỗ sanh — Cũng không có chỗ diệt. Quán đây thảy vắng lặng — Lìa cả hai Có, Không.

✅ Đây tụng tổng kết chỉ quy về quán tâm.

Nghĩa là ngoại đạo ngoài Phật pháp làm luận tà kiến về sanh pháp; hạng ngoại đạo của Phật pháp thì vọng tưởng chấp có không, thảy đều không biết các pháp vốn tự vô sanh, nay cũng không diệt.

Nếu họ biết rằng xưa vốn không sanh, nay cũng không diệt, hay quán sát các pháp không sanh không diệt, thì ngay đó không tịch, tâm cảnh đều quên, hai kiến chấp Có Không tự xa lìa.

Hai kiến chấp đã lìa, thì đối với pháp bổn trụ tự được, ngay một niệm liền chứng, không hẹn mà được.

  • Trên hiển bày Niết-bàn lìa lỗi xong.

  • Sau đây nêu nhị thông để rõ quả hải lìa ngôn.

G₃ - Nêu nhị thông để rõ quả hải lìa ngôn

🪷

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin vì con và các Bồ tát nói về tướng Tông thông. Nếu khéo phân biệt tướng Tông thông con và các Bồ tát thông đạt về tướng này. Thông đạt tướng này rồi, chóng thành tựu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, không theo giác tưởng và chúng ma ngoại đạo (Đường dịch: Nếu đạt được nghĩa này, không theo tất cả sự hiểu biết tà vọng).

GIẢI

Sau đây nói về vong ngôn khế chứng, sắp hiển bày quả hải lìa ngôn nên đặt câu hỏi này. Nhân vì ở trên người học Phật pháp không đạt được ý Phật, bèn khởi lên kiến chấp bác Không, vì họ không đạt được tự tánh Tông thông, nên hiểu lầm lời Phật, đến nỗi lầm mê đọa lạc như thế. Bởi vì tập khí danh ngôn chưa lìa, không thể quên lời thầm hội, nên Bồ tát Đại Huệ nhân vấn đề trên bèn hỏi về tướng Tông thông.

Ý Phật cho rằng người kia chẳng những không giỏi về Tông thông, mà cũng không giỏi về Thuyết thông, nên hiểu lầm ý Phật. Vì vậy đến đây hỏi một đáp hai.

Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Tất cả Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát có hai tướng chung là Tông thông và Thuyết thông.

Do hỏi về tướng Tông thông mà gồm chỉ dạy luôn Thuyết thông, nên dạy cho ly ngôn quán tâm.

Tông Cảnh nói: Bên trong trụ tự tâm đệ nhất nghĩa, trụ đất tự giác vào cửa thánh trí, dùng đây tương ưng gọi là tướng Tông thông. ✅ Đây là thời của hạnh, không phải là thời của giải. Nhân giải mà thành hạnh, hạnh thành tựu thì dứt giải, thế là đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt. Ngụy dịch: Vì con và các Bồ tát nêu lên tướng tu hành đúng chánh pháp. Phật đáp: Có hai pháp: Một là tướng dựng lập chánh pháp (Tông thông), hai là nói về tướng dựng lập chánh pháp (Thuyết thông). Đường dịch: Tướng pháp tông thú, tướng pháp ngôn thuyết. Đủ biết hai thông này, là lời Phật chỉ dạy về yếu môn nhập lý cho hàng tu hành tam thừa.

Nghĩa là các người tu hành, thứ nhất cần phải liễu ngộ tự tâm, thông đạt duy tâm hiện lượng. Kế đó cần khéo biết tất cả các pháp của Phật nói đều là tùy thuận chỗ ưa muốn của chúng sanh mà nói, như đem lá vàng dỗ con nít khóc, vốn không có pháp thật cho người.

Phàm xem xét lời dạy của Phật, không thể căn cứ vào ngôn ngữ mà khởi hiểu, theo vọng tưởng chuyển. Như thế đã liễu đạt tự tâm lại có thể khéo biết ý chỉ ly ngôn của Phật pháp, tự nhiên không bị rơi vào tà kiến của ngoại đạo, cũng không chấp liễu nghĩa của Đại thừa đem về làm kiến giải của mình, lầm lạc rơi vào xiển-đề, phá hoại Phật pháp. Xem bài kệ, thì Thánh chỉ rõ ràng nhân trên mà phát khởi.

Đại Huệ! Tông thông là tướng duyên tự đắc thắng tấn, xa lìa vọng tưởng ngôn thuyết văn tự, hướng đến tự tướng vô lậu giới tự giác địa, xa lìa tất cả giác tưởng hư vọng, hàng phục tất cả chúng ma ngoại đạo, hướng về duyên tự giác, quang minh phát sanh. Đó gọi là tướng Tông thông.

✅ Đây chỉ về tướng Tông thông.

Ngụy dịch: Hay giữ được chánh giới vô lậu, chứng được pháp tướng tu hành của các địa, xa lìa các giác quán hư vọng ngoại đạo và cảnh giới các ma, hàng phục tất cả ma và ngoại đạo, hiển hiện nêu bày pháp tự thân nội chứng. Bản Đường dịch: Vượt qua tất cả giác tư bất chánh, hàng phục các ma ngoại đạo, phát sanh ánh sáng trí huệ.

Do đây mà thấy, người tu hành sơ tâm nhập thiền, chưa phá năm ấm, thì cảnh giới đã thấy đều không phải cảnh giới thật chứng, nên kinh Lăng Nghiêm nói rõ về năm mươi cảnh giới ma.

Thế thì, ba ấm trước chưa phá, có các cảnh giới hiện, tức kinh này nói là giác tưởng hư vọng. 3 ấm sau chưa phá, có khởi lên những cái thấy, tức chỗ kinh này gọi là chúng ma ngoại đạo.

Nay muốn lìa xa và hàng phục những thứ ấy, mới gọi là duyên tự giác hướng chánh hạnh, rồi tự tánh vốn sẵn trí huệ quang minh sẽ tự nhiên phát huy. Song muốn lìa xa và hàng phục, nếu không dùng tâm Kim Cang vâng giữ tự tánh Kim Cang vô lậu giới bảo, thì không thể đoạn chướng. Ngụy dịch: Hay giữ chánh giới vô lậu, chứng các địa tướng. Lăng Nghiêm nói: Các ấm nếu dứt, thì hiện tiền các căn của ông hỗ dụng, từ trong chỗ hỗ dụng, có thể vào địa vị Càn huệ Kim Cang của Bồ tát, tâm tinh viên minh trong ấy phát hóa, như thế mới vượt qua Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng cho đến Thập địa Đẳng giác, vào trong biển diệu trang nghiêm của Như Lai.

✅ Đây gọi là tướng giữ chánh giới vô lậu, tu hành chứng các địa, mới gọi là tướng duyên tự đắc thắng tấn.

Hạng người bác Không kia, đã không thể liễu đạt tự tâm tức là hữu chí tu hành, lại không thể biết rành về môn tu hành chơn chánh do Như Lai nói, nên không thể xa lìa giác quán vọng tưởng, rơi vào cảnh giới ma mà tự cho là được. Do vì chưa giữ được chánh giới vô lậu, nên bị ác tập sai khiến, đâu lạ gì mỗi mỗi hành động đều dùng ma nghiệp làm chánh hạnh.

Thế nào là tướng Thuyết thông? Nghĩa là nói chín bộ giáo pháp, lìa các tướng khác, chẳng khác, có không… dùng phương tiện thiện xảo, tùy thuận chúng sanh tùy cơ thuyết pháp, khiến được độ thoát. Đó gọi là tướng Thuyết thông.

✅ Đây chỉ về tướng Thuyết thông.

Phật nói mười hai bộ kinh, ở đây nói chín bộ, vì chung cho Đại thừa Tiểu thừa. Song người thuyết thông chẳng phải chỉ có thể thông hiểu chín bộ giáo pháp rồi khéo giảng thuyết mà thôi, còn cần phải liễu đạt xưa nay không nói không chỉ, lìa các tướng khác chẳng khác, có không… mới y vào chỗ tự chứng đắc lìa vọng tưởng không ngôn thuyết của Như Lai mà dùng phương tiện khéo, tùy thuận theo tâm mong cầu của chúng sanh, mỗi mỗi theo sự ứng hợp xứng cơ mà nói khiến họ được độ, như bè qua sông. Đã qua sông rồi liền bỏ bè, chẳng phải pháp thật vậy.

Người xem nếu có thể liễu đạt chỗ không nói mà nói, thì tự phải lìa ngôn ngữ mà hiểu nghĩa, không giữ tướng pháp cũng không giữ tướng phi pháp. Hạng người bác Không kia, không liễu tự tâm, nên không rành về nghĩa, chỉ chấp ngôn thuyết cho là pháp thật, đem Đại thừa liễu nghĩa của Như Lai trở lại cho là kiến giải của mình, phóng túng tham sân. Đó là đề hồ biến thành độc dược.

Phật dạy: “Pháp ta nói như ngón tay chỉ mặt trăng”. Nên phàm là học giả nghe giáo lý tự phải quán tâm, rời ngón tay mới biết mặt trăng. Nghĩa là rõ pháp không phải ở lời, khéo vào mé vô ngôn mà có thể chỉ bày ngôn thuyết, như tiếng vang khắp thế gian. Như đây mới gọi là tướng Thuyết thông.

Đại Huệ! Ông và các Bồ tát khác phải nên tu học.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Tướng Tông và Thuyết thông — Duyên tự và giáo pháp Khéo thấy khéo phân biệt — Không theo các giác tưởng.

✅ Đây tụng chung nghĩa nhị thông.

Khéo thấy là được Tông thông, khéo phân biệt là được Thuyết thông. Cả hai đều giỏi thì tự không theo vọng tưởng chuyển.

Không có tánh chân thật — Như người ngu vọng tưởng Thế nào khởi vọng tưởng — Phi tánh là giải thoát.

✅ Đây tụng trách người ngu không giỏi nhị thông, nên khởi kiến chấp điên đảo.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Pháp tánh vốn vắng lặng, không thủ cũng không kiến, tánh không tức là Phật, không thể suy lường được”. Như thế, há có pháp thật như chỗ phân biệt của người ngu ư? Đã không thể phân biệt, tại sao người ngu ở trong pháp không phân biệt mà vọng tưởng tham sân chẳng phải tánh là giải thoát ư? Nên nói Không có chân thật…

Quán sát các hữu vi — Sanh diệt tiếp nối luôn Tăng trưởng hai kiến chấp — Điên đảo không hiểu biết.

Bài tụng này là văn kết thúc quở trách của chương trên, để nói rõ lý do kiến chấp điên đảo.

Nghĩa là ngu phu kia sở dĩ có kiến chấp điên đảo như thế, vì họ không rành về nhị thông, nên không biết pháp tánh không tịch, chỉ theo vọng tưởng phân biệt, quán sát căn trần thức giới trong ngoài các pháp hữu vi cho là thật có, nên vọng sanh chấp trước, niệm niệm phan duyên, tâm tâm chẳng dừng, sanh diệt tiếp nối, ngày đêm không hở, chỉ có tăng trưởng nhị kiến, điên đảo buông lung tình chấp, tạo các ác nghiệp. Đối với lời dạy của Phật về pháp tu hành chân chánh lìa tướng ngôn thuyết mờ mịt không biết. Nên ta nói những hạng này là kẻ hoại.

Một ấy là chân đế — Vô tội là Niết-bàn (Ngụy dịch: Niết-bàn lìa khởi thức — Chỉ một pháp thật này Đường dịch: Niết-bàn lìa tâm thức — Chỉ một pháp thật này) Xem vọng tưởng thế gian — Như huyễn, mộng, cây chuối. Tuy có tham sân si — Mà thật không có người Từ ái sanh các ấm — Có đều như huyễn mộng.

Bài tụng này chỉ thẳng nhất tâm, dạy bảo hành giả lấy đó làm tướng tu hành chánh pháp.

Chân đế là chân thật. Niết-bàn, Trung Hoa dịch là tịch diệt, nghĩa là chỗ chân thật. Tội, chú xưa nói là vọng tưởng.

Ý Phật rằng: Phàm có phân biệt đều không chân thật. Chỉ có một pháp là chỗ chân thật, nghĩa là tâm thể vắng lặng không vọng tưởng.

Vì đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt, là chỗ rất chân thật.

Chỉ một việc này thật, có hai ắt không phải chân.

Nếu rõ chân thật này mà trụ chỗ như thật, thì có thể xem xét tất cả thế gian thân tâm vọng tưởng phân biệt đều như huyễn, mộng, cây chuối, đều chẳng thật. Huyễn mộng dụ cho tâm thức tứ uẩn, cây chuối dụ cho sắc uẩn. Đã có thể biết thân tâm này không thật, thì ngã chấp liền không, ngã chấp đã không, thì dù có tánh tham sân si, mà không có tác giả, cũng không có người thọ. Nên nói: Mà thật không có người. Đã không tạo, không nhận, thì tâm cảnh đều quên, tức ngay vọng thân ngũ uẩn do ái sanh này, tuy có đó mà ứng xử đều như huyễn mộng. Đó là chỗ Lăng Nghiêm nói: “Quán sát kỹ thế gian, cũng như việc trong mộng, Ma-đăng-già trong mộng, ai hay giữ hình ông?”. Nếu có thể quán sát như thế, há lại dùng chỗ không giữ tánh tham sân si cho là đắc ư?

Quán như thế gọi là chánh quán, nếu quán khác gọi là tà quán. Đây chính là thiết lập tướng tu hành chánh pháp. Tức ngay đây có thể chuyển phiền não thành Bồ-đề, chuyển sanh tử thành Niết-bàn. Thế thì ngay thân tâm phiền não năm uẩn này, ngay đó liền được hai quả chuyển y thường trụ. Xin người trí xem kỹ.

  • Từ quyển đầu chương hỏi về năm pháp ba tự tánh đến đây, là biện biệt chung về hành tướng nhân quả lý hạnh nhất thừa đã xong.

  • Từ đây về sau nói rõ y cứ vào lý hạnh ở trước chỉ thẳng tướng nhân quả của đoạn chứng.

Chia hai: Phần đầu hiển bày nhân của hạnh.

Chia hai: * Phần đầu: Tự lợi* Kế: Lợi tha. Trong phần đầu này chia làm bốn:

D₂ - Y cứ vào lý hạnh ở trước, chỉ thẳng tướng nhân quả của đoạn chứng. Có 2:

E₁ - Hiển bày nhân của hạnh

E₂ - Chánh hiển quả đức, có 2:

E₁ - Hiển bày nhân của hạnh. Có 2:

G₁ - Quả chuyển y Niết-bàn

G₂ - Quả chuyển y bồ-đề

G₁ - Tự lợi công viên. Có 4:

H₁ - Nói vọng tưởng không thật để phá ngã chấp, cắt đứt phiền não chướng

H₂ - Nói ngôn thuyết tánh không để phá pháp chấp dứt trừ sở tri chướng

H₃ - Dẹp cả hai trí và cảnh để rõ vô trí vô đắc

H₄ - Quên lời thuận chứng để hiển bày quả hải lìa duyên

🌳🌲🌵

H₁ - Nói vọng tưởng không thật để phá ngã chấp, đoạn phiền não chướng

🪷

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn, cúi xin vì nói tướng vọng tưởng không thật (hỏi về tướng vọng tưởng). Vọng tưởng không thật vì sao sanh (hỏi về vọng tưởng tại sao sanh).

Nói những pháp gì gọi là vọng tưởng không thật (hỏi về thể vọng tưởng. Đường dịch: Làm sao sanh? Nhân gì mà sanh?).

Vọng tưởng không thật trong những pháp nào? (hỏi về chỗ vọng tưởng. Đường dịch: Gì là sở sanh).

GIẢI

Từ trước biện chung hành tướng nhân quả lý hạnh của Nhất thừa đã xong. Sau đây nói rõ nương vào hạnh thiết lập thứ lớp tu đoạn hoặc chứng chơn.

Bởi do chương Quả Đức trước nói rằng: Biết nhân pháp vô ngã, biết rõ hai chướng, lìa hai thứ tử, đoạn hai phiền não, đó gọi là tri giác Phật. Nay sắp nói rõ về nương hạnh tiến tu, trước phá hai chấp, đoạn hai chướng là cần yếu.

✅ Đây hỏi về vọng tưởng… là trước đoạn phiền não chướng, phá ngã chấp.

Hỏi vọng tưởng là vì tất cả chúng sanh và ngoại đạo xiển-đề ác kiến, đều nhân vọng tưởng mà có. Lại nói vọng tưởng vô tánh, lại nói không vọng tưởng tức là chỗ chân thật vắng lặng. Ý Đại Huệ rằng: Ngay khi nói vọng tưởng không thật, không biết thế nào là vọng tưởng? Hơn nữa không vọng tưởng tức là chỗ chân thật vắng lặng không sanh. Không biết vọng tưởng này vì sao sanh? Gì là sở sanh? Nhân gì mà sanh? Từ chỗ nào sanh? Bởi vọng tưởng là cội gốc của phiền não, nên phần này gọi là phá phiền não chướng.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Lành thay! Lành thay! Có thể hỏi Như Lai nghĩa như thế, nhiều lợi ích nhiều an lạc, vì thương xót tất cả trời người ở thế gian. Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Lành thay! Thế Tôn! Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Do các thứ nghĩa, nên các thứ vọng tưởng chẳng thật, vọng tưởng chấp trước sanh.

GIẢI

✅ Đây đáp về tướng vọng tưởng và vọng tưởng sanh.

Các thứ, là tất cả các pháp chân vọng ở thế gian xuất thế gian thuộc về tâm cảnh của phàm thánh. Nghĩa, là danh tướng. Nghĩa là đối với các pháp này không rõ biết duy tâm, trong đó khởi phân biệt hư vọng tức gọi là vọng tưởng. Chỉ một niệm chấp trước, tức vọng tưởng sanh.

✅ Đây đáp chung nghĩa câu hỏi, văn sau giải thích lý do.

🪷

Này Đại Huệ! Chấp trước về nhiếp và sở nhiếp, không biết tự tâm hiện lượng và rơi vào kiến chấp có không, tăng trưởng tà kiến ngoại đạo, tập khí vọng tưởng chấp trước các thứ nghĩa bên ngoài, vọng tưởng chấp trước tâm tâm số, ngã ngã sở sanh.

GIẢI

✅ Đây giải thích lý do thành lập vọng tưởng.

Đường dịch: “Tất cả chúng sanh đối với các cảnh không thể rõ biết do tâm hiện, so đo năng thủ sở thủ, chấp trước hư vọng, khởi các phân biệt, rơi vào kiến chấp hữu vô, tăng trưởng tập khí vọng kiến ngoại đạo. Khi tâm và tâm sở tương ưng nổi lên, chấp có các thứ nghĩa bên ngoài khả đắc, chấp trước về ngã và ngã sở, thế nên gọi là phân biệt hư vọng”.

Ý nói rằng vô minh là nhân của vọng tưởng, do vô minh không biết tự tâm hiện lượng, nên thấy dường như có cảnh bên ngoài, chấp cho đó là thật, chấp trước hư vọng về năng thủ sở thủ, phân biệt có không, đó gọi là vọng tưởng. Nghĩa, là danh tướng của vọng tưởng, y sĩ thích. Ngã, ngã sở kia là chỗ sanh của vọng tưởng, là vọng tưởng của danh tướng, y chủ thích. Do tâm cảnh hỗ tương làm duyên khởi nên tập khí vọng tưởng đều là phiền não chướng. Chấp ngã ngã sở đều là ngã chấp. Tâm và tâm sở là, tâm là tám thức tâm vương, số là năm mươi mốt pháp tâm sở, là pháp sở hữu của tâm.

Chia làm 6 vị:

  1. Biến hành có năm;
  2. Biệt cảnh có năm;
  3. Thiện có mười một;
  4. Căn bản phiền não có sáu;
  5. Tùy phiền não có hai mươi;
  6. Bất định có bốn.

8 thức đều có đủ, tùy theo chia nhiều ít, Thành Duy Thức Luận có nói đủ.

🪷

Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Nếu các thứ nghĩa, các thứ vọng tưởng chẳng thật, sanh vọng tưởng chấp trước, chấp trước về nhiếp sở nhiếp, không biết tự tâm hiện lượng, và rơi vào kiến chấp có không, tăng trưởng tà kiến ngoại đạo, tập khí vọng tưởng chấp trước các thứ nghĩa bên ngoài, tâm tâm sở vọng tưởng chấp trước ngã ngã sở sanh.

GIẢI

Đại Huệ lặp lại lời Phật ở trên, để đưa ra nạn vấn sau. Bản Đường dịch không có câu này.

🪷

Thế Tôn! Nếu các thứ tướng nghĩa bên ngoài rơi vào tướng có không như thế, lìa tánh phi tánh, lìa kiến tướng. Thế Tôn! Đệ nhất nghĩa cũng như thế, lìa tướng lượng, căn, phần, thí, nhân (Đường dịch: Lìa các căn lượng, tướng, nhân, thí dụ). Thế Tôn! Cớ sao một bên là nghĩa vọng tưởng chẳng thật, các thứ tánh chấp trước vọng tưởng sanh, mà chẳng phải là chấp trước đệ nhất nghĩa, tướng vọng tưởng sanh? Chẳng phải Thế Tôn nói luận tà nhân sao? (Ngụy dịch: Theo thế gian nói. Đường dịch: lời nói trái lý) một sanh, một chẳng sanh.

GIẢI

Sắp nói rõ chỗ dùng tâm bất sanh diệt làm gốc tu nhân, nên ở đây hỏi về vọng tưởng sanh chẳng sanh.

✅ Đây nhân ở trước Thế Tôn nói vọng tưởng không thật từ sự chấp trước các thứ nghĩa chẳng thật mà sanh, nên Đại Huệ theo chỗ đã nói mà bắt bẻ Thế Tôn cũng rơi vào hai kiến chấp có không để sẽ biện minh về tâm bất sanh diệt.

Ý rằng: Nếu vọng tưởng từ các thứ nghĩa tướng chẳng thật của thế đế kia mà sanh khởi, thì thế đế ấy đã rơi vào kiến chấp về tứ cú có không, mà Thế Tôn luôn luôn nói rằng thể của các pháp lìa tánh và phi tánh, lìa kiến chấp tứ cú.

Lìa tứ cú tức ngay thế đế ấy là đệ nhất nghĩa đế vậy. Kinh nói rằng: Các nhân và lượng ở thế gian, không thể tìm thấy lỗi. Nên nói Đệ nhất nghĩa đế cũng như vậy, lìa các tướng lượng, căn, phần, thí, nhân.

Hai đế đã bình đẳng không hai, vì sao Thế Tôn nghiêng về thế đế nói rằng sanh vọng tưởng, còn bên đệ nhất nghĩa đế mà không nói sanh vọng tưởng sao? Chẳng lẽ Thế Tôn nói luận tà nhân ư? Bởi hai đế đồng lìa có không, vì sao một bên nói sanh, một bên nói không sanh?

✅ Đây là chỗ Thế Tôn cũng giống hàng ngu phu khởi lên hai thứ chấp trước, rơi vào luận tà nhân.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải vọng tưởng một sanh, một chẳng sanh. Vì sao? Vì vọng tưởng có không chẳng sanh, ngoại hiện tánh phi tánh, giác tự tâm hiện lượng, vọng tưởng chẳng sanh.

GIẢI

✅ Đây giải thích lý do không rơi vào hai kiến chấp.

Phật nói: Ta không chấp bên thế đế sanh vọng tưởng, cũng không chấp bên đệ nhất nghĩa đế chẳng sanh vọng tưởng.

Vì sao? Vì ta không khởi tâm phân biệt có không, vì không thấy có tướng thế đế, nên nói ngoại hiện tánh phi tánh.

Do vì đã biết các pháp ấy chỉ duy tự tâm hiện, nên chẳng sanh phân biệt, nên nói giác tự tâm hiện lượng, vọng tưởng chẳng sanh.

🪷

Đại Huệ! Ta nói các ngu phu khác vì tướng các thứ vọng tưởng nơi tự tâm, sự nghiệp hiện tiền, các thứ vọng tưởng tánh tướng chấp trước sanh.

GIẢI

✅ Đây giải thích lý do nói ngu phu vọng tưởng.

Nghĩa là chỗ ta nói, chẳng phải là nói nơi thế đế hay sanh vọng tưởng, chỉ nói ngu phu tự tâm sanh các thứ vọng tưởng thôi.

Do ngu phu kia vọng thấy các thứ sự nghiệp hiện tiền, không rõ là duy tâm, nên chấp lấy cho là thật, vọng sanh các thứ phân biệt chấp trước nên ta nói là vọng tưởng sanh.

Đó là “Cảnh duyên không tốt xấu, tốt xấu khởi nơi tâm, tâm nếu không gượng đặt tên, cảnh giới do đâu lập”. Nên phàm có chỗ phân biệt đều phân biệt tự tâm.

Kinh nói: Nếu không rõ tự tâm làm sao biết chánh đạo. Nên tùy theo thứ lớp nói cho rõ.

Làm sao cho ngu phu được lìa kiến chấp ngã ngã sở, lìa lỗi nhân duyên năng tác sở tác, biết tự tâm lượng vọng tưởng, thân tâm chuyển biến, rốt ráo hiểu rõ tất cả địa, cảnh giới tự giác của Như Lai lìa kiến chấp vọng tưởng, năm pháp ba tự tánh. Do nhân duyên ấy, nên ta nói vọng tưởng từ chấp trước các thứ nghĩa không thật sanh. Biết nghĩa như thật, được giải thoát các thứ vọng tưởng của tự tâm.

✅ Đây là Thế Tôn tự thuật bổn hoài thuyết pháp.

Nghĩa là nhân ta thấy chúng sanh đối với các pháp, sanh các thứ chấp trước phân biệt, chấp cứng không bỏ. Người ngu như thế làm sao có thể lìa được tà kiến chấp trước về ngã ngã sở? Làm sao có thể lìa lỗi nguy hiểm sanh tử, nhân duyên thiện ác năng tác sở tác? Làm sao có thể giác vọng tưởng của tự tâm lượng? Làm sao có thể chuyển thân năm ấm được ý sanh thân, biến thức vô minh thành trí rốt ráo? Biết rõ tất cả địa, đến được cảnh giới tự giác của Như Lai? Lìa tướng vọng tưởng kiến chấp về năm pháp, ba tự tánh…? Ta vì thương chúng sanh ngu si ấy, do nhân duyên đó nên ta nói vọng tưởng từ chấp trước các thứ nghĩa chẳng thật sanh. Muốn khiến chúng sanh biết nghĩa như thật, qua được, giải thoát khỏi các thứ vọng tưởng không thật trong tự tâm. Ta vì muốn mỗi mỗi chúng sanh liễu ngộ tự tâm, chẳng phải là nói nơi thế đế hay sanh vọng tưởng vậy. Câu Lìa kiến chấp vọng tưởng năm pháp, ba tự tánh ấy nghĩa là: Do năm pháp, ba tự tánh là việc bên mê ngộ, nếu tự giác thánh trí cứu cánh thì cả thảy đều lìa.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Các nhân cùng với duyên — Từ đó sanh thế gian Vọng tưởng chấp tứ cú — Chẳng biết chỗ ta thông.

✅ Đây trách ngu phu không biết ý Phật, theo lời sanh hiểu.

Nghĩa là ta nói nhân duyên sanh thế gian vì ý muốn hiển bày các pháp vốn vô sanh, mà ngu phu không rõ, lại y cứ nhân duyên khởi lên vọng kiến phân biệt về tứ cú. Đấy là nghĩa của câu chẳng biết chỗ ta thông.

Thế gian không có sanh — Cũng lại không chẳng sanh Không từ có, không sanh — Cũng chẳng không có, không. Các nhân cùng với duyên — Vì sao ngu phu tưởng Chẳng có cũng chẳng không — Cũng lại chẳng có không. Quán thế gian như thế — Tâm chuyển được vô ngã.

✅ Đây tụng các pháp vốn tự vô sanh.

Nghĩa là các pháp thế gian, không lệ thuộc vào tứ cú Có, Không mà sanh khởi, nên ta nói nhân duyên để hiển bày ý vô sanh ấy. Tại sao người ngu ở trong pháp nhân duyên lại khởi lên vọng tưởng tạo ra kiến chấp về tứ cú Có, Không? Nếu có thể lìa tứ cú mà quan sát các pháp thì ngay đó tâm chuyển được vô ngã.

Tất cả tánh chẳng sanh — Vì do từ duyên sanh Tất cả do duyên tạo — Duyên tạo chẳng tự có.

✅ Đây tụng giải thích về lý do các pháp vô sanh.

Nghĩa là tất cả pháp vốn tự vô sanh, vì do từ duyên sanh. Đã từ duyên sanh, thì sanh là duyên sanh, chẳng phải tự sanh. Tạo tác đã là duyên tạo, chẳng phải tự tạo, cho nên nói Duyên tạo chẳng tự có. Vì tự thể không có, nên không sanh vậy.

Sự chẳng tự sanh sự — Vì lỗi có hai sự Vì không lỗi hai sự — Chẳng có tánh khả đắc.

✅ Đây tụng do nhân duyên nên hiển bày bất sanh.

Đường dịch: Quả chẳng tự sanh quả, vì lỗi có hai quả. Vì không có hai quả, chẳng có tánh khả đắc.

Bởi, sự mà nói là quả là đều nói về duyên. Nghĩa là duyên chẳng tự duyên, ắt phải do nhân. Như quả chẳng tự là quả, ắt phải do nơi hoa, nếu chẳng đợi hoa mà có quả thì quả bị lỗi có hai quả, thế là vô nhân… nên duyên không do nhân mà duyên tự sanh, đó là thế gian chấp tứ đại năng sanh, rơi vào lỗi vô nhân. Như từ nhân duyên sanh thì không bị lỗi có hai quả. Song duyên phải đợi nhân, là duyên chẳng sanh, nhân phải đợi duyên, là nhân chẳng sanh, nhân duyên đều chẳng sanh, ắt pháp sở sanh cũng không có tự tánh khả đắc. Vì không có tánh khả đắc nên sanh vốn không, vì vậy nói là chẳng sanh.

Quán các pháp hữu vi — Lìa phan duyên sở duyên Tâm lượng của vô tâm — Ta nói là tâm lượng. Lượng là chỗ tự tánh — Duyên, tánh cả hai lìa Tánh rốt ráo diệu tịnh — Ta nói là tâm lượng.

Bài tụng này chỉ bày quán tự tâm hiện lượng.

Do ở trước nói người ngu đối với nghĩa chẳng thật của các pháp, khởi lên các thứ vọng tưởng phân biệt chẳng thật, vì không rõ biết duy tâm hiện lượng. Lại sợ người nghe không biết thế nào là tự tâm hiện lượng, nên ở đây đặc biệt nêu ra rằng: Nếu chính khi đang quán các pháp hữu vi mà không khởi tâm phân biệt, đối với cảnh sở duyên không có niệm thứ hai, chỉ là nhất tâm, tức ngay nơi tâm ly niệm này liền là hiện lượng của tự tâm. Vì vậy kệ nói: Tâm lượng của vô tâm, ta nói là tâm lượng.

Hiện lượng, là năm thức lúc sơ khởi đồng với minh liễu ý thức, khi soi rọi cảnh thật của ngũ trần, hiển hiện rõ ràng không chút lầm lẫn, không khởi niệm phân biệt thứ hai, đây gọi là hiện lượng. Nếu khoảng sát-na trôi vào đất ý, khi vừa khởi tâm phân biệt những pháp giả ấy dài ngắn vuông tròn xanh vàng… liền đó là tâm tỷ lượng.

✅ Đây nói các pháp hữu vi tức là cảnh ngũ trần, phan duyên tức đệ lục ý thức tâm hay phân biệt, sở duyên tức các pháp kia là cảnh bị phân biệt, lìa tức là dứt tuyệt.

Vô tâm là không có tâm phân biệt đệ nhị niệm, nên Ngụy dịch: “Lìa niệm và sở niệm”. Nghĩa là khi quán pháp hữu vi, chỉ chẳng khởi tâm phân biệt, tự nhiên tâm cảnh đều dứt, tịch mà linh tri.

Kinh nói: Thí như nhãn quang chiếu rõ tiền cảnh, mắt sáng viên mãn không yêu ghét, do niệm không yêu ghét nên nói là vô tâm. Luận nói: “Tâm thể lìa niệm, tướng lìa niệm ấy đồng với hư không”. Ở đây gọi là tâm lượng vô tâm. Bởi tự thể của lượng, năng sở đều dứt, tâm cảnh đều lìa, cứu cánh diệu tịnh, nên nói có tự tâm hiện lượng.

Dựng lập ngã thế đế — Đó là việc không thật Dựng lập các ấm thân — Vô sự cũng như thế. Có 4 thứ bình đẳng — Tướng và nhân tánh sanh Thứ ba là vô ngã… — Thứ tư tu, pháp tu.

✅ Đây là nói quán thành tựu được lợi ích.

Ngã thế đế là tất cả chúng sanh đều chấp năm ấm là ngã. Các ấm, là đối năm ấm bên trong tự chấp là ngã, gọi chung các pháp hữu vi đều là cảnh bị duyên. Nghĩa là nếu khi quán thân mình thân người đều chẳng khởi tâm phân biệt mập ốm tốt xấu thì tâm thể vắng lặng rỗng rang, tự nhiên niệm yêu ghét không khởi. Như nói, giống tợ người gỗ ngắm hoa chim. Thế là một tâm chẳng sanh, muôn cảnh đều tịch diệt. Bởi cảnh bị quán chỉ như bóng trong gương không thể chia riêng, nên thân ta thân người thảy đều không thật. Không thật thì tự nhiên bình đẳng như như.

Tướng tức là thân mình và người; nhân là sanh nhân; tánh là tánh bất sanh; tu là người tu, tu giả là pháp tu. Nói bình đẳng ấy là tướng và vô tướng, sanh và vô sanh, ngã và vô ngã, hoặc người hoặc pháp, hết thảy đều bình đẳng, vì vậy kệ nói Có bốn thứ bình đẳng. Thành tựu của pháp quán duy tâm hiện lượng này, pháp nhĩ như thế.

Vọng tưởng tập khí chuyển — Có các thứ tâm sanh Cảnh giới hiện bên ngoài — Là tâm lượng thế tục.

✅ Đây nói hai thức đệ lục và đệ thất chuyển biến dường như ngoại cảnh, là tâm lượng thế tục.

Vọng tưởng là thức thứ sáu, tập khí là thức thứ bảy nhiễm ô vô tri. Nghĩa là thức thứ sáu y cứ vào thức mạt-na nhiễm ô, dẫn khởi chủng tử tập khí hàm chứa trong thức thứ tám, huân phát chuyển biến, mà có các thứ tâm phân biệt sanh dường như ngoại cảnh hiện, chấp cho là thật ngã thật pháp, không lìa duy tâm chỉ là vọng kiến thôi, nên kệ nói là tâm lượng thế tục.

Ngoại hiện mà chẳng có — Tâm thấy các thứ kia Dựng lập nên thân tài — Ta nói là tâm lượng.

✅ Đây nói tâm lượng của tiền ngũ thức.

Nghĩa là ngoại cảnh tuy hiện, kỳ thật chẳng có, chúng là tướng phần gần gũi của thức thứ 8, chỉ vì vọng kiến chấp thủ mà tạo nên sự nghiệp các pháp, lấy đó làm tài sản của mình, y cứ vào đó dựng lập thân tài của ngũ thức. Song cả thảy chẳng lìa duy tâm, nên ta cũng nói là tâm lượng.

Lìa tất cả các kiến — Và lìa tưởng, sở tưởng Không được cũng không sanh — Ta nói là tâm lượng.

✅ Đây nói chuyển thức thành trí, để cho rõ duy tâm hiện lượng chân thật.

Nghĩa là chủ thể hay phân biệt là kiến phần của bát thức, đối tượng bị phân biệt là tướng phần của bát thức.

Song tự tánh chân như, tâm cảnh đều dứt tuyệt, tất cả đều lìa, nên nói lìa tất cả kiến, và lìa tưởng sở tưởng. Đến đây dứt hết không nương gá, mà tự cũng bất khả đắc, đương thể độc lập tịch diệt vô sanh, nên ta nói đây là duy tâm hiện lượng chân thật.

Chẳng tánh chẳng phi tánh — Tánh phi tánh đều lìa Gọi tâm ấy giải thoát — Ta nói là tâm lượng. Như như và không, tế — Niết-bàn và pháp giới Các thứ ý sanh thân — Ta nói là tâm lượng.

✅ Đây nói chân như nhất tâm hiện lượng, chân vọng đều dứt, để rõ nghĩa rốt ráo chân vô ngã.

Do tâm cảnh đều dứt nên chẳng tánh, chân cũng chẳng lập, nên chẳng phi tánh. Do chân vọng đều lìa mới là tịch diệt nhất tâm cứu cánh giải thoát nên ta nói đây gọi là tự tâm hiện lượng.

Thế thì phàm nói như như, nói không, nói thật tế, nói Niết-bàn, nói pháp giới, nói các thứ ý sanh thân… đều là tên khác của nhất tâm hiện lượng này.

Vì trong Như Lai tạng, tìm kiếm đến đi, mê ngộ, sanh tử trọn không thể được. Thế thì năm pháp, ba tự tánh đều lìa, tám thức hai vô ngã đều dẹp, mới gọi là cảnh giới cứu cánh của Như Lai tự giác thánh trí.

Người tu hành phải quán sát như thế, mới có thể biết được nghĩa như thật, mới giải thoát được những thứ phiền não vọng tưởng của tự tâm nên ta nói là tự tâm hiện lượng.

  • Phần trên nói về vọng tưởng chẳng thật để phá ngã chấp, dứt phiền não chướng đã xong.

  • Phần sau nói về ngôn thuyết tánh không để phá pháp chấp, dứt trừ sở tri chướng.

  • Ban đầu nói ngôn thuyết là căn bản của pháp chấp.

H₂ - Nói ngôn thuyết tánh không để phá pháp chấp dứt trừ sở tri chướng. Có 4:

I₁ - Nói ngôn thuyết gốc pháp chấp

I₂ - Chỉ trí và thức là nguồn của cột và mở

I₃ - Tức tướng chuyển biến để rõ sinh diệt vốn chẳng động

I₄ - Đoạn tâm tương tục để hiển bày sanh vô sanh

🌳🌲🌵

I₁ - Nói ngôn thuyết gốc pháp chấp

🪷

Lúc bấy giờ đại Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Thế Tôn đã nói đại Bồ tát nên rành về ngữ và nghĩa. Thế nào là Bồ tát rành về ngữ và nghĩa? Thế nào là ngữ? Thế nào là nghĩa?

GIẢI

✅ Đây là theo lời trước mà đặt câu hỏi, sắp phá pháp chấp, dứt sở tri chướng vậy.

Ban đầu giảng rõ ngôn thuyết là gốc của pháp chấp, bởi vì pháp thế gian và xuất thế gian đều y cứ vào ngôn thuyết phân biệt chấp là thật có, nên lấy ngữ nghĩa làm pháp chấp, gọi là sở tri chướng.

Do ở trước Thế Tôn răn dạy rằng: Nên y cứ vào nghĩa, đừng kẹt vào ngôn thuyết.

Kế đó, vì không rành về nghĩa và ngữ, theo lời nói sanh kiến giải, đến nỗi rơi lầm vào nhị kiến, khởi lên lỗi “bác không”, đều là sở tri chướng là pháp chấp.

Nên kế đó dạy tướng nhị thông, lại nói nương nghĩa như thật thì có thể giải thoát các vọng tưởng tự tâm. Do không khéo biết nghĩa và ngữ nên sanh ra nhiều lỗi.

Đại Huệ nhân đây hỏi: “Không biết thế nào là khéo rành về nghĩa ngữ?”.

✅ Đây là hỏi về phương tiện giỏi ngữ nghĩa, dùng đó để phá pháp chấp.

Còn câu: Không biết thế nào là ngữ? Thế nào là nghĩa? là hỏi về tướng trạng của chúng.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Lành thay Thế Tôn, xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Thế nào là ngữ? Nghĩa là do ngôn tự và vọng tưởng hòa hợp, nương vào cổ họng, môi, lưỡi, răng, nướu, nhân tập khí chấp trước về ta người mà ngôn thuyết vọng tưởng sanh. Đây gọi là ngữ.

GIẢI

✅ Đây nêu tướng của ngôn ngữ.

Đường dịch: Ngữ, là tập khí phân biệt làm nhân, nương yết hầu, lưỡi, môi, răng hỗ trợ mà phát ra các thứ âm thanh văn tự, đàm luận tương đối, gọi là Ngữ.

🪷

Đại Huệ! Thế nào là nghĩa? Nghĩa là lìa tất cả tướng vọng tưởng, tướng ngôn thuyết. Đây gọi là nghĩa.

GIẢI

✅ Đây nêu tướng của nghĩa.

Nghĩa là đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt tức là tướng nghĩa, nên nói lìa, lìa cũng có nghĩa là không kẹt.

Đại Huệ! Đại Bồ tát đối với nghĩa như thế, ở riêng chỗ vắng, văn tư tu huệ, duyên tự giác hướng thành Niết-bàn, tập khí tự thân chuyển biến rồi, cảnh giới tự giác (Đường dịch: Dùng văn tư tu huệ, tư duy quán sát, hướng về đạo Niết-bàn, cảnh giới tự trí, chuyển các tập khí). Quán tướng nghĩa thắng tấn của mỗi mỗi địa.

✅ Đây gọi là Đại Bồ tát rành về nghĩa.

✅ Đây nêu phương tiện khéo rành về nghĩa.

Văn tư tu là tam huệ. Nghĩa là từ nghe mà suy nghĩ rồi thực hành, do nương ánh sáng giáo nghĩa đại trí được tri thức diễn bày, từ tai nghe mà đạt tâm, từ âm thanh vào tâm thông, dẹp lời được nghĩa, an tâm quán chiếu, tư duy thẩm xét, cảnh giới tịch diệt chân như tự tri, niệm niệm thâm nhập, dùng đó để huân tu dần dần khiến tập khí chuyển biến diệt trừ vô minh u tối, phát ánh sáng trí tuệ. Đến khi đường tâm trí dứt, một niệm tương ưng, gọi là được vào cảnh giới tự giác thánh trí. Đây là phương tiện khéo biết nghĩa, người trí nên quán như thế.

Lại nữa Đại Huệ! Bậc Đại Bồ tát khéo biết về ngữ và nghĩa, quán ngữ cùng với nghĩa chẳng khác chẳng không khác, quán nghĩa cùng với ngữ cũng lại như thế. Nếu ngữ và nghĩa khác nhau, thì không nhân nơi ngữ mà biện được nghĩa, nhưng đây do ngữ hiểu nghĩa như đèn chiếu sắc.

✅ Đây nêu nhân lời nói hiển bày nghĩa, để nói rõ ngữ nghĩa đều giỏi.

Do ở trên nói nghĩa vốn ly ngôn, lại sợ người ngu chấp cho là đoạn diệt, nên đây nêu chỗ nhân ngữ vào nghĩa. Chính là “tuy lại chẳng y đường ngôn ngữ, cũng chẳng kẹt chỗ không nói năng”. Tổng trì không văn tự, văn tự hiển tổng trì. Vì “Chân giáo thể của phương này, thanh tịnh tại âm thanh”. Chỉ cần đối với ngữ nghĩa đừng khởi lên kiến chấp một khác, như đèn chiếu sắc. Bởi nhân đèn mà thấy sắc, nên không thể nói là khác, nhưng sắc chẳng phải là đèn, nên không thể nói là một. Đây cũng là dạy dùng phương tiện để khéo biết ngữ nghĩa.

Lại nữa Đại Huệ! Chẳng sanh chẳng diệt, tự tánh, Niết-bàn, tam thừa nhất thừa, tâm tự tánh… như duyên nơi ngôn thuyết chấp trước nghĩa, rơi vào kiến chấp dựng lập và phỉ báng, dựng lập khác, vọng tưởng khác, các thứ vọng tưởng như huyễn hiện, thí như các thứ huyễn, chúng sanh phàm ngu khởi vọng tưởng khác, chẳng phải thánh hiền.

✅ Đây trách ngoại đạo vọng chấp danh ngôn thành sở tri chướng, vì thế dạy đối với ngữ nghĩa nên quán như thật, không nên theo ngữ sanh kiến giải.

Đường dịch: “Nếu đối bất sanh bất diệt, tự tánh Niết-bàn, tam thừa nhất thừa, năm pháp, ba tự tánh… theo lời nói chấp nghĩa, ắt rơi vào kiến chấp dựng lập và phỉ báng.

Vì cho cái này khác với cái kia mà khởi phân biệt. Như thấy việc huyễn chấp cho là thật, là kiến chấp của người ngu, chẳng phải thánh hiền”. Nghĩa là nếu đối với các pháp nhiễm tịnh bất sanh diệt… theo lời nói chấp giữ nghĩa, chấp trước ngôn thuyết và nghĩa là một, gọi là dựng lập; chấp trước ngôn thuyết khác nghĩa gọi là phỉ báng.

Do đối các thứ ngôn thuyết khởi các thứ phân biệt, nên nói dựng lập khác, vọng tưởng khác, đều cho đó là thật, vì vậy nói: “Các thứ vọng tưởng như huyễn hiện”.

Do chấp trước các thứ huyễn sự, lấy đó cho là thật, chính là kiến chấp của người ngu. Người xưa nói “Sở tri chẳng phải chướng. Bị chướng làm chướng sở tri”.

Bởi sở tri là chân đế tịch diệt, há là chướng ư? Chỉ vì chấp trước danh ngôn bị nó làm chướng ngại, không thể chứng nhập, đó gọi là tứ tướng ẩn mật, chẳng phải giác chống cự không cho chứng nhập.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này bèn nói kệ:

Ngôn thuyết vọng tưởng kia — Lập bày ra các pháp Bởi vì chúng lập bày — Chết rơi vào địa ngục.

✅ Đây tụng chấp trước các pháp ngôn thuyết là thật, lỗi của ác kiến.

Nghĩa là Phật nói tất cả các pháp nhiễm tịnh, vì đối trị tâm bệnh vọng tưởng của tất cả chúng sanh, là nhân có việc mới thiết lập, vốn chẳng phải pháp thật, tuy nhân lời nói hiển bày nghĩa, mà nghĩa chẳng ở nơi lời.

Nếu chấp các thứ pháp chân vọng mỗi mỗi đều là thật có, là ác kiến, nên nói chết rơi vào địa ngục.

🪷

Trong ấm không có ngã

Ấm chẳng tức là ngã

Không như vọng tưởng kia

Cũng chẳng phải vô ngã.

GIẢI

✅ Đây dùng ngũ ấm thí dụ nghĩa ngôn thuyết của các pháp.

Do chỉ có ngôn thuyết đều không thật nghĩa, nên như trong ấm không có ngã. Nghĩa vốn lìa lời, lời chẳng phải là nghĩa, nên như ấm chẳng tức là ngã. Ngôn thuyết về các pháp vốn chẳng thật có, nên chẳng như vọng tưởng kia. Chấp ấm là ngã tuy chẳng thật có, chẳng rơi vào đoạn diệt, nên như ấm kia cũng chẳng phải vô ngã. Như thế quán ngữ và nghĩa, ắt không rơi vào kiến chấp một khác có không.

Tất cả thảy có tánh — Như vọng tưởng phàm ngu Nếu như chỗ họ thấy — Tất cả nên thấy thật. Tất cả pháp vô tánh — Nhơ sạch thảy không có Không thật như họ thấy — Cũng không phải không có.

✅ Đây dùng pháp hợp với thí dụ trên.

Bài kệ đầu hiển bày ngược lại các pháp vốn chẳng thật có. Nghĩa là nếu tất cả các pháp quả nhiên thật có tự tánh như chỗ phân biệt của người ngu, thì mỗi mỗi phải thấy được chỗ chân thật. Nay chỉ có ngữ ngôn, chưa thấy được nghĩa thật, như nói lửa miệng không nóng, nói băng đá răng không lạnh. Theo đây đủ chứng minh rằng tất cả các pháp ngôn thuyết đều không có tánh. Do vì đều không tánh, nên nói nhơ nói sạch, chẳng thật có vậy.

Bởi Thánh nhân thấy các pháp không khác với phàm ngu, chỉ vì phàm ngu chấp cho là thật, Thánh nhân thấy như huyễn hóa, nên nói Không thật như họ thấy, cũng không phải không có.

Trước nói ngôn thuyết là gốc của pháp chấp xong.Sau đây chỉ trí và thức là nguồn của buộc và mở.

I₂ - Chỉ trí và thức là nguồn của cột và mở

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Nay sẽ nói tướng của trí và thức. Nếu khéo phân biệt tướng trí và thức, ông và các Bồ tát ắt hay thông đạt tướng trí và thức, chóng đắc đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

GIẢI

✅ Đây nhân ở trước dạy các Bồ tát nên khéo giỏi về ngữ nghĩa, nên đặc biệt nói về tướng trí và thức, ý muốn nương trí đừng nương thức. Bởi vì có phân biệt là thức, không phân biệt là trí. Y thức ắt tai họa, y trí ắt gồm thiện, vì thức là sanh diệt trí là bất sanh diệt. Chỉ cần dùng trí quán thì danh ngôn tự dứt.

🪷

Đại Huệ! Trí có 3 loại là thế gian, xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng.

GIẢI

✅ Đây kể ra tướng trí có 3 thứ. Còn về thức, tức là chỗ đoạn trước nói lược có ba thứ, nói rộng có 8 nên đây không kể ra.

🪷

Thế nào là trí thế gian? Nghĩa là tất cả phàm phu ngoại đạo chấp trước có, không.

GIẢI

✅ Đây là trí thế gian, tức là trí tướng trong lục thô.

Ngoại đạo tự xưng là Nhất thiết trí, ở Trung Hoa gọi là Nhân trí, Lão gọi là Khí trí, đều là trí này. Phật nói thế trí biện thông là một nạn, vì y trí này không được vào lý vô sanh, nên nói chấp trước có, không.

🪷

Thế nào là trí xuất thế gian? Nghĩa là tất cả Thanh văn, Duyên giác rơi vào sự chấp trước hy vọng về tự tướng cộng tướng.

GIẢI

✅ Đây là Trí thiên không của hàng Nhị thừa.

Vì Thanh văn biết khổ, đoạn tập, tu đạo, chứng diệt, pháp loại nhẫn trí, và Duyên giác suy xét về nhân, tìm cầu về nhân, bảy mươi bảy trí, do thấy có ba cõi năm ấm sanh tử đáng chán, không rõ duy tâm, nên nói rơi vào tự tướng cộng tướng, do chấp có Niết-bàn chứng đắc nên nói chấp trước hy vọng. Sở dĩ chấp trước vì chưa lìa thức tánh, không rõ vô minh.

🪷

Thế nào trí xuất thế gian thượng thượng? Nghĩa là chư Phật Bồ tát, quán pháp vô sở hữu, thấy bất sanh bất diệt, lìa các phẩm có không, đến Như Lai địa nhân pháp vô ngã, duyên tự đắc sanh.

GIẢI

✅ Đây là trí xuất thế gian thượng thượng.

Hàng Thánh nhân Bát địa chứng chân như vô tướng, khai mở được trí này, nên nói quán vô sở hữu. Bởi biết bất sanh diệt, chỉ Phật với Phật mới có thể đến cùng tận, nên nói duyên tự đắc sanh, nghĩa là từ cảnh giới thánh trí tự giác mà sanh.

🪷

Đại Huệ! Sanh diệt là thức, bất sanh bất diệt là trí. Lại nữa, rơi vào tướng và vô tướng, rơi vào các thứ nhân tướng có không, là thức; vượt tướng hữu vô, là trí.

GIẢI

Tướng hữu vô là nhị kiến đoạn thường; các thứ nhân tướng, nhân tức sanh nhân, là Thắng diệu…

🪷

Lại nữa! Tướng trưởng dưỡng là thức, chẳng phải tướng trưởng dưỡng, là trí.

GIẢI

Trưởng dưỡng là nghĩa tương tục, nghĩa là nhóm các chủng tử, khởi các hiện hành, nên tương tục chẳng đoạn dứt.

Bởi đây biện biệt tướng thức trí, để nói rõ quán sát thể thức trí không hai, chỉ phân chia chỗ sanh cùng bất sanh, đọa cùng chẳng đọa, cốt yếu muốn khiến tức thức thành trí. Sở dĩ trí thức chẳng hai, như ngay khi nghe âm thanh ngữ ngôn nói pháp, một niệm tối sơ, được tự tánh của thanh, là cảnh hiện lượng, tức là căn bản trí chiếu, không thuộc sanh diệt, không rơi trong hữu vô, ngay đó thường trụ. Nếu khoảng sát-na trôi vào đất ý, phân biệt nghĩa lý, khởi niệm thứ hai, tức là sanh diệt, liền rơi vào có không thì tiếp nối chẳng dừng tùy theo ngữ ngôn kia mà lưu chuyển, tức trí chuyển thành thức. Đó là đại trí ở ngay trước mắt mà đổi làm cảnh danh tướng.

Cổ Đức nói: Đại chúng thấy nghe, chỉ có thể một lần, ai có thể được chỗ này? Tôi xem Tào Sơn ba chỗ rơi; khen rằng: Chẳng phải là bậc Nhất thiết trí, Vô sư trí niệm niệm hiện tiền, làm sao được chỗ này! Xin mời bậc trí xem kỹ, tự sẽ rành về ngữ nghĩa.

🪷

Lại nữa! Có 3 thứ trí. Nghĩa là biết sanh diệt, biết tự tướng cộng tướng, biết chẳng sanh chẳng diệt.

GIẢI

✅ Đây là Như Lai tự thuật tự giác thánh trí, để nói rõ về trí xuất thế gian thượng thượng.

Nghĩa là phàm phu ngoại đạo không biết sanh diệt nên chấp trước có không. Nhị thừa không biết cộng tướng tự tướng, nên rơi vào tự cộng tướng. Bồ tát Tam hiền không biết bất sanh diệt, nên mặc tình trưởng dưỡng, không thể vượt qua kiến chấp về phàm và thánh, rơi trong thức tình. Phật nói rằng tự giác thánh trí của ta không phải cái gì khác, chỉ là biết ba trí này mà thôi. Do vì vượt quá lượng phàm thánh, nên là trí xuất thế gian thượng thượng.

🪷

Lại nữa tướng vô ngại là trí, tướng cảnh giới ngăn ngại là thức. (Đường dịch: Kẹt trong cảnh giới tướng là thức, không kẹt trong cảnh giới tướng là trí).

Lại nữa, tướng phương tiện ba việc hòa hợp sanh là thức, tướng tự tánh không phương tiện là trí (Đường dịch: Ba hòa hợp tương ứng sanh là thức, tướng không ngại tương ứng tự tánh là trí).

Lại nữa, đắc tướng là thức, không đắc tướng là trí. Cảnh giới thánh trí tự đắc không ra không vào, nên như trăng trong nước.

GIẢI

✅ Đây giải thích tướng tự giác thánh trí ở trên.

Nghĩa là tự giác thánh trí của Như Lai, cũng không lìa ngoài thức mà tìm. Bởi vì nơi tất cả cảnh giới, với chỗ thấy của hàng phàm phu nhị thừa không khác, chỉ có phân chia ngại cùng không ngại, hòa hợp chẳng hòa hợp, đắc tướng chẳng đắc tướng. Do đối với cảnh giới chấp trước, tức thành hòa hợp tương ứng, có tướng khả đắc, nên tức trí gọi là thức, liền có tướng sáng tối đến đi ra vào. Do chẳng chấp trước chẳng hòa hợp, không tướng để được, nên tức thức là trí, liền đối với các cảnh giới không ra không vào, như trăng trong nước.

Bởi trăng trong nước không thuộc chẳng ra chẳng vào, dù cho ba đào dậy sóng mà thể mặt trăng lặng lẽ không lay động. Tự giác thánh trí như nhiên, vì cảnh và trí dung hợp không hai vậy.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Nhóm họp nghiệp là thức

Không nhóm họp là trí

Quán sát tất cả pháp

Biết rõ vô sở hữu

Liền được sức tự tại

Như thế gọi là huệ.

(Ngụy dịch:

Thức hay gom các nghiệp.

Trí hay biết rõ ràng.

Huệ hay được vô tướng,

và cảnh diệu trang nghiêm).

Trói buộc cảnh là tâm

Giác tưởng sanh là trí

Vô sở hữu là thắng

Huệ ắt từ đó sanh.

GIẢI

✅ Đây là tụng về tướng thức trí.

Nghĩa là gom góp các hành nghiệp, cột dính vào cảnh giới đó là thức. Hay quán sát các pháp, chiếu rõ vọng tưởng sanh diệt đó là trí. Nếu biết tâm cảnh đều không, đạt vô sở hữu, mà vào cảnh giới thắng diệu của Phật, ắt đó là huệ. Thế thì hàng tam hiền không đủ huệ lực, cho đến khi đăng địa, từ địa vị Phát quang, Diệm huệ mà vào địa vị Phật vô sở hữu, mới gọi là huệ cụ túc.

🪷

Tâm ý cùng với thức

Xa lìa tưởng tư duy

Được pháp không tư tưởng

Chẳng Phật tử Thanh văn

GIẢI

Thức vốn là trí, chỉ vì vọng tưởng tư duy, nên không chân thật. Nay đã xa lìa, tức thức thành trí, chỗ lìa tâm thức không tư duy này, chỉ có hàng Bát địa và cảnh giới Phật, nên chẳng phải hàng Thanh văn có thể biết được.

🪷

Nhẫn tịch tịnh thắng tấn

Trí Như Lai thanh tịnh

Sanh nơi nghĩa thiện thắng

Chỗ làm ắt xa lìa

GIẢI

✅ Đây tụng giải thích cảnh giới lìa vọng tưởng ở trên.

Bản chú xưa dẫn kinh Nhân Vương nói có năm nhẫn, nghĩa là: Phục, Tín, Thuận, Vô sanh, Tịch diệt, mỗi mỗi đều có phẩm bậc thượng trung hạ. Tam hiền chỉ là Phục nhẫn, hàng đăng địa đến Cửu địa theo thứ lớp được Tín nhẫn, Thuận nhẫn, Vô sanh nhẫn. Hàng Thập địa đẳng giác và Phật được Tịch diệt nhẫn. Nên nói Nhẫn tịch tịnh thắng tấn là của Như Lai thanh tịnh trí. Trí nhẫn này từ thắng nghĩa đế sanh, tất cả vọng tưởng, cảnh giới sở hành của tâm thức thảy đều xa lìa, nên kệ trên nói Pháp không tư tưởng chẳng phải hàng Thanh văn có thể được.

Ta có ba thứ trí — Thánh mở bày chân thật Đối với tưởng tư duy — Thảy nhiếp thọ các pháp. Nhị thừa không tương ưng — Trí lìa các sở hữu.

✅ Đây tụng về tướng tự giác thánh trí xuất thế gian thượng thượng.

Ba thứ trí tức ở trên nói biết sanh diệt… Nghĩa là vì ta biết ba trí này nên được tên là Thánh trí. Hay mở bày chân thật cho chúng sanh, bởi vì đối với thức của phàm ngu tư tưởng nhiếp thọ các pháp, và trí không tương ưng như thật của hàng Nhị thừa, tất cả trí ấy ta đều lìa, nên nói Trí lìa các sở hữu. Ngụy dịch “Ta có ba thứ huệ, theo đó được tên Thánh”. Đường dịch “Phân biệt các thứ tướng, mở bày tất cả pháp, trí ta lìa các tướng, vượt qua hàng Nhị thừa”. Chấp trước nơi tự tánh — Từ hàng Thanh văn sanhVượt qua các tâm lượng — Như Lai trí thanh tịnh.

✅ Đây là tụng giải thích thành tựu ý trên.

Đường dịch: “Vì các hàng Thanh văn, chấp trước các pháp có, Như Lai trí không nhơ, vì liễu đạt duy tâm”. Nghĩa là hàng phàm phu chấp có các pháp, Nhị thừa chấp có Niết-bàn, đều chẳng lìa tâm lượng. Ta dùng pháp giới hải huệ, chiếu rõ tất cả, thảy đều không có, nên đều vượt qua.

✅ Đây gọi là Như Lai tự giác thánh trí, là trí xuất thế gian thượng thượng.

  • Trên nêu tướng thức trí.

  • Dưới tức tướng chuyển biến để rõ động vốn chẳng động.

I₃ - Tức tướng chuyển biến để rõ sinh diệt vốn chẳng động

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Ngoại đạo có chín thứ luận chuyển biến, ngoại đạo sanh kiến chấp chuyển biến. Đó là: hình xứ chuyển biến, tướng chuyển biến, nhân chuyển biến, thành chuyển biến, kiến chuyển biến, tánh chuyển biến, duyên phân minh chuyển biến, sở tác phân minh chuyển biến, sự chuyển biến.

Đại Huệ! Đây gọi chín thứ kiến chấp chuyển biến. Tất cả ngoại đạo, nhân nơi đây khởi lên có không sanh chuyển biến luận.

GIẢI

✅ Đây nói về cảnh giới kiến chấp thức trí chẳng đồng, để rõ ý động vốn chẳng động.

Nghĩa là ngoại đạo vọng tưởng phân biệt, nên cảnh bị thấy chuyển biến bất nhất. Như Lai nương trí quán sát, không một pháp hoặc sanh hoặc diệt có thể động chuyển, nghĩa là “vì ta không thấy có tướng chúng sanh”.

Bởi chín thứ chuyển biến này là ngoại đạo căn cứ năm uẩn mà lập, nơi thân đã vậy, các pháp cũng vậy. Tóm lại, trong chín thứ thì hình và sự, tức là căn cảnh, còn lại bảy pháp là hình và thế làm nhân cho nhau, nương đó lập ngôn, nên gọi là chuyển biến luận. Hình xứ chuyển biến… là lục đạo thọ thân, hình trạng không đồng, hoặc từ quỷ súc cho tới trời người, hoặc do trời người mà vào dị loại, mỗi mỗi thân hình, chuyển đây biến kia, tùy chỗ nơi chẳng đồng, cho nên nói hình xứ chuyển biến. Chỗ thọ thân và hình tướng khác nhau, từ sanh đến tử, sanh trụ dị diệt, sát-na sát-na, niệm niệm đổi dời nên gọi là tướng chuyển biến.

Bởi thân tướng này, từ không chợt có ắt phải mượn sanh nhân chuyển biến mà đến, nên gọi là nhân chuyển biến. Đã thành thân này, không thể dừng lâu, tạm có rồi hoại diệt, nên gọi là thành chuyển biến. Tuổi nhỏ tươi nhuận, già nua nhăn nheo, tùy theo trạng thái biến đổi chỗ thấy không đồng, nên gọi là kiến chuyển biến. Tươi khô không đồng, khổ vui cũng khác, nhu chuyển sống thành chín, chuyển ngọt thành đắng, tánh kia mỗi khác, nên gọi là tánh chuyển biến. Kia hay tạo tác, tứ đại làm duyên mỗi mỗi rõ ràng hòa hợp làm một, nên gọi là duyên phân minh chuyển biến. Ngũ căn được tạo chi tiết rõ ràng, nên gọi là sở tác phân minh chuyển biến. Nơi thân đã như vậy, ngoại pháp cũng thế, nên gọi là sự chuyển biến.

Ngoại đạo thấy thân cảnh kia chuyển biến bất thường như thế, hoặc không mà chợt có, hoặc có mà chợt không. Nhân đây khởi hai kiến chấp có không, vọng sanh phân biệt, làm nên luận chuyển biến.

✅ Đây đều y thức không y trí, nên sở kiến sanh diệt, vì không rõ cảnh giới duy tâm chân thật vậy. Đây chỉ nêu chín tên, sau đưa ra hai chuyển biến đầu và cuối để giải thích.

Thế nào là hình xứ chuyển biến? Nghĩa là hình xứ dị kiến, như vàng biến làm những đồ vật, thì có các hình xứ hiển hiện, chẳng phải tánh vàng biến đổi. Tất cả tánh biến cũng lại như thế. Hoặc có ngoại đạo khởi những vọng tưởng thế này… cho đến sự chuyển biến cũng vọng tưởng, chúng không phải như, không phải dị, vì là vọng tưởng.

✅ Đây là giải thích về nghĩa chuyển biến.

Trên đã nêu ra chín tên, nay đưa ra hai tên đầu và cuối để giải thích, nghĩa của chúng tự đầy đủ. Nói hình xứ chuyển biến là vì ngoại đạo đối với hình xứ khởi lên các thứ dị kiến. Rồi lại tự thí dụ rằng: Như vàng làm các đồ trang sức, hình trạng có biến đổi mà tánh vàng không đổi khác. Như Lai dạy rằng: Đây là ngoại đạo tạo ra kiến chấp vọng tưởng phân biệt như thế. Với hình đã vậy, với sự cũng vậy. Nên nói Cho đến sự chuyển biến cũng vọng tưởng. Vì các pháp ấy, chẳng phải như chẳng phải dị, không cho khởi kiến chấp. Nên hễ có phân biệt đều chẳng như thật, vì chỉ là vọng tưởng. Song dụ về vàng và đồ đạc, trong các kinh khác Thế Tôn cũng thường ước lệ để chỉ dạy người, mà nay thì quở trách là kiến chấp ngoại đạo. Vì pháp môn nhất thừa đốn giáo này, quý ở chỗ thật chứng hiện lượng, không cho so sánh chọn lựa, vừa dấy tâm động niệm liền trái pháp thể, rơi vào lưới kiến chấp. Nếu hình biến mà tánh không biến là chỗ Tổ sư nói Phật tánh có lồi nửa sanh diệt, nửa bất sanh diệt, nên là kiến chấp ngoại đạo.

Như thế tất cả tánh chuyển biến, nên biết như sữa, bơ, rượu, trái cây chín… ngoại đạo vọng tưởng cho là có chuyển biến, chúng cũng không có chuyển biến. Hoặc có hoặc không, tự tâm hiện ngoại tánh phi tánh.

✅ Đây dùng thí dụ để nói các pháp vốn không có tướng chuyển biến, không thể khởi kiến chấp một khác.

Nghĩa là sữa, bơ, rượu, trái cây chín… vị tuy khác mà tánh không khác. Kỳ thật không tướng có thể chuyển biến. Các pháp cũng vậy. Do ngoại đạo không thông đạt lý duy tâm, nên vọng tạo các phân biệt chuyển biến. Bởi các pháp cũng không có tướng chuyển biến. Sở dĩ không chuyển biến vì các pháp không thuộc có không, không có thật thể, nên nói hoặc có hoặc không, tự tâm hiện ngoại tánh phi tánh. Đường dịch: Vì chỗ thấy của tự tâm không có vật bên ngoài.

🪷

Đại Huệ! Chúng sanh phàm ngu như thế, tự vọng tưởng tu tập sanh.

Đại Huệ! Không có pháp hoặc sanh hoặc diệt, như thấy huyền mộng sắc sanh.

GIẢI

✅ Đây giải thích lý do các pháp không chuyển biến ở trên.

❔ HỎI:

Nếu nói các pháp không chuyển biến, thì chư pháp chẳng sanh diệt, không chướng ngại chỗ hiện thấy các pháp sanh diệt, được không?

📣 ĐÁP:

Các pháp như thế, vốn tự vô sanh, cũng không diệt, mà thấy có sanh diệt, đều là chúng sanh phàm ngu tự tập khí vọng tưởng huân biến sanh ra.

Kỳ thật, không có một pháp hoặc sanh hoặc diệt, tức ngay nơi chỗ thấy kia, đều ngay đó chẳng thật, nên Đường dịch: Như nhân huyền mộng thấy các sắc, như nói gái đá có sanh tử.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này bèn nói kệ:

Hình, xứ, thời chuyển biến — Tứ đại chủng các căn Trung ấm thứ lớp sanh — Vọng tưởng chẳng phải trí.

✅ Đây tụng chung ngoại đạo Nhị thừa đều chẳng như thật.

Bởi trong văn kinh tuy nói ngoại đạo chín thứ chuyển biến chưa đề cập Nhị thừa. Trong chín thứ ấy có nhân duyên chuyển biến, cùng loại với Nhị thừa. Tụng này nói hình, xứ, thời, tứ đại chủng, các căn chuyển biến, đều là kiến chấp của ngoại đạo. Lối chấp có trung ấm tiếp nối với hậu ấm, là kiến chấp chuyển biến của Nhị thừa. Bởi đều y vào thức phân biệt, nên nói vọng tưởng chẳng phải minh trí. Trung ấm tức thân trung hữu, luận Câu-xá nói: Trong khoảng trung gian giữa tử và sanh, ngũ ấm tên là Trung hữu.

(Bậc) Tối thắng nơi duyên khởi — Không như vọng tưởng kia Vì thế gian duyên khởi — Như thành Càn-thát-bà

✅ Đây là tụng tri kiến như thật của Như Lai.

Nghĩa là ngoại đạo Nhị thừa, đối với các pháp duyên khởi, không biết là như huyễn chấp cho là thật, nên khởi lên các thứ phân biệt chuyển biến. Như Lai đối với các pháp duyên khởi, không khởi vọng tưởng phân biệt như họ, chỉ thấy những gì từ duyên khởi đều chẳng thật, nên kệ nói như thành Càn-thát-bà.

  • Trên nói tướng chuyển biến rồi.

  • Sau đây nói về đoạn tâm tương tục để hiển bày sanh vốn vô sanh.

I₄ - Đoạn tâm tương tục để hiển bày sanh vô sanh

🪷

Bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin vì nói nghĩa tương tục, nghĩa giải thoát của tất cả pháp.

GIẢI

✅ Đây nhân nghĩa trên đặt câu hỏi, để nói rõ về đoạn tâm tương tục, hiển bày sanh vốn vô sanh.

Do trên Phật nói về nghĩa chuyển biến chẳng chuyển biến, ý Đại Huệ rằng nếu thấy các pháp có tướng chuyển biến, ắt là sanh tử tiếp nối; nếu không thấy các pháp có tướng chuyển biến thì đương thể chân thường, ngay đó giải thoát.

Nên đây đặt câu hỏi về nghĩa tương tục chẳng tương tục. Nói giải thoát, tức là nghĩa chẳng tương tục. Đường dịch “Nghĩa thâm mật và giải thoát”. Thâm mật, là kết sanh tiếp nối, vì thâm mật khó dứt. Bởi vì chuyển biến là kiến chấp sanh diệt, tương tục là sanh diệt không gián đoạn. Do lưu chú vi tế tiếp nối thầm thầm trong tạng thức cứng chắc khó phá, nên nói là “thâm mật”.

✅ Đây là hai chấp về câu sanh vậy. Chấp này một phen phá thì sanh tướng liền tịch diệt, thân kia chuyển thù thắng, chứng đại Niết-bàn, nên nói là giải thoát.

Nếu khéo phân biệt tất cả pháp tương tục chẳng tương tục, con và các Bồ tát hiểu rành về tất cả phương tiện khéo tương tục, không rơi vào nghĩa như đã nói, chấp trước tương tục. Rành rẽ đối với tướng tương tục chẳng tương tục của tất cả pháp, và lìa ngôn thuyết văn tự vọng tưởng giác (Đường dịch: Khiến con và các Bồ tát khác khéo biết pháp này không rơi vào chỗ như lời chấp nghĩa, chấp trước thâm mật, lìa được văn tự ngữ ngôn phân biệt hư vọng).

Dạo chơi tất cả cõi nước chư Phật, vô lượng đại chúng, lực, tự tại, thần thông, ấn tổng trì, các thứ biến hóa, quang minh chiếu sáng, giác huệ khéo nhập mười câu vô tận, hạnh vô phương tiện, cũng như mặt trời mặt trăng, châu ma-ni tứ đại, ở nơi tất cả địa lìa tướng kiến tự vọng tưởng (Đường dịch: Trụ vào các địa, lìa kiến phân biệt).

Thấy tất cả pháp như huyễn mộng, vào Phật địa, ở nơi tất cả cõi của chúng sanh tùy chỗ thích hợp mà vì thuyết pháp để dẫn đạo họ, thảy đều khiến an trụ tất cả pháp như huyễn mộng… Lìa các phẩm có không, và vọng tưởng sanh diệt, khác với nghĩa ngôn thuyết, thân ấy chuyển thắng.

Từ câu Nếu khéo phân biệt… trở xuống, trình bày pháp có lợi ích thù thắng, là ý của lý do đặt câu hỏi.

Nghĩa là nếu hành giả có thể ở trong pháp tương tục được chẳng tương tục, thì một niệm liền chứng vô sanh, chóng lên địa vị Phật, liền được an trụ tất cả các pháp như mộng như huyễn, pháp môn tự tại, lìa các phẩm có không, dứt chấp sanh diệt, không kẹt vào ngôn thuyết, khiến chuyển sở y được pháp thân tối thắng. Có lợi ích lớn như vậy nên ở đây thưa hỏi. Bởi chẳng phải hai chướng vắng lặng thì làm sao được lợi ích thù thắng này.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Lành thay lành thay! Lắng nghe lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo!

Phật bảo Đại Huệ: Vô lượng tất cả các pháp như nghĩa đã nói, chấp trước tương tục (Đường dịch: Đối với tất cả pháp, theo lời chấp nghĩa, chấp trước thâm mật, số ấy vô lượng).

Đó là tướng chấp trước tương tục, duyên chấp trước tương tục, tánh phi tánh chấp trước tương tục, vọng tưởng sanh chẳng sanh chấp trước tương tục, vọng tưởng diệt chẳng diệt chấp trước tương tục, vọng tưởng thừa chẳng phải thừa chấp trước tương tục, vọng tưởng hữu vi vô vi chấp trước tương tục, vọng tưởng tự tướng mỗi địa mỗi địa chấp trước tương tục, tự vọng tưởng vô gián vọng tưởng chấp trước tương tục, ngoại đạo chủ trương Có Không y cứ vọng tưởng chấp trước tương tục, vọng tưởng tam thừa nhất thừa vô gián chấp trước tương tục (Đường dịch: Đó là tướng chấp trước, duyên chấp trước, có chẳng có, sanh chẳng sanh, diệt chẳng diệt, thừa chẳng thừa, hữu vi vô vi, địa địa tự tướng, tự phân biệt hiện chứng, ngoại đạo chủ trương hữu vô, tam thừa nhất thừa… đều nói là chấp trước).

Lại nữa Đại Huệ! Đây và những chúng sanh phàm ngu khác, tự vọng tưởng tương tục, do tương tục này phàm ngu vọng tưởng như tằm làm kén, dùng tơ vọng tưởng tự trói và trói người, chấp trước tương tục tướng Có Không.

GIẢI

✅ Đây nói rõ theo lời chấp nghĩa, pháp chấp không quên, tự kiến chấp vẫn còn, nên chấp trước thâm sâu, đó là sở tri chướng, làm căn bản cho biến dịch sanh tử.

Sanh tử có hai, một là biến dịch tử, do sở tri chướng chiêu cảm; hai là phần đoạn tử, do phiền não chướng chiêu cảm. Mười một tương tục này, đều theo lời chấp nghĩa, là sở tri chướng, cũng gọi là hai chấp câu sanh về ngã pháp, hàng thập địa tam thừa đều rơi vào chấp này, nên nói thâm mật. Ba tương tục sau là phiền não chướng làm cho ngu phu bị phần đoạn tử.

Tướng tức tướng năm uẩn vọng tưởng, và pháp tự giác thánh trí. Duyên tức nhân duyên và duyên pháp tự đắc. Có không cho đến tam thừa nhất thừa… là điều Phật đã nói qua.

Bởi lời Phật nói đều là lời ứng cơ, vốn không có pháp thiệt. Chính là “Phật nói tất cả pháp để trị tất cả tâm. Nếu không tất cả tâm đâu cần tất cả pháp”. Bởi pháp nói ra như tiếng vang trong hang trống, như tiếng trống trời, mà phàm ngu không hiểu vọng cho là thật, theo lời chấp nghĩa, chấp trước thâm sâu vào văn tự ngữ ngôn phân biệt hư vọng, lại tăng thêm sanh tử. Đường dịch: Những thứ chấp sâu chặt này. Các lượng có không, đều là phàm ngu tự phân biệt chấp, mà chấp trước sâu chặt. Các thứ phân biệt này như tằm làm kén, dùng tơ vọng tưởng tự trói, trói người, chấp trước có không, dục lạc càng cứng càng chặt, do cứng chặt nên sanh tử chẳng dứt.

❔ HỎI:

Mười một tương tục, đã nói là sở tri chướng hàng tam thừa có, vì sao ngoại đạo cũng dự trong đó?

📣 ĐÁP:

Đây là người học Phật, không được ý Phật, không rõ duy tâm, theo lời chấp nghĩa, nên đều cho là ngoại đạo. Đây chính là học Phật pháp mà thành kiến chấp ngoại đạo ấy vậy.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Trong đó cũng không kiến chấp tương tục chẳng tương tục, tất cả pháp tịch tĩnh vọng tưởng chẳng sanh. Nên đại Bồ tát thấy tất cả pháp tịch tĩnh.

GIẢI

✅ Đây nêu nghĩa như thật của các pháp.

Nghĩa là trong pháp này vốn không có tướng tương tục và chẳng tương tục, chỉ do chúng sanh chấp trước hay chẳng chấp trước thôi. Nếu đối với thánh pháp mà sanh chấp trước, tức rơi vào phàm tình, ắt sanh tử tương tục. Nếu trong pháp vọng mà không chấp trước tức là thánh giải, thì ngay đó giải thoát. Thế là cột hay mở tại người, không can dự gì đến pháp. Đó là “muôn pháp vốn nhàn, chỉ tự người ồn”. Cho nên trong pháp không có tướng tương tục chẳng tương tục. Đường dịch: Trong đây thật không có tướng mật chẳng mật, vì đại Bồ tát thấy tất cả pháp trụ tịch tĩnh, vì không phân biệt, nếu có thể thấy rõ các pháp tịch tĩnh, không khởi phân biệt, thì sanh tử Niết-bàn đều là lời nói dư.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Biết ngoại tánh phi tánh, tự tâm hiện tướng vô sở hữu, tùy thuận quán sát tự tâm hiện lượng, tất cả tánh Có Không, không tướng kiến, tương tục tịch tĩnh, nên đối với tất cả pháp, không có tướng tương tục chẳng tương tục.

GIẢI

✅ Đây dạy như thật quán các pháp để giải thích nghĩa vốn không tương tục chẳng tương tục ở đoạn trên.

Đường dịch “Nếu rõ các pháp duy tâm hiện, không có vật ngoài, đều đồng vô tướng, tùy thuận quán sát, đối với các phân biệt chấp sâu hoặc có hoặc không, thảy đều thấy tịch tĩnh, nên không có tướng mật và chẳng mật”. Thế là thấy suốt duy tâm hiện lượng, mà có thể như thật quán các pháp, vốn tự không cột trói, nay làm gì có mở, nên không có tướng tương tục chẳng tương tục.

Lại nữa Đại Huệ! Trong ấy không có hoặc cột hoặc mở. Những người giác tri không như thật thấy có cột có mở. Vì sao? Nghĩa là vì đối với tất cả pháp có hay không có, không chúng sanh có thể được.

✅ Đây nói do như thật quán nên không có tướng cột mở.

Do có tương tục nên có cột, do không tương tục nên có mở. Mà trong pháp này tất cả đều không. Vì sao? Vì tất cả pháp tuy có mà vốn chẳng có, vì tìm thể tánh không thể được. Nếu tất cả pháp có thể được thì có thể nói cột mở, đã không chúng sanh có thể được thì ai cột ai mở. Đó là “da đã chẳng còn, lông gá vào đâu” nên chân vọng cả hai quên, thánh phàm tình tận.

Lại nữa Đại Huệ! Ngu phu có ba thứ tương tục là tham nhuế si, và ái vị lai có hỷ ái cộng chung (Ngụy dịch: Cùng ái lạc sanh. Đường dịch: Cùng ái lai sanh chung với tham hỷ).

Do cái tương tục này, nên có các nẻo tương tục, tương tục ấy tiếp nối trong năm đường (Đường dịch: Khiến các chúng sanh tiếp nối sanh trong năm đường).

Đại Huệ! Tương tục dứt, ấy là không có tướng tương tục và chẳng tương tục.

✅ Đây nói phiền não chướng là gốc của phần đoạn sanh tử trong năm đường.

Nghĩa là mười một thứ tương tục trước là sở tri chướng, hàng tam thừa có, nay phiền não chướng là phàm ngu có, chỉ ba thứ thôi, nên nói người ngu có ba thứ tương tục. Tham sân si là Phát nghiệp vô minh; tham hỷ cộng chung và tập khí ái lai sanh là Nhuận sanh vô minh. Đây thật là căn bản sanh tử trong ba cõi, nên nói: Tương tục ấy là tiếp nối trong năm đường. Song tham sân si… tuy hay khiến chúng sanh tiếp nối sanh tử, nếu kiến chấp sanh diệt mất, tâm cuồng khô diệt thì chúng sanh kia cũng không có, vì phiền não tánh không. Nên nói tương tục dứt, ấy là không có tướng tương tục và chẳng tương tục.

❔ HỎI:

Ba thứ tương tục này cùng với ba thứ tương tục của Lăng Nghiêm có gì khác?

📣 ĐÁP:

Tên giống mà nghĩa khác. Ba thứ trong Lăng Nghiêm là thế giới, chúng sanh, nghiệp quả. Kia do vô minh làm nhân mà khởi tham dâm tham sát tham đạo làm duyên. Do nhân duyên này nên khiến thế giới chúng sanh nghiệp quả tương tục không dứt. Nay trong đây chỉ nói tham nhuế si là phiền não chướng, hay khiến chúng sanh tiếp nối sanh tử không dứt. Vì thế tên giống nghĩa khác, học giả nên biết.

Lại nữa Đại Huệ! Ba duyên hòa hợp tạo thức phương tiện chấp trước, tương tục vô gián sanh. Phương tiện chấp trước thì có tương tục, ba duyên hòa hợp của thức dứt, được ba giải thoát, tất cả tương tục chẳng sanh.

✅ Đây nêu chung hai thứ sanh tử tương tục đều y cứ thức thứ bảy mà có.

Luận nói: “Nhãn thức chín duyên sanh, nhĩ thức có tám, ba thức tỷ thiệt thân có bảy, ba thức sau có năm, ba, bốn 3”. Duyên đầy đủ của tám thức nhiều ít chẳng đồng, chỉ thức thứ bảy có ba duyên để sanh. Nghĩa là thức thứ bảy trong địa vị hữu lậu, khi duyên kiến phần của thức thứ tám làm ngã, chỉ cần đủ ba duyên. Một là duyên căn bản, là thức thứ tám; hai là tác ý; ba là chủng tử. Nên nói Ba duyên hòa hợp tạo thức phương tiện chấp trước, tương tục vô gián sanh. Bởi thức phương tiện chấp trước tuy nói chung cả tám thức, mà nghĩa thật riêng chỉ thức thứ bảy. Do thức Mạt-na này có cả phần thô và tế của ngã chấp và pháp chấp, nên nói là thức chấp trước. Vì “Sáu chuyển thức gọi là nhiễm tịnh y” 4. Vì là chỗ y cứ của nhiễm nên phiền não do đây sanh, là chỗ y cứ của tịnh nên sở tri chướng do đây mà khởi. Nên gọi là thức phương tiện.

Đường dịch “Vì có chấp trước thì có ràng buộc sâu kín”. Do thức thứ Tám vốn là chân thể của Như Lai tàng thanh tịnh pháp thân, chỉ nhân vô minh nghiệp lực của thức thứ Bảy triền miên sanh tử, nên không giải thoát. Nếu thức này một phen đoạn, thì sanh tử chóng thoát, các chướng vĩnh viễn vắng lặng, nhị tử mất hẳn, nên nói: Ba duyên hòa hợp của thức đoạn, được ba giải thoát, tất cả tương tục thảy đều chẳng sanh. Nói thức đoạn, đủ để biết chẳng phải thức thứ tám mà chỉ nói thức thứ bảy.

Đoạn trước nói: Chỉ chuyển thức diệt, mà tự thân tướng tạng thức thật không diệt, tạng thức nếu diệt, lưu chú từ vô thỉ phải đoạn, ắt đồng ngoại đạo đoạn diệt luận. Văn sau nói thức thứ bảy không lưu chuyển, vì niệm niệm sanh diệt không có thật thể, do không thật thể, nên có thể nói đoạn. Chỉ một niệm chẳng sanh, thì mé trước sau đoạn. Vĩnh Gia nói “Đoạn tâm tương tục” chính là đây vậy.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Vọng tưởng không chân thật

Nên nói tướng tương tục

Nếu biết chỗ chân thật

Lưới tương tục ắt dứt

GIẢI

✅ Đây tụng chân vọng không khác, tùy chỗ thấy không cố định.

Nghĩa là không rõ biết vọng tức chân, theo niệm lưu chuyển nên tương tục là sanh; nếu rõ biết vọng tức chân thì đương thể vô sanh, lưới tương tục dứt hẳn.

🪷

Đối các tánh không biết

Theo ngôn thuyết chấp giữ

Giống như loài tằm kia

Dệt tơ mà tự trói

Người ngu vọng tưởng trói

Chẳng quán sát tương tục

GIẢI

✅ Đây tụng lỗi kiến chấp của ngu phu.

Nghĩa là phàm ngu vô tri, không thể rõ biết các pháp chẳng thật, theo lời chấp nghĩa, nên vọng tưởng ràng buộc, như tằm làm kén không có lúc thoát ra. Đây bởi ở trong pháp tương tục sanh diệt, vì không khéo quan sát. Ý hiển bày nếu khéo quán sát, ắt không có lỗi như vậy.

  • Trên phá hai chấp, đoạn chung hai chướng xong. Sau đây dẹp cả hai cảnh và trí.

GHI CHÚ

⏯️ (tiếp theo)

QUYỂN THỨ VI

CHƯƠNG BA - PHẦN CUỐI

  • Phần trước phá hai chấp, đoạn hết hai chướng đã xong.

  • Phần sau dẹp cả hai trí và cảnh để rõ vô trí vô đắc chia làm hai.

  • Phần thứ nhất dẹp cảnh sở quán, phần thứ hai dẹp trí năng quán. Trong phần thứ nhất lại chia hai, một dẹp cảnh sự, hai dẹp cảnh lý.

H₃ - Dẹp cả hai trí và cảnh để rõ vô trí vô đắc. Có 2

I₁ - Dẹp cảnh sở quán. Có 2

K₁ - Dẹp cảnh sự

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: Như Thế Tôn đã nói, do các thứ vọng tưởng kia, vọng tưởng về các thứ tánh, chúng chẳng có tự tánh, chỉ là tự tánh vọng tưởng thôi.

GIẢI

✅ Đoạn này lặp lại lời Phật dạy để đưa ra vấn nạn. Do đoạn trước Phật dạy Các pháp vốn tự vô tánh chỉ do vọng tưởng mà có tự tánh nên ở đây lặp lại. Đường dịch: Như Thế Tôn nói, do các thứ tâm phân biệt các pháp, chẳng phải các pháp có tự tánh, chỉ là vọng chấp thôi.

Câu này lặp lại lời Phật, câu sau căn cứ vào nghĩa để vấn nạn.

🪷

Thế Tôn! Nếu chỉ là tự tánh vọng tưởng, chẳng có sự đối đãi của tánh tự tánh, Thế Tôn nói như thế chẳng phải là có lỗi nói phiền não và thanh tịnh không có tánh ư? Vì tất cả pháp là vọng tưởng tự tánh, không có thật tánh.

GIẢI

✅ Đoạn này vấn nạn nhiễm tịnh đều không, thành lỗi đoạn diệt, sắp hiển bày vấn đề cảnh không trí có, ý muốn trước dẹp cảnh sự vậy.

Nhân Đại Huệ nghe Phật nói các pháp đều không tự tánh, chỉ là vọng tưởng thôi. Ý cho rằng nếu các pháp chỉ là vọng tưởng phân biệt, mà không có thật thể tướng đối đãi, thế thì tuyệt không có tánh của các pháp. Nếu quả là các pháp tuyệt không tự tánh, há chẳng là Thế Tôn cho rằng tập khí phiền não nhiễm ô của chúng sanh, cùng với Niết-bàn thanh tịnh của Như Lai thảy đều không tánh? Nếu nhiễm tịnh đều không, thì rơi vào lỗi đoạn diệt. Vì sao? Vì Thế Tôn nói tất cả pháp chỉ là vọng tưởng phân biệt không có thật thể, Đại Huệ bèn nghi cảnh không mà tâm cũng đoạn.

Câu sau Phật đáp vọng cảnh tuy không, thánh trí thật có.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Như thế! Như thế! Như ông đã nói.

Đại Huệ! Chẳng phải như kẻ ngu cho là tự tánh vọng tưởng chân thật, tự tánh vọng tưởng này, chẳng có tướng của tánh tự tánh.

Song Đại Huệ! như thánh trí có tánh tự tánh, thánh tri, thánh kiến, thánh huệ nhãn, tánh tự tánh biết như vậy.

GIẢI

✅ Đoạn này nói Biến kế vốn không, Viên thành thật có, không rơi vào lỗi đoạn diệt.

Câu Như thế như thế là đưa ra lời xác nhận. Ý rằng nếu quả như Đại Huệ nói thì đó là lỗi đoạn diệt. Phật bảo, ta nói các pháp không tánh, là vì các pháp ấy xưa nay vắng lặng, chẳng phải như phàm ngu phân biệt cho là có thật. Đường dịch “Tất cả phàm ngu phân biệt các pháp, mà tánh các pháp chẳng phải có như vậy”. Đây chỉ là vọng chấp, không có tánh tướng, nên nói: Tự tánh vọng tưởng này, không có tướng của tánh tự tánh. Nghĩa là các pháp này chỉ là vọng tưởng phân biệt cho là có tự tánh, kỳ thật không có tướng tánh tự tánh như chỗ phân biệt kia đâu.

Nói các pháp không tánh ấy là chỉ không có vọng tưởng biến kế, há tuyệt không có chân tánh ư? Vả lại như tự giác thánh trí thật có tánh tự tánh. Đây là thánh trí, thánh kiến thánh huệ nhãn, thấy rõ biết rõ có tánh tự tánh, chẳng phải hoàn toàn không, cái gì là đoạn diệt? Đây là Y tha và chấp biến kế thì không, mà Viên thành thật có, chỉ là tướng có tánh không, tình có lý không vậy. Nên luận nói: Do các thứ biến kế, biến kế trên mọi vật. Biến kế sở chấp này, tự tánh không thật có, tự tánh của Y tha, do duyên phân biệt sanh, Viên thành đối việc này, thường lìa hai tánh trước.

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: Nếu như thánh dùng thánh huệ nhãn, thánh tri thánh kiến, chẳng phải thiên nhãn, chẳng phải nhục nhãn, tánh tự tánh biết như thế, chẳng phải như người ngu vọng tưởng. Thế Tôn, tại sao người ngu lìa được vọng tưởng này, họ không biết về thánh tánh?

GIẢI

✅ Đây nhân đoạn trên nói có thánh trí, nên trở lại vấn nạn Thế Tôn cũng rơi vào lỗi chấp có, đây là nạn vấn tự ngữ tương vi.

Ý của Đại Huệ cho rằng nếu ngoài vọng tưởng, quả có việc thánh trí, chấp nhận thánh tri thánh kiến huệ nhãn biết rõ thấy rõ, song chẳng phải thiên nhãn nhục nhãn có thể biết có thể thấy, mà lại chẳng phải cảnh giới vọng tưởng của ngu phu. Thế là người ngu có người lìa vọng tưởng, cũng có thể chấp nhận tri kiến của họ được. Vì sao người ngu lìa vọng tưởng lại không biết về thánh tánh? Đây là ý của Đại Huệ cho rằng Nhị thừa thuộc về hạng người ngu lìa được vọng tưởng, tại sao Thế Tôn từng trách các vị ấy không thấy Phật tánh? Ý nạn vấn về tự ngữ tương vi.

Sau đây, lần lượt đưa ra năm điều nạn vấn, để thành lập lỗi chấp có.

🪷

Thế Tôn! Những người ấy cũng chẳng điên đảo, chẳng không điên đảo. Vì sao? Vì không biết việc thánh tánh tự tánh, vì chẳng thấy lìa tướng có không.

GIẢI

Nạn vấn phàm thánh không phân biệt.

Chẳng điên đảo là thánh nhân, chẳng không điên đảo là người ngu. Ý Đại Huệ rằng: Nếu thánh trí thật có mà chẳng phải là cảnh giới tri giác, thì phàm ngu bất tri cũng có thể gọi là thánh nhân ư? Nên nói họ cũng chẳng điên đảo. Song phàm ngu hiện tiền bất giác, không thể thấy rõ, thì họ cũng là chẳng không điên đảo. Vì sao nói như thế? Vì đã nói có thánh trí mà không phải là cảnh sở tri, nay phàm ngu đối với sở tri đã chẳng biết không thể gọi là phàm; có mà không năng tri, thì không thể gọi là thánh. Điều này rơi vào lỗi phàm thánh chẳng phân.

🪷

Thế Tôn! Thánh cũng không thấy như vọng tưởng, vì chẳng lấy cảnh giới tự tướng làm cảnh giới.

Thế Tôn! Kia cũng vọng tưởng về tướng tánh tự tánh, tự tánh như thế hiện. Vì không nói là nhân hay vô nhân, nghĩa là vì rơi vào kiến chấp tánh tướng.

GIẢI

✅ Đây nạn vấn thánh nếu có thấy cũng rơi vào phàm tình.

Ý rằng: Phàm ngu chấp trước lấy tự cảnh giới làm cảnh giới, thánh nhân trí chiếu không giống phàm ngu, nên nói thánh cũng không thấy như vọng tưởng. Sở dĩ không giống, vì không dùng tự cảnh giới làm cảnh giới. Nay nếu thánh nhân thật có thánh trí để làm tự cảnh giới, thì không khỏi chấp trước. Đó gọi là, nếu còn thánh giải tức rơi vào phàm tình thì cũng đồng phàm ngu vọng kiến. Sở dĩ thánh cũng giống phàm là vì thánh trí ấy chấp cảnh giới có tự thể; vì chấp nhận việc biết rõ thấy rõ. Lại nếu đã có thể biết thấy, ắt cũng giống như cảnh giới vọng tưởng của phàm ngu. Nên nói: Kia cũng vọng tưởng về tướng tánh tự tánh, tự tánh như thế hiện. Kia, chỉ cho cảnh giới thánh trí. Vì sao? Vì trong Phật pháp không luận có nhân không nhân, chỉ có tri kiến, tức rơi vào pháp có. Nay thánh trí đã có tri kiến, há không giống với vọng kiến của phàm phu ư? Nên nói: Nghĩa là vì rơi vào kiến chấp tánh tướng.

Trên lập nạn vấn, dưới chỉ lỗi.

🪷

Cảnh giới khác, chẳng phải như những cảnh giới kia, như thế lỗi vô cùng. Thế Tôn! Vì không biết tướng tánh tự tánh.

GIẢI

✅ Đây giải thích nghĩa câu nạn vấn trên để thành lập lỗi.

Nghĩa là cảnh giới phàm phu các thứ sai biệt, không thể so sánh với cảnh giới thánh trí bình đẳng nhất như. Nên nói: Cảnh giới khác, chẳng phải như những cảnh giới kia. Ý rằng dù chấp nhận cảnh giới thánh trí giống với phàm phu, vậy là rơi vào lỗi nhiều nhân mà chỉ có một quả. Như thế nhiều nhân khác nhau mà chỉ cho một quả, thì nhân quả không phân, phá hoại tướng tam giới, chịu cái lỗi vô cùng. Vì sao? Vì nhân quả hỗn loạn phá hoại tướng các pháp, nên nói vì không biết tướng tánh tự tánh (không biết cũng có nghĩa là không phân biệt).

🪷

Thế Tôn! Tự tánh vọng tưởng cũng không nhân tánh tự tánh kia. Kia vì sao nơi vọng tưởng chẳng phải vọng tưởng mà như thật biết vọng tưởng.

GIẢI

✅ Đây căn cứ vào đoạn trước nói “vọng tưởng vô tánh, thánh trí hữu tri” để lập nạn vấn.

Ba câu trên, nạn vấn chung về không có cảnh sở tri. Một câu này, nạn vấn về không có tâm năng tri. Đại Huệ nhân Thế Tôn nói vọng tưởng vô tánh, lại nói như thật mà biết vọng tưởng vô tánh gọi là thánh trí. Ý rằng vọng tưởng sở dĩ vô tánh, vì không biết tướng tánh tự tánh. Nếu không biết tướng tánh tự tánh thì tự tánh vọng tưởng cũng không nhân nơi tướng tánh tự tánh của các pháp mà có. Nên nói tự tánh vọng tưởng chẳng phải nhân tướng tánh tự tánh.

Song vọng tưởng đã không, nhân nơi các pháp mà có, là không có cảnh sở tri. Đã không có cảnh sở tri thì không có tâm năng tri, đã không có tâm năng tri, thì thánh trí cũng vô tri. Há cái vô tri của thánh trí lại có thể phân biệt nơi vọng cảnh không thể phân biệt, mà nói thánh trí như thật biết vọng tưởng ư? Nên nói Kia vì sao nơi vọng tưởng chẳng phải vọng tưởng mà như thật biết vọng tưởng? Kia chỉ thánh trí. Ý nạn rằng: Nếu có cảnh để biết thì vọng tưởng không phải là vô tánh; nếu không có cảnh để biết thì thánh trí không phải là hữu tri; đã hữu tri tức chẳng phải chân tri. Chẳng phải chân tức là vọng, vọng thì không như thật biết, vì sao Thế Tôn nói có thánh trí như thật biết vọng tưởng.

✅ Đây là tâm cảnh đều có, tấn thối đều phi, lại rơi vào tự ngữ tương vi, đó gọi là chuốc lỗi vô cùng vậy.

🪷

Thế Tôn! Vọng tưởng khác (hai bản dịch đều nói tướng vọng tưởng khác) tướng tự tánh khác.

Thế Tôn! Vọng tưởng tự tánh tướng chẳng có nhân giống nhau, kia vì sao mỗi mỗi không vọng tưởng mà ngu phu chẳng như thật biết? Song vì chúng sanh lìa vọng tưởng nên nói như tướng vọng tưởng chẳng như thật có.

GIẢI

✅ Đây nhân đoạn trên nói thánh trí như thật biết vọng tưởng, để nạn vấn về chân vọng một khác.

Ý rằng thánh trí chỉ là một chân thật không hai, vọng tưởng là tâm cảnh nhiều thứ nên nói tướng vọng tưởng khác, tướng tự tánh khác. Sở dĩ vọng tưởng nhiều thứ sai biệt nhân vì các pháp có nhiều sai biệt; vì tâm nhân cảnh mà có. Đã nhân các thứ cảnh mà có các thứ tâm, mỗi mỗi vọng tưởng phân biệt mỗi mỗi pháp, nên nói: Vọng tưởng tự tánh tướng chẳng có nhân giống nhau.

Vọng tưởng tâm cảnh đã mỗi mỗi không giống, mà thánh trí chỉ là một, chỉ có thể chiếu một cảnh thôi, vì sao nơi mỗi mỗi tâm cảnh chẳng vọng tưởng mà nói như thật biết ư? Nếu thánh trí biết rõ thấy rõ mỗi mỗi tâm cảnh mà cho đó là biết như thật, thì người ngu phân biệt mỗi mỗi tâm cảnh đáng lẽ cũng là biết như thật. Vì sao lại nói người ngu không biết như thật? Nếu thánh trí quả như thật mà biết vọng tưởng, thì thánh trí thật có, mà vọng tưởng tâm cảnh cũng thật có. Cớ sao Thế Tôn lại vì muốn khiến chúng sanh lìa vọng tưởng, nói tướng vọng tưởng của chư pháp không có như thật?

Đoạn trước nạn vấn thánh trí nếu có biết thì thánh rơi vào phàm tình, đây nạn vấn vọng tưởng nếu như thật biết thì phàm ngu đồng thánh giải. Chẳng những chân vọng chẳng phân, còn rơi vào chỗ nhiều lỗi. Vì sao? Nếu thánh trí có thật thì rơi vào hữu kiến, nếu vọng tưởng không thật có, thì lại rơi vào lỗi tự ngữ tương vi vì thánh trí như thật biết vọng tưởng.

Thế Tôn! Vì sao ngăn chúng sanh chấp trước về kiến chấp sự tự tánh Có Không, mà lại chấp trước cảnh giới thánh trí, rơi vào hữu kiến.

✅ Đây nhân hai nạn vấn trên kết luận Thế Tôn cũng rơi vào lỗi hữu kiến.

Nghĩa là Thế Tôn nói thánh trí là thật có, ắt rơi vào lỗi chấp có. Vì sao Thế Tôn chỉ ngăn chúng sanh đối với kiến chấp Có Không, không cho chấp trước sự tự tánh, mà trở lại sanh chấp trước nơi cảnh giới sở hành của thánh trí, rơi vào hữu kiến ư?

Nói pháp không, chẳng phải tánh, mà nói việc thánh trí tự tánh.

✅ Đây là tổng kết năm câu hỏi, để thành lập Thế Tôn cũng rơi vào nhị kiến có không.

Nghĩa là Thế Tôn nói các pháp vọng tưởng không, vô tự tánh, là rơi vào không; nói về tự tánh thánh trí là rơi vào có. Thế là Thế Tôn cũng rơi vào hai kiến chấp có không. Vì sao chỉ ngăn chúng sanh thôi?

Năm nạn vấn trên là điều nghi của thường tình, là theo lời mà chấp nghĩa. Đại Huệ thương xót việc này, nên dự kiến lập nạn vấn, mong đức Thế Tôn giảng kỹ, để dẹp trừ cái nghi tối tăm. Đâu phải Đại Huệ ngu muội mà khởi lên các thứ lầm chấp, phàm các nạn vấn, ý đều kể ra ở đây, người xem nên biết.

Phật bảo: Đại Huệ! Chẳng phải ta nói pháp không, chẳng có tánh, ta cũng không rơi vào kiến chấp hữu mà nói việc thánh trí tự tánh, chỉ vì muốn chúng sanh lìa sợ hãi. Chúng sanh từ vô thỉ đến nay chấp trước về tánh, tự tánh tướng, chấp trước về kiến tướng của thánh trí tự tánh, nên ta nói pháp không.

Đại Huệ! Ta không nói tướng tánh tự tánh.

Phần này và phần văn sau, đáp chung ý năm câu nạn vấn.

Bởi vì Đại Huệ tuy đưa lần lượt có năm câu hỏi, mà ý chánh chỉ nạn vấn Thế Tôn cũng rơi vào kiến chấp có không. Nên ở đây Thế Tôn đáp rằng: Ta nói pháp không, không rơi vào vô kiến, nói có thánh trí cũng không rơi vào hữu kiến. Sở dĩ ta nói việc thánh trí tự tánh, là vì chúng sanh nghe nói các pháp không tánh, bèn khởi lên sợ hãi đoạn diệt, nên ta nói thánh trí sự là thật có, chỉ muốn chúng sanh lìa nỗi sợ đoạn diệt thôi, chẳng phải ta rơi vào kiến chấp Có.

Còn sở dĩ ta nói các pháp không, là vì chúng sanh từ xưa đến nay vọng chấp các pháp, chấp có tánh tự tánh tướng, mà đối với thánh trí lìa tướng cảnh giới, cũng chấp cho là tướng kiến, vọng sanh chấp trước.

Nên ta nói pháp không, khiến kia xa lìa hai kiến Có Không, chẳng phải ta rơi vào kiến chấp không. Điều ta nói, không những nói pháp sanh tử không tự tánh mà thánh trí sự cũng không tự tánh tướng, nên nói ta không nói tướng tánh tự tánh.

✅ Đây chính là “Hoặc có hoặc không có, cả hai thảy đều lìa”. Văn sau nói.

Đại Huệ! Ta chỉ trụ như thật tự đắc pháp không, lìa kiến tướng hoặc loạn, lìa kiến chấp tự tâm hiện tánh phi tánh, được tam giải thoát như thật ấn sở ấn, ở nơi tánh tự tánh được duyên tự giác quán sát trụ, lìa kiến tướng Có Không.

✅ Đây tổng kết ý đáp, để hiển bày ngôn ngữ chẳng sanh tâm.

Nghĩa là ta chẳng nói các pháp nhất định là có hay nhất định là không, mà chỉ nói chỗ trụ của ta là pháp tự đắc như thật chứng, khiến họ nghe rồi, lìa các kiến tướng vọng tưởng hoặc loạn, không sanh e sợ, thấy được cảnh giới chân như vô tướng. Biết chỗ thấy kia ngoài tâm không pháp, nên nói lìa tự tâm hiện tánh phi tánh, ngộ được ba môn giải thoát, được ấn như thật để ấn định các pháp. Bởi dùng tự giác thánh trí quán sát, thấy tự tánh của pháp, xa lìa tất cả chấp trước về Có Không, nên nói ở nơi tánh tự tánh được trụ vào duyên tự giác quán sát, lìa mọi kiến tướng có không. Ta nói pháp là vì khiến chúng sanh như thế mà thôi, chẳng phải ta rơi vào kiến chấp Có Không.

Kinh Tịnh Danh nói “Thuyết pháp chẳng có cũng chẳng không. Do nhân duyên nên các pháp sanh”. Vì Như Lai thuyết pháp ứng cơ phá chấp, vốn không có pháp nhất định.

✅ Đây là nghi thức thuyết pháp của ba đời chư Phật.

  • Trên dẹp cảnh sự sở quán xong.

  • Dưới dẹp cảnh lý sở quán.

K₂ - Dẹp cảnh lý sở quán

Lại nữa Đại Huệ! Tất cả pháp bất sanh, Đại Bồ tát không nên lập tông 1 này.

✅ Đây nói tất cả các pháp vốn tự vô sanh, ý răn người nghe không nên khởi kiến chấp, để hiển bày dứt cảnh. Thế Tôn đặc biệt chỉ dụ như thế, mãnh liệt mà cáo thị, ý rất sâu xa. Bởi tất cả ngoại đạo nhị thừa đều rơi vào lưới kiến chấp sanh diệt, không thể ra khỏi, nên Thế Tôn của ta trên hội Lăng-già, riêng hiển bày vô sanh để phá sanh kiến của họ. Quyển đầu tiên là hiển lý rốt ráo, đặc biệt nói “không, vô sanh, không hai, lìa tướng tự tánh”. Dạy rằng phải nên y cứ vào nghĩa, đừng chấp trước ngôn thuyết để kết thúc chỉ bày. Rồi đến Đại Huệ không thể lìa tướng ngôn thuyết, lại đưa các nghi nạn về ngôn thuyết đệ nhất nghĩa… cho đến tiếng “Thường”, để thỉnh vấn. Phật dùng vô sanh như huyễn trả lời vấn đề.

Đại Huệ lại nghi Phật tự ngữ tương vi, Thế Tôn đặc biệt chỉ dạy, dùng danh cú hình thân vốn không tự thể, để hiển bày chỗ nói mà không nói của Như Lai. Ngài sợ họ không thông đạt nghĩa “Bất thuyết”, lại dùng bốn thứ ký luận dạy bảo rõ ràng, nhân đó chỉ thẳng nói rằng: Tất cả pháp chẳng sanh không cho khởi kiến chấp, để hiển bày tướng lìa ngôn thuyết.

✅ Đây là Thế Tôn hết sức vì người bày tỏ tâm can rồi.

Đại Huệ! Rốt cuộc sanh diệt chẳng tiêu, lớp lớp khởi kiến. Thế tôn lại thêm lớp lớp phá trừ, cho đến trên đây lại dùng tương tục giải thoát để thỉnh vấn, Thế Tôn đáp rằng: Tất cả tương tục chẳng sanh, vốn không có tương tục chẳng tương tục. Đến đây chẳng những kiến chấp sanh diệt khô cạn, còn muốn thánh phàm tình tận, có thể nói là đầu sào trăm trượng lại tiến thêm một bước. Song Đại Huệ vẫn còn mờ mịt, thậm chí nghi Phật cũng rơi vào hai kiến chấp Có Không. Thế Tôn đáp rằng ta tuy nói Có, Không mà chẳng rơi vào Có, Không vì ý chẳng tại lời. Ta thuyết pháp dùng ấn như thật mà ấn định các pháp để hiển thị ngôn ngữ chẳng sanh tâm. Đến đây ý chỉ vô sanh rõ ràng như trắng đen.

Thế Tôn thương cho người nghe rơi vào chỗ theo lời sanh hiểu, ắt là chấp vô sanh cho là thật có, lập ra quyết định có một chủ ý vô sanh mà khởi lên kiến chấp, như thế lại rơi vào ngoại đạo tà kiến. Nên ở chỗ cấp bách này một phen nêu ra, mãnh liệt dặn dò: Ta nói tất cả pháp bất sanh, các đệ tử ta không nên lập tông ấy. Do trong pháp này vừa có mảy may ý kiến, liền rơi vào sào huyệt của sanh tử, tức là hàng ngoại đạo trong Phật pháp. Thế nên Lục tổ nói với Vĩnh Gia rằng:

Ông rất được ý vô sanh. Vĩnh Gia hỏi:

Vô sanh há có ý sao? Tổ nói:

Không ý thì ai đang phân biệt đây. Vĩnh Gia nói:

Phân biệt cũng chẳng phải ý. Tổ nói:

Như thế như thế.

Vì sao? Vì tông tất cả tánh phi tánh, và vì nhân sanh tướng.

✅ Đây giải thích chỗ lập tông bất sanh của ngoại đạo có hai lỗi.

Nghĩa là lối chấp của ngoại đạo không ra khỏi nhị kiến đoạn thường, cho nên chỗ lập tông bất sanh có hai: Một là vọng chấp các pháp tuyệt nhiên đoạn diệt, cho đó là bất sanh, nên nói: Tất cả tánh phi tánh.

✅ Đây là Đoạn kiến.

Hai là chấp riêng có Dị nhân hay sanh các pháp, cho đó là Tác giả. Như ở Trung Hoa, Trang Chu nói: “Sanh sanh giả bất sanh”, cho là cái bất sanh hay sanh vạn pháp, chính như ở Ấn Độ hàng ngoại đạo nói: “Tác giả bất sanh là sanh nhân”.

Nghĩa là nếu họ nói Bất sanh đã là sanh nhân, nhân này tức là sanh tướng, nên nói: Và vì nhân sanh tướng.

✅ Đây là Thường kiến.

Cả hai đều không ra khỏi lưới sanh tử nên Thế Tôn răn bảo không nên lập tông này, chỉ vì sợ đồng với kiến chấp của ngoại đạo.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Chẳng phải mỗi mỗi vọng tưởng lập tông tất cả pháp bất sanh ư? Vì tông nghĩa ấy có nơi tất cả tánh.

✅ Đây vấn nạn về lẽ chân vọng không khác.

Đại Huệ vấn rằng: Chư Phật Bồ tát và hàng ngoại đạo tuy đồng nói bất sanh, song ngoại đạo thì do vọng tưởng mỗi mỗi phân biệt mà lập ra tông này; Phật Bồ tát thì do duy tâm hiện lượng quán thấy tánh của tất cả pháp vốn tự vô sanh mà lập ra tông này. Ý rằng năng lập của phàm và thánh dù khác, mà cái sở lập “Bất sanh” này đều có nơi tánh của tất cả pháp, như vậy thánh cũng đồng với vọng tưởng của phàm ư? Nghĩa là phàm thánh chẳng khác. Đường dịch: “Thế Tôn! Há chẳng phải do mỗi mỗi phân biệt lập tất cả pháp bất sanh ư?”

Sau đây Phật đáp, tuy lời nói giống nhau mà tâm chấp khác nhau.

Phật bảo Đại Huệ: Nếu lập tông tất cả pháp bất sanh, thì tông ấy bị phá. Vì sao? Vì宗 là thành lập, nghĩa tông có nơi tất cả tánh, vì lời lập tông sanh.

✅ Đây đáp về lỗi lập tông thì rơi vào sanh tướng.

Lại vì tông bất sanh của họ vào tất cả pháp. Vì tướng bất hoại bất sanh, lập tông tất cả pháp bất sanh, thuyết ấy ắt hoại.

✅ Đây chỉ ra lý do tông kia có lỗi, dùng chánh pháp giản trạch.

Bởi tông họ sở dĩ hoại, vì chỗ lập tông bất sanh rơi vào có không, đoạn thường… tất cả pháp. Vả lại tất cả pháp đều là sanh diệt vô thường, mà họ y cứ vào có không để lập tông. Kỳ thật khi pháp chưa sanh, tuy họ nói bất sanh mà nghĩa thật sanh, nên rơi vào lỗi tự giáo tương vi, là trái tự tông. Vì thế nói Vì tông bất sanh kia vào tất cả pháp.

Nếu dùng chánh pháp giản trạch thì pháp của ta dùng tướng bất hoại làm bất sanh, dùng sanh tức vô sanh. Còn họ dùng tướng hoại làm bất sanh, song đã là tướng hoại là vô thường, há thật là vô sanh ư? Bởi tướng hoại của họ dùng đoạn diệt làm bất sanh, là hoại sanh tướng, dùng bất sanh làm năng sanh, là hoại tướng bất sanh. Nay dùng tướng bất hoại của ta để phân biệt, nên chỗ họ lập tông “Tất cả pháp bất sanh”, thuyết của họ ắt hoại, vì vọng chấp của họ không ra khỏi sanh pháp hữu vô. Văn sau nêu ra lý do.

Đại Huệ! Tông hữu vô bất sanh, tông kia vào tất cả tánh, tướng có không không thể được.

✅ Đây nói lý do tông kia hoại.

Nghĩa là ta nói tông kia ắt là hoại, do họ chấp hữu, vô đều bất sanh, nên y cứ vào đó mà lập tông. Vì tất cả pháp sanh diệt không ra ngoài hữu vô, thế là chỗ lập tông của họ tức vào trong tất cả pháp. Vả lại các pháp vốn không, dù có dù không đều chẳng thể được, thì họ y cứ vào nơi đâu mà lập tông? Cho nên ta nói tông họ ắt hoại.

Đường dịch: “Tông của họ pháp có pháp không đều bất sanh, tông này tức vào trong tất cả pháp, vì tướng có tướng không cũng bất sanh”. Cũng bất sanh nghĩa là dù có dù không cũng vốn chẳng có.

Đại Huệ! Nếu khiến tông bất sanh ấy, tất cả tánh chẳng sanh mà lập tông. Nếu như thế tông kia hoại, vì tánh tướng có không chẳng sanh. Không nên lập tông vì năm phần luận nhiều lỗi, vì nhân triển chuyển tướng khác, và vì tạo tác, không nên lập tông phần.

✅ Đây dùng nhân tướng trong chánh giáo giản trạch tông tà để thành lập lỗi kia, kết thúc nghĩa không chấp nhận lập tông.

Chữ nếu khiến cũng là giả sử. Phật nói rằng, giả sử tông của họ y cứ tất cả tánh mà lập tông, như thế thì tông họ tự hoại, vì tất cả pháp tánh tướng có không vốn tự bất sanh.

Do tất cả pháp vốn tự vô sanh, cần gì lại dùng sự lập tông của họ? Cho nên họ không nên y cứ vào đó mà lập tông.

Bởi vì chỗ lập tông của họ, nếu dùng năm phần luận trong chánh giáo nhân minh để xem xét, thì họ phạm nhiều lỗi. Vì nhân tướng triển chuyển cùng tông không hợp, vì có nhiều tướng khác, không những nhân cùng với tông chẳng hợp, mà tự thể của tông cũng chẳng thành tựu. Vì sao? Vì họ chấp tác giả là bất sanh. Thế nên ta nói, dạy các đệ tử đối với nghĩa bất sanh không nên lại lập tông phần.

Năm phần luận nhiều lỗi ấy là: Năm phần là Tông - Nhân - Dụ - Hợp - Kết. Nhiều lỗi là Tông có chín lỗi, nhân có mười bốn lỗi, Đồng dụ có năm lỗi, Dị dụ có năm lỗi, cộng lại ba mươi ba lỗi. Ngoại đạo lập có ba chi. Nếu đem chánh pháp để giản biện, thì dù chỉ còn một lỗi chưa phá cũng thuộc tông tà. Vì đem Nhân Dụ để lập thành tông thể, nên nhân không chuyển dụ không hợp, đều không thành tông. Nên nói vì nhân triển chuyển tướng khác, và vì sở tác, thành ra nhiều lỗi. Vì vậy không nên lập tông. Nghĩa của năm phần đầy đủ trong Nhân Minh nhập chánh lý luận, vì nghĩa rộng, sợ phiền không nêu ra đầy đủ. Biết điều này, thì có thể định được cương tông của Phật pháp, xô dẹp tà kiến. Người đọc nên tham khảo luận kia, biết được ý chỉ.

Cho rằng tất cả pháp bất sanh, như thế tất cả pháp không, như thế tất cả pháp vô tự tánh, không nên lập tông.

✅ Đây là tổng kết nghĩa trước.

Trước đã nói không, vô sanh, không hai, lìa tự tánh tướng, nay nói bất sanh đã chẳng nên lập tông, thì hoặc không, hoặc vô tánh đều chẳng nên lập tông.

Vì chỉ có ngôn thuyết, đều không thật nghĩa, phàm có phân biệt, đều chẳng phải tri kiến như thật.

Đại Huệ! Song bậc đại Bồ tát nói tất cả pháp như huyễn mộng, vì tướng hiện và chẳng hiện, và vì lỗi thấy giác tưởng.

Nên nói tất cả pháp như tánh huyễn mộng. Trừ vì người ngu lìa khủng bố.

Đại Huệ! Người ngu rơi vào kiến chấp có không, chớ khiến họ kinh sợ, xa lìa đại thừa.

✅ Đây là Như Lai dạy các Bồ tát nghi thức thuyết pháp.

❔ HỎI:

Bồ tát ở nơi pháp bất sanh đã chẳng nên lập tông, phải nói những pháp nào?

📣 ĐÁP:

Bồ tát nên nói tất cả pháp như huyễn mộng, vì hiện và chẳng hiện. Huyễn mộng tuy hiện kỳ thật chẳng hiện, ý hiển bày các pháp tuy sanh kỳ thật vô sanh.

Các pháp vốn tự bất sanh, mà hiện có sanh ấy, chẳng phải sanh, chỉ là lỗi vọng kiến giác của chúng sanh, vọng thấy có sanh.

Nên phải nói tất cả pháp như tánh huyễn mộng, không thể nói tất cả pháp thật có bất sanh. Song cũng có khi nói bất sanh, vì khiến phàm phu lìa sợ hãi, bất đắc dĩ dùng bất sanh để đoạn kiến chấp sanh của họ. Vì tất cả pháp bất sanh, chẳng cho có nói năng, khởi tâm động niệm tức rơi vào sanh tử.

Song vì ngu phu nói bất sanh, nhân ngu phu một bề chấp chặt pháp thật có thật không, nay chỉ nghe nói như huyễn như mộng liền sanh sợ sệt, ắt xa lìa Đại thừa, đoạn mất hột giống Phật.

Nếu như chẳng dùng câu “bất sanh” tùy cơ mà khai đạo họ, thì đối với Phật pháp tuyệt phần, mà Bồ tát cũng mất từ bi, nên nói “Người ngu rơi vào kiến chấp có không, chớ khiến họ kinh sợ, xa lìa Đại thừa”.

Bồ tát thuyết pháp như thế, thì được tướng nhị thông.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Không tự tánh, không thuyết

Không sự, không tương tục

Người ngu kia vọng tưởng

Như tử thi, ác giác.

(Đường dịch: Nên biết như tử thi)

Tất cả pháp bất sanh

Chẳng phải tông ngoại đạo

Đến tột không chỗ sanh

Tánh duyên được thành tựu.

Tất cả pháp bất sanh

Người trí không nên tưởng

Vì tông kia nhân sanh

Người trí thảy trừ diệt.

✅ Đây tụng chung về năm nạn vấn, không, vô sanh, vô tự tánh, vốn lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm duyên, để rõ ngoại đạo không nên lập tông.

Không sự tức là không, vì các pháp vốn không, nên không tương tục, vì người ngu vọng tưởng ở nơi chẳng thật chấp là thật. Ác giác như thế, như thây chết vô tri, chỉ luống tăng thêm ô uế thôi. Thế là không, vô tự tánh, không thể nghĩ bàn, nghĩa “bất sanh” há cho phép ngoại đạo vọng chấp mà nêu tông chỉ ư? Do họ lập “bất sanh” đến chỗ pháp rốt ráo đoạn diệt không chỗ sanh, do không hiểu được duyên sanh vô tánh, vô tánh duyên sanh nên nói đến tột không chỗ sanh. Chữ “tánh” trong câu tánh duyên được thành tựu nghĩa bao trùm cả câu trên.

Bản Đường dịch: “Do kia có chỗ sanh, vì chẳng do duyên thành”. Bởi ý nghĩa tất cả pháp bất sanh, chỉ có bậc trí quên tâm thầm hợp mà thôi, không nên khởi tưởng. Huống gì tông kia, nhân nơi sanh tướng mà thành lập, không phải thật là “bất sanh” nên nói Người trí thảy trừ diệt. Vì bất sanh của họ cũng là sanh tướng.

Giống như người nhặm mắt Thấy lầm có tóc rủ Chấp trước tánh cũng thế Người ngu vọng tưởng tà. Lập bày nơi ba cõi Không có sự tự tánh Mà lập sự tự tánh Suy nghĩ khởi vọng tưởng. Tướng sự lập ngôn giáo Ý rối loạn xao động Phật tử hay vượt thoát Xa lìa các vọng tưởng.

✅ Đây tụng các pháp vốn không, mà chỉ vì vọng tưởng thấy có, để răn đệ tử Phật không nên khởi kiến.

Trong hư không vốn chẳng vòng tóc, do mắt bệnh mới có, để dụ cho trong mé chân vốn không có các pháp ba cõi, nhân do vọng tưởng chấp trước. Người ngu chỉ chấp giả danh, loạn động tâm thức, bậc đầy đủ tri kiến chân chánh nên xa lìa vậy.

Đường dịch: “Ba cõi chỉ giả danh, không có pháp thể thật. Do đây giả lập bày, phân biệt vọng chấp trước, các sự tướng giả danh, làm rối loạn tâm thức, Phật tử thảy lìa lỗi, dạo chốn vô phân biệt”.

Chẳng phải nước tưởng nước

Đây từ khát ái sanh Người ngu lầm như thế

Bậc Thánh không như vậy. Thánh nhân thấy thanh tịnh

Sanh giải thoát tam-muội Xa lìa nơi sanh diệt

Dạo chốn vô sở hữu. Tu hành vô sở hữu

Cũng không tánh phi tánh Tánh phi tánh bình đẳng

Từ đây sanh Thánh quả.

✅ Đây tụng nói về tướng ba cõi không khác mà cái thấy của Thánh phàm có khác.

Bởi ba cõi vốn không có thật pháp mà người ngu vọng thấy là thật có, như nắng lòa chẳng phải nước mà khởi tưởng nước, là từ khát ái sanh. Người ngu như thế, Thánh trí há cũng như vậy ư? Do thánh kiến thanh tịnh nên thấy ba cõi rỗng rang không một vật, ngay đây liền chứng Giải thoát tam-muội, xa lìa sanh diệt.

Đường dịch: Thường hành cảnh vô tướng, tu hành cảnh vô tướng, cũng lại không hữu vô, có không thảy bình đẳng, cho nên sanh thánh quả.

Do phàm phu chỗ thấy sai biệt, nên có nghiệp quả tiếp nối. Thánh nhân thấy ba cõi không khác nên sanh Thánh quả. Vì vậy kinh nói: Chẳng như ba cõi mà thấy ba cõi.

Thế nào tánh phi tánh?

Thế nào là bình đẳng?

Vì tâm kia không biết

Trong ngoài rất phiêu động.

Nếu hay hoại điều đó

Ắt tâm thấy bình đẳng.

Bài tụng này giải thích nghĩa trên, để nói rõ thánh phàm bình đẳng. Nghĩa là ba cõi là một, vì sao phàm ngu thấy có thấy không, vì sao thánh nhân thấy bình đẳng? Vì người ngu kia không rõ ba cõi vốn không, vọng chấp tâm cảnh cho là thật có, nên trong ngoài rất phiêu động. Nếu có thể biết rõ điều này, thì ngay đó bình đẳng. Bình đẳng là tên khác của tịch diệt. ghĩa là chưa thấu đạt cảnh duy tâm, khởi lên các thứ phân biệt, thấu đạt cảnh duy tâm rồi, phân biệt liền chẳng sanh.

  • Trên dẹp cảnh sở quán xong.

  • Dưới dẹp trí năng quán.

I₂ - Dẹp trí năng quán.

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng:

  • Thế Tôn! Như Thế Tôn nói như việc phan duyên trí huệ chẳng được, là lượng lập bày sắp xếp dựng lập. Sở nhiếp thọ phi tánh, năng nhiếp thọ cũng phi tánh, vì không nhiếp thọ nên trí chẳng sanh, chỉ lập bày danh tự thôi. (Đường dịch: Như Phật nói, nếu biết cảnh giới chỉ là giả danh đều không thể được, thì không sở thủ, vì không sở thủ nên không năng thủ, vì năng thủ sở thủ cả hai đều không, không khởi phân biệt gọi đó là trí).

Trên biện biệt vọng tưởng vô tánh rồi, đây Đại Huệ lý luận về việc Phật một phen nói cảnh giới thánh trí, để phân biệt thánh trí vô tri.

Ngụy dịch: “Như Thế Tôn nói trí huệ quan sát không thể thấy cảnh giới các pháp hiện tiền, cho đến như thật giác tri, không pháp sở thủ, cũng không năng thủ. Cho nên trí cũng không thể phân biệt mà nhận biết”, nên nói trí ắt chẳng sanh. Bởi việc phan duyên là cảnh giới hiện tiền, các pháp là tướng. Đoạn trước nói được tướng bất đắc là trí, trí sở dĩ là tướng bất đắc, vì tất cả cảnh giới chỉ là vọng tưởng thi thiết lập bày, vốn không có tánh năng thủ sở thủ.

Đã không có cảnh để nhận, dù có chân trí, thì phân biệt được cái gì mà nhận biết? Nên nói vì không nhiếp thọ nên trí chẳng sanh. Há chẳng biết cảnh giới vọng tưởng như bóng tối, trí huệ như ánh sáng, sáng tới thì tối tự lui, chẳng phải có tối cùng với sáng đối đãi. Cho nên nói thánh trí vô tri, là vì không có cảnh được biết, thì trí biết cảnh cũng mất. Vì không có tướng năng thủ sở thủ nên nói chẳng được tướng.

Đó là “Duy chỉ riêng còn trí như như, chẳng phải tuyệt nhiên vô tri”. Như thế, tự hồ Đại Huệ không biết được ý nghĩa tướng thánh trí bất đắc, cho là có cảnh và tướng đối đãi nhau. Vì sao bất đắc? Ắt cho là biết cảnh mới gọi là trí. Nên ở đây khởi nghi, nêu lại nghĩa trước để vấn nạn.

Phần sau đặt nghi vấn.

Thưa Thế Tôn! Vì sao? Vì là tánh bất giác tự tướng cộng tướng khác và chẳng khác nên trí bất đắc ư? Vì là tự tướng cộng tướng các thứ tánh tự tánh tướng ẩn dấu nên trí bất đắc ư? Vì núi non vách đá, đất nước lửa gió chướng ngại nên trí bất đắc ư? Vì quá gần quá xa nên trí bất đắc ư? Vì già trẻ mê mờ các căn chẳng đủ nên trí bất đắc ư?

✅ Đây đặt nghi vấn.

Câu tánh bất giác… nghĩa là hoàn toàn không biết cảnh giới kia. Tự tướng… ẩn dấu, cũng nói là ẩn mất chẳng hiện, nghĩa là hoàn toàn không có cảnh khả tri làm đối đãi. Núi vách… chướng ngại nghĩa là biết không thấu triệt. Quá xa sức con mắt khó thấu, quá gần nhỏ nhiệm khó biết. Các căn chẳng đủ là đui điếc không biết, già trẻ là không thể biết rõ tường tận mỗi pháp. Đại Huệ nghi về tướng trí bất đắc là đều do năm việc này mà bất đắc ư? Dưới đây gạn hỏi.

Thế Tôn! Nếu vì bất giác tự tướng cộng tướng khác chẳng khác mà trí bất đắc thì không nên gọi là trí, mà gọi là vô trí, vì có việc chẳng được.

✅ Đây là một nạn vấn.

Nghĩa là nếu hoàn toàn không biết cảnh kia vì bất đắc, đây ắt không gọi là trí nên gọi là vô trí, vì có cảnh giới mà chẳng biết.

Nếu lại vì các thứ tự tướng cộng tướng tánh tự tánh tướng che giấu nên trí bất đắc. Đó cũng là vô trí, chẳng phải là trí.

Thế Tôn! Vì có sở tri nên trí sanh, chẳng phải vô tánh mà biết được cảnh sở tri nên gọi là trí.

✅ Đây là nạn vấn thứ hai.

Nghĩa là nếu hoàn toàn không có cảnh giới khả tri để đối đãi vì bất đắc, đây cũng chẳng phải trí. Vì sao? Vì có cảnh sở tri nên trí sanh, chẳng phải không có tánh năng tri kết hợp với cảnh sở tri mà lại cho là trí ư? Đường dịch: Đây cũng chẳng phải trí, vì biết cảnh mới gọi là trí, chẳng phải bất tri.

Nếu vì núi non, vách đá, đất, nước, lửa, gió, cảnh quá xa quá gần, già, trẻ, đui, điếc, các căn không đủ mà trí bất đắc. ✅ Đây cũng chẳng phải là trí mà phải là vô trí, vì có việc mà không nhận được.

✅ Đây gom chung nạn vấn thứ ba, thứ tư.

Nghĩa là trên thế giới thì núi non vách đá, tứ đại… các việc hoặc quá xa mà mắt không đến, hoặc quá gần mà bị chướng ngại, tứ đại ngăn trở. ✅ Đây là biết mà không thấu triệt. Nơi chúng sanh thì già, trẻ, đui, điếc không hiểu biết, hoặc các căn chẳng đủ không thể biết hết. Nếu do những thứ này mà chẳng biết được, đây thì cũng chẳng phải trí mà là vô trí vì có việc mà không biết.

Đường dịch: Kia cũng chẳng phải trí, vì có cảnh giới trí chẳng đầy đủ nên chẳng biết.

✅ Đây là ý Đại Huệ! cho rằng không biết các cảnh là vô trí, ắt muốn cho là thấy cảnh mới là trí. Sau đây Phật bác bỏ.

Phật bảo Đại Huệ: Chẳng phải vậy, vô trí nên là trí chẳng phải chẳng trí. Ta chẳng nói về việc ẩn dấu phan duyên mà trí huệ bất đắc như thế, đó là việc thi thiết lập bày.

✅ Đây đáp mà khiển trách chỗ nghi là phi lượng.

Ý Phật rằng đâu phải chẳng nhận được tiền cảnh là vô trí ư? Nên biết cái vô trí này thật là trí, chẳng phải vô trí.

Bởi chỗ ta nói về tướng trí bất đắc ấy, chẳng phải nói vì thật có tiền cảnh bị che giấu mà nói trí huệ bất đắc.

Nếu chấp về tiền cảnh mất tướng bị che giấu nên trí huệ bất đắc, là vọng tưởng lập bày chẳng phải trí huệ.

Trên quở lỗi, dưới chính đáp.

Giác tự tâm hiện lượng, có không có, ngoại tánh phi tánh biết mà việc bất đắc, vì bất đắc nên trí nơi cảnh sở tri chẳng sanh, thuận theo tam giải thoát, trí cũng bất đắc, chẳng phải người vọng tưởng do chấp trước từ vô thỉ tánh phi tánh tập khí trí hư dối tạo nên cái biết như vậy. Cái biết này là biết mà không biết. Vì thế đối với việc bên ngoài chỗ tướng tánh vô tánh vọng tưởng chẳng dứt, tự tâm hiện lượng dựng lập, nói ngã ngã sở tướng chấp trước nhiếp thọ.

✅ Đây là chính đáp thật nghĩa.

Phật nói: Ta nói trí bất đắc ấy vì ta đã biết tất cả ngoại pháp dù có dù không, đều không tự tánh, chỉ là tự tâm hiện lượng thảy đều vắng lặng, vì không có cảnh giới để đối đãi với trí. Ta biết việc như vậy, nên nói trí bất đắc.

Nên nói: Giác tự tâm hiện lượng có không có, ngoại tánh phi tánh, biết mà việc bất đắc.

Đã không có cảnh để đối tâm thì cảnh như, cũng không có tâm biết cảnh, tâm cũng như. Tâm cảnh đều như, đều bất khả đắc, vì tâm cảnh đều bất khả đắc nên trí không sanh ra sở tri. Cảnh bất khả đắc thì cảnh chẳng sanh, tâm bất khả đắc thì trí chẳng sanh, tâm cảnh không sanh, thì thuận theo tam giải thoát. Tam giải thoát là không, vô tướng, vô nguyện. Thuận là nhập. Vì tam giải thoát chẳng phải trí không thể vào, đã nhập rồi thì trí thể đều quên, nên nói trí cũng bất đắc. ✅ Đây chính là “Thánh trí vô tri”. Chỗ trí vô tri này, không phải hàng phàm ngu vọng tưởng dùng thứ trí hư ngụy hí luận huân tập từ vô thỉ có thể biết. Cái tri quên tri này, chẳng phải chỗ biết của phàm ngu, nên nói cái biết này là biết mà không biết. Do không biết cái tri vô tri, nên đối với hình tướng của cảnh bên ngoài, dùng vọng tưởng phân biệt có không, nối tiếp chẳng dứt. Ngụy dịch “Vì lìa tâm hư vọng như thế nên nói tất cả pháp chỉ tự tâm hiện, vì chấp trước ngã ngã sở tướng nhiếp thọ chấp trước”.

Không biết tự tâm hiện lượng, đối với trí nhĩ diệm mà khởi vọng tưởng, vì vọng tưởng nên ngoại tánh phi tánh quan sát không được, nương nơi đoạn kiến.

✅ Đây trách Đại Huệ không biết như thật mà khởi kiến chấp vô trí đoạn diệt.

Do không thấu đạt ngã ngã sở, các pháp tự tâm hiện lượng nên với trí, với cảnh khởi lên vọng tưởng.

Vì vọng tưởng nên thấy có thấy không, chẳng được thật nghĩa, bèn đối với trí, cảnh y cứ vào kiến chấp đoạn diệt mà khởi phân biệt.

✅ Đây đều không rành về nhị thông, không đạt được thật nghĩa, nên vọng dấy tà trí, nên văn sau dùng nhị thông để kết trách đó.

Bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ:

Có các việc phan duyên

Trí huệ chẳng quán sát

Vô trí chẳng phải trí

Là kẻ vọng tưởng nói.

✅ Đây tụng chung trách chỗ nghi.

Nghĩa là nếu thật có cảnh giới phan duyên mà nói trí huệ chẳng quán sát, tức là vọng phân biệt, lấy vô trí làm chẳng phải trí. Đây đều là vọng tưởng ngu phu nói, chẳng phải bậc trí sáng.

🪷

Đối tướng tánh bất dị

Trí huệ chẳng quán sát

Chướng ngại và xa gần

Đây gọi là tà trí

GIẢI

✅ Đây gồm tụng ba nạn vấn, quở chung là tà trí không phải chánh kiến.

🪷

Già trẻ các căn mù

Mà trí huệ chẳng sanh

Mà thật có sở tri

Là cũng nói tà trí

GIẢI

✅ Đây tụng về câu hỏi thứ tư, hợp với ba câu hỏi trước, đều lấy nghĩa là “có cảnh giới sở tri mới gọi là trí” mà khiển trách chung rằng “Đây cũng gọi là tà trí”.

Vì nếu thật có sở tri cũng là lời tà, đủ biết sở tri cũng không.

  • Trên đây hai chấp đã phá, hai chướng đã tịnh, trí hạnh đã tròn.

  • Phần sau nói rõ quên lời thuận chứng để hiển quả hái lìa duyên.

H₄ - Quên lời thuận chứng để hiển quả hái lìa duyên.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Ngu si phàm phu, bị vọng tưởng ác tập hư ngụy từ vô thủy xoay chuyển. Khi xoay chuyển không khéo liễu tri, tự tông thông và thuyết thông, vì chấp trước tự tâm hiện ngoại tánh tướng nên chấp trước phương tiện thuyết, đối với tướng chung của tứ cú tự tông thanh tịnh, không khéo phân biệt.

GIẢI

✅ Đây tổng kết nêu quả hái lìa duyên nên trách Đại Huệ đối với đệ nhất nghĩa đế tự giác thánh trí vọng khởi phân biệt theo lời sanh hiểu, sanh tà chấp ngang bướng hiểu lầm ý Phật, do không rành tướng nhị thông.

Tự giác thánh trí lìa tướng tâm duyên lìa tướng ngôn thuyết, song tuy chẳng có lời, chẳng phải là chẳng nói, nên Phật nói thánh trí vô tri…

Chính là muốn người nghe lìa lời mà thấy nghĩa, quên tri khế hợp tâm thôi.

Nào dè người nghe còn đuổi theo ngôn ngữ vọng sanh tà giải, đây đều là bị tập khí vọng tưởng ác tập hư ngụy từ vô thủy xoay chuyển, mà đối với tự tông thuyết thông không hiểu rành, chỉ chấp ngoại cảnh cho là thật có, nên chấp trước phương tiện ngôn thuyết nên không thể vào cảnh giới thật tướng thanh tịnh lìa tri.

Luận nói rằng “Hiện tiền lập chút vật, cho là tánh duy thức, vì có chỗ sở đắc, chẳng thật trụ duy thức”.

Vì là chưa quên cảnh và trí.

Thế Tôn đến đây dùng nhị thông kết trách.

Ý rằng: Từ trước ta đã dạy hạng người tu hành ba thừa, phải khéo rành tướng nhị thông đừng theo lời chấp nghĩa. Ý trách Đại Huệ tại sao không thể hội ý Phật, dây dưa chấp ngôn thuyết giả danh, mà dấy lên các thứ tà chấp, nên dạy phải quên lời khế chứng. Ý như vậy nên dùng tướng nhị thông để kết trách đó.

  • Trên hai chướng đã sạch, hai chấp đã phá, hai tứ đã quên mà kết trách đem vong ngôn mặc chứng để chỉ tự lợi công viên.

  • Phần sau đây chỉ hạnh lợi tha, trước song kết nhị lợi hành.

G₂ - Đầy đủ hạnh lợi tha

H₁ - Song kết nhị hành

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thật như lời dạy! Cúi xin Thế Tôn vì con phân biệt về thuyết thông và tông thông. Con và các đại Bồ tát khác giỏi về nhị thông. Đời sau hàng phàm phu Thanh văn, Duyên giác không tìm thấy sơ hở.

✅ Đây Bồ tát Đại Huệ nhân Phật quở trách không giỏi về nhị thông, mà đối thánh trí vọng khởi phân biệt, nên đến đây cung thỉnh Phật dạy về nhị thông.

❔ HỎI:

Trước đã phát minh nhị thông, nay lại lập lời thỉnh, vì sao?

📣 ĐÁP:

Trước nhân ngoại đạo Nhị thừa vọng khởi hai kiến chấp đoạn thường, vì không rõ được cảnh giới duy tâm hiện lượng. Đại Huệ đặc biệt thưa thỉnh về tướng tông thông, chỉ bày cho họ biết, khiến mở mang chánh kiến. Thế Tôn nhân đó mới nói: “Bọn họ chẳng những không rành tướng tông thông mà cũng không rành về tướng thuyết thông” nên theo lời mà hiểu. Đặc biệt nói về tướng nhị thông, khiến ngoại đạo Nhị thừa kia tiện bề tu học, không rơi tà kiến. Ý ở chỗ phá nhị kiến của ngoại đạo và Nhị thừa, khiến họ biết hạnh ly ngôn.

✅ Đây nhân Đại Huệ dựa vào câu “vọng tưởng vô tánh” để mà đưa ra năm nạn vấn, dựa vào câu “thánh trí bất đắc” để khởi bốn nghi.

✅ Đây đều không rõ duy tâm, không thấu được phương tiện ngôn thuyết, lại theo lời chấp nghĩa, cho là có cảnh giới khả đắc, nên Phật trách rằng vì không khéo rành về nhị thông mà có kiến giải như thế. Đến đây Đại Huệ đặc biệt thưa thỉnh về nhị thông để y giáo phụng hành thuyết pháp lợi sanh, để dứt nghi cho hàng Nhị thừa. Ý ở chỗ dẹp tâm cảnh, không cảnh trí, đó là dùng diệu hạnh khế hợp diệu cảnh. Chữ “hữu tướng” ở trước là chỉ cho họ biết, để tiện bề tự lợi, nay nhị thông này ý ở chỗ quyết định lợi tha. Người xem nên biết, không mê mờ nơi nghĩa ngữ, không sanh kiến giải khác. Trước là hạnh vong ngôn, đây là ly ngôn thật chứng.

Phật bảo Đại Huệ: Lành thay, lành thay! Lắng nghe, lắng nghe, khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Ba đời Như Lai có hai loại pháp thông là thuyết thông và tự tông thông. Thuyết thông là tùy theo sự ứng hợp với tâm chúng sanh vì họ nói đầy đủ khế kinh. Gọi là thuyết thông.

Thuyết thông này ý ở chỗ lợi tha.

Tiếng Phạn là Tu-đa-la, Trung Hoa dịch là Khế kinh, là khế lý khế cơ. Khế lý thì khéo hợp trung đạo, khế cơ là khéo hợp căn cơ ba thừa. Dùng một từ kinh bao hàm nhiều nghĩa, nên nói đầy đủ khế kinh, nghĩa là lý nào cũng thông suốt, cơ nào cũng gồm nhiếp.

Tự tông thông là người tu hành lìa các vọng tưởng tự tâm hiện. Nghĩa là không rơi vào các phẩm một khác, câu bất câu, vượt qua tất cả tâm ý ý thức, cảnh giới tự giác (Đường dịch: Nơi cảnh giới thánh tự giác) lìa nhân thành kiến tướng. (Hai bản dịch đều nói: Lìa các nhân duyên tương ứng kiến tướng). Chỗ tất cả ngoại đạo Thanh văn, Duyên giác rơi vào nhị biên đều không thể biết, ta nói là pháp tự tông thông.

✅ Đây nói tự tông thông ý ở tự lợi.

Do tự thông là cảnh giới lìa tâm ý thức, nên chẳng phải hàng ngoại đạo Nhị thừa có thể biết. Lìa nhân duyên tương ứng kiến, đó là tâm cảnh đều lìa.

🪷

Đại Huệ! Đây gọi là tướng tự tông thông và thuyết thông, ông và các Bồ tát khác nên tu học. Bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Ta nói hai loại thông

Tông thông và ngôn thuyết

Thuyết để dạy sơ cơ

Tông vì người tu hành.

GIẢI

Bồ tát có công nhị lợi, nên thuyết thông ứng cơ thuyết pháp, nên nói dạy người sơ cơ, nghĩa là phàm phu ngu muội như trẻ thơ; tông thông tự tu hành, nghĩa là vì tu hạnh như thật.

  • Tự tha nhị lợi đã xong.

  • Sau chuyên thỉnh về hạnh lợi tha.

H₂ - Riêng chỉ hạnh lợi tha.

Bấy giờ Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như một thời Thế Tôn dạy rằng: Các thứ luận thuyết, biện bác ở thế gian dè dặt chớ gần gũi. (Hai bản dịch đều dùng nhóm từ “Các luận thế gian” là Thi-già-da-đà, Trung Hoa dịch là Tả thế, cũng gọi là ác luận tức là luận ngoại đạo). Nếu người gần gũi nhiếp thọ tham dục không nhiếp thọ pháp. (Ngụy dịch: Người ấy chỉ nhiếp thọ thức ăn ái dục không nhiếp thọ pháp thực). Vì sao Thế Tôn nói như thế?Đây đặc biệt hỏi về hạnh lợi tha.

Bởi nhân Thế Tôn một phen thống trách đệ tử không cho phép thân cận luận nghị của ngoại đạo, Đại Huệ nhân nghe nói về thuyết thông lợi tha, ý rằng không giỏi về tông của họ (ngoại đạo), lập thuyết không thông, thì không lợi cho họ, nên căn cứ lời của Thế Tôn nói ở trước mà nghi rằng: Thế Tôn đã nói thuyết thông lợi người sơ cơ, vì sao lại không cho phép gần gũi luận nghị của ngoại đạo? Nhân đây đưa câu hỏi.

Thế Tôn đáp: Vì luận nghị của ngoại đạo căn cứ vào tà kiến mà lập ra, nếu thân cận thì hoại chánh tri kiến. Ý ở chỗ người vào tự tông thông, nên lìa danh ngôn tập khí là bậc nhất. Vì ba cõi vốn không có pháp thật, chỉ lấy danh ngôn tập khí làm thể. Đến như sử dụng danh ngôn, mà ngoại đạo luận nghị cực kỳ phá hoại chánh tri kiến, phá hoại Phật pháp. Cho nên người tu hành như thật phải tuyệt dứt. Trên là Đại Huệ căn cứ vào thuyết thông mà hỏi, sau đây Thế Tôn y cứ tự tông thông mà đáp.

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Các thứ câu cú ngôn luận thế gian, nhân duyên thí dụ nhóm họp điểm tô, dẫn dụ hàng phàm phu ngu si mê hoặc, không vào được chân thật tự tông. Không biết tất cả pháp, vọng tưởng điên đảo rơi vào nhị biên, phàm ngu si hoặc mà tự phá hoại, tiếp nối trong các nẻo, không được giải thoát.

(Đường dịch: Lộ-già-da-đà có ngôn từ bàn luận chỉ trau chuốt ngôn cú dối gạt phàm ngu, theo ngôn thuyết hư vọng của thế gian, không như nghĩa, không xứng lý, không thể vào được cảnh giới chân thật, không thể biết tất cả các pháp, thường rơi vào nhị biên, tự mất chánh đạo cũng khiến người khác mất, luân hồi các nẻo vĩnh viễn không ra khỏi.)

Không thể giác biết tự tâm hiện lượng, không rời sự chấp trước vọng tưởng trở về ngoại tánh phi tánh. Cho nên các thứ ngôn luận biện thuyết ở thế gian, không ra khỏi sanh lão bệnh tử ưu bi khổ não, mê hoặc cuồng loạn.

GIẢI

✅ Đây nói nặng về lỗi của thế luận, răn kỹ hành giả tu như thật đừng nên gần gũi.

Sở dĩ không thể gần gũi vì không nhập vào tự tông chân thật, không biết tự tâm hiện lượng, chỉ y cứ vào vọng tưởng sanh diệt, không ra khỏi sanh lão bệnh tử, vì chỉ có ngôn thuyết đều không có thật thể.

Song Thế Tôn ở kinh này chỉ chuyên răn dạy về tập khí danh ngôn, vì thế giới Ta-bà dùng âm thanh làm Phật sự. Chúng sanh ở cõi này nhĩ căn rất bén nhạy, do âm thanh vào tâm thông, đạt thẳng pháp tánh, rất là thậm thâm. Nên kinh Lăng Nghiêm tuyển lựa viên thông, dùng nhĩ căn là đệ nhất. Kinh này (Lăng Già) khiến người tu hành như thật, dùng chỗ răn cấm danh ngôn là đệ nhất. Vì cõi này vào đạo không gì hơn nhĩ căn, mà chướng đạo cũng không gì hơn danh ngôn. Cho nên nói: “Căn trần đồng nguồn, buộc và trói không hai.”

Phàm phu tuy y cứ danh ngôn mà kết nghiệp, song khi người nghe nhạy bén, đủ sức văn huân Bát-nhã từ trước, hay quán ngôn ngữ tánh không, âm thanh chẳng thật, như gió thổi hang trống, liền có thể vào vô sanh nhẫn. Nếu một phen huân tập tà luận ngoại đạo thì pháp tánh liền nhiễm ô, hoại chánh tri kiến, phá thành Niết-bàn, vĩnh kiếp trầm luân, đoạn diệt Phật chủng, dù gặp Phật ra đời, mà bị lửa kiến chấp thiêu đốt, tà trí càng lẫy lừng chống trái chánh pháp.

Tuy Như Lai dùng vô lượng thiện xảo tứ biện tài đại bi, tiềm ẩn cùng sống chung, cũng không thể hóa độ để vào đạo.

Hãy xem đức Thế Tôn xuất thế, thuyết pháp đã bốn mươi năm mà đồ đệ của sáu phái ngoại đạo vẫn còn nhiều như mè như cám. Hàng bỏ tà về chánh như ba anh em Ca-diếp và Xá-lợi-phất ước số chỉ 1.250 người thôi, tựu trung những bậc cự phách còn tiềm ẩn trong số ngoại đạo đó. Khi chánh pháp thạnh hành còn như vậy, huống gì mạt pháp. Đức Thế Tôn của chúng ta huyền ký sau 500 năm, hạng người này sẽ phá hoại kết tập rất lớn. Vì vậy kinh này chuyên phá tà làm dụng, thiết lập phần lớn vì thời nay. Hãy xem tâm lo lắng của bậc Thánh như thế.

Thương thay, kinh này từ khi vào Trung Quốc đã 2000 năm, mà hàng lão sư túc học của chúng ta, đọc đến còn thấy khó theo kịp văn kinh, huống là đến chỗ lìa lời được ý, dùng khế hợp tâm ấn Phật tổ mà ấn định cương tông thi hành thưởng phạt, có thể gánh vác gia nghiệp Như Lai ư? Do không rành về pháp môn này còn lưu truyền tập tành thế luận, cam chịu Phật quở mà làm hàng ác đệ tử. Vì chỗ này mà tôi thường rơi lệ.

Đại Huệ! Thích Đề Hoàn Nhơn hiểu rộng các luận, tự tạo thanh luận. Hàng học giả thế luận có một đệ tử đem tượng rồng (Đường dịch: Hiện làm hình rồng) đến cung trời Đế Thích dựng lập luận tông, giao ước muốn phá hoại bánh xe ngàn căm của Đế Thích. “Nếu thua sẽ chặt từng cái đầu để đền lại”.

Nói lời cam kết rồi, liền dùng pháp Đế Thích (Hai bản dịch đều nói: Luận pháp) đè bẹp Đế Thích.

Đế Thích bị thua, bị đối thủ phá bánh xe trời, trở lại nhân gian. Như thế Đại Huệ! thế gian ngôn luận nhân dụ trang nghiêm, cho đến súc sanh (Ngụy dịch: Cho đến hiện thân súc sanh) cũng có thể dùng các thứ cú vị làm mê lầm chư Thiên và A-tu-la, kẹt trong kiến chấp sanh diệt, huống gì loài người.

Cho nên này Đại Huệ! các thứ ngôn luận thế gian nên xa lìa, bởi hay chuốc lấy nhân sanh khổ, cẩn thận chớ gần gũi.

Đại Huệ! Thế luận chỉ nói cảnh giới của thân giác mà thôi.

✅ Đây nói lý do bảo dè dặt chớ gần gũi thế luận.

Nghĩa là đệ tử thế luận mang hình súc sanh, còn có thể chiết phục chư Thiên và Tu-la, huống gì đối với người. Đệ tử ta thời mạt pháp, hạng không có đạo lực, há một phen gần gũi không bị họ phá hoại ư? Nếu bị phá hoại thì hay chuốc lấy nhân sanh khổ, nên ta khuyên răn điều này, dè dặt chớ gần gũi. Vì thế luận của họ không có tự tông thông, chỉ nói về cảnh giới của thân giác mà thôi. Cho nên ta nói chỉ nhiếp thọ tham dục mà không nhiếp thọ pháp.

Đại Huệ! Thế luận của họ, có đến trăm ngàn (Hai bản dịch có thêm chữ “câu”), đời sau sau năm trăm năm, sẽ bị phá hoại kết tập, vì ác giác nhân kiến hưng thạnh, ác đệ tử thọ học.

✅ Đây là Thế Tôn huyền ký đời mạt pháp, ma mạnh pháp yếu.

Thế luận kia, sau chánh pháp của ta năm trăm năm, sở dĩ có thể phá hoại kết tập, vì thời ấy thế tục sâu nặng, người thời ấy nhiều ác giác nhân kiến lẫy lừng, mà trong pháp ta có hàng đệ tử ác kiến, cũng thọ học pháp ấy, cho nên mới khiến họ phá hoại chánh pháp. Do đây mà quán sát, hoại pháp ấy là bởi tự hoại mà thôi, đâu phải sức của họ.

Chữ Nhân kiến, Nhân là tà nhân, vô nhân. Kiến là Ngũ lợi sử 2 trong mười sử phiền não. Vì không hiểu rành chánh pháp nên gọi là ác giác.

Như thế này Đại Huệ! Thế luận phá hoại kết tập, các thứ cú, vị, nhân, thí dụ, trang nghiêm, nói về việc ngoại đạo, chấp trước tự nhân duyên, không có tự tông.

✅ Đây nói lý do phá hoại kết tập.

Sở dĩ thế luận có thể phá hoại chánh pháp, vì các thứ cú vị nhân dụ trang nghiêm kia, đều nói về việc ngoại đạo, chấp trước tự tánh nhân duyên, đều là tà kiến vì không có tự tánh tông thông. Nếu biết mà thân cận học tập tức là uống độc dược của họ, không biết mà thân cận học tập tức là uống lầm thuốc độc.

Đại Huệ! Các ngoại đạo ấy không có luận tự thông, đối với các thế luận khác, rộng nói vô lượng trăm ngàn sự môn, không có tự thông, cũng không tự biết thế luận ngu si.

Đoạn này kết luận pháp kia thành việc truyền thừa, không tự biết lỗi của họ.

Vì pháp của họ vốn không có tự thông, đệ tử được truyền thừa dù nói đến trăm ngàn việc, cũng đều không có tự thông. Vì không tự thông, mà người ngu ấy rốt cuộc cũng không tự biết là luận thế tục ngu si, đây là uống lầm thuốc độc.

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn, nếu thế luận ngoại đạo, các thứ cú vị nhân thí trang nghiêm, không có tự thông, tự việc chấp trước.

✅ Đây là Đại Huệ theo lời Phật nói ở trên, dùng để phát khởi nạn vấn.

Thế Tôn cũng nói thế luận, vì hội chúng từ nơi khác đến như Trời, Người, A-tu-la rộng nói vô lượng cú vị, cũng chẳng tự thông ư? Cũng thuộc về ngôn thuyết của tất cả ngoại đạo trí huệ ư?

Đây là Đại Huệ nhân nghe Phật chỉ trích thế luận ngoại đạo không có tự thông, bèn theo đó mà nạn vấn. Phật vì hàng trời, người, a-tu-la rộng nói các thứ pháp thế gian, cũng chẳng phải là pháp tự trí chứng đắc đều là thế luận. Há Thế Tôn cũng không có tự thông ư? Há không thuộc về vọng tưởng của tất cả tà trí ngoại đạo ư?

Đại Huệ y cứ vào thế luận mà hỏi. Thế Tôn y cứ tự thông mà đáp.

Phật bảo Đại Huệ: Ta chẳng nói thế luận, cũng không nói đến đi, chỉ nói chẳng đến, chẳng đi.

Đại Huệ! Đến là hướng tụ hội sanh, đi là tan hoại, chẳng đến chẳng đi là chẳng sanh chẳng diệt. Nghĩa của ta nói, không rơi vào vọng tưởng thế luận. Vì sao? Vì chẳng chấp trước ngoại tánh phi tánh. Chỗ hiện tự tâm hiện, chẳng bị cuốn theo vọng tưởng, nhị biên, cảnh tướng chẳng phải có thật. Giác tự tâm hiện thì tự tâm hiện vọng tưởng chẳng sanh, vọng tưởng chẳng sanh thì Không, Vô tướng, Vô tác trụ vào ba môn giải thoát gọi là giải thoát.

Đây là Thế Tôn y cứ tự thông để đáp chỗ thuyết pháp của Ngài chẳng phải thế luận.

Thế luận, là pháp đến đi sanh diệt. Đến là duyên hội mà sanh nên nói hướng tụ hội sanh, đi là duyên tan mà diệt nên nói tan hoại. Vì có đến đi sanh diệt nên gọi là thế luận. Song pháp ta nói là pháp chẳng đến đi, không sanh diệt, há lại rơi vào vọng tưởng thế luận kia ư? Sở dĩ không rơi vì ta không chấp trước ngoại cảnh có không, liễu đạt duy tâm hiện lượng nên vọng tưởng về có không chẳng thể xoay chuyển. Vì biết rõ cảnh vô tánh nên nói cảnh tướng chẳng sanh; đây là cảnh chẳng sanh. Biết tự tâm hiện, thì tự tâm vọng tưởng chẳng sanh; đây là tâm chẳng sanh. Cảnh chẳng sanh nên không đến đi; tâm chẳng sanh nên chẳng sanh diệt, tâm cảnh chẳng sanh tức là Không, Vô tướng, Vô tác. Vào ba môn giải thoát gọi là giải thoát.

Ý rằng pháp ta nói là pháp giải thoát chẳng phải pháp sanh tử, vì vậy không thuộc về thế luận.

Đại Huệ! Ta nhớ một thời ở một nơi nọ, có Bà-la-môn thế luận đến chỗ ta, không hỏi về không nhàn mà hỏi ta rằng: “Cù-đàm! Tất cả pháp là được tạo tác ư?”. Ta đáp rằng: “Bà-la-môn! Tất cả được tạo tác, là thế luận thứ nhất”. Ông ta lại hỏi: “Tất cả chẳng tạo tác ư?”. Ta đáp: “Tất cả chẳng tạo tác là thế luận thứ hai.”

Đây là Thế Tôn sắp giảng rộng về thế luận, cho nên đưa ra việc cũ để dạy Bồ tát pháp thức thuyết thông chỉ luận.

Xưa gọi Bà-la-môn, nói đủ là Bà-la-ha-ma-noa. Trung Hoa dịch là Tịnh duệ, cũng gọi là Tịnh hạnh, tự xưng rằng tổ tiên mình từ miệng Phạm Thiên sanh, nhân đó lấy họ Phạm. Trong các kinh nói Phạm chí tức là hạng này. Việc này các nước thuộc Ngũ Thiên Trúc 3 mới có, các nước khác không có. Dòng dõi Phạm chí có kinh sách riêng, đời đời truyền thừa làm sự nghiệp, hoặc tại gia, hoặc xuất gia, đều cao ngạo ỷ thị, phần nhiều ưa tranh luận.

Không nhàn là vô ngã, vì họ chấp Phạm thiên tác giả làm thần ngã, nên nói không hỏi về không nhàn, mà hỏi tác giả sanh tất cả pháp. Vì chỗ thấy của họ không ra khỏi thế luận, mở miệng bèn rơi vào vọng tưởng nên hỏi một câu Thế Tôn đáp là thế luận một, hỏi hai câu đáp là thế luận hai, cho đến hỏi nhiều đáp là thế luận nhiều. Vì vậy, sau đây trách rằng: Cho đến có chút ít tâm thức lưu động phân biệt ngoại cảnh đều là thế luận.

Ông ấy lại hỏi: “Tất cả thường ư? Tất cả vô thường ư? Tất cả sanh ư? Tất cả chẳng sanh ư?”. Ta đáp: “Đó là thế luận thứ sáu”.

Đại Huệ! Ông ấy lại hỏi ta: “Tất cả là một? Tất cả là khác? Tất cả vừa là một, vừa là khác? Tất cả chẳng phải một, chẳng phải khác? Tất cả làm nhân cho các thứ thọ sanh hiện ư?” (Đường dịch: Tất cả đều do các thứ nhân duyên mà thọ sanh ư?).

Khi ấy ta đáp rằng: “Đó là thế luận thứ mười một.”

Đại Huệ! Ông ấy lại hỏi: “Tất cả vô ký ư? Tất cả ký ư? Hữu ngã ư? Vô ngã ư? Có thế giới này ư? Không có thế giới này ư? Có thế giới khác ư? Không thế giới khác? Có giải thoát ư? Không giải thoát ư? Tất cả sát-na ư? Tất cả không sát-na ư? Hư không ư? Phi số diệt ư? Niết-bàn ư? Cù-đàm! Tác giả ư? Chẳng tác giả ư?”.

Từ câu hư không trở xuống hỏi về ba vô vi 4 là tạo tác hay không phải tạo tác. Đường dịch: Hư không, Niết-bàn và Phi trạch diệt. Là sở tác ư? Là không phải sở tác ư? Do ngoại đạo vọng chấp ba Vô vi đều là có tạo tác, nên sau đây Thế Tôn đáp rồi, mà lại đặc biệt ủy dụ Đại Huệ rằng: Niết-bàn, Hư không, Diệt chẳng phải là có, chỉ số lượng có ba thôi. Ý rằng ba pháp còn không thể được, huống lại chấp tạo tác cùng chẳng tạo tác ư?

“Có trung ấm ư? Không trung ấm ư?”.

Đại Huệ! Lúc ấy ta đáp: Bà-la-môn! Nói như thế tức là thế luận, chẳng phải chỗ ta nói, chỉ là thế luận của ông. Ta chỉ nói tập khí vọng tưởng hư ngụy từ vô thủy là nhân của các thứ ác trong ba cõi, không thể biết tự tâm hiện lượng mà sanh vọng tưởng, phan duyên theo ngoại tánh. Như pháp của ngoại đạo thần ngã các căn ba nghĩa hòa hợp phát sinh tri kiến, ta chẳng như thế. (Đường dịch: Như ngoại đạo nói ngã và căn cảnh ba việc hòa hợp mà trí sanh, ta không như thế, Tri là thức). Bà-la-môn, ta chẳng nói nhân chẳng nói vô nhân, chỉ nói vọng tưởng nhiếp sở nhiếp tánh lập bày duyên khởi, chẳng phải ông và những người rơi vào thọ ngã tương tục có thể hiểu biết. (Đường dịch: Ta chẳng nói nhân, chẳng nói vô nhân, chỉ y cứ vào vọng tâm do năng sở thủ mà nói duyên khởi, chẳng phải ông và những người khác chấp trước ngã có thể dò biết).

Đại Huệ! Niết-bàn, Hư không, Diệt chẳng phải có ba, chỉ số lượng có ba mà thôi.

Đây là Thế Tôn thuật lại đầy đủ việc trước, pháp đối với ngoại đạo nói như thế.

Nghĩa là ngoại đạo chấp chỗ thấy của họ, mỗi mỗi hỏi Phật, Phật đều quở chung là Đó đều là thế luận của ông, chẳng phải chỗ ta nói. Bởi vì ta nói, là chỉ nói tất cả chúng sanh nhân nơi các tập khí ác hý luận từ vô thủy, mà sanh ra tướng tam giới, không rõ biết chỉ là tự tâm hiện mà sanh vọng tưởng, phan duyên pháp bên ngoài mà vọng chấp trước, thật chẳng thể được.

Chỗ ta nói chỉ như thế mà thôi.

Đến như ngoại đạo nói ba pháp là thần ngã cùng với căn, cảnh, hòa hợp sanh ra thức. Đây là cái thấy của ngoại đạo, ta chẳng như thế. Hơn nữa ngoại đạo nói có dị nhân hay sanh các pháp, lại nói các pháp tự nhiên từ vô nhân sanh. Đây là pháp của các ông, pháp ta thì không vậy. Ta chỉ nói vọng tưởng năng thủ sở thủ mà nói duyên khởi. Ta nói như thế, chẳng phải chỗ ngoại đạo các ông chấp trước về ngã vọng tưởng mà có thể biết. Nghĩa là Phật nói ngoại đạo hỏi như vậy như vậy, ta chỉ như thế mà đáp.

Đây tức là chỉ luận, cũng tức là tướng thuyết thông. Bởi các câu hỏi ngoại đạo đều là lối chấp của họ. Đến như vọng chấp ba pháp vô vi tạo tác, chẳng tạo tác, có dính dáng tới pháp ta, e có chỗ lầm. Nên Thế Tôn đặc biệt bảo Đại Huệ: Chỗ hỏi ba vô vi của họ chẳng phải có ba thứ, chỉ là số có ba thôi, chẳng phải thật có. Đường dịch: Hư không, Niết-bàn và Phi trạch diệt, chỉ có số ba, vốn không thể tánh, hà huống nói tạo tác, cùng chẳng tạo tác.

Lại nữa, Đại Huệ! Lúc ấy Bà-la-môn thế luận lại hỏi ta rằng: “Nhân nơi nghiệp si ái nên có ba cõi ư? Là vô nhân ư?”. Ta đáp: “Hai việc này cũng là thế luận”. Ông ta lại hỏi: “Tất cả tánh đều vào tự tướng cộng tướng ư?”. Ta đáp: “Đây cũng là thế luận. Này Bà-la-môn, cho đến ý lưu động vọng chấp ngoại trần (Đường dịch: Cho đến có chút ít tâm thức lưu động phân biệt ngoại cảnh) đều là thế luận”.

Bấy giờ Bà-la-môn lại hỏi ta rằng: “Thế Tôn! Há chẳng phải là tất cả ngoại đạo cũng có các thứ cú vị nhân dụ trang nghiêm, nói về chấp trước tự nhân duyên ư?”.

Ý vị ấy hỏi rằng: Như Phật nói, cho đến có chút ít tâm thức lưu động phân biệt ngoại cảnh đều là thế luận. Nếu quả thật như lời Phật nói, thì các thứ luận thuyết ngôn từ của ngoại đạo chúng tôi dùng các thứ nhân duyên thí dụ trang nghiêm để kiến lập luận tông, há chẳng phải là chỗ chấp trước tự nhân duyên sao? Cớ sao Thế Tôn chỉ quở trách mình chúng tôi?

Phật bảo: Bà-la-môn! Đây chẳng phải là không, chỉ là các ông tâm thức lưu động vọng chấp ngoại trần (Đường dịch: Đây chẳng phải là không nhân, nhưng do các ông phân biệt hư vọng). Đối với quả khổ của ba cõi thường thích điên đảo.

✅ Đây Phật đáp rằng: Chẳng phải là không có cái nhân duyên trang nghiêm kia, nhưng đó chỉ là do các ông hướng ra ngoài mà khởi vọng tưởng phân biệt, bám lấy ngoại cảnh mà thành, vốn không có thật thể. Bởi vì chấp trước ngoại trần như thế nên phải chịu quả khổ luân hồi trong ba cõi, thế mà các ông vẫn thường ham thích cái điên đảo đó, chẳng biết cầu tìm lối ra.

Lúc bấy giờ Bà-la-môn im lặng không đáp, liền suy nghĩ rồi tự bỏ đi, lòng không vui vẻ mà nghĩ rằng: “Cù-đàm Sa-môn đối với tất cả pháp không thể nhận thấy (Đường dịch: Chẳng thể rõ biết), nói vô ký để đáp ta. Chỉ nói là tập khí vọng tưởng từ vô thủy không rõ tự tâm hiện lượng, đây là trí huệ của ông ấy, chẳng phải là chỗ thấy của ta”.

✅ Đây là ngoại đạo bị quở đều rơi vào thế luận, bèn hỏi có cái không phải thế luận chăng? Rồi nói tôi là Tông chủ của tất cả ngoại đạo, nghĩa là câu lời lý luận đều từ tôi mà ra, sao chẳng đúng ý Phật? Xem ông ấy tự phụ như thế, chính là chấp chặt ngã kiến, thích tranh luận. Thế Tôn đáp rằng: Có cái chẳng phải thế luận, mà chẳng phải là ông có. Cái có của ông không ra khỏi tạo tác thi vi, chỗ lập tự tông chỉ y cứ vào ngôn thuyết để lập các thứ cú vị nhân thí trang nghiêm. Pháp ta chẳng tạo tác thi vi, chẳng phải tông, chẳng nói, mà cũng không rơi vào không kiến, nên nói: Chẳng phải không nói các thứ cú vị, chẳng phải không có nhân thí trang nghiêm.

Bà-la-môn hỏi: Những gì là chẳng phải thế luận, chẳng phải chẳng tông, chẳng phải chẳng nói?

Ý ngoại đạo là Phật đã quở tôi là chẳng phải tông, chẳng phải thuyết, vậy không biết những gì là chẳng phải thế luận, có thể có cái chẳng phải chẳng tông, chẳng phải chẳng nói, xin nguyện được nghe.

Ta đáp rằng: Bà-la-môn! Có cái chẳng phải thế luận, ông và các ngoại đạo không thể biết, vì các ông đối với ngoại tánh không thật mà sanh vọng tưởng hư ngụy chấp trước.

✅ Đây là Thế Tôn quở để đáp ngoại đạo. nghĩa là có cái chẳng phải thế luận, chỉ là chẳng phải chỗ ngoại đạo các ông có thể biết.

Sở dĩ các ông không biết, do các ông chấp trước vọng tưởng không thật phân biệt ngoại cảnh.

Nếu ta có nói ông liền theo lời mà khởi hiểu, chấp trước tà kiến thôi.

Nghĩa là vọng tưởng chẳng sanh, biết rõ có không, tự tâm hiện lượng, vọng tưởng chẳng sanh, không thọ ngoại trần, vọng tưởng vĩnh viễn chấm dứt. ✅ Đây là chẳng phải thế luận. Đây là pháp ta, ông không có.

✅ Đây nêu chỗ dùng chánh nhân chẳng phải thế luận như thế, chỉ là pháp ta, ông không có. Ông có là có pháp đến đi sanh tử mà thôi, nên sau đây nói.

Bà-la-môn! Nói sơ về thức, hoặc đến hoặc đi, hoặc tử hoặc sanh, hoặc khổ hoặc vui, hoặc chìm hoặc hiện, hoặc xúc hoặc trước, các thứ tướng hoặc hòa hợp tương tục, hoặc ái hoặc nhơn chấp trước (Đường dịch: Hoặc nhân sanh chấp trước). Bà-la-môn! Những thứ như thế là thế luận của các ông, chẳng phải ta có.

✅ Đây nêu lên tướng tà nhân thế luận.

Nghĩa thế luận của ngoại đạo nhiều thứ, không thể thuật hết. Nay nói sơ chỗ thức các ông có thể phân biệt, không ra khỏi các thứ tướng đến đi sanh tử khổ vui chìm lặn tà kiến xúc trước. Ở trong đó vọng chấp hòa hợp tương tục hoặc ái trước không xả, hoặc vọng lập làm nhân mà sanh chấp trước, như thế mà thôi. Nghĩa là những loại như thế đều là thế luận của ông, trong pháp ta không nói như thế.

Đại Huệ! Bà-la-môn thế luận hỏi như thế, ta đáp như thế, ông ấy liền im lặng không giã từ mà lui. (Ngụy dịch: Lặng yên mà đi, mà không hỏi ta về dựng lập chân pháp. Đường dịch: Không hỏi ta về thật pháp tự tông, im lặng mà đi). Ông ấy nghĩ về chỗ tự thông bèn khởi niệm này: Sa-môn thích tử ra ngoài tự thông, nói vô sanh, vô tướng, vô nhân, biết hiện tượng tự vọng tưởng, vọng tưởng chẳng sanh.

✅ Đây nói về tình trạng điên đảo cố chấp khó hóa độ của ngoại đạo.

Họ lập luận với Phật bị thua, cũng không thỉnh Phật dạy, ngang nhiên không từ giã mà đi. Tướng ngã mạn tự cao đến như vậy. Hơn nữa tâm không phục thiện càng không biết lỗi, do suy nghĩ chỗ tự thông của mình trở lại cho lời Phật là trái, bèn có ý nghĩ rằng chỗ thấy của Sa-môn ra ngoài chỗ thông của ta, chỗ ông ấy nói là chỗ vô sanh, vô tướng, vô nhân, tâm cảnh chẳng sanh, là pháp đoạn diệt. Ngụy dịch: “Sa-môn Thích tử ngoài pháp của ta, thật đáng thương, nói tất cả pháp vô nhân, vô duyên, không có tướng sanh chỉ nói pháp tự tâm phân biệt, nếu có thể biết kiến tướng tự tâm thì phân biệt chẳng sanh”. Đoạn trước nói: Họ vô trí, trở lại đem lời ta cho là luận bất chánh. Chính là đây vậy.

Đại Huệ! Đây chính là chỗ ông hỏi ta: “Cớ sao nói gần gũi thế luận các thứ biện thuyết, nhiếp thọ tham dục, không nhiếp thọ pháp?”.

✅ Đây là Thế Tôn nêu lên lời thỉnh vấn của Đại Huệ để kết luận đáp ý câu hỏi.

Nghĩa là ông hỏi ta vấn đề gần gũi các thứ thế luận nhiếp thọ tham dục không nhiếp thọ pháp.

Như trên ta nói các câu hỏi của Bà-la-môn đều là nhiếp thọ tham dục, không nhiếp thọ pháp. Bởi tất cả thế luận đều là loại này.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nhiếp thọ tham dục và pháp có cú nghĩa gì (Ngụy dịch: Thế nào gọi là cú nghĩa tham, thế nào gọi là cú nghĩa pháp?)

Phật bảo Đại Huệ: Lành thay! Lành thay! Ông có thể vì chúng sanh vị lai, suy nghĩ cú nghĩa như thế. Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Gọi là tham đó, hoặc lấy hoặc bỏ, hoặc chạm hoặc nếm (Đường dịch: Gọi là tài đó, có thể chạm, có thể thọ nhận, có thể thủ, có thể nếm) hệ lụy ngoại trần rơi vào kiến chấp nhị biên. Lại sanh khổ ấm, sanh lão bệnh tử, ưu bi khổ não, các hoạn nạn như thế, đều từ ái khởi. Đây do gần gũi thế luận và người thế luận, ta và chư Phật gọi đó là tham, là nhiếp thọ tham dục, không nhiếp thọ pháp.

✅ Đây là Như Lai quở trách thế luận chỉ nhiếp thọ thức ăn tham dục không nhiếp thọ thức ăn pháp.

Bởi ngoại đạo cậy vào chú thuật cuồng loạn mê hoặc người ngu, chỉ tham lợi dưỡng làm tà mạng thực.

Răn kỹ người thuyết pháp nên phải thanh tịnh. Tôi đọc Trí Chứng, biết Tào Sơn quý chánh mệnh thực, lập tam đọa, nên Hoàng Long nói: “Thời nay người mới hành đạo, chỉ muốn đa tri đa giải, tìm cầu nhiều văn nghĩa.

Gọi là tu hành, không biết đa tri đa giải trở thành bế tắc. Chỉ cho trẻ con bú sữa sống nhiều, rốt cuộc không biết tiêu hay không tiêu”.

Hàng học đạo tam thừa đều là hạng này, thảy gọi là ăn không tiêu. Ăn không tiêu là tri giải không tiêu, đều là độc dược, rốt cuộc nằm trong sanh diệt, vì trong chánh pháp không có việc này. Ôi! Hàng học đạo tam thừa, tri kiến không tiêu thảy đều là tà mạng, huống ngoại đạo thế luận kia, còn không thể sánh với sữa sống, nếu một phen tiêm nhiễm, há không phải là uống nhầm thuốc độc của người ư?

Kinh Duy-ma-cật nói: “Vì hoại tướng hòa hợp mới nên nhận thức ăn, vì chẳng thọ mới nên nhận thức ăn kia. Dùng tưởng không tụ mà vào làng xóm, chỗ thấy sắc như mù, chỗ nghe tiếng như vang, chỗ ngửi hương như gió, chỗ ăn uống không phân biệt vị, nhận xúc chạm như trí chứng, biết các pháp như tướng huyễn, không tự tánh không tha tánh, xưa vốn tự chẳng nhiên, nay cũng chẳng diệt, mới có thể nhận thức ăn”. ✅ Đây chính là đối với thức ăn bình đẳng, với pháp cũng bình đẳng, như thế thì nhiếp thọ thức ăn tức nhiếp thọ pháp. ✅ Đây là “Không đoạn thanh sắc đọa” của Tào Sơn, gọi là chánh mệnh thực. Nếu còn chút ít có thể xúc thọ có thể đắm vị, tức là tà mạng. Đây gọi là nhiếp thọ tham dục không nhiếp thọ pháp.

Đại Huệ! Thế nào là nhiếp thọ pháp? Nghĩa là khéo biết tự tâm hiện lượng thấy nhơn vô ngã và pháp vô ngã, vọng tưởng chẳng sanh, khéo biết địa thượng thượng thượng, lìa tâm, ý thức, tất cả trí tuệ chư Phật quán đảnh, nhiếp thọ đầy đủ mười câu vô tận đối tất cả pháp không khai phát tự tại. (Quyển đầu nói: Hạnh vô khai phát tự tâm tự tại). ✅ Đây gọi là pháp, là không rơi vào tất cả kiến, tất cả hư ngụy, tất cả vọng tưởng, tất cả tánh, tất cả nhị biên.

✅ Đây nói rõ về nhiếp thọ pháp nên như thế.

Bởi có thể khéo biết tự tâm hiện lượng, thấy hai vô ngã, lìa tâm ý thức, thì tự nhiên không rơi vào tất cả các kiến chấp, hý luận phân biệt đoạn thường nhị biên. Do không rơi vào tất cả kiến chấp, mà có thể tiêu tất cả kiến chấp, như thế thì “chỗ đọa của lục sư, ông cũng đọa theo, mới có thể nhận thức ăn”¹. ✅ Đây là “tùy đọa” của Tào Sơn, gọi là chánh mệnh thực.

Đại Huệ! Có nhiều kẻ ngoại đạo ngu si, rơi vào hai bên, hoặc thường hoặc đoạn, chẳng phải người trí tuệ. Họ chấp nhận luận vô nhân, khởi kiến chấp Thường, khi thấy ngoại nhân hoại nhân duyên phi tánh, khởi kiến chấp Đoạn.

Đại Huệ! Vì ta chẳng thấy sanh trụ diệt, gọi đó là pháp.

✅ Đây kết luận chứng minh lý do pháp thế và xuất thế khác nhau.

Họ rơi vào nhị kiến sanh diệt nên gọi là tham dục. Ta chẳng thấy có sanh trụ diệt nên gọi là pháp. Chú giải xưa nói: Người không có trí tuệ chấp nhận vô nhân luận này, chấp từ đại chẳng từ nhân sanh, ắt khởi lên Thường kiến; hoặc chấp nhận tạo sắc bên ngoài hoại diệt không sanh trở lại, tánh nhân duyên cũng không, ắt khởi lên Đoạn kiến. Luận cứ của họ tuy nhiều, hết thảy không ra khỏi hai kiến chấp, đều là sanh diệt. Vì ta chẳng thấy sanh trụ diệt, nên kinh Tịnh Danh nói “Báng Phật, hủy pháp, không vào trong tăng chúng rốt cuộc không được diệt độ, ông nếu như thế mới có thể nhận thức ăn”. Đây là “Tôn quý đọa” của Tào Sơn, gọi là chánh mệnh thực.

Đại Huệ! Đây gọi là tham dục và pháp, ông và các Đại Bồ tát nên tu học.

🪷

Lúc ấy Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Tất cả luận thế gian

Ngoại đạo nói hư vọng

Vọng thấy tác, sở tác

Họ ắt không tự tông.

Chỉ một tự tông ta

Lìa khỏi tác, sở tác

Vì các đệ tử nói

Xa lìa các thế luận.

GIẢI

✅ Đây tụng lựa riêng tà chánh.

Bởi ngoại đạo kia chấp Phạm thiên là năng tác, tất cả các pháp là sở tác, nên đối với tự tông chân thật của chánh pháp không thể thành lập. Ta dùng nhất tâm làm tự tâm, lìa khỏi năng tác sở tác, dùng điều này vì các đệ tử nói khiến họ xa lìa các thế luận kia.

🪷

Tâm lượng chẳng thể thấy

Không quan sát hai tâm

Nhiếp, sở nhiếp phi tánh

Cả Đoạn, Thường đều lìa.

Cho đến tâm lưu chuyển

Đó ắt là thế luận

Vọng tưởng không thể chuyển

Người ấy thấy tự tâm.

GIẢI

✅ Đây tụng về tự tông chân hiện lượng, phá vọng chấp ngoại đạo.

Bởi hiện lượng chân tâm vốn tự vô tướng, không thể dùng cái thấy hư vọng để thấy, song ngoại đạo chẳng khéo quán sát, vọng chấp có không năng sở, hai kiến Đoạn Thường đều chẳng thể lìa, nên là thế luận. Không riêng như vậy, cho đến chỉ một chút khởi tâm động niệm, tâm thức vừa có lưu chuyển, tức là thế luận. Hà huống vọng chấp tranh luận ư? Nếu có thể đối với cảnh giới vọng tưởng không bị chuyển động, ta nói người này thật là người có thể thấy tự tâm hiện lượng.

🪷

Đến là việc sanh ra

Đi là việc không hiện

Biết rõ đến và đi

Vọng tưởng lại chẳng sanh

GIẢI

✅ Đây tụng dạy phương tiện quán sát để vào tự tâm hiện lượng.

Ngoại đạo sở dĩ lưu chuyển, vì thấy có tướng đến đi, nào biết đến là tạm hiện như điện chớp tắt, đi là không hiện, vốn không chỗ có. Nếu người quán sát các pháp, thấy rõ tướng đến đi sanh diệt, rõ biết xưa nay vắng lặng, người ấy ắt vọng tưởng chẳng sanh.

🪷

Hữu thường và vô thường

Tạo tác, không tạo tác

Đời này đời khác thảy

Đây đều là thế luận

GIẢI
  • Trước giảng về nhân của đoạn và chứng xong.

  • Sau đây giảng quả tướng của đoạn chứng chia hai, một là quả chuyển y Niết-bàn, hai là quả chuyển y Bồ-đề. Trong phần một chia hai, trước trình bày 21 thứ tà tông, kế chỉ ra chánh quả tối thượng nhất thừa. Phần đầu trình bày tông tà.

E₂ - Chánh hiển quả đức của đoạn chứng. Có 2

G₁ - Quả chuyển y Niết-bàn. Có 2

H₁ - Trình bày hai mươi mốt thứ tông tà

H₂ - Chỉ ra chánh quả tối thượng nhất thừa

G₂ - Quả chuyển y Bồ-đề

G₁ - Quả chuyển y Niết-bàn

H₁ - Trình bày hai mươi mốt thứ tông tà

🪷

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn nói về Niết-bàn là nói những pháp gì gọi là Niết-bàn, mà các ngoại đạo đều khởi vọng tưởng.

Từ trước hỏi vọng tưởng chẳng thật để đưa đến đây, giảng chung về hạnh năng chứng đã tròn đủ, nên Đại Huệ thưa thỉnh về quả sở chứng. Bởi quả nhị chuyển y là chuyển phiền não thành Bồ-đề, chuyển sanh tử thành Niết-bàn.

Ở đây trước hỏi về tướng Niết-bàn. Bởi kinh này cốt yếu ở chỗ phá tà hiển chánh, nêu lý hạnh nhân quả, đều y cứ vào tà chánh mà biện, nên mỗi mỗi thưa hỏi, đều hỗ tương nêu lên hai đường.

GIẢI

✅ Đây chính hỏi về quả đại Niết-bàn, nên hỏi: Thế Tôn nói về Niết-bàn là nói những pháp gì gọi là Niết-bàn, mà ngoại đạo đối với pháp Niết-bàn khởi vọng tưởng phân biệt? Ý muốn hiển chỗ không khởi phân biệt, lìa tâm thức, tức là Đại Niết-bàn, nên trước lựa riêng tông tà, sau chỉ chánh quả.

Phật bảo: Đại Huệ! Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói, như các ngoại đạo vọng tưởng về Niết-bàn chẳng phải họ vọng tưởng tùy thuận Niết-bàn (Đường dịch: Như các ngoại đạo phân biệt về Niết-bàn đều chẳng tùy thuận tướng Niết-bàn).

Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Hoặc có ngoại đạo ấm giới nhập diệt cảnh giới ly dục, thấy pháp vô thường, tâm tâm pháp chẳng sanh, không nhớ nghĩ cảnh giới quá khứ hiện tại vị lai, các thọ ấm dứt, như đèn tắt, như hột giống hoại nát, vọng tưởng chẳng sanh. Bọn họ nơi đây khởi tưởng là Niết-bàn.

Này Đại Huệ! Chẳng phải do kiến hoại mà gọi là Niết-bàn.

✅ Đây là Vô tưởng ngoại đạo.

Nói bọn họ là ngoại đạo kia không phải một. Do thấy năm ấm, giới, nhập đều diệt, lìa sự hệ phược dục giới, thấy các pháp vô thường, cho tâm tâm sở không khởi là định, giữ tâm một chỗ, không thấy tướng ba đời, đây là vô tưởng.

Các thọ ấm dứt như đèn tắt, như hột giống hư hoại, vọng tưởng chẳng sanh, đây chính là Lăng Nghiêm nói: “Dùng chỗ y cứ vĩnh diệt là chỗ trở về nương tựa, thành cái quả không ngơ, sanh hạt giống đoạn diệt”.

Do họ vọng thấy có tướng Niết-bàn, nên Phật phá rằng: Những điều này chẳng phải do kiến hoại mà gọi là Niết-bàn.

Đại Huệ! Hoặc do từ phương đến phương gọi là giải thoát, cảnh giới tưởng diệt, cũng như gió dừng.

✅ Đây chỉ ngoại đạo Thường kiến lập vô nhân làm Niết-bàn.

Đoạn trước nói chấp nhận luận vô nhân ắt rơi vào Thường kiến. Chú giải xưa nói từ phương đến phương là không có nẻo khác. Phương là loại. Đó là chỗ Lăng Nghiêm nói: “Như người sanh người, biết chim sanh chim, nói nhân quả kia từ tám vạn kiếp không đổi dời”. Nghĩa là nay hình tướng này chết đi, từ loại này sang loại này cũng lại như thế. Bởi ngoại đạo này sở dĩ vọng thấy đoạn diệt, vì cảnh giới tưởng diệt, kỳ thật gốc tưởng chưa chấm dứt, nên nói như gió tạm dừng.

Lại có hạng ngoại đạo chấp phương là thường trụ thật có, đầy đủ các công năng, sanh tất cả pháp, nên cho phương là Niết-bàn, vì thế nói từ phương đến phương. Cả hai lối chấp đều là Vô nhân.

Hoặc do cái thấy giác sở giác hoại, gọi là giải thoát. Hoặc thấy thường vô thường khởi tưởng giải thoát.

✅ Đây là tâm tâm sở sanh diệt đã diệt, vọng cho là trong lý tự nhiên thành bất sanh bất diệt. Nên nói cái thấy về giác sở giác hoại, cho đó là Niết-bàn.

Lại cho sở giác không hoại là thường, còn năng giác hoại là vô thường, đây chính như Lăng Nghiêm đã nói về bốn cái thấy điên đảo, một phần thường một phần vô thường; nên nói thấy thường vô thường khởi tưởng giải thoát.

Nếu căn cứ theo bản Đường dịch là “Hoặc là không thấy năng giác sở giác; hoặc là không khởi phân biệt về kiến chấp thường vô thường”. ✅ Đây là mờ mịt không rõ đều thuộc đoạn kiến như nói chỗ phân biệt đều không, chỗ đó ngoại đạo Câu-già-lê… lầm cho là Minh đế.

Hoặc thấy các tướng tưởng chiêu cảm cái nhân sanh khổ, tư duy như đây rồi, không khéo biết tự tâm hiện lượng, sợ hãi về tướng rồi thấy vô tướng sanh ra rất yêu thích, khởi tưởng Niết-bàn.

✅ Đây chỉ lối chấp bảy thứ đoạn diệt là Niết-bàn.

Các hình tướng trời người ở dục giới là nhân sanh khổ nên ngoại đạo hoặc chấp thân diệt, hoặc dục diệt hết, hoặc khổ diệt hết, hoặc cực vui diệt, hoặc cực xả diệt, nên nói sợ hãi về tướng, rồi thấy vô tướng bèn sanh ưa thích sâu xa, vọng cho là Niết-bàn chân thật. Hoặc hàng La-hán độn căn, chán khổ đoạn tập, bỏ Có đắm Không, tham chấp thiên không, cho đó là Niết-bàn, cũng xếp vào đây.

Do vì không khéo biết về tự tâm hiện lượng, nên sợ hãi tướng, mà thấy vô tướng rất sanh ưa thích.

Năm thứ trên đây đều là đoạn kiến.

Hoặc biết tự tướng cộng tướng của các pháp trong ngoài, khứ lai hiện tại có tánh chẳng hoại, khởi tưởng Niết-bàn.

✅ Đây chấp năm uẩn căn trần đều thật có tự tánh, ba đời tiếp nối không hoại, cho đó là Niết-bàn.

✅ Đây chính là Lăng Nghiêm nói về lối chấp trong thân năm ấm sau khi chết có tướng, bốn thứ bất tử, đều là Thường kiến.

Hoặc cho rằng ngã nhơn chúng sanh thọ mạng tất cả pháp hoại, khởi tưởng là Niết-bàn.

✅ Đây chấp sau khi chết không có tướng, cho đó là Niết-bàn, cũng là đoạn kiến.

Hoặc có ngoại đạo trí huệ ác thiêu đốt, thấy tự tánh và sĩ phu. Trong khoảng nhị hữu là chỗ xuất phát của sĩ phu, gọi là tự tánh như minh sơ. Cầu-na chuyển biến, Cầu-na là tác giả, khởi Niết-bàn tưởng.

✅ Đây chấp vi trần tức tác giả là Niết-bàn.

Sĩ phu là thần ngã. Nhị hữu là minh sơ, sanh giác là một hữu, từ giác sanh ngã tâm là một hữu. Trong khoảng nhị hữu là chỗ phát xuất của sĩ phu, gọi là tự tánh như minh sơ nghĩa là từ ngã tâm sanh ngũ trần, nên nói trong khoảng nhị hữu phát ra. ✅ Đây chính là chấp vi trần thắng tánh hay sanh các pháp nên nói gọi là tự tánh như minh sơ. Cầu-na là trần. Nghĩa là vi trần hay y cứ vào các duyên chuyển biến tạo ra tất cả vật, nên nói Cầu na chuyển biến, Cầu na là tác giả. Tác giả này cũng gọi là tự tánh, cũng gọi là sĩ phu thần ngã. Đường dịch “Chấp có tự tánh, và do Sĩ phu. Cầu na chuyển biến tạo tất cả vật. Chấp tác giả này là Niết-bàn.”

✅ Đây chẳng phải trí huệ chân chánh, nên nói trí huệ ác thiêu đốt, là nói bị tà kiến thiêu đốt, không thể vào cửa thanh lương.

Hoặc cho là phước, chẳng phải phước hết.

✅ Đây chấp cái không rỗng rang là Niết-bàn. Chẳng phải phước là tội, nghĩa là tội phước đều không, chính chỉ bác không nhân quả.

Hoặc cho là các phiền não chấm dứt, hoặc cho là trí huệ.

✅ Đây chấp tám vạn kiếp hết rồi tự nhiên đắc đạo, cho đây là Niết-bàn.

Đường dịch: “Hoặc chấp không do trí huệ mà các phiền não hết”. ✅ Đây chính là chấp tột cùng số kiếp phàm phu, thời tiết chín mùi đắc đạo, nên nói không do trí huệ tôi luyện mà các phiền não tự dứt.

Hoặc thấy Tự tại là chân thật tạo tác sanh tử, khởi tưởng Niết-bàn.

✅ Đây chấp trời Đại Tự Tại, thể thật biến khắp thường còn hay sanh các pháp, cho đây là Niết-bàn. Do thấy thể ấy thật biến khắp thật thường còn, nên nói chân thật tạo tác sanh tử.

Hoặc bảo là lần lượt sanh nhau, (Đường dịch: Chúng sanh lần lượt sanh nhau) sanh tử lại không có nhân khác. Như thế tức là chấp trước nhân, mà họ ngu si không thể giác tri, do vì không biết nên khởi tưởng Niết-bàn.

✅ Đây chấp trời Đại Phạm cho là nhân sanh tử, khởi tưởng Niết-bàn.

Lăng Nghiêm nói: “Cùng tận hư không giới mười hai loài chúng sanh đều là một loại trong thân ta lưu xuất, sanh ra thắng giải. Người ấy ắt rơi vào lối chấp năng phi năng. Trời Ma-hê-thủ-la hiện vô biên thân thành bạn của họ”. Ma-hê-thủ-la là trời Sắc Cứu Cánh, tức là trời Đại Phạm. Cho Đại phạm là chủ của chúng sanh, nên nói chúng sanh lần lượt sanh nhau. Nghĩa là ngoại đạo ngu si không biết vô minh ái nghiệp là sanh nhân, mà vọng cho Đại Phạm là nhân sanh tử, nên nói Do không biết nên khởi tưởng Niết-bàn. Chú giải xưa nói Chấp sơ kiếp sanh một nam một nữ, hai người này hòa hợp lần lượt sanh. Nghĩa là tất cả vật khi diệt trở về chỗ kia, cho là Niết-bàn. Song lối chấp như vậy rất hẹp hòi, chẳng phải ý chỗ này.

Hoặc có ngoại đạo nói rằng được đạo chân đế khởi tưởng Niết-bàn.

✅ Đây chấp Minh đế cho là Chân đế, khởi tưởng Niết-bàn.

Hoặc thấy công đức, từ công đức khởi lên hòa hợp một khác, chung chẳng chung, khởi tưởng Niết-bàn.

✅ Đây chấp Lục cú là nhân của sanh sanh, cho đó là Niết-bàn.

Lục cú là: Thật, Đức, Nghiệp, Đại hữu, Hòa hợp, Đồng dị. Vọng chỉ sáu điều này đều có thật tánh, mà tất cả pháp đều từ đây sanh.

Chữ công đức trong đây tức chỉ Thật, Đức, Nghiệp; từ công đức khởi, tức Đại hữu; Đại hữu là bốn trần địa, thủy, hỏa, phong.

Lại chấp cực vi tạo thành thế giới, nên nói hòa hợp. Đường dịch: “Hoặc chấp Cầu na cùng Cầu na hòa hợp. Tánh một, tánh khác, chung và chẳng chung chấp là Niết-bàn”. Bản Đường dịch là đứng về lối chấp cực vi hay tạo thành thế giới, nên đưa ra Cầu na làm đầu, bản dịch này là hiển bày lối chấp Lục cú, nên nói công đức…

Hoặc thấy từ tự tánh khởi lên, chim khổng tước, màu sắc, các thứ tạp bảo, và gai nhọn… các tánh, thấy rồi khởi tưởng Niết-bàn.

✅ Đây chấp tự nhiên làm Niết-bàn.

✅ Đây chính là chỗ Lăng Nghiêm nói: “Chấp bổn vô nhân, nghĩa là quạ từ xưa đen, hạc từ xưa trắng, người trời vốn đứng, súc sanh vốn đi ngang, trắng chẳng do nhờ rửa mà thành, đen chẳng phải do nhuộm được. Cho đến tùng ngay cước cong, màu sắc nơi cầm thú chim muông, các thứ trân bảo, tất cả vật tượng, đều vốn vô nhân, tự nhiên như vậy”. Nên đây chấp tự nhiên là tưởng Niết-bàn.

Đại Huệ! Hoặc có giác hai mươi lăm chân thật, hoặc vua gìn giữ nước, nhận Lục đức luận, khởi tưởng Niết-bàn.

✅ Đây chấp hay hiểu được hai mươi lăm Minh đế, hay thọ Lục phần luận thủ hộ chúng sanh, tức được Niết-bàn.

Đoạn trước là chấp Minh đế, Lục cú là Niết-bàn.

Đoạn này nói hay hiểu được hai mươi lăm Minh đế, hay nhận Lục phần luận, tức có thể được Niết-bàn, cùng lối chấp trước không đồng. Bởi Lục phần luận, tức Lục cú trước, song ở trước chấp tức Lục cú là Niết-bàn.

Ở đây chấp hay hiểu hay thọ là Niết-bàn. Đường dịch: “Hoặc bảo hiểu được hai mươi lăm Minh đế tức được Niết-bàn, hoặc có thuyết nói hay thọ Lục phần, giữ gìn chúng sanh, đây là Niết-bàn”.

Hoặc thấy Thời là tác giả, thời tiết thế gian, biết như thế khởi tưởng Niết-bàn.

✅ Đây chấp Thời tức Niết-bàn.

Trong Lục cú của ngoại đạo, y cứ vào Thật cú lại có chín pháp là Tứ đại, Không, Thời, Phương, Hòa, Hợp. Lại có bảy hạng ngoại đạo: Một chấp Đại Phạm, hai chấp Thời, ba chấp Phương, bốn chấp Bản tế, năm chấp Tự nhiên, sáu chấp Hư không, bảy chấp Ngã. Cho bảy pháp này là thường trụ thật có, đầy đủ các công đức, sanh tất cả pháp. Chữ Thời trong đây tức là một trong bảy lối chấp ấy.

Bốn pháp: Đại Phạm, Phương, Tự nhiên, Ngã, trước đã nêu ra, cùng với Thời nêu chung là năm pháp. Còn Bản tế, Hư không, sở dĩ không nêu rõ, đã có trong lối chấp tội phước tận, tức cái không rỗng rang.

Lối chấp trước đã bao hàm, nên không nêu nữa. Ngoại đạo ở Tây Vức, ngoài Lục sư lại có hạng ngoại đạo chấp bảy pháp, nên cổ đức nói Sáu nhà bảy tông là đây vậy.

Hoặc nói là tánh, hoặc nói chẳng phải tánh, hoặc nói tánh phi tánh.

✅ Đây là chấp về ba câu trong tứ cú: Có, Không, cũng Có cũng Không là Niết-bàn.

Đường dịch: “Hoặc chấp có vật là Niết-bàn, hoặc chấp không vật là Niết-bàn, hoặc chấp có vật không vật là Niết-bàn”.

Hoặc thấy hữu giác cùng Niết-bàn sai biệt, khởi tưởng Niết-bàn.

✅ Đây là chấp lại có dị nhân, dùng Thắng tánh làm Niết-bàn.

Quyển đầu nói “Ngoại đạo nói lưu chú là Sanh nhân, chẳng phải nhãn thức, sắc trần, ánh sáng hòa hợp sanh, lại có dị nhân. Dị nhân ấy, hoặc là Thắng diệu, hoặc là Sĩ phu, hoặc Tự tại hoặc Thời, hoặc Vi trần…”. Trước đã phát minh, đây chính là chấp Thắng diệu là Niết-bàn. Nên nói: Thấy hữu giác cùng Niết-bàn sai biệt. Hữu giác tức chỉ thắng tánh, sai biệt với Niết-bàn là vì bốn thắng tánh có thể đến Niết-bàn nên chẳng đồng Niết-bàn, nên đối thắng tánh khởi tưởng Niết-bàn, đây đặc biệt chấp lầm.

Căn cứ bản Đường dịch: “Hoặc chấp các vật cùng Niết-bàn không khác, khởi tưởng Niết-bàn”. Chữ các vật là chỉ chung Thắng diệu, Tự tại, Sĩ phu, Thời, Vi trần… Các tác giả này đều là Niết-bàn.

Có những thứ vọng tưởng như thế, chỗ lập thuyết của ngoại đạo, không thành chỗ thành, đó là chỗ người trí trừ bỏ.

✅ Đây kết thúc lỗi của vọng chấp trên.

Đoạn trên nêu ra hai mươi mốt thứ tướng Niết-bàn của ngoại đạo, bảo là những thứ như thế, các vọng tưởng của ngoại đạo, nói về Niết-bàn đều không thành Niết-bàn chân thật, nên là chỗ bỏ đi của người trí.

Đại Huệ! Tất cả đều rơi vào nhị biên, khởi tưởng Niết-bàn. Nhưng vọng tưởng về Niết-bàn của ngoại đạo như thế, trong ấy không có hoặc sanh hoặc diệt.

✅ Đây giải thích lý do không thành tựu ở trên.

Sở dĩ họ không thể thành Niết-bàn chân thật, vì rơi vào nhị biên, sở dĩ rơi vào nhị biên, vì họ không lìa tướng vọng tưởng sanh diệt. Kỳ thật tức ngay trong vọng tưởng Niết-bàn của họ, vốn không có tướng sanh diệt. Chỉ vì ngu phu vọng tưởng tự sanh diệt thôi, nên nói: Trong ấy không có hoặc sanh hoặc diệt.

Đại Huệ! Mỗi mỗi Niết-bàn của ngoại đạo, bọn họ tự luận, trí huệ quán sát, đều không chỗ lập. Như vọng tưởng kia, tâm ý đến đi trôi nổi lưu động, tất cả không có người được Niết-bàn.

✅ Đây kết luận chỉ ra pháp của họ rỗng không chẳng có lợi ích.

Nghĩa là Niết-bàn của ngoại đạo đều y cứ vào tự tông mà sanh vọng tưởng, trái với chánh lý.

Nếu dùng trí huệ quán sát thì không thành tựu, nên nói đều không chỗ lập. Nếu theo vọng tưởng của họ mà tìm cầu, chỉ khiến tâm ý trạo cử tán loạn, qua lại trôi nổi lưu động, luống phí công cần mẫn siêng năng, rỗng tuếch không lợi ích, nên nói: Tất cả không có được Niết-bàn.

✅ Đây là lý do không nên gần gũi tu tập.

  • Trên trình bày tông tà* Dưới nêu chỉ quả chứng

H₂ - Chỉ tối thượng nhất thừa chánh quả

Đại Huệ! Như ta nói về Niết-bàn, nghĩa là khéo giác tri tự tâm hiện lượng, không mắc kẹt nơi ngoại tánh, lìa tứ cú, thấy chỗ như thật, không rơi vào vọng tưởng tự tâm hiện nhị biên, nhiếp sở nhiếp đều bất khả đắc, tất cả độ lượng, không thấy chỗ thành.

Ngu mê nơi chân thật không nên nhiếp thọ, bỏ chỗ ấy xong, được pháp tự giác của bậc thánh, biết hai vô ngã, lìa hai phiền não, trừ sạch hai chướng, vĩnh ly nhị tử, tiến lên các địa được Như Lai địa, (Đường dịch: Chuyên tu các địa, vào Phật địa) các tam-muội sâu xa như ảnh huyễn, lìa tâm ý ý thức, gọi tên là Niết-bàn.

Đại Huệ! Ông và các Đại Bồ-tát nên tu học, nên chóng xa lìa tất cả kiến chấp về Niết-bàn của ngoại đạo.

✅ Đây nêu lời Phật nói về quả chân thường của Đại Niết-bàn vô thượng.

Ý rằng ta nói Đại Niết-bàn, như Đường dịch: “Chỉ hay liễu đạt tự tâm hiện lượng không chấp vào ngoại cảnh, xa lìa tứ cú, trụ chỗ thấy như thật, không rơi vào nhị biên, lìa chỗ năng sở thủ, không vào các lượng, không kẹt chỗ chân thật, trụ chỗ thánh trí hiện các pháp. Như thế liền có thể ngộ hai vô ngã, lìa hai phiền não, trừ sạch hai thứ chướng, chuyên tu các địa, vào Phật địa. Được các đại tam-muội như huyền, lìa tâm ý ý thức, đây gọi là Niết-bàn. Ta nói như thế mà thôi, chẳng như các vọng tưởng chấp trước so đo của ngoại đạo ngu phu. Thế nên người tu hành như thật nên gấp xa lìa tất cả những kiến chấp về Niết-bàn của ngoại đạo vọng tưởng, không nên gần gũi tập tành”.

Trên đây, cuối chương đã nói rõ về hành tướng nhân quả của nhất thừa, trong phần hiển quả đức, đương cơ bèn hỏi Phật về trí giác. Thế Tôn đáp dùng nhân pháp vô ngã, biết rõ nhị chướng, lìa hai thứ tử, đoạn hai phiền não. Đây gọi là tri giác của Phật.

Nay chương này giảng về phần đoạn chứng, nên từ chỗ phá nhị kiến, đoạn hai chướng, rõ hai vô ngã, cho đến trí cảnh đều vong, tâm pháp đều dẹp, đã tột đỉnh vong ngôn khế chứng, sau bèn hiển tự hạnh công viên, dạy dùng để lợi tha. Hạnh lợi tha viên mãn, nên đặc biệt phân biệt quả đức tà chánh, cho đến quả vô thượng Đại Niết-bàn, mới là tướng cứu cánh của tu hành như thật. Đến đây chỉ quả đức đã xong, sau nói rõ hai vô ngã… để kết thúc phần đoạn chứng công viên, tu hành cực tắc. Đây là ý chỉ thông đồ. Người xem biết huyết mạch của thông đồ, mới thấy bổn ý thuyết pháp của thánh nhân, không trôi trong sự ức đoán. Người trí nên biết.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Ngoại đạo chấp Niết-bàn

Mỗi mỗi khởi vọng tưởng

Đây từ tâm tưởng sanh

Không phương tiện giải thoát.

Ngu chỗ buộc bị buộc

Xa lìa phương tiện khéo

Ngoại đạo tưởng giải thoát

Giải thoát trọn chẳng sanh.

Các trí mỗi khác đường

Chỗ thấy ngoại đạo thông

Họ ắt không giải thoát

Vì ngu si vọng tưởng

GIẢI

✅ Đây tụng về đoạn trước có nhiều hạng ngoại đạo kiến chấp về Niết-bàn, chỉ theo mỗi mỗi tự tâm vọng tưởng sanh, thật ra đều không có phương tiện giải thoát.

Do không có phương tiện khéo, nên ngu mê trong chỗ trói buộc, không thể đến chỗ không trói buộc. Do cố định chấp Niết-bàn có thể thủ, nên bị Niết-bàn trói buộc, rồi dùng vọng kiến chấp thủ điều đó, nên là hay trói buộc. Nếu đem chỗ trói buộc và bị trói buộc làm tưởng giải thoát, thì trọn không giải thoát. Do các trí thức của họ có nhiều đường hướng khác, chỗ thấy không đồng nhất, mà họ không ngộ, trở lại cho đó là thông, há chẳng là rất ngu ư? Họ ắt hoàn toàn không có lý giải thoát, chỉ là sự phân biệt của ngu si vọng tưởng.

🪷

Tất cả hàng ngu, ngoại

Vọng thấy tác, sở tác

Luận về phẩm có, không

Ắt họ không giải thoát.

Phàm ngu ưa vọng tưởng

Không nghe huệ chân thật

Ngôn ngữ gốc ba khổ

Chân thật diệt nhân khổ

GIẢI

✅ Đây nói các lỗi của ngoại đạo vọng chấp, đều do không nghe trí huệ chân thật, chỉ y cứ danh ngôn vọng tưởng mà lập.

Họ không biết ngôn ngữ là gốc của ba khổ, chân thật là nhân diệt khổ, không theo chân thật mà theo ngữ ngôn, chính là dùng khổ để bỏ khổ, nên thảy không giải thoát. Ba khổ là khổ khổ, hành khổ, hoại khổ.

🪷

Giống như bóng trong gương

Tuy hiện mà chẳng có

Đối tâm cảnh vọng tưởng

Người ngu thấy có hai.

Không biết tâm và duyên

Ắt khởi hai vọng tưởng

Rõ tâm và cảnh giới

Vọng tưởng ắt chẳng sanh

GIẢI

✅ Đây tụng thí dụ để hiển hạnh như thật.

Nghĩa là các pháp căn, trần, năm uẩn trong ba cõi, xưa nay chẳng có, như bóng trong gương. Tuy có mà thật chẳng có. Chỉ có trong tâm cảnh vọng tưởng của người ngu, thấy có danh tướng sự tướng nên tâm cảnh đối lập. Do không biết tâm cảnh xưa nay vắng lặng, nên vọng khởi nhị kiến, nếu rõ duy tâm hiện lượng, năng sở đều quên, thì ngay đó vọng tưởng không sanh, tức là chánh trí như như vậy.

🪷

Tâm ấy là các thứ

Xa lìa tướng sở tướng

Việc hiện mà không hiện

Như vọng tưởng của kia

Ba cõi chỉ vọng tưởng

Nghĩa ngoài ắt không có

Vọng tưởng hiện các thứ

Phàm ngu không thể biết

GIẢI

✅ Đây tụng giải thích nghĩa duy tâm ở trên.

Nghĩa là tất cả các pháp duy tâm hiện, thì các thứ tức là tâm, tâm tức là các pháp. Chỉ là nhất tâm, rõ không có năng sở, tức các pháp hiện tiền tuy hiện mà không hiện, cũng chỉ như vọng tưởng của người ngu, chỉ là điên đảo của tự tâm. Cho nên ba cõi duy tâm, chỉ vọng tưởng thấy, thật không có ngoại cảnh để làm duyên cho tâm. Sợ người ngu không thể biết điều này, vọng sanh phân biệt.

🪷

Các kinh nói vọng tưởng

Trọn không ra khỏi danh

Nếu lìa được ngôn thuyết

Cũng không có sở thuyết

GIẢI

✅ Đây tụng kết luận hiển bày các pháp chỉ do danh ngôn làm thể. Bởi trong tất cả kinh nói vọng tưởng, đều không ra khỏi danh ngôn, nếu biết danh ngôn thể không, tức vọng tưởng các pháp đều bất khả đắc.

  • Phân đoạn lớn của kinh nói quả hai chuyển y, phần trên nói chuyển sanh tử làm Niết-bàn đã xong.

GHI CHÚ

⏯️ (tiếp theo)

QUYỂN THỨ VII

CHƯƠNG BỐN - PHẦN ĐẦU

Phần trước quả chuyển y Niết-bàn đã xong.Sau đây quả chuyển y Bồ-đề.

G₂ - Quả chuyển y Bồ-đề. Tứ đức chia làm 5:

H₁ - Hiển đức pháp thân chân ngã

H₂ - Hiển đức pháp thân chân thường

H₃ - Hiển đức pháp thân chân lạc

H₄ - Hiển đức pháp thân chân tịnh

H₅ - Thích nghi khuyến tu

🌳🌲🌵

H₁ - Hiển đức pháp thân chân ngã. Có 2:

I₁ - Hiển tam đức bí tạng

I₂ - Hiển nhất tâm chân như

🌳🌲🌵

I₁ - Hiển tam đức bí tạng

🪷

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tam-miệu tam-phật-đà, con và các Đại Bồ-tát khác khéo rành về tự tánh Như Lai, tự giác giác tha.

GIẢI

Phần trước hiển bày quả chuyển y Niết-bàn đã xong.

Phần này hiển bày quả chuyển y Bồ-đề, trước tiên nói ba đức bí tạng để nêu cứu cánh chân ngã, nên thưa thỉnh về chánh biến chánh giác khéo rành về tự tánh Như Lai.

Tam-miệu, Trung Hoa dịch là chánh biến, tam-phật-đà Trung Hoa dịch là chánh giác. Tự tánh Như Lai tức tự tánh pháp thân, chính là cứu cánh chân ngã.

Những điều đã nói trước đây, bởi phàm phu chấp trước thân năm uẩn giả ngã, ngoại đạo vọng chấp thần ngã, nên Thế Tôn dùng vô ngã để phá. Nay vọng chấp đã phá, quả đức đã hiển bày nên nói pháp thân chân ngã. Vả lại, nói tự tánh Như Lai tức pháp thân chân ngã, vì ngoại đạo vọng chấp thật có tự tánh hay sanh các pháp nên Thế Tôn dùng không, vô sanh, không hai, lìa tự tánh để phá chấp ấy. Nay vọng chấp đã phá, pháp thân đã hiện nên đến đây nói tự tánh pháp thân Như Lai chân thường, để hiển tự giác thánh trí chân ngã.

Phật bảo Đại Huệ: Cho phép ông hỏi, ta sẽ tùy theo chỗ hỏi mà đáp.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác là tạo tác ư? Là chẳng tạo tác ư? Là sự ư? (Hai bản dịch đều nói là quả ư?) Là nhân ư? Là tướng ư? Là sở tướng ư? Là thuyết ư? Là sở thuyết ư? Là giác ư? Là sở giác ư? Những câu như thế khác hay chẳng khác?

Sắp hiển bày pháp thân lìa lỗi dứt quấy, để hiển bày đoạn đức, nên đưa ra lỗi quấy, để thưa thỉnh.

Câu “khác chẳng khác” nghĩa là khác với câu có pháp thân Như Lai ư? Là chẳng khác với những câu là pháp thân Như Lai ư? Sau đây Như Lai đáp, chỉ thẳng cứu cánh nguồn chân nhất tâm, nên nói tất cả đều chẳng phải. Luận nói: Nên biết chân như, chẳng hữu tướng, chẳng vô tướng, chẳng nhất tướng, chẳng dị tướng…

Phật bảo Đại Huệ: Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác đối với những câu như thế, chẳng phải sự, chẳng phải nhân. Vì sao? Vì đều có lỗi.

Đây chỉ thẳng nguồn chân nhất tâm lìa lỗi dứt quấy. Nếu nói pháp thân là tạo tác, là không tạo tác, là quả là nhân… đều có lỗi. Đường dịch: Nói chung là chẳng phải.

Đại Huệ! Nếu Như Lai là sự, thì hoặc tạo tác, hoặc vô thường. Nếu vô thường thì tất cả sự nên là Như Lai, đều là chỗ không mong muốn của ta và chư Phật. Nếu chẳng phải sở tác vì vô sở đắc, thì không có phương tiện, đồng với sừng thỏ, con của gái đá, vì không có.

Đây nêu lý do lỗi của đoạn trên.

Nếu nói Như Lai pháp thân là quả, là sự, ắt đồng với hữu tác, phàm có tạo tác đều là vô thường. Nếu cho vô thường là pháp thân, thì tất cả sự việc vô thường ở thế gian đều là Như Lai! Đâu từng có pháp thân Như Lai là vô thường ư? Kinh nói: Nếu dùng mắt thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai. Bản Ngụy nói: Không chấp nhận điều này, lỗi chấp Như Lai là sự là tác giả, ắt rơi vào lỗi vô thường.

Lại nếu chấp Như Lai là không tạo tác, ắt đồng với vô sở đắc. Đã là vô sở đắc thì không có các thứ phương tiện huân tu, như sừng thỏ, con gái đá, vốn không chỗ có. Chấp có không, hai kiến đều lỗi.

Đại Huệ! Nếu chẳng phải sở tác, thì Như Lai là nhân. Nếu là nhân ắt rơi vào lỗi tác giả. Nếu là tác giả ắt là sở tác. Nếu chẳng phải nhân chẳng phải quả, thì rơi vào lỗi đoạn diệt.

Đây phá lỗi chấp là nhân.

Nếu nói Như Lai là nhân, nhân ắt có năng sanh, liền đồng với tác giả là tạo tác. Đã là tác giả, ắt có sở tác, sở tác ắt đồng với quả, quả ắt đồng với pháp hữu vi vô thường. Nên nói ắt là sở tác. Nếu nói chẳng phải nhân chẳng phải quả, ắt đồng với hư không, rơi vào kiến chấp đoạn diệt.

Đại Huệ! Lại Như Lai không kẹt vào tướng và sở tướng. Nếu Như Lai là tướng và sở tướng, ắt là có tạo tác, có tướng năng sở.

Đây phá lỗi chấp Như Lai là tướng và sở tướng.

Tướng là năng hiện, sở tướng là sở hiện. Như Lai lìa tất cả tướng, vốn không năng sở, nếu thấy có tướng năng sở, liền đồng với hữu vi tạo tác.

Như Lai là thuyết ư? Là sở thuyết ư? Nếu là sở thuyết ắt đồng với vọng tưởng, do vì năng thuyết là nhân.

Đây phá lỗi chấp là thuyết và sở thuyết.

Đây đem chỗ các pháp như ngũ ấm đều có tự tánh để so sánh hiển bày pháp thân thật có chân ngã, để nói tuy vượt nhân quả mà không đoạn diệt.

Ý rằng ta nói Như Lai lìa tứ cú có không, chẳng phải là tuyệt đối không, chìm trong đoạn diệt, vì có pháp thân chân ngã tự tánh. Vì sao? Như bình thường ta nói tất cả các pháp thảy đều vô ngã, nên biết cú nghĩa vô ngã này! Bởi ngã là nghĩa chủ tể tự tại mà trong các pháp không có chủ tể, không được tự tại, do nghĩa này, nên nói vô ngã mà chẳng phải tuyệt đối không có tự tánh các pháp, vì thế nói nên biết nghĩa này. Tánh vô ngã là không có ngã, thí như trong thân người khác không có tánh ta, trong tự thân ta không có tánh người khác, chẳng phải không có tự thân của ta của người. Vì vậy nói: Tất cả pháp có tự tánh không tha tánh, như trâu ngựa. Nên biết cú nghĩa chân ngã Như Lai cũng thế.

Đại Huệ! Thí như chẳng phải tánh trâu ngựa. Chẳng phải tánh trâu ngựa, kỳ thật chẳng có chẳng không, chẳng phải chúng không tự tánh.

Như thế, này Đại Huệ! Tất cả các pháp chẳng phải không tự tướng. Có tự tướng, chỉ là chẳng phải chỗ có thể biết của hàng vô ngã và ngu phu, vì vọng tưởng mà thôi. Như thế tất cả pháp không, vô sanh, không tự tánh, nên biết như thế.

Đây dùng thí dụ để giải thích nghĩa pháp thân có tự tánh.

Bởi pháp thân và thân năm uẩn chẳng khác chẳng giống. Pháp thân ẩn trong năm uẩn, ắt là pháp thân không tự tánh, song chẳng phải năm uẩn không tự tánh, như trong trâu không có tánh ngựa, chẳng phải không có tánh trâu. Pháp thân hiển lộ trong các pháp, ắt các pháp không tự tánh chớ chẳng phải pháp thân không có tự tánh, như trong ngựa không có tánh trâu, chẳng phải không có tánh ngựa. Nên nói như trâu ngựa, kỳ thật chẳng có chẳng không, chẳng phải chúng không tự tánh. Thế nên tất cả các pháp đều có tự tướng pháp thân thường trụ, chỉ là không phải chỗ có thể biết của hàng vô ngã và ngu phu. Vô ngã là hàng Nhị thừa, ngu phu là ngoại đạo. Sở dĩ họ không thể biết, vì họ dùng vọng tưởng phân biệt tự tánh các pháp.

Không những cú nghĩa pháp thân như vậy, mà ta nói tất cả pháp không, tất cả pháp vô sanh, tất cả pháp không tự tánh, mỗi mỗi đều nên biết như vậy. Bởi đoạn trước, do hàng Nhị thừa ngoại đạo vọng chấp các pháp cho là thật có tự tánh, có sanh, nên ta nói không, vô sanh, không tự tánh để ngăn dẹp đó. Đó là chỉ phá chấp kia, mà không phá pháp kia, chẳng phải thật là không có tự tánh pháp thân thường trụ.

Như thế, Như Lai (Ngụy dịch: Pháp thân Như Lai cũng lại như thế) cùng với ấm chẳng phải khác, chẳng giống. Nếu không khác với ấm lẽ ra vô thường.

Nếu khác thì không phương tiện. Nếu là hai thì lẽ ra có khác, như sừng trâu nên chẳng khác; dài ngắn sai biệt, nên có khác. Tất cả các pháp cũng như thế.

Đây chính là giảng rõ pháp thân và năm ấm lìa khác chẳng khác để hiển bày pháp thân bình đẳng.

Vĩnh Gia nói: Huyền hóa không thân tức pháp thân, vậy nên pháp thân và năm ấm, không thể nói khác hay chẳng khác. Nếu pháp thân cùng với ấm chẳng khác, thì ấm vô thường, pháp thân cũng theo đó vô thường. Nếu pháp thân khác với ấm, thì năm ấm có tướng mà pháp thân không tướng, không tướng ắt là không, không ắt đoạn diệt, diệt thì tuy tu mà không thủ chứng, nên nói không phương tiện. Như thế thì khác và chẳng khác không ra ngoài danh ngôn, đều chẳng thật.

Đã lìa một khác, ắt là không có hai, nếu có hai tức phải có khác. Nhưng pháp thân và ấm, cùng xuất hiện mà tên khác, như trâu có hai sừng vốn là một thể nên không khác, song năm ấm sanh diệt, còn pháp thân trạm nhiên, như sừng có dài ngắn sai khác, nên có khác. Không riêng gì ấm và pháp thân, các pháp đều như vậy, nên nói Tất cả pháp cũng như thế.

Đại Huệ! Như trâu, sừng trái khác sừng phải, sừng phải khác sừng trái. Như thế dài ngắn, các màu sắc mỗi mỗi khác.

Đại Huệ! Như Lai ở nơi ấm giới nhập, chẳng khác chẳng không khác.

Đây nói pháp thân so sánh không thể được.

Nghĩa là pháp thân cùng với ấm giới nhập, tuy nói là đồng một thể không khác, như hai sừng của trâu.

Sừng trâu còn có bên phải bên trái, dài ngắn tướng sai khác nhất định, mà pháp thân cùng với ấm giới nhập rốt ráo không khác. Nên bản Ngụy dịch: Như thế, tướng pháp thân Như Lai, đối với ngũ ấm không thể nói một, không thể nói khác.

Đoạn trên nói rõ pháp thân với năm ấm thế gian lìa khác, chẳng khác.

Như thế Như Lai giải thoát, chẳng khác chẳng không khác. Như thế Như Lai, dùng từ giải thoát để gọi.

Đây nói rõ pháp thân cùng giải thoát xuất thế lìa khác chẳng khác để hiển bày đức giải thoát.

Ngụy dịch: Đối với giải thoát không thể nói một, không thể nói khác. Như thế vì y cứ giải thoát, gọi là tướng pháp thân Như Lai.

Nếu Như Lai khác giải thoát, lẽ ra do sắc tướng thành, vì do sắc tướng thành nên phải vô thường. Nếu chẳng khác, người tu hành được tướng giải thoát lẽ ra không thể phân biệt, song người tu hành thấy có phân biệt. Thế nên chẳng khác chẳng không khác.

✅ Đây giải thích pháp thân cùng với giải thoát lìa khác chẳng khác để hiển đức giải thoát.

Nghĩa là nếu pháp thân khác giải thoát, mà giải thoát tức Niết-bàn, Niết-bàn không tướng, nếu pháp thân khác với đây, thì thuộc sắc tướng. Phàm sắc tướng đều là vô thường mà pháp thân đồng sắc tướng, phải rơi vào vô thường.

Đây là lỗi chấp khác. Nếu pháp thân không khác giải thoát, thì không năng sở, nếu không năng sở thì nhân quả không phân biệt, không ngăn người tu hành hiện có năng chứng sở chứng sai biệt, nên chẳng phải chẳng khác. Bản Ngụy dịch: Nếu pháp thân Như Lai không khác giải thoát, thì không có sự sai biệt giữa năng chứng sở chứng, mà người tu hành ắt thấy có năng chứng và sở chứng. Vả lại có năng sở, chẳng phải chẳng khác vậy.

Như thế, trí và nhĩ diệm, chẳng khác chẳng không khác.

Đây nói rõ trí năng quán cùng cảnh sở quán chẳng khác và giống, để hiển đức Bát-nhã.

Bản Đường dịch: Như thế trí và sở tri chẳng khác chẳng giống. Đây trình bày pháp thân, giải thoát, Bát-nhã chẳng khác chẳng không khác, để hiển bày rốt ráo tạng bí mật nhất tâm tam đức, chẳng ngang chẳng dọc, viên mãn dung nhiếp. Vĩnh Gia nói: Pháp thân chẳng si mê tức Bát-nhã, Bát-nhã không chấp trước tức giải thoát, giải thoát tịch diệt tức pháp thân. Nêu một tức đủ cả ba, nói ba mà thể tức một. Thế nên tam đế nhất cảnh, lý pháp thân hằng thanh tịnh; tam trí nhất tâm, cái sáng của Bát-nhã thường chiếu; cảnh trí thần hợp, cái ứng dụng của giải thoát tùy căn cơ. Chẳng phải ngang chẳng phải dọc, đạo như chữ y ba điểm tròn đủ thầm hội. Nên biết diệu tánh của ba đức rõ ràng không trái, nhất tâm sâu rộng khó nghĩ bàn, chỗ xuất yếu nào chẳng phải con đường.

Thế nên tức tâm là đạo, có thể nói tìm dòng mà được nguồn. Nên văn sau giải thích chỗ căn lượng đều chẳng phải, để hiển bày rốt ráo tột cùng nhất tâm.

Đại Huệ! Trí và nhĩ diệm, chẳng khác chẳng không khác, chẳng thường chẳng vô thường, chẳng tác chẳng sở tác, chẳng hữu vi chẳng vô vi, chẳng giác chẳng sở giác, chẳng tướng chẳng sở tướng, chẳng ấm chẳng khác ấm, chẳng thuyết chẳng sở thuyết, chẳng một chẳng khác, chẳng chung chẳng riêng.

Thảy đều lìa tất cả lượng, lìa tất cả lượng ắt không ngôn thuyết, không ngôn thuyết ắt vô sanh, vô sanh ắt không diệt, không diệt ắt tịch diệt, tịch diệt thì tự tánh Niết-bàn, tự tánh Niết-bàn thì vô sự vô nhân, vô sự vô nhân ắt không phan duyên, không phan duyên ắt ra khỏi tất cả hư ngụy, ra khỏi tất cả hư ngụy ắt là Như Lai.

Như Lai là tam-miệu tam-phật-đà. Đại Huệ! đây gọi là tam-miệu tam-phật-đà.

Đây hiển bày tột cùng quả chuyển y tịch diệt nhất tâm chân như tự tánh, để đáp lời thưa hỏi gần mà tổng kết chung đoạn trước về chỗ quy thú rốt ráo để hiển pháp thân lìa tất cả tướng.

Luận nói: Nên biết tự tánh chân như chẳng có tướng chẳng không tướng, chẳng phải không có tướng, chẳng phải không không tướng, chẳng phải có cả tướng có không, chẳng phải tướng một, chẳng phải tướng khác, chẳng phải chẳng tướng một, chẳng phải chẳng tướng khác. Chẳng phải tướng chung của một khác…

Nói tóm lại y theo tất cả chúng sanh do có vọng tâm niệm niệm phân biệt đều chẳng tương ưng, nên nói là không.

Nếu lìa vọng tâm thật chẳng thể là không. Do thật chẳng thể là không, nên nói Như Lai có chân thật tự tánh. Kinh nói: Như Lai tức là nghĩa Như của các pháp vì tất cả pháp đều đồng Như, nên nói ra khỏi tất cả tất cả hư ngụy tức là Như Lai. Vì vừa dính vào ngôn ngữ nói năng, đều rơi vào hí luận.

Ban đầu Đại Huệ hỏi nghĩa trăm lẻ tám câu, mà Thế Tôn đáp thẳng tất cả đều phi. Do nhất tâm chân như bình đẳng tịch diệt, vốn không ngôn thuyết. Nay từ cửa sanh diệt phương tiện tiếp dẫn cùng tột trở về chỗ này. Thế nên hiển bày nhân quả lý hạnh đoạn chứng đã xong, rồi dùng nhất tâm chân như Niết-bàn Bồ-đề tổng kết, vì chân như rốt ráo lìa tất cả tướng, nên tất cả đều phi. Đây là tức ngôn thuyết hiển vô ngôn, trong phần đáp riêng đó vậy. Dùng chính chỗ này để giảng rõ Bồ-đề, song chỉ gọi là Như Lai pháp thân, e người mê muội không biết, nên kết luận chỉ dạy Như Lai tức tam-miệu tam-phật-đà.

Đại Huệ! tam-miệu tam-phật-đà, phật-đà là lìa tất cả căn lượng.

Đây tổng kết pháp thân Như Lai lìa cảnh giới tâm ý thức.

Một phen Đại Huệ hỏi Thế Tôn đáp, cho đến lần lượt trùng trùng biện luận, chỉ hiển cảnh giới lìa tâm ý thức này mà thôi. Không riêng gì ở hội này mà bốn mươi chín năm trên ba trăm hội thuyết pháp cũng là hiển bày chỗ này. Cho đến ba đời chư Phật chứng đắc, lịch đại Tổ sư truyền trao, cũng chỉ chỗ này mà thôi, lại không có pháp khác. Kinh Pháp Hoa nói: “Chỉ một sự thật này, còn hai ắt không chân”. Đây chính là cổ đức nói chỗ tâm thức không đến, vì vậy nói phật-đà là lìa tất cả căn lượng.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Thảy lìa các căn lượng

Không sự cũng không nhân

Đã lìa giác sở giác

Cũng lìa tướng sở tướng.

✅ Đây tụng chung pháp thân lìa các lỗi.

Căn lượng là cảnh giới của thấy nghe hiểu biết. Do pháp thân ly niệm chẳng phải chỗ tâm hành, nên lìa tất cả nhân quả năng sở.

Ấm duyên Đẳng chánh giác

Một khác, không thể thấy

Nếu không thể thấy có

Làm sao mà phân biệt?

✅ Đây tụng năm ấm và pháp thân bình đẳng không hai.

Dùng chánh nhãn mà quán, chân vọng bình đẳng, nên một khác không thể thấy, đã không có một khác để thấy làm sao có thể phân biệt ư?

Chẳng tác chẳng không tác

Chẳng sự cũng chẳng nhân

Chẳng ấm chẳng tại ấm

Cũng chẳng có dư tạp.

Cũng chẳng có các tánh

Như chỗ vọng tưởng thấy

Nên biết cũng chẳng không

Pháp pháp nào cũng vậy.

✅ Đây tụng pháp thân thuần tịnh.

Vì pháp thân thuần tịnh nên tất cả đều phi, tuy không các tướng như chỗ vọng thấy, mà chân như tự tánh cũng lại chẳng không. Do pháp pháp đều chân, nên nói cũng vậy.

Do có nên có không

Do không nên có có

Nếu không chẳng nên nhận

Nếu có chẳng nên tưởng.

✅ Đây tụng nói có không đối đãi nhau mà sanh, không nên khởi nhị kiến.

Nghĩa là pháp thân tuy lìa các tướng, không rơi vào đoạn diệt, nên không thể chấp không. Nên biết pháp thân chẳng phải không, mà thật có tự tánh, nếu đối với tự tánh pháp thân mà lại khởi thấy có, cũng là vọng tưởng, nên nói Nếu Không chẳng nên nhận, nếu Có chẳng nên tưởng. Bản Ngụy dịch: “Không đã chẳng thể nhận, Có cũng chẳng nên nói”. Đây chính là chỗ thảy lìa các căn lượng.

Hoặc đối ngã phi ngã

Lượng ngôn thuyết trôi chảy Chìm đắm nơi nhị biên,

Tự hoại hoại thế gian. Giải thoát tất cả lỗi

Chánh quán chỗ ta thông Đây gọi là chánh quán,

Không hủy đại đạo sư.

✅ Đây tụng hiển bày lìa lỗi, kết lại quy về quán tâm.

Ở trước nhân phàm phu vọng chấp giả ngã, ngoại đạo vọng chấp thần ngã, nên Phật dùng lời vô ngã để phá. Rồi hàng Nhị thừa lại chấp “vô ngã” là thật pháp, nên đây nói pháp thân chân ngã để phá. Ý rằng trước đó nói ngã hay phi ngã đều là lượng ngôn thuyết, đều đã rơi trong nhị kiến rồi.

Nay nếu đối với chỗ hiển bày pháp thân chân ngã cho là đúng, rồi cho nhị ngã đã nói ở trước là sai, điều này cũng rơi vào lượng ngôn thuyết, trôi nổi chìm đắm ở trong nhị biên có không, rốt cuộc chẳng phải cứu cánh.

Không riêng tự hoại, cũng hoại kẻ khác. Vì sao? Vì chỉ có ngôn thuyết đều không có thật nghĩa, vì đều là hí luận. Nếu giải thoát tất cả những lỗi trên, hay chánh niệm quán sát chỗ ta thông đạt lìa tâm ý thức.

Đây gọi là chánh quán, không phỉ báng chánh pháp, không hủy đạo sư. Nếu quán khác đều là tà kiến.

  • Trước nói về quả chuyển y Bồ-đề, để hiển pháp thân ba đức bí tạng để kết quy về quán tâm đã xong.

  • Sau đây hiển nhất tâm chân như lìa tất cả tướng gồm quy đệ nhất nghĩa đế.

I₂ - Hiển nhất tâm chân như, có 2:

K₁ - Lìa tướng danh tự

K₂ - Lìa tướng ngôn thuyết

🌳🌲🌵

K₁ - Lìa tất cả tướng danh tự

Lúc bấy giờ Đại Huệ Bồ-tát lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Thế Tôn nói Tu-đa-la nhiếp thọ bất sanh bất diệt. Lại nữa Thế Tôn nói bất sanh bất diệt là tên khác của Như Lai. Thế Tôn! Vì sao? Vì vô tánh nên nói bất sanh bất diệt là tên khác của Như Lai? Đường dịch: Thế Tôn, như trong kinh nói phân biệt nhiếp thủ bất sanh bất diệt, nói đây là tên khác của Như Lai. Thế Tôn! Xin vì con nói bất sanh bất diệt, đây ắt là không có pháp, vì sao nói là tên khác của Như Lai?

Như Thế Tôn nói tất cả các pháp bất sanh bất diệt, nên biết đây ắt rơi trong kiến chấp có không.

Phật bảo Đại Huệ: Ta nói tất cả pháp bất sanh bất diệt, phẩm có không chẳng hiện.

Đây nạn vấn cho rõ tịch diệt nhất tâm để hiển pháp thân Như Lai lìa tướng danh tự.

Đại Huệ nhân nghe pháp thân Như Lai bất sanh bất diệt, bèn đặt nghi vấn: Như trong kinh một bề nói bất sanh bất diệt, chỉ hiển lý vô tánh mà thôi. Nay lại nói bất sanh bất diệt là tên khác của Như Lai. Song bất sanh bất diệt ắt là vô tánh, vô tánh ắt lìa tướng danh tự. Vì sao nói đây là tên khác của Như Lai? Hơn nữa bất sanh thì rơi vào không, bất diệt thì rơi vào có. Đường dịch: Thế Tôn nói tất cả pháp bất sanh bất diệt, nên biết ắt rơi vào kiến chấp có không.

Vì vậy Thế Tôn đáp: Ta nói tất cả pháp phẩm có không chẳng hiện. Vì sao? Vì bất sanh thì chẳng có, bất diệt thì chẳng không. Chẳng có chẳng không nên không thuộc về có không, nên nói phẩm có không chẳng hiện. Bản Đường dịch: “Hai kiến chấp có không”, có lời hỏi không lời đáp. Bản dịch này có lời đáp không lời hỏi, nên hai bản dịch hỗ tương phát minh.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nếu tất cả pháp bất sanh, thì không thể nhiếp thọ pháp vì tất cả pháp bất sanh. Nếu trong danh tự có pháp, cúi xin vì nói.

Đây Đại Huệ lại đem có không đặt thành nghi vấn, để rõ quả đức rốt ráo lìa tướng danh tự.

Ý rằng Thế Tôn đã nói pháp có không chẳng hiện, vì chẳng hiện ắt không thể nắm bắt, vậy nên nói không thể nhiếp thọ pháp. Đã không thể được, ắt tựu trung không lập một pháp, vì tất cả pháp bất sanh. Hơn nữa chẳng lập một pháp thì có cái gì là danh tự Như Lai ư? Đây ắt là tự ngữ tương vi. Nếu nói pháp bất sanh là danh tự Như Lai, tợ hồ trong đây lại là pháp có, chẳng thể vượt qua có không. Vì thế nói nếu trong danh tự có pháp, nghĩa này thế nào? Nguyện vì con nói.

Phật bảo Đại Huệ: Lành thay lành thay! Lắng nghe lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó. Ta sẽ vì ông giải thích rõ.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Ta nói Như Lai chẳng phải vô tánh, cũng chẳng phải bất sanh bất diệt nhiếp tất cả pháp, cũng không vì đợi duyên mà bất sanh bất diệt, cũng chẳng phải vô nghĩa.

Đại Huệ! Ta nói danh hiệu ý sanh pháp thân Như Lai. Đường dịch “Ta nói vô sanh tức là tên khác của Như Lai ý sanh pháp thân”. Chỗ bất sanh ấy chẳng phải là cảnh giới của tất cả ngoại đạo, Thanh văn, Duyên giác và hàng Bồ-tát Thất trụ (Hai bản dịch đều nói Thất địa).

Đại Huệ! Bất sanh tức tên khác của Như Lai.

Đây trách Đại Huệ lầm chấp không hiểu ý Phật, nên dùng chánh nghĩa pháp thân để đáp.

Do Đại Huệ nghi bất sanh bất diệt là đoạn diệt, lại nghi bất sanh bất diệt nhiếp tất cả pháp sanh diệt. Ý cho rằng quyết phải đợi duyên sanh diệt chấm dứt mới được bất sanh bất diệt. Nên chỗ này Phật quở rằng cũng chẳng vô tánh, cũng chẳng nhiếp tất cả pháp, cũng

chẳng đợi duyên. Bởi tuy tất cả đều phi mà cũng chẳng phải vô nghĩa. Vì sao? Vì ta nói tất cả pháp đương thể vô sanh tức là tên khác của Như Lai, chẳng phải ngoài chỗ này riêng có. Phàm ý vô sanh, là hàng Bồ-tát Bát địa thật chứng chân như bình đẳng mới có thể thấy rõ. Chẳng phải chỗ của hàng Nhị thừa ngoại đạo có thể đo lường, cũng chẳng phải cảnh giới của hàng Bồ-tát Thất địa. Vĩnh Gia nói: “Nếu thật vô sanh vô bất sanh.” Do vô sanh vô bất sanh, nên nói ý sanh pháp thân. Đã chứng bình đẳng chân như, ắt pháp pháp đều như, do pháp pháp vô sanh đương thể đều như nên vô sanh là tên khác của Như Lai. Đến cảnh giới này, không một vật nào không truyền bá danh hiệu Như Lai, không pháp nào không phô bày hình ảnh Giá-na. Vì thế văn sau dùng nhiều tên để giải thích. Triệu Châu nói: “Lão tăng lấy một cọng cỏ làm thân vàng trượng sáu, lấy thân vàng một trượng sáu dùng làm cọng cỏ. Phật là phiền não, phiền não là Phật”. Nếu chẳng phải là bậc thâm chứng vô sanh tam-muội làm sao dự vào chỗ này?

Đại Huệ! thí như Nhân-đà-la, Thích-già, Bất-lan-đà-la (Phạn ngữ: Thích-ca-đề-bà Nhân-đà-la, Trung Hoa dịch là Đế thích, lại gọi là Phú-lan-đà, lại gọi là Kiều-thi-ca, đều là tên khác của Đế thích) như thế các vật mỗi mỗi đều có nhiều tên, cũng chẳng phải vì nhiều tên mà có nhiều tánh, cũng chẳng phải là không tự tánh.

Đây thí dụ để giải thích Như Lai tuy có nhiều tên mà không có nhiều thể, để hiển chỉ một chân thật.

Đường dịch: Thí như Đế Thích, đất và hư không, cho đến tay chân, tùy mỗi mỗi vật đều có nhiều tên. Chẳng phải nhiều tên mà có nhiều thể, cũng không phải không thể. Do pháp pháp đều chân, nên tên khác mà thể đồng, chỉ cần rõ vô sanh. Thế nên chẳng do tên khác mà thể có khác, thuận theo tên mà riêng sanh dị kiến vậy.

Như thế Đại Huệ! ta ở Sa-ha này (Xưa gọi là Sa-bà, cũng gọi là Sách-ha, Trung Hoa dịch Kham nhẫn) có ba a-tăng-kỳ (Trung Hoa dịch Vô số), trăm ngàn danh hiệu người ngu đều nghe, đều nói tên ta, mà không biết đó là tên khác của Như Lai (Đường dịch: Phàm ngu tuy nghe tuy nói mà không biết là tên khác của Như Lai).

Đại Huệ! Hoặc có chúng sanh biết ta là Như Lai, có khi biết là Nhất thiết trí, có khi biết là Phật, có khi biết là Cứu thế, có khi biết là Tự giác, có khi biết là Đạo sư, có khi biết là Quảng đạo, có khi biết là Nhất thiết đạo, có khi biết là Tiên nhân, có khi biết là Phạm, có khi biết là Tỳ-nữu (Trung Hoa dịch là Đại lực), có khi biết là Tự tại, có khi biết là Thắng, có khi biết là Ca-tỳ-la (tên thành, vì Phật sanh tại thành ấy), có khi biết là Mé chân thật, có khi biết là Nguyệt, có khi biết là Nhựt, có khi biết là Vua, có khi biết là Vô sanh, có khi biết là Vô diệt, có khi biết là Không, có khi biết là Như như, có khi biết là Đế, có khi biết là Thật tế, có khi biết là Pháp tánh, có khi biết là Niết-bàn, có khi biết là Thường, có khi biết là Bình đẳng, có khi biết là Bất nhị, có khi biết là Vô tướng, có khi biết là Giải thoát, có khi biết là Đạo, có khi biết là Ý sanh.

Đại Huệ! Ba a-tăng-kỳ trăm ngàn danh hiệu như thế, không tăng không giảm, thế giới này và thế giới khác, thảy đều biết ta, như trăng trong nước, không ra không vào.

Đây nêu nhiều tên mà thể không khác, chính hiển lìa tướng danh tự.

Do thể không khác, nên như bóng trăng trong nước, không ra không vào. Đó là “một trăng hiện khắp trong tất cả nước, tất cả trăng trong nước nhiếp vào một trăng”, vì không đến đi nên không ra không vào. Bởi pháp thân ứng khắp chúng sanh hiển hiện bình đẳng, mà không có tướng đến đi, chỉ tùy theo chỗ thấy nghe có sai khác. Kinh Hoa Nghiêm phẩm Như Lai danh hiệu nói: Như Lai có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu. Kinh Pháp Hoa phẩm Thọ lượng nói: Ta ở nước khác làm Phật, lại có tên khác, dòng họ không đồng, tên gọi đều khác.

Vì pháp thân vô sanh nên không đâu chẳng sanh, không tên nên không đâu chẳng tên. Vì không đâu chẳng tên nên bất khả đắc mà có tên. Bất khả đắc mà có tên nên lìa danh tự. Chỗ này không phải người ngu biết được.

  • Trên nói về lìa tướng danh tự đã xong. Sau đây lìa tướng ngôn thuyết.

K₂ - Lìa tướng ngôn thuyết

Những người ngu kia, không thể biết ta vì rơi vào nhị biên, song thảy đều cung kính cúng dường ta, mà không khéo biết từ cú nghĩa thú, không phân biệt được tên, không hiểu tự thông, chấp trước các ngôn thuyết chương cú.

Đối với bất sanh bất diệt khởi tưởng vô tánh, không biết danh hiệu sai khác của Như Lai, như Nhân-đà-la Thích-ca, Bất-lan-đà-ca.

Không hiểu chỗ trở về rốt ráo của tự thông, đối tất cả pháp chấp trước theo ngôn thuyết.

Đây nói về pháp thân Như Lai lìa tướng ngôn thuyết.

Bởi danh tự khởi lên từ ngôn thuyết, vì người ngu không rõ được ngôn thuyết tánh không, nên vọng chấp danh tự mỗi mỗi khác. Cho đến đối với pháp thân chân thật tịch diệt vô sanh lìa danh ngôn, mờ mịt không biết. Do không biết điều này, nên vọng chấp có không rơi vào kiến chấp nhị biên. Thế là tuy cúng dường ta, mà không biết rõ trong danh tự cú nghĩa hàm ngụ nhiều tên một thể, vì thế nói không phân biệt tên chỉ giữ tướng sai biệt. Do không hiểu rành về tự thông pháp thân nên chỉ chấp ngôn giáo, mê lầm chỗ chân thật, cho rằng bất sanh bất diệt là không thể tánh. Đâu không biết chính là pháp thân trùm khắp mà thành ra Như Lai có nhiều tên sai biệt, như Nhân-đà-la…

Do không hiểu chỗ trở về rốt ráo của tự thông đến nơi lìa ngôn thuyết, nên nơi tất cả pháp chỉ chấp ngôn thuyết.

Đại Huệ! Những người ngu kia nói như thế này: Nghĩa giống như ngôn thuyết, nghĩa và ngôn thuyết không khác. Vì sao? Vì nghĩa vô thân, ngoài ngôn thuyết lại không có nghĩa khác, chỉ dừng ở ngôn thuyết.

Đại Huệ! Họ bị ác trí thiêu, không biết tự tánh ngôn thuyết, không biết ngôn thuyết sanh diệt còn nghĩa không sanh diệt.

Đại Huệ! Tất cả ngôn thuyết rơi vào văn tự, nghĩa ắt không rơi vì lìa tánh phi tánh, không thọ sanh cũng không thân.

Đường dịch: Vì lìa có lìa không, vì vô sanh vô thể.

Đây nói người chấp ngôn thuyết không đạt được thật nghĩa.

Bởi người ngu vọng cho là nghĩa giống như ngôn thuyết, nghĩa cùng ngôn thuyết không khác. Như thế ắt chỉ có ngôn thuyết mà không thật nghĩa, nên nói vì nghĩa không thân. Vì người này không rõ tự tánh ngôn thuyết, sẽ cho là ngoài ngôn thuyết lại không có nghĩa khác, chỉ dừng nơi ngôn thuyết mà thôi. Sở dĩ như thế, vì họ ngu si ác trí không biết tự tánh ngôn thuyết là pháp sanh diệt mà nghĩa bất sanh diệt. Sở dĩ ngôn thuyết sanh diệt mà nghĩa không sanh diệt, vì ngôn thuyết rơi trong văn tự còn nghĩa không rơi. Nghĩa vượt ra văn tự vì lìa tướng có không, vì vô sanh vô thể nên không rơi.

Đại Huệ! Như Lai không nói pháp rơi trong văn tự, vì văn tự có không không thể được, trừ người không rơi trong văn tự.

Đại Huệ! Nếu có người nói rằng Như Lai nói pháp rơi trong văn tự, thì đó là nói dối, vì pháp lìa văn tự. Cho nên này Đại Huệ! chư Phật chúng ta và các Bồ-tát chẳng nói một chữ, chẳng đáp một chữ. Vì sao?

Vì pháp lìa văn tự, chẳng nói nghĩa không nhiêu ích, vì ngôn thuyết là vọng tưởng của chúng sanh.

Đây nói Như Lai thuyết pháp không rơi trong tướng văn tự.

Sở dĩ không rơi vì pháp lìa tướng có không. Trừ người không rơi trong văn tự, thì nói cùng không nói đều thấu tỏ. Ngoài điều này nếu cho rằng Như Lai có chỗ nói, ắt là phỉ báng Phật, nên nói ắt là nói dối. Do pháp lìa văn tự nên chư Phật Bồ-tát chỉ nói pháp lìa văn tự, nên trước sau không nói một chữ, không đáp một chữ. Vì sao? Vì pháp lìa văn tự vậy.

Hỏi:

Đã không nói một chữ, há không nhiêu ích chúng sanh ư?

Đáp:

Chẳng phải không nói nghĩa nhiêu ích, đối chúng sanh có nói năng chỉ là nói để phá mộng mị vọng tưởng của chúng sanh thôi, chẳng phải thật có pháp có thể nói, vì thế nói ngôn thuyết là vọng tưởng của chúng sanh.

Đại Huệ! Nếu chẳng nói tất cả pháp thì giáo pháp ắt hoại, giáo pháp hoại thì không có chư Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác. Nếu không thì ai nói, vì ai?

✅ Đây giải thích nạn vấn.

Nạn vấn rằng: Đã là pháp lìa văn tự thì không pháp để nói, mà Như Lai vì sao lại nói tất cả pháp?

Nên ✅ Đây giải thích rằng: Vì không pháp để nói, gọi là nói tất cả pháp, là nói chỗ không thể nói.

Nghĩa là tuy không y cứ đường ngôn ngữ, cũng lại chẳng chấp không ngôn thuyết. Nếu tuyệt nhiên không nói, giáo pháp ắt hoại, giáo pháp hoại thì không có chư Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác. Nếu hết thảy đều không, ắt hoại tướng pháp giới, thì ai là người thuyết pháp? Vì ai để thuyết pháp? Chính là thật tế lý địa không lập một trần, nơi cửa hóa độ không bỏ một pháp, đây tức là nói mà không có chỗ nói. Há tuyệt nhiên không nói rồi sau mới lìa văn tự ư?

Thế nên, Đại Huệ! Đại Bồ tát chớ chấp trước ngôn thuyết, tùy nghi phương tiện rộng nói kinh pháp. Vì hy vọng và phiền não của chúng sanh không phải một, nên ta và chư Phật vì những chúng sanh có nhiều thứ kiến giải khác nhau mà nói các pháp, khiến lìa tâm ý ý thức, không phải vì chỗ được tự giác thánh trí.

✅ Đây giải thích về chỗ không nói mà nói ở trên là vì người mê, chẳng phải vì người ngộ mà nói.

Nghĩa là các đức Phật Như Lai vốn không pháp có thể nói, chỗ giảng rộng tất cả pháp đều là tùy thuận theo các thứ ưa hiểu của chúng sanh, phá chỗ trông mong và phiền não của họ, vì khiến chuyển tâm ý ý thức. Đó gọi là Phật nói tất cả pháp vì trị tất cả tâm, nếu không tất cả tâm nào dùng tất cả pháp. Nên nói không phải vì chỗ được tự giác thánh trí mà nói, nên bậc Đại Bồ-tát chớ kẹt vào ngôn thuyết.

Đại Huệ! Đối tất cả pháp vô sở hữu, biết tự tâm hiện lượng, lìa hai vọng tưởng (có, không). Các Đại Bồ-tát y nơi nghĩa không y văn tự.

✅ Đây giải thích ý không vì người ngộ mà nói ở trên.

Sở dĩ không vì người được tự giác thánh trí nói, vì họ đã hiểu tất cả pháp vô sở hữu, biết tự tâm hiện lượng, khéo lìa kiến chấp vọng tưởng hai bên có không. Do đây các Bồ-tát chỉ y vào nghĩa, không kẹt nơi ngôn thuyết.

Nếu thiện nam tử thiện nữ nhơn y cứ vào văn tự, tự hoại đệ nhất nghĩa, cũng không thể giác ngộ người, rơi vào chỗ ác kiến tương tục, người này vì chúng sanh nói, đã không khéo biết rõ tất cả pháp, tất cả địa, tất cả tướng, cũng không biết chương cú.

Đây nói người mê, tự tha đều tổn.

Đường dịch: Người y vào văn tự rơi vào ác kiến, chấp trước tự tông mà khởi lên ngôn thuyết, không thể khéo rành tất cả pháp tướng, văn tự chương cú. Đã tự tổn hoại, cũng hoại người khác, không thể khiến người tâm được giải ngộ.

Nếu khéo biết tất cả pháp, tất cả địa, tất cả tướng, thông đạt chương cú, đầy đủ tánh nghĩa, người ấy ắt có thể dùng chánh vô tướng lạc mà tự vui, Đại thừa bình đẳng để kiến lập chúng sanh.

Đây nói người ngộ, mình người đều ích lợi.

Đường dịch: Cũng hay khiến người khác an trụ Đại thừa. Chánh vô tướng lạc là tự giác thánh trí thiện lạc, để phân biệt không phải là tam-muội của hàng Nhị thừa ngoại đạo thiên tà.

Trụ vào chánh vô tướng lạc tức gọi là nhiếp thọ Đại thừa, chư Tổ đều chứng sâu vô tướng tam-muội này, nên có thể dùng pháp ly văn tự kiến lập chúng sanh.

Đại Huệ! Người nhiếp thọ Đại thừa tức là nhiếp thọ chư Phật, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn. Nhiếp thọ chư Phật, Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn tức là nhiếp thọ tất cả chúng sanh, nhiếp thọ tất cả chúng sanh tức là nhiếp thọ chánh pháp, nhiếp thọ chánh pháp tức Phật chủng không đoạn, Phật chủng không đoạn tức là hay liễu tri, được vào chỗ thù thắng (Ngụy dịch: Sanh tất cả chỗ thắng diệu. Đường dịch: Ắt được chỗ thắng diệu). Đại Bồ-tát biết được chỗ thù thắng sẽ được hóa sanh, dựng lập Đại thừa, được mười lực tự tại hiện các sắc tượng, thông đạt tất cả điều trông mong, hình sắc, thể loại của chúng sanh, các tướng phiền não, thuyết pháp như thật. Như thật là không khác (Đường dịch: Pháp chân thật là không riêng không khác). Như thật là tướng không đến không đi, tất cả hư dối dừng, gọi là như thật. Đại Huệ! thiện nam tử thiện nữ nhơn, không nên nhiếp thọ chấp trước theo ngôn thuyết, vì người chân thật lìa văn tự.

Đây nói khéo biết pháp như thật, thì có thể đầy đủ tất cả pháp thế và xuất thế.

Nghĩa là người khéo biết rõ pháp vô sanh như thật, thì có thể đầy đủ pháp thế xuất thế, dựng lập chánh pháp, nối huệ mạng Phật, hay khiến cho Phật chủng không đoạn dứt, liền sanh trong nhà Phật, nên nói được sanh chỗ thắng diệu.

Công năng tự lợi tròn đầy cũng tức có thể khiến chúng sanh an trụ Đại thừa, mà dùng thập lực phổ hiện sắc thân, tùy theo chỗ hiểu và ưa thích của chúng sanh, hợp thời hợp cơ nói pháp như thật, mà không có tất cả tướng đến đi. Đây đều là lợi ích của sự khéo biết như thật lìa văn tự. Thế nên người tu hành cần nhất là chớ chấp trước theo ngôn thuyết.

Đại Huệ! ví như vì người ngu dùng ngón tay để chỉ vật, người ngu nhìn ngón tay không biết nghĩa thật. Như thế người ngu theo ngón tay ngôn thuyết mà nhiếp thọ chấp trước rốt cùng không bỏ, trọn không thể được chỗ thật nghĩa đệ nhất lìa ngón tay ngôn thuyết.

Đây thí dụ về lỗi người ngu chấp ngôn thuyết.

Kinh nói: Pháp ta nói như ngón tay chỉ mặt trăng, rời ngón tay mới có thể biết mặt trăng, nếu chấp ngón tay cho là mặt trăng, ắt là có hai lỗi, vì vậy nói Chấp ngón tay ngôn thuyết, rốt ráo không bỏ, trọn không thể được thật nghĩa đệ nhất lìa ngón tay ngôn thuyết.

Đại Huệ! thí như trẻ nít, cần phải ăn thức ăn chín, không thể ăn đồ sống, nếu ăn đồ sống thì sẽ mê sảng, vì không biết phương tiện thứ lớp làm cho chín.

Đại Huệ! Như thế, bất sanh bất diệt không biết phương tiện tu, ắt là bất thiện. Cho nên phải khéo tu phương tiện, chớ rơi vào ngôn thuyết, như nhìn ngón tay.

Đây dùng thí dụ giải thích thí dụ, để rõ nghĩa vong ngôn khế chứng.

Bởi đạo ly ngôn, chắc chắn không phải người trí cạn có thể biết. Nếu không dùng phương tiện dạy bảo thì rốt cuộc đến chỗ mê mờ không biết đường vào. Như con nít nên cho ăn đồ chín, mà lại cho ăn đồ sống, ắt bị cuồng, là vì người cho ăn không có cách khéo. Pháp bất sanh diệt này không thuộc về phương tiện, cũng như thức ăn sống, nếu không khéo dùng ngón tay phương tiện lìa ngôn thuyết, thì họ cũng sẽ cuồng mê không được chỗ vào. Vì vậy Hoàng Bá nói: Thời nay người mới đến học, chỉ muốn hiểu biết nhiều, rộng tìm văn nghĩa, cho đó là tu hành, không biết rằng hiểu nhiều tri giải nhiều trở thành bế tắc, chỉ là cho trẻ con ăn nhiều sữa sống, tiêu hay không tiêu thảy đều không biết. Hàng tam thừa học đạo đều như thế, đều gọi là ăn không tiêu. Ăn không tiêu là tri giải không tiêu, đều là thuốc độc, thảy đều nằm trong chỗ sanh diệt. Trong chân như không có việc này.

Đoạn trước nói Là nhiếp thọ thức ăn tham dục, chẳng phải nhiếp thọ pháp thực. Sở dĩ như thế Tào Sơn quý Chánh mạng thực. Lời của bậc có phương tiện khéo, thầy trò đều như thế. Sau đây khiến nên thân cận đại đức đa văn.

Cho nên Đại Huệ! đối với nghĩa chân thật nên tìm phương tiện tu. Nghĩa chân thật là tịch tĩnh vi diệu, là nhân Niết-bàn. Ngôn thuyết là hội họp vọng tưởng, vọng tưởng là gom nhóm sanh tử (Đường dịch: Ngôn thuyết cùng với vọng tưởng hội họp, trôi lăn sanh tử).

Đại Huệ! Chào bạn, mình đã gõ lại nội dung trang 193 trong cuốn Lăng Già Bút Ký (Quyển 2) từ hình ảnh bạn cung cấp:

QUYỂN THỨ BẢY | 193

nghĩa chân thật từ người đa văn được. Đại Huệ! đa văn là giỏi nghĩa, chẳng phải giỏi ngôn thuyết. Người giỏi nghĩa là không rơi vào tất cả kinh luận của ngoại đạo, tự mình không rơi, cũng không làm người khác rơi, đó gọi là đại đức đa văn. Vì vậy muốn cầu nghĩa nên thân cận bậc đa văn, gọi là giỏi về nghĩa. Trái với điều này mà chấp trước ngôn thuyết, nên phải xa lìa.

Đây dạy phương tiện tu về nghĩa chân thật.

Chẳng phải hạng người chân thật không thể khế hợp. Bởi, nghĩa chân thật là cảnh giới tịch diệt lìa tâm ý thức, từ bậc đa văn vong ngôn mà được, chẳng phải chỗ có thể nhận của hạng chấp văn tự. Gọi đa văn là khéo lìa lời được nghĩa, chẳng phải giỏi ngôn thuyết. Giỏi về nghĩa là được nhị thông (thuyết thông và tông thông), ắt tự mình không rơi vào luận nghị tà kiến của ngoại đạo, mà cũng không làm người khác rơi. Như thế mới gọi là đại đức đa văn. Thế nên người muốn tìm cầu nghĩa lý nên gần gũi đại đức đa văn, xa lìa người chấp trước ngôn thuyết. Đây gọi là phương tiện để tu nghĩa chân thật.

Trên hiển nhất tâm chân như lìa tướng ngôn thuyết đã xong. Sau biện giải về nhân duyên sanh diệt để hiển nhất tâm chân như lìa tướng tâm duyên.

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ lại nương oai thần Phật, bạch Phật rằng: Thế Tôn! Thế Tôn hiển bày dạy bảo chỗ bất sanh bất diệt, không có gì lạ lùng đặc biệt. Vì sao? Nhân của tất cả ngoại đạo cũng bất sanh bất diệt được. Thế Tôn cũng nói hư không chẳng phải số duyên diệt, và cảnh giới Niết-bàn bất sanh bất diệt. Thế Tôn, ngoại đạo nói nhân sanh các thế gian, Thế Tôn cũng nói vô minh ái nghiệp vọng tưởng là duyên sanh các thế gian. Kia nhân đây duyên, tên có sai khác, nhân duyên của ngoại vật cũng như thế. Thế Tôn cùng với luận của ngoại đạo không có sai biệt. Vì trần, Thắng diệu, Tự tại, Chúng sanh chủ… chín thứ bất sanh bất diệt như thế. Thế Tôn cũng nói tất cả tánh bất sanh bất diệt, hữu vô không thể được. Ngoại đạo cũng nói tứ đại không hoại, tự tánh bất sanh bất diệt tứ đại thường là tứ đại, cho dù đi khắp các nẻo không bỏ tự tánh. Thế Tôn nói cũng lại như vậy. Cho nên con nói không có lạ lùng đặc biệt. Cúi xin Thế Tôn vì nói chỗ khác nhau, lý do đặc biệt thù thắng hơn các ngoại đạo. Nếu không có sai biệt, tất cả ngoại đạo cũng đều là Phật vì bất sanh bất diệt. Song Thế Tôn nói trong một thế giới nhiều Phật xuất thế, không có lý, nếu theo so sánh vừa qua của con thì trong một thế giới nên có nhiều Phật, vì không sai biệt.

Đây nghi Phật nói bất sanh bất diệt cùng với ngoại đạo không khác, để nạn vấn cho rõ nhất tâm chân như lìa nhân duyên sanh diệt, chính hiển lìa tướng tâm duyên.

Đây có bốn điều nghi. Một: Ngoại đạo chấp tác giả làm nhân hay sanh các pháp, các pháp sanh diệt mà tác giả bất sanh diệt, nên nghi việc này cùng với chỗ Phật nói về ba pháp vô vi không khác.

Hai: Ngoại đạo chấp Ngã làm nhân, tất cả thế gian từ Ngã lưu xuất, nên nói sanh các thế gian. Thế Tôn cũng nói vô minh ái nghiệp vọng tưởng làm duyên sanh thế gian. Kia nhân đây duyên, chỉ có tên khác thôi. Nói tứ đại bên ngoài sanh các pháp cũng vậy.

Ba: Ngoại đạo chấp vi trần, Thắng diệu, trời Tự Tại, chúng sanh chủ, thời, phương, không, đại chủng, hòa hợp… chín pháp bất sanh bất diệt. Thế Tôn cũng nói tất cả tánh bất sanh bất diệt, có không chẳng thể được.

Bốn: Ngoại đạo chấp tứ đại không hoại tự tánh bất sanh bất diệt. Do tứ đại thường vì châu lưu khắp các nẻo không bỏ tự tánh. Song Thế Tôn cũng nói bốn đại tánh chơn, châu biến pháp giới.

Thế là chỗ Thế Tôn nói cùng với ngoại đạo không khác. Cho nên con nói Thế Tôn thuyết pháp không có gì lạ lùng đặc biệt. Cúi xin Thế Tôn vì con nói lý do chỗ thắng hơn ngoại đạo. Nếu Thế Tôn nói pháp không khác ngoại đạo, ắt các ngoại đạo cũng đều là Phật, vì họ nói pháp cũng bất sanh bất diệt. Song Thế Tôn đã từng nói trong một thế giới không có nhiều Phật, nếu như những điều đã nói ở trên quả nhiên không khác ngoại đạo, ắt là trong một thế giới có nhiều Phật ra đời.

Phật bảo Đại Huệ! Ta nói bất sanh bất diệt, không giống ngoại đạo nói bất sanh bất diệt. Vì sao? Các ngoại đạo chấp có tánh tự tánh được tướng bất sanh bất biến. (Đường dịch: Ta nói bất sanh bất diệt không giống ngoại đạo luận về bất sanh bất diệt, bất sanh vô tướng. Vì sao? Ngoại đạo nói thật có tánh tướng bất sanh bất diệt). Ta không rơi vào phẩm có không như thế.

Đại Huệ! ta lìa phẩm có không, lìa sanh diệt, phi tánh phi vô tánh. Như các thứ huyễn mộng hiện, nên chẳng phải vô tánh. Vì sao vô tánh? Nghĩa là sắc không có tự tánh tướng nhiếp thọ, vì hiện và chẳng hiện, vì nhiếp và chẳng nhiếp. Do đó nên tất cả tánh vô tánh, chẳng phải vô tánh. (Đường dịch: Pháp ta nói, chẳng có chẳng không, lìa sanh lìa diệt. Thế nào là chẳng không? Vì các thứ sắc hiện như huyễn mộng. Thế nào chẳng có? Vì tự tánh sắc tướng chẳng phải là có, vì thấy và chẳng thấy, vì thủ và chẳng thủ. Cho nên ta nói tất cả các pháp chẳng có chẳng không). Chỉ cần giác tự tâm hiện lượng, vọng tưởng chẳng sanh, an ổn khoái lạc, việc đời dứt hẳn, phàm phu ngu si vọng tưởng tạo tác sự việc, chẳng phải các thánh hiền.

Đoạn này giải thích chỗ Như Lai nói lìa có không sanh diệt mà nói bất sanh bất diệt, không thể so sánh với ngoại đạo rơi trong có không khởi lên kiến chấp sanh diệt.

Bởi ngoại đạo vọng chấp các pháp đều có tự tánh bất sanh bất biến, nhưng các pháp vô thường mà họ chấp bất sanh bất diệt, cũng là luận vô thường thôi, vì họ chưa lìa phẩm có không. Ta nói pháp sở dĩ lìa sanh diệt, vì các pháp kia vốn chẳng có chẳng không.

Thế nào chẳng không? Vì tất cả pháp như sắc huyễn mộng, song tuy vốn là không, mà không ngại hiện thấy các thứ tướng. Thế nào là chẳng có? Do sắc tánh ấy vốn không tự thể, vì vốn là chẳng có, như các việc huyễn mộng, chỉ là chỗ thấy chỗ chấp của người ngu, còn người trí không thấy không chấp. Ta xem tất cả pháp như thế, cho nên nói chẳng có chẳng không. Chỉ có người liễu đạt tự tâm hiện lượng, thì đối với pháp ấy chẳng sanh phân biệt, phân biệt chẳng sanh ắt tâm địa tịch diệt. Vì tịch diệt nên dứt hẳn tham cầu, tham cầu đã dứt nên an ổn khoái lạc, việc đời từ đây chấm dứt vĩnh viễn. Đây không phải chỗ theo kịp của ngu phu, vì thế nói phàm phu ngu si vọng tưởng tạo tác sự việc, chẳng phải bậc thánh hiền.

Vọng tưởng không thật như thành Càn-thát-bà và người huyễn hóa. Đại Huệ! như thành Càn-thát-bà và người huyễn hóa có các chúng sanh ra vào mua bán. Người ngu vọng tưởng cho là thật có ra vào, mà thật không có người ra người vào, vì chỉ là vọng tưởng của họ thôi.

Như thế Đại Huệ! phàm phu ngu si khởi mê hoặc về bất sanh bất diệt, họ cũng chẳng phải là hữu vi vô vi, như người huyễn sanh, kỳ thật không có sanh hoặc diệt, vì tánh vô tánh vô sở hữu. Tất cả pháp cũng như thế, lìa sanh diệt. Phàm phu ngu si rơi vào chỗ không như thật, khởi lên vọng tưởng sanh diệt, chẳng phải bậc thánh hiền.

Đây nói cảnh vốn vô sanh, mà ngu phu vọng khởi kiến chấp sanh diệt.

Nghĩa là không những pháp vốn vô sanh mà tâm cũng vốn tịch diệt, tâm tịch diệt ắt vọng tưởng kia cũng rốt ráo không tự tánh, nên nói vọng tưởng không thật như thành Càn-thát-bà và người huyễn hóa. Thành kia và người huyễn, tuy có các thứ buôn bán ra vào, thật ra chẳng có người ra người vào. Người mê cho đó là thật, người trí không như vậy. Thế là cái mê lầm về bất sanh diệt của phàm phu ngu si, ngay vọng tưởng của họ cũng vốn chẳng phải có không. Như người huyễn sanh, vốn vô sanh, vì vọng vốn không thật thể, nên nói Kỳ thật không có hoặc sanh hoặc diệt vì tánh vô tánh vô sở hữu.

Có tăng hỏi cổ đức rằng: “Khi khởi diệt không dừng thì như thế nào?”. Cổ đức nói: “Dốt! Cái gì khởi diệt?”. Đây là người xưa thấy tột vọng tưởng vô tánh nên mới như vậy. Thế là tâm nếu vắng lặng thì tất cả pháp đều vắng lặng, đó là chỗ: “Một tâm không sanh muôn pháp không lỗi”. Chỉ là phàm phu ngu si rơi trong chỗ thấy chẳng thật, tự khởi vọng tưởng sanh diệt, chẳng phải thánh hiền vậy.

Chẳng như thật ấy không như thế. Như tánh tự tánh vọng tưởng cũng không khác. Nếu khác với vọng tưởng, chấp trước tất cả tánh tự tánh, vì không thấy tịch tĩnh, không thấy tịch tĩnh trọn không lìa vọng tưởng.

Đây nói thánh nhân thấy các pháp chẳng như thật không giống phàm ngu rơi trong vọng kiến sanh diệt, nên nói không như thế. Vì sao? Vì thấy các pháp đương thể như như, không khởi phân biệt thấy khác, nên nói Như tánh tự tánh vọng tưởng cũng không khác.

Song các pháp từ xưa nay tướng thường tự vắng lặng, không cho khởi kiến, nếu khởi lên các thứ phân biệt thấy khác, ắt là chấp trước tất cả thật có tướng tánh tự tánh. Sở dĩ chấp trước vì không thấy các pháp xưa nay tịch tĩnh, nếu không thấy các pháp tịch tĩnh, ắt trọn không lìa vọng tưởng. Vì sao? Vì cảnh giới ly niệm chỉ chứng mới tương ưng. Nên hiểu nhất tâm chân như lìa tất cả tướng.

Trên hiển nhất tâm chân như và tất cả tướng xong.

Dưới đây kết cứu cánh nhất tâm.

Thế nên Đại Huệ! Cái thấy vô tướng thù thắng, chẳng phải thấy tướng, thấy tướng là nhân thọ sanh, nên không thù thắng.

Đại Huệ! vô tướng ấy vọng tưởng chẳng sanh, không khởi không diệt, ta nói là Niết-bàn.

Đây tổng kết nhất tâm chân như lìa tất cả tướng để thành quả đức rốt ráo.

Kinh nói: “Nếu thấy chư tướng phi tướng tức thấy Như Lai”. Nên ở đây thấy vô tướng là thù thắng, chẳng phải thấy tướng.

Do ngoại đạo trong chỗ vô sanh vọng thấy sanh diệt, vì thế chìm lâu trong sanh tử; nên thấy tướng là nhân thọ sanh, nên không thù thắng.

Nếu có thể thấy vô tướng, thì tất cả vọng tưởng phân biệt ngay đó không sanh, không sanh thì không diệt, không sanh không diệt đây gọi là đại Niết-bàn.

Như thế, rõ vọng tưởng vô tánh là Niết-bàn, chẳng phải rời ngoài chỗ này riêng có tướng Niết-bàn vậy.

Đại Huệ! Niết-bàn, thấy đúng như nghĩa chân thật, lìa vọng tưởng tâm tâm sở pháp, liền được Như Lai tự giác thánh trí, ta nói là Niết-bàn.

Đây là kết quả của nhất tâm chân như tự tánh Niết-bàn, là cảnh giới tự giác thánh trí lìa tâm ý thức.

Luận nói: Tâm chân như là nhất pháp giới đại tổng tướng pháp môn thể. Nghĩa là tâm tánh bất sanh bất diệt, tất cả các pháp chỉ nương vọng niệm mà có sai biệt. Nếu lìa tâm niệm thì không có tướng của tất cả cảnh giới. Cho nên tất cả pháp từ xưa đến nay, lìa tướng danh tự, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, không có đổi khác, không thể phá hoại, chỉ là một tâm nên gọi là chân như. Vì tất cả ngôn thuyết là giả danh không thật, chỉ tùy theo vọng niệm vì bất khả đắc. Nói chân như ấy cũng không có tướng, gọi là chỗ tột cùng của ngôn thuyết, nhân lời dẹp lời. Thể chân như này không thể dẹp, vì tất cả thảy đều chân, cũng không thể lập, vì tất cả pháp đều đồng như. Nên biết tất cả pháp không thể nói không thể nghĩ, nên gọi là chân như.

Hỏi: Nếu nghĩa như thế, các hạng chúng sanh làm sao tùy thuận mà có thể vào được?

Đáp: Nếu biết tất cả pháp, tuy nói mà không có năng thuyết sở thuyết, tuy niệm cũng không có năng niệm khả niệm. Đây gọi là tùy thuận.

Nếu lìa niệm, gọi là được vào, vì vậy nói Thấy đúng như nghĩa chân thật, lìa vọng tưởng tâm tâm sở pháp, liền được Như Lai tự giác thánh trí, ta nói là Niết-bàn.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ:

Diệt trừ luận sanh kia

Thành lập nghĩa bất sanh

(Đường dịch: Vì trừ chấp có sanh)Ta nói pháp như thếNgười ngu không thể biết.

Tất cả pháp chẳng sanh

Không tánh, không chỗ có

Càn-thát-bà huyễn mộngCó tánh là không nhân.

Không sanh, không tự tánh

Nhân gì mà nói không?

Vì lìa nơi hòa hợp

Tánh giác tri chẳng hiện.

Cho nên không, chẳng sanh

Ta nói không tự tánh.

Từ đây cho đến hết bài tụng, giảng chung về chân như nhất tâm lìa tướng nhân duyên sanh diệt.

Nghĩa là Như Lai vốn không pháp để nói, sở dĩ nói vô sanh vô tự tánh, chỉ vì phá kiến chấp sanh của bọn phàm ngu, chấp có tự tánh.

Do ngu phu kia không biết các pháp chẳng sanh, vốn không tự tánh, nên Như Lai nói thành Càn-thát-bà và người huyễn mộng để thí dụ về lý này. Bởi lối chấp “có tự tánh” của họ rơi vào vô nhân. Vậy thì Như Lai nhân gì nói không sanh không tự tánh?

Vì các pháp không, nên kệ nói nhân gì mà nói không? Do ngoại đạo kia vọng chấp các pháp mỗi mỗi có tự tánh hòa hợp mà sanh, nay quyết lìa chấp này, là do các pháp vốn không, đương thể vô sanh, nên nói không tự tánh.

Đây là tụng lìa tướng sanh diệt.

Là mỗi mỗi hòa hợp

Tánh hiện mà chẳng có

Phân tích không hòa hợp

Chẳng như ngoại đạo thấy.

Huyễn mộng và tóc rủ

Ngựa nắng, thành Thát-bà

Các sự việc thế gian

Không nhân mà tướng hiện.

ẻ gãy luận có nhân

Nêu cao nghĩa vô sanh

Nêu cao vô sanh ấy

Pháp truyền lâu không dứt.

Luận vô nhân thạnh hàn

Khủng bố các ngoại đạo.

✅ Đây tụng lìa tướng nhân duyên.

Bởi do ngoại đạo vọng chấp thật có sanh nhân hòa hợp mà sanh các pháp, Thế Tôn nói rằng ta chỉ phân tích cái hòa hợp của họ tuy hiện mà chẳng có, nên nói huyễn mộng, tóc rủ, sóng nắng, thành Càn-thát-bà, dùng thí dụ nói rõ các pháp thế gian tuy có hiện mà vô nhân, để bẻ gãy luận hữu nhân, nêu cao nghĩa vô sanh. Người hay nêu cao nghĩa vô sanh, ắt là khiến pháp lưu truyền vĩnh viễn không dứt. Hơn nữa ta nêu cao luận vô nhân để phá hữu nhân của họ, khiến ngoại đạo kia nghe sanh ra sợ sệt.

Song Phật nói luận vô nhân là không có sanh nhân kia, chẳng phải vô nhân của ngoại đạo có thể so sánh.

Nên biết như thế

.Lúc bấy giờ Đại Huệ dùng kệ hỏi:

Thế nào, do nhân gì

Kia do gì mà sanh

Ở chỗ nào hòa hợp

Mà làm luận vô nhân?

Đây là Đại Huệ đối Phật hỏi luận sanh nhân của ngoại đạo, dùng kệ chất vấn chỗ nghi để phá nghĩa luận vô nhân.

Phật hỏi ngoại đạo rằng:

Pháp sanh của ông làm sao sanh? Là từ hữu nhân sanh? Là từ vô nhân sanh?

Đáp:

Từ có nhân sanh.

Phật lại hỏi: Đã từ có nhân sanh, có sở nhân gì ư?Đáp: Từ vi trần, tứ đại, thắng tánh… làm sanh nhân.

Phật lại hỏi rằng: Vi trần, tứ đại… của ông lại do cớ gì mà sanh.

Đáp:

Do vô nhân sanh.Phật nói: Nếu vi trần… đã là vô nhân, vô nhân thì vô pháp, vô pháp thì vô xứ, vô xứ ắt không hòa hợp, không hòa hợp thì không sanh. Ông nói vô nhân là ở chỗ nào hòa hợp mà làm luận vô nhân?

Đại Huệ nêu điều này để chất vấn chỗ nghi. Do trước nghe Phật nói vô nhân phá hữu nhân của họ, nên ở đây nghi rằng: Vô nhân là chỗ chấp của ngoại đạo, Phật thường dùng điều này để phá.

Nay vì sao lại nói vô nhân để phá hữu nhân của họ? Nên ở đây đem cái nghi ra hỏi. Bởi lối chấp sanh nhân của ngoại đạo cũng là vô nhân, nên Phật nói duyên sanh để phá vô nhân của họ, cũng nói vô nhân để phá sanh nhân của họ. Ý ở chỗ chỉ thẳng vô sanh để dừng kiến chấp sanh diệt của ngoại đạo. Văn sau đáp rõ.

Bấy giờ Thế Tôn dùng kệ đáp:Quán sát pháp hữu viChẳng không nhân, có nhânLuận sanh diệt của họChỗ thấy theo đó diệt.

Ý đáp này hiển bày chỗ lìa tướng nhân duyên sanh diệt.

Nghĩa là hay quán sát tất cả các pháp không thuộc về có nhân không nhân, tức là chóng thấy vô sanh, mà kiến chấp sanh diệt của họ tự dừng. Long Thắng nói: “Có vật theo duyên sanh, không vật theo duyên diệt. Khởi, chỉ các duyên khởi; diệt, chỉ các duyên diệt”. Thế mới biết khi sắc sanh chỉ là hư không sanh, khi sắc diệt chỉ là hư không diệt. Vì hư không chẳng thuộc duyên, nên bất sanh.

Lúc bấy giờ Đại Huệ dùng kệ hỏi rằng:

Thế nào là vô sanh?

Vì là vô tánh ư?

Là nhìn thấy các duyên

Có pháp tên vô sanh.

Tên không lẽ vô nghĩa

Xin vì phân biệt nói.

Đây nêu bày nghĩa vô sanh.

Do ở trên Phật nói pháp lìa sanh diệt để hiển bày vô sanh.

Đại Huệ bèn hỏi: Thế nào là vô sanh? Là các pháp vô tánh là vô sanh ư? Là riêng có tánh sanh chiếu cố các duyên gọi là vô sanh ư? Đã có tên vô sanh ắt có nghĩa vô sanh, cúi xin vì con nói.

Bấy giờ Thế Tôn lại dùng kệ đáp:

Chẳng vô tánh vô sanh

Cũng chẳng nhìn các duyên

Chẳng có tánh đặt tên

Tên cũng chẳng vô nghĩa.

Tất cả các ngoại đạo

Thanh văn và Duyên giác

Chẳng phải cảnh thất trụ

Gọi là tướng vô sanh.

(Ngụy dịch là Thất địa)

Xa lìa các nhân duyên

Cũng lìa tất cả việc

Chỉ có tế tâm trụ

Tưởng sở tưởng đều lìa.

Thân kia tùy duyên biến

Ta nói là vô sanh.

✅ Đây tụng về nghĩa vô sanh.

Do lìa các nhân duyên và tác giả, trụ vào duy tâm, được nhị chuyển y ý sanh pháp thân, là nghĩa vô sanh chân thật.

Song vô sanh này chẳng phải vô tánh, cũng chẳng phải hữu tánh, đã có tên này cũng chẳng phải vô nghĩa.

Nghĩa vô sanh này chỗ chứng như thật của hàng Bồ-tát Bát địa trở lên, chẳng phải cảnh giới của ngoại đạo, Nhị thừa và hàng Bồ-tát Thất địa.

Vì hàng ngoại đạo tà kiến, Nhị thừa thiên chấp, Bồ-tát Thất địa chưa lìa tâm lượng, còn ở trong số sanh diệt, chưa vào trụ xứ vi tế chân thật, tâm cảnh chưa quên, nên đây không phải chỗ biết của họ.

Lìa các lỗi này là chân thật vô sanh.

Chẳng ngoại tánh phi tánhCũng không tâm nhiếp thọĐoạn trừ tất cả kiếnTa nói là vô sanh.

Như thế vô tự tánhKhông… nên phân biệt

Chẳng không nên nói khôngVô sanh nên nói Không.

✅ Đây tụng tâm cảnh đều dứt, pháp thân chân không để hiển bày thật nghĩa vô sanh.

Bởi cảnh lìa có không, tâm lìa chấp thủ, đoạn dứt tất cả kiến chấp, tức là pháp thân chân không.

Đây chẳng phải là cái không của đoạn diệt, vì tâm cảnh vô sanh nên nói không.

  • Trên tụng nghĩa vô sanh, dưới tụng chung lìa tướng nhân duyên sanh diệt.

Nhân duyên số hòa hợp

Ắt có sanh có diệt

Lìa các số nhân duyên

Không riêng có sanh diệt.

Lìa các số nhân duyên

Lại không có tánh khác

Nếu nói một khác ấy

Là ngoại đạo vọng tưởng

Có không, tánh chẳng sanh

Chẳng có cũng chẳng không

Trừ số chuyển biến kia

Thế là không thể được.

Chỉ có các tục số

Lần lượt móc xích nhau

Lìa xích nhân duyên kia

Nghĩa sanh không thể được

✅ Đây tụng nhất tâm chân như lìa tướng nhân duyên.

Nhân duyên là gốc sanh diệt, lìa nhân duyên này không riêng có pháp sanh.

Vì thế Triệu Công nói: “Tất cả các pháp, duyên hội nên sanh. Duyên hội mà sanh, ắt chưa sanh thì không có, không có thì vô sanh”.

Kệ này nói: Lìa các số nhân duyên, không riêng có sanh diệt.

Do mười hai nhân duyên chuyển biến sanh pháp nên nói các số nhân duyên.

Bỏ các mắc xích nhân duyên này, không những vô sanh mà còn bình đẳng bình đẳng, rõ ràng không có tánh một khác.

Trong đây nếu nói một khác, tức là kiến chấp ngoại đạo.

Vì sao? Vì hai tánh có không thảy đều bất sanh, vì thảy đều chẳng có.

Trừ nhân duyên ra ắt không thể được, thế thì duyên sanh vô tánh nên không, không nên vô sanh, vô sanh thì pháp thân bình đẳng, lìa tất cả tướng.

Đây là lý do lìa nhân duyên ra không có nghĩa sanh có thể được.

Sanh vô tánh chẳng khởi

Lìa các lỗi ngoại đạo

Chỉ nói móc xích duyên

Phàm ngu không thể rõ.

Đây chính hiển thị nghĩa duyên sanh vô tánh.

Tánh, là nhân duyên.

Nghĩa là sanh vốn vô sanh, ắt phải đợi duyên sanh, do duyên sanh vô tánh nên… sanh vốn không.

Đường dịch: “Sanh không, nên bất sanh”.

Thế là sanh tức vô sanh, nên lìa lỗi pháp sanh của ngoại đạo.

Do duyên sanh tức vô sanh nên ta chỉ nói nhân duyên mà thầm bày vô sanh.

Sở dĩ phàm ngu không thể hiểu rõ, vọng cho là lìa ngoài nhân duyên riêng có tánh sanh.

Nếu lìa móc xích duyên

Riêng có tánh sanh ấy

Ắt là luận vô nhân

Phá hoại nghĩa móc xích.

Như đèn soi các vật

Móc xích hiện cũng vậy

Thế thì lìa móc xích

Lại riêng có các tánh.

✅ Đây giải thích ý nghĩa ngoại đạo chấp ngoài nhân duyên riêng có tánh sanh.

Phật bảo rằng, nếu quả thật lìa ngoài nhân duyên riêng có tánh sanh, thì rơi vào luận vô nhân, chìm trong đoạn diệt, nên nói Phá hoại nghĩa móc xích, móc xích ở đây tức là nhân duyên.

Do ngoại đạo kia vọng chấp riêng có tánh sanh, cần đợi nhân duyên mới sanh, thí như các vật có trước, cần phải đợi đèn soi sau mới thấy.

Nên nhân duyên làm hiển hiện pháp sanh, như là đèn làm hiện các vật tượng.

Vì vậy Phật chặt đứt rằng: Nếu luận như thế chính là lìa nhân duyên riêng có tánh sanh, ta nói ngoại đạo là luận vô nhân.

Không tánh, không có sanh

Như tự tánh hư không

Nếu lìa ngoài móc xích

Huệ không chỗ phân biệt.

Đây trách ngoại đạo không thấu đạt duyên sanh vô tánh nên vọng sanh phân biệt.

Do duyên sanh vô tánh nên không có sanh, vô sanh ắt vô tánh, thể tướng như hư không.

Đây là đạo lý duyên, dứt các đối đãi.

Đến cảnh giới này, ba đời chư Phật chẳng dám nhìn, ai ở đây mà phân biệt? Nên nói Huệ không chỗ phân biệt.

Nay họ đã ở chỗ lìa ngoài nhân duyên mà sanh phân biệt, đủ biết đều là vọng chấp.

Lại có vô sanh khácLà pháp hiền thánh đượcChỗ sanh vô sanh ấyẮt là vô sanh nhẫn.

Đây lựa riêng nghĩa vô sanh.

Nghĩa là ngoại đạo chấp pháp sanh cố nhiên là tà kiến, mà trong pháp ta lại có nghĩa vô sanh khác, là chỗ được của hàng hiền thánh nhị thừa, cũng chẳng phải chân thật.

Vì những người ấy đoạn tận pháp sanh rồi sau mới được vô sanh, không rõ sanh vốn vô sanh nên chẳng phải chân thật.

Như thế ta nói sanh tức vô sanh, mới là chân thật vô sanh pháp nhẫn, là chỗ chứng của hàng Bát địa, không phải chỗ biết của hàng nhị thừa trí cạn.

Giả sử người thế gianQuán sát các móc xíchTất cả lìa móc xíchTừ đây được tam-muội.

Đây lựa riêng chánh hạnh.

Nghĩa là ngoại đạo vọng chấp lìa pháp nhân duyên ắt là tăng trưởng tà kiến, chẳng phải chân thật lìa.

Giả sử các người ở thế gian, mỗi mỗi hay quán nhân duyên vô tánh, biết rõ lý vô sanh lìa duyên, thì từ đó liền được chánh định vô sanh.

Dưới đây chỉ phương pháp quán.

Các nghiệp si ái thảy

Là móc xích bên trong

Bánh xe đất, bàn lửa

Chủng tử… bên ngoài.

Nếu khiến có tánh khác

Mà từ nhân duyên sanh

Chẳng phải nghĩa móc xích

Như thế không thành tựu.

Nếu sanh không tự tánh

Cái gì làm móc xích?

Vì lần lượt sanh nhau

Nên biết nghĩa nhân duyên.

Đây chỉ bày phương pháp quán nhân duyên.

Các nghiệp si ái… là mười hai nhân duyên, tức vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử ưu bi khổ não.

Ba đời luân chuyển, ràng buộc không dứt, là móc xích bên trong.

Bàn xoay lấy lửa được lửa, nhồi đất làm thành bình, chủng tử mọc mầm cây, ba việc này là nhân duyên vật bên ngoài.

Các pháp nhân duyên trong ngoài này chỉ cần quán không, vô tự tánh, liền chứng vô sanh, hà tất lìa ngoài nhân duyên mà lập có tánh khác.

Nếu khiến ngoài cái này riêng có một tánh khác từ nhân duyên sanh, tức là vô nhân.

Thế là không những hoại nghĩa nhân duyên, mà pháp kia không thành, vì chỗ chấp tự tánh kia là vô nhân.

Nếu quán pháp sanh vốn không tự tánh, ắt nhân duyên lập tức không, thì cái gì làm móc xích? Do có lần lượt sanh nhau nên nói nghĩa nhân duyên.

Ý rằng nếu có nhân duyên ắt không tự tánh, nếu lìa nhân duyên tức là vô sanh, há có lìa ngoài nhân duyên, riêng có tự tánh ư?

Thế là hay quán duyên sanh vô tánh, vô tánh duyên sanh, ắt thấu rõ nhân duyên thể không, liền nhập nghĩa vô sanh chân thật.

Người trí nên quán như thế.

Pháp cứng, ướt, nóng, động

Phàm ngu sanh vọng tưởngLìa số không pháp khácThế là nói vô tánh.✅ Đây giải thích lý do các pháp vô tánh.

Nghĩa là các pháp tứ đại…, đương thể toàn không, vốn không tự tánh, chỉ do duyên hội mà sanh, lại không có pháp khác.

Song ngoại đạo không rõ, chấp lầm tứ đại thật có tự tánh, lấy đó làm sanh nhân, chỉ là vọng tưởng phân biệt, chẳng phải chánh kiến.

Thế nên ta nói duyên sanh vô tánh tức là vô sanh, để phá chấp của họ. Lìa ngoài số nhân duyên này trọn không có pháp khác, chỉ nói vô tánh thôi.Như thầy trị các bệnh

Không có trăm ngàn phương

Vì bệnh có sai biệt

Nên lập các phương tiện.

Ta vì chúng sanh kia

Phá hoại các phiền não

(Đường dịch: Diệt trừ bệnh phiền não)

Biết căn kia ưu liệt

Vì họ nói độ môn.

Chẳng gốc phiền não khác

Mà có các thứ phá

pChỉ nói pháp nhất thừa

Đó là vì Đại thừa.Đây kết quy nhất thừa, để hiển nghĩa rốt ráo của nhất tâm chân như.

Đây là Như Lai thuyết pháp, chỉ nói vô sanh.

Song vô sanh vốn không có nói, mà có nhiều phương tiện ngôn từ khai thị, vì chúng sanh nhiều bệnh.

Thế nên như thầy thuốc trị các thứ bệnh, bệnh nhiều thì phương thuốc cũng khác nhau.

Phật vì phá trừ bệnh phiền não của chúng sanh, vì họ gốc bệnh không đồng, nên nói các pháp môn độ thoát.

Đây là pháp vốn không khác, khác tự căn cơ.

Chính là “Chỉ có pháp Nhất thừa, không hai cũng không ba, trừ Phật phương tiện nói, chỉ dùng danh tự giả, dẫn đạo cho chúng sanh, vào Đại thừa làm gốc”, kệ đây nói:

Chỉ nói pháp Nhất thừa, đó là vì Đại thừa.

Trước ở chỗ hiển lý cứu cánh nói Đại thừa ta chẳng phải thừa, nay dạy về đoạn chứng đã xong, nên cũng dùng Đại thừa kết thúc đó.

Trên nói Nhất tâm chân như lìa tất cả tướng, hiển bày đức chân ngã cứu cánh Niết-bàn đã xong.

Sau phá bảy thứ vô tướng của ngoại đạo để hiển đức chân thường của cứu cánh Niết-bàn.

H₂ - Hiển đức chân thường của cứu cánh Niết-bàn, có 2:

I₁ - Phá bảy thứ vô thường của ngoại đạo

I₂ - Chánh hiển chân thường

🌳🌲🌵

I₁ - Phá bảy thứ vô thường của ngoại đạo

Lúc bấy giờ Đại Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Tất cả ngoại đạo đều khởi vọng tưởng vô thường.

Thế Tôn cũng nói tất cả hành vô thường, là pháp hữu vi sanh diệt.

Nghĩa này thế nào? Là tà, là chánh? Là có bao nhiêu loại vô thường?

Đây nhân ngoại đạo chấp vô thường, sắp hiển đức chân thường cứu cánh Niết-bàn.

Trước hiển lìa nhân duyên sanh diệt để nói rõ pháp thân chân ngã. Đây hiển lìa kiến chấp vô thường tức chứng pháp thân chân thường.

Ý rằng ngày trước Phật cũng nói vô thường, không biết cùng với những lời của ngoại đạo kia thì ai tà ai chánh?

Song hỏi về chỗ chấp vô thường của ngoại đạo có bao nhiêu thứ, ý ở chỗ đưa hết chỗ chấp của họ để phá, khiến kia không đọa.

Phật bảo Đại Huệ: Tất cả ngoại đạo có bảy thứ vô thường, chẳng phải pháp ta. Thế nào là bảy?

1/ Họ có khi nói, làm rồi mà bỏ gọi là vô thường.

Đây là tông phái ngoại đạo lập có Thắng tánh là tác giả hay tạo tất cả các pháp tứ đại.

Nay ở đây chấp rằng: Tứ đại sở tạo là thường, còn năng tạo kia tạo rồi liền bỏ là vô thường. Văn sau nói lìa tạo vật ban đầu vô thường.

2/ Có thuyết nói hình xứ hoại gọi là vô thường.

Đây chấp tứ đại năng tạo sở tạo đều là thường, rốt ráo không hoại. Chỉ phân tích hình sắc dài ngắn… không được, cho hình xứ hoại là vô thường.

3/ Có thuyết nói tức sắc là vô thường.

Đây chấp tứ đại năng tạo là thường, sắc sở tạo là vô thường. Thuyết này với lối chấp ban đầu trái nhau.

4/ Có thuyết nói trong chỗ trung gian chuyển biến sắc, vô gián tự là tan hoại, như sữa lạc… trong khoảng chuyển biến không thể thấy, vô thường hủy hoại tất cả tánh chuyển.

Đây chấp năng tạo cùng sở tạo đều thường. Chỉ trong khoảng giữa hai sắc có tánh vô thường, hay khiến sắc sở tạo tiếp nối đổi khác, tự nhiên hoại diệt, như sữa, lạc…

Trong khoảng giữa hai sắc (sắc pháp trước và sắc pháp sau) có pháp vô thường khiến nó chuyển biến mà không thể thấy được.

Đây là vô thường hay chuyển tất cả tánh. Lối chấp này trái lối chấp ban đầu và thứ ba.

5/ Có thuyết nói tánh vô thường.

Đây chấp có một cái tự tánh vô thường không hoại, mà hay hoại các pháp kia, như gậy gộc, ngói đá… hay phá hoại tất cả vật. Lối chấp này ngược với chấp trên.

6/ Có thuyết nói tánh vô tánh vô thường.

Đây chấp năng tạo sở tạo đều vô thường. Tánh là năng tạo, vô tánh là sở tạo.

Nghĩa là tánh năng tạo đã tạo sắc rồi, thì tự thể đã hoại, mà vật sở tạo lại cũng tùy theo đó hoại, nên đều vô thường. Đây với chấp trên đều tương phản.

7/ Có thuyết nói tất cả pháp bất sanh vô thường có mặt trong tất cả pháp.

Đây chấp có một tánh bất sanh vào trong tất cả pháp sanh, mà theo các pháp hoại diệt. Tức pháp bất sanh này lại là vô thường.

Trước nêu chỗ chấp, sau lặp lại các chấp mà phá đó.

Đại Huệ! tánh vô tánh vô thường ấy, là tứ đại và sở tạo tự tướng hoại, tự tánh tứ đại bất khả đắc bất sanh.

Đây lặp lại để phá lối chấp thứ sáu Tánh vô tánh vô thường.

Nghĩa là ngoại đạo kia chấp tứ đại hay tạo các pháp, song phải hoại tự thể rồi mới tạo cái khác, như hột giống (năng tạo) mọc mầm, mà cây lúa (sở tạo) chẳng phải là tứ đại gốc (cây lúa khác hạt giống lúa) nên năng sở đều hoại, chấp đó là vô thường.

Phật phá rằng: Tự tánh tứ đại kia vốn không được, vì năng tạo đã vốn vô thể, vô thể nên vốn tự bất sanh, bất sanh thì không năng sở, năng sở hai tướng rốt ráo không được, thì nêu pháp gì gọi là vô thường ư?

Cái bất sanh vô thường kia, chẳng phải thường vô thường.

Tất cả pháp Có Không chẳng sanh, phân tích cho đến vi trần không thể thấy, là nghĩa bất sanh chẳng phải nghĩa sanh.

Đây gọi là tướng bất sanh vô thường, nếu không biết điều này rơi trong nghĩa sanh vô thường của tất cả ngoại đạo.

Đây lặp lại để phá lối chấp thứ bảy Bất sanh vô thường.

Bởi ngoại đạo vọng chấp có một cái tánh bất sanh nằm trong tất cả pháp sanh, theo các pháp mà hoại, nên gọi bất sanh là vô thường.

Phật nói, nếu bảo bất sanh là vô thường, đây ắt chẳng phải thường chẳng phải vô thường.

Vì sao? Nếu nói bất sanh thì ắt là chân thường, nếu nói vô thường thì ắt phải là pháp hữu vi sanh diệt. Nay họ chấp vào cái bất sanh mà cho là vô thường, thì danh nghĩa trái nhau, tự mâu thuẫn. Bởi tất cả pháp hữu vi, quán sát từ vi trần trở đi, đều không có tự thể, vì không tự thể nên vốn tự bất sanh. Đây mới là nghĩa bất sanh chân thật, chẳng phải là cái bất sanh vô thường của họ.

Nếu không thấu suốt nghĩa này, thì cũng đồng như các ngoại đạo rơi vào chấp sanh vô thường vậy.

Đại Huệ! Lại nữa, hình xứ hoại vô thường ấy, là do phân tích đại chủng sở tạo thành vi trần, không thể thấy, vì sắc vốn bất khả đắc, nên nói vô thường, chẳng phải do hình xứ hoại gọi là vô thường.

Đây phá lối chấp thứ hai Hình xứ hoại vô thường. Ngoại đạo chấp rằng tứ đại là thường, chỉ có hình dáng dài ngắn, vuông tròn… của sắc sở tạo là có hoại diệt, nên gọi hình xứ hoại là vô thường.

Phật phá rằng: Cái vô thường của ta nói là do phân tích tứ đại và sở tạo đến mức cực vi đều không có tự tánh, vì sắc tướng vốn bất khả đắc nên nói là vô thường vô sanh.

Chớ chẳng phải do cái hình dáng bên ngoài hoại đi mà gọi là vô thường.

Đại Huệ! Lối chấp này là lối chấp hoại tất cả nghĩa.

Đại Huệ! Ta không nói hình xứ hoại gọi là vô thường. Vì sao? Vì tất cả pháp không sanh, ta nói là vô thường.

Đây là lần nữa bác bỏ lối chấp hình xứ hoại. Ý nói nếu chấp hình hoại là vô thường, ắt là hoại hết tất cả nghĩa vô sanh của ta.

Vì ta nói vô thường là để chỉ cho nghĩa các pháp vốn tự bất sanh.

chẳng là thường, lại chẳng là vô thường. Vì sao? Họ cho rằng vô thường tự tánh không hoại mà hay hoại tất cả pháp để thành sự vô thường.

Thế thì ngoài cái vô thường này, lại không có cái hay hoại các pháp, song vô thường hay hoại các pháp.

Như gậy hay ngói đá hay phá hoại các vật, thế thì vô thường khác với các pháp, mới có thể phá hoại. Vì vậy phần sau đứng về một khác để phá.

Hiện thấy mỗi mỗi không khác, là tánh vô thường sự, chẳng phải tác sở tác có sai biệt. Đây là vô thường (tác), đây là sự vật (sở tác).

Tác sở tác không khác, tất cả tánh thường, tánh vô nhân. Đại Huệ! Tất cả tánh vô tánh, hữu nhân, chẳng phải phàm ngu biết được.

Đây đứng về một khác để phá Tánh vô thường. Nghĩa là nếu quả nhiên vô thường hay hoại các pháp, ắt nhất định là tánh hay hoại cùng pháp bị hoại, hai thể ấy khác nhau mới có thể hoại.

Nay hiện thấy mỗi mỗi không khác, không thể lựa riêng tánh vô thường cùng với vật bị hoại, hai tướng năng sở có thể chất sai biệt, nên nói chẳng phải tác sở tác có sai biệt.

Tác tức vô thường, sở tác tức sự vật bị hoại. Nếu năng sở không thể, ắt phải chỉ ra riêng biệt: Đây là vô thường, đây là sự vật bị hoại diệt.

Đã không chỉ ra được ắt không có thể khác. Nếu năng sở không khác mà là một thể, ắt tất cả pháp phải thường, lại rơi vào vô nhân.

Vì sao? Vì họ chấp tánh vô thường chẳng hoại, chẳng hoại ắt là thường.

Nay đã cùng các pháp là một thể, bởi vô thường tức thường thì tất cả pháp đều thường, vì thế nói: Không khác là tất cả tánh thường.

Lại nữa, chỗ chấp của họ vì có nhân vô thường hay khiến các pháp hoại diệt. Nay đã là một thể ắt không thấy có nhân hay khiến các pháp hoại diệt.

Đây lại là tự rơi vô nhân, tông của họ cũng không thành, nên nói tánh vô nhân.

Song các pháp hoại diệt không phải là vô nhân, nên Đường dịch: Các pháp hoại diệt, thật cũng có nhân, chỉ chẳng phải chỗ phàm ngu có thể hiểu.

Chẳng phải nhân chẳng tương tự sự sanh. Nếu sanh, tất cả tánh thảy đều vô thường, vì là sự chẳng tương tự, tác sở tác không có khác biệt, mà thấy có khác.

Trên đã phá vô thường hay diệt các pháp, đây lại phá tánh vô thường hay sanh các pháp.

Phật nói, nếu họ chấp tánh vô thường hay sanh tất cả pháp, nhưng tất cả pháp sanh do nhân quả giống nhau. Như trồng đậu mè… chưa từng có trồng đậu mà được mè.

Nên nói: Chẳng phải nhân chẳng tương tự sự sanh. Nếu chẳng tương tự (chẳng cùng loài) mà sanh, thì một nhân mà sanh nhiều quả.

Nay dùng một tánh vô thường mà sanh tất cả pháp, ắt tất cả tánh đều đồng một vô thường. Nên nói: Nếu sanh thì tất cả tướng đều vô thường.

Như thế ắt nhân quả không khác biệt, chủng loại không phân biệt thì tất cả pháp khác nhau nên cùng sanh nhau.

Đây là sự không tương tự mà năng sanh sở sanh không thể phân biệt trộn lẫn làm một. Nên nói: Tác sở tác không có khác biệt.

Vả lại, tức nay hiện thấy các pháp mỗi mỗi có khác, đây ắt chẳng phải là vô thường hay sanh tất cả pháp.

Nếu tánh vô thường, rơi vào nhân tánh tướng, nếu rơi thì tất cả tánh không cứu cánh, tất cả tánh làm nhân tướng đọa, tự vô thường nên là vô thường, vì vô thường vô thường, tất cả tánh không phải vô thường lẽ ra là thường.

Đây phá chấp vô thường là sanh nhân, không được là thường.

Nghĩa là nếu quyết do tánh vô thường là có pháp để làm sanh nhân, ắt rơi vào tác nhân, vì hễ là tác giả thì đều vô thường.

Nếu nhân năng tác đã rơi vào vô thường, thì các pháp sở tác đều vô thường, nên nói Nếu rơi thì tất cả tánh không cứu cánh.

Nếu nhân năng sanh đã rơi trong pháp vô thường sở sanh, đây ắt là tự vô thường cũng nên là vô thường, mà không được chấp năng sanh là thường.

Nên nói tất cả tánh nếu nhân tướng đọa thì tự vô thường nên là vô thường.

Nếu tự vô thường đã là vô thường thì tất cả pháp sở tác không là vô thường, mà là thường. Vì sao? Vì bỏ thường của mình mà vào các pháp kia, thì các pháp kia được tánh thường của ta.

Đây là mình tự vô thường mà pháp sở sanh đều là thường. Nếu kia là thường thì không thể hoại, mà chấp pháp sở sanh có thể hoại lại không thành.

Nên Đường dịch: Nếu tánh vô thường là pháp hữu, phải đồng sở tác tự là vô thường, vì tự vô thường, pháp sở vô thường đều phải là thường.

Nếu vô thường vào tất cả tánh, phải rơi trong ba đời. Sắc quá khứ ấy đi chung với hoại diệt, vị lai chưa sanh, vì sắc chưa sanh, sắc hiện tại đi chung với tướng hoại.

Đây phá tánh vô thường hay vào trong các pháp.

Bởi ngoại đạo vọng chấp vô thường vào trong các pháp, tự tánh chẳng hoại, mà hay hoại các pháp kia.

Phật dạy: Nếu cho là vô thường vào tất cả tánh, ắt phải rơi trong ba đời. Đã rơi vào ba đời, thì theo đó hoại diệt, mà tự tánh không được không hoại.

Vì sao? Nếu vào quá khứ, sắc quá khứ đã hoại, nếu vào vị lai, sắc vị lai chưa sanh, nếu vào hiện tại, hiện tại chẳng dừng, sát-na biến dị, mà vô thường cũng cùng nó đều hoại.

Vả lại, tự thể đã hoại há có thể làm hoại được các pháp kia?

Sắc là tứ đại tích tập sai biệt, tứ đại và tạo sắc tự tánh không hoại, vì lìa khác cùng chẳng khác.

Tất cả ngoại đạo, tất cả tứ đại chẳng hoại, tất cả ba cõi tứ đại và tạo sắc tại sở tri có sanh diệt, lìa tứ đại tạo sắc, tất cả ngoại đạo ở nơi nào mà tư duy tánh vô thường, tứ đại chẳng sanh vì tự tánh tướng chẳng hoại.

Đây lại chuyển phá lối chấp tứ đại là thường.

Nhân ở trên chấp tánh vô thường bất hoại vào tất cả sắc pháp. Phật phá điều này mà nói rằng: “Tất cả sắc pháp ba đời đều thuộc về khả hoại, mà vô thường không có lý bất hoại”.

Nên đây lại phòng ngừa chuyển chấp rằng: “Vì tánh vô thường bất hoại vào trong các pháp nên tứ đại được vào cũng thường trụ bất hoại”. Đây phá rằng: “Sắc là tứ đại sở tạo tích tập tánh sai biệt. Năng tạo sở tạo vốn không hai thể, há lại có sắc pháp sở tạo đã hoại, mà tứ đại năng tạo bất hoại ư?”.

Vì năng tạo sở tạo không một không khác. Nếu không một thì hai thể khác biệt, nếu không khác, thì đều thuộc về khả hoại. Huống chi tất cả ba cõi năng tạo sở tạo, người người đều biết là pháp sanh diệt. Lại há chỉ có sắc hoại mà tứ đại có cái lý bất hoại ư? Đã năng sở đều hoại, ngoài đây ở chỗ nào lại tìm được tánh vô thường bất hoại?

Đường dịch: “Tất cả ngoại đạo chấp tứ đại chủng thể tánh bất hoại, sắc tức là đại chủng sai biệt tạo sắc, vì lìa khác và chẳng khác, tự tánh kia cũng không hoại diệt.

Đại Huệ! Trong ba cõi, năng tạo sở tạo chẳng không phải đều là tướng sanh trụ diệt, há lại riêng có tánh vô thường hay sanh ra vật mà bất diệt ư?” Do ngoại đạo vọng chấp vô thường tánh thường, hay làm chủ tể sanh diệt. Chấp này sâu xa tiềm ẩn, nên lần lượt phá đó. Như ở Trung Hoa, Trang Chu cũng nói: “Sanh sanh giả bất sanh”. Lại nói: Kia làm suy sát mà chẳng suy sát, kia làm gốc ngọn mà chẳng gốc ngọn. Nếu không đạt ý vô sanh chân thật sao khỏi rơi trong chỗ chấp này. Nên đoạn trước nói: Nếu không biết điều này thì rơi trong nghĩa sanh vô thường của tất cả ngoại đạo.

Lìa vô thường tạo đầu tiên, chẳng phải tứ đại. Lại có tứ đại khác mỗi mỗi tướng khác, vì tự tướng nên chẳng sai biệt có thể được. Kia không sai biệt, những cái này không tạo lại, hai phương tiện không tạo tác, nên biết là vô thường.

Đây lặp lại để phá lối chấp thứ nhất làm rồi bỏ là vô thường. Ngoại đạo chấp chẳng phải tứ đại vô thường, lại có tứ đại tánh khác mà hay tạo ra ban đầu rồi bỏ, gọi là vô thường.

Bởi họ cho tứ đại sở tạo là thường, cho năng tạo là vô thường. Song lối họ chấp không ra ngoài ba pháp: hỗ tương, tự, cộng làm năng tạo, nên Phật phá rằng: Chẳng phải tứ đại hỗ tương tạo, vì tứ đại mỗi mỗi tướng khác, cũng chẳng riêng tự tạo, vì không có tướng sai biệt khả đắc. Đã không có tướng sai biệt khả đắc, những điều này cũng chẳng lại chung tạo vì kia đây trái xa, hai phương tiện tự tạo chung tạo chẳng tạo tác. Nếu cả hai chỗ đều chẳng tạo ắt vốn không tạo, rốt ráo là vô thường. Nên nói Nên biết là vô thường. Há lại có vô thường mà có thể tạo pháp thường kia ư? Đường dịch: Chẳng phải đại chủng hỗ tương tạo đại chủng vì mỗi mỗi khác biệt, chẳng phải tự tướng tạo vì không khác, lại chẳng phải chung tạo vì trái xa.

Kia hình xứ hoại vô thường, là tứ đại và tạo sắc chẳng hoại, rốt ráo bất hoại. Đại Huệ! Rốt ráo là phân tích cho đến vi trần quán sát hoại. Tứ đại và tạo sắc hình xứ thấy khác, dài ngắn không thể được, chẳng phải tứ đại, tứ đại chẳng hoại hình xứ hoại hiện, rơi trong số luận.

Đây lặp lại để phá chấp thứ hai hình xứ hoại vô thường.

Ngoại đạo chấp đại chủng năng tạo và sắc sở tạo rốt ráo bất hoại.

Tức phân tích cho đến mé vi trần, chỉ diệt được cái thấy hình trạng dài ngắn, không diệt sắc thể năng tạo sở tạo.

Nên cho rằng sắc thể bất hoại là hường, hình trạng biến hóa là vô thường, nên nói thấy hình xứ dài ngắn khác nhau là không thể được, chẳng phải tứ đại. Phật phá rằng: Tứ đại bất hoại hình xứ hoại, đây chính là nằm trong số luận Tăng Khu, vì Tăng Khu chấp tứ đại là thường.

Sắc tức vô thường, nghĩa là sắc tức là vô thường. Ắt là họ cho rằng hình xứ vô thường, chẳng phải tứ đại. Nếu tứ đại vô thường, chẳng phải ngôn thuyết tục số. Ngôn thuyết thế tục phi tánh, ắt rơi trong thế luận, thấy tất cả tánh, chỉ có ngôn thuyết không thấy tự tướng sanh.

Đây lặp lại để phá lối chấp thứ ba tức sắc vô thường.

Ngoại đạo chấp sắc tức là vô thường. Song sắc sở tạo không ra ngoài hình trạng dài ngắn…, nên Phật nói lối chấp của họ, ý giống như lối chấp hình xứ vô thường ở trước, chẳng phải tứ đại vô thường. Nếu tứ đại vô thường thì thuộc về chỗ đàm luận của chánh giáo, nên nói không phải ngôn thuyết thế tục có thể đến. Song thế luận kia nói tạo sắc vô thường, ắt rơi vào thế luận, hai bản dịch đều nói: “Kiến chấp Lô-giá-da” nghĩa là cùng nhóm với đoạn kiến. Vì họ vọng thấy các pháp thật có tự tánh. Song điều này chỉ có trên ngôn thuyết, đều không có nghĩa thật, vì không thấy có tự tướng sanh.

Chuyển biến vô thường, là tánh khác của sắc hiện, chẳng phải tứ đại.

Như vàng làm đồ trang sức, chuyển biến hiện chẳng phải tánh vàng hoại, chỉ là đồ trang sức hoại, như thế các tánh khác chuyển biến cũng như thế.

Đây lặp lại để phá lối chấp thứ tư sắc chuyển biến khoảng giữa vô thường.

Ngoại đạo chấp năng tạo sở tạo đều thường, chỉ trong khoảng giữa của hai sắc có tánh vô thường, khiến cho sắc pháp sở tạo chuyển biến đổi khác tự nhiên hoại diệt. Như sữa, bơ… Đây nói tánh khác của sắc hiện thì gọi là vô thường, chẳng phải tứ đại vô thường, nên nói như vàng làm đồ trang sức, chuyển biến hiện, song chẳng phải tánh vàng hoại, chỉ là đồ trang sức bị hoại.

Đây như thế mà các pháp khác chuyển biến cũng như thế. Lối chấp này cùng hai lối chấp trên lời khác ý đồng. Đoạn này lặp lại lối chấp, văn sau phá chấp.

Như thế các thứ kiến chấp vô thường của ngoại đạo, vọng tưởng khi tứ đại hỏa thiêu, tự tướng không bị thiêu, mỗi mỗi tự tướng cùng hoại, tứ đại tạo sắc lẽ ra phải đoạn.

Đây nêu ra lý do của lối chấp trên.

Đường dịch: “Những ngoại đạo như thế hư vọng phân biệt thấy tánh vô thường, họ lập thuyết thế này: Lửa không thể đốt tự tướng của các đại, chỉ mỗi đại phân tán, nếu có thể thiêu được, thì năng tạo sở tạo đều đoạn diệt”.

Nghĩa là những ngoại đạo này vọng khởi kiến chấp vô thường, nói khi lửa đốt tứ đại, chỉ là hình trạng hoại mà tự thể bất hoại. Như vàng làm trang sức, hình tướng tuy hoại mà tánh vàng không hoại. Nếu tự thể tứ đại hoại, thì năng tạo sở tạo đều đoạn diệt.

Đây là chấp có cái hoại có cái bất hoại, chính là chỗ nói Phật tánh một phần thường một phần vô thường. Đời mạt pháp gọi là kiến tánh phần nhiều rơi trong đây. Đại khái lối chấp ngoại đạo không ra khỏi thường và vô thường, nên văn sau dùng chẳng thường chẳng vô thường phá chung.

I₂ - Chánh hiển chân thường

Đại Huệ! pháp của ta chẳng thường, chẳng vô thường. Vì sao? Nghĩa là vì ngoại tánh không quyết định (Ngụy dịch: Vì ta không nói cảnh giới ngoài có thật). Chỉ nói ba cõi hiện từ tâm. (Đường dịch: Vì ba cõi duy tâm) không nói các thứ tướng có sanh có diệt, tứ đại hội họp sai biệt, tứ đại và tạo sắc nên vọng tưởng hai thứ nhiếp sở nhiếp, biết hai thứ vọng tưởng, lìa hai thứ kiến chấp ngoại tánh vô tánh (Đường dịch: Vì không nói các tướng, chỗ đại chủng tánh các thứ sai biệt, không sanh không diệt, vì chẳng năng tạo sở tạo hai loại thể tánh năng thủ sở thủ, vì tất cả đều từ phân biệt khởi, vì như thật mà biết hai tánh chấp thủ).

Giác tự tâm hiện lượng, vọng tưởng là tư tưởng khởi sanh, chẳng phải không làm hành động, lìa tâm tánh vô tánh vọng tưởng, tất cả pháp thế gian, xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng chẳng thường chẳng vô thường. Đây kết để hiển bày nghĩa Niết-bàn sở dĩ lìa đoạn thường.

Nghĩa là ngoại đạo kia sở dĩ rơi trong đoạn thường, do vọng thấy ngoại cảnh cho là thật có, không rõ duy tâm sở hiện, nên nói các thứ tướng có sanh có diệt, vọng cho là tứ đại năng tạo sở tạo, nên vọng thấy có năng thủ sở thủ, nên rơi vào nhị kiến có không, vọng khởi đoạn thường.

Pháp ta thảy đều lìa các thứ kiến chấp này, vì liễu đạt chỉ là tự tâm hiện, vọng tưởng kia chỉ từ tư tưởng tác nghiệp sanh, chẳng phải vô sanh bất tác nghiệp.

Vô sanh của ta, lìa tâm ý thức nhị kiến có không, liễu đạt các pháp thế, xuất thế gian thượng thượng, chỉ là tự tâm, lại không có pháp khác. Cho nên pháp ta chẳng đoạn chẳng thường.

Không biết tự tâm hiện lượng, rơi vào sự tiếp nối của ác kiến nhị biên, tất cả ngoại đạo không biết tự vọng tưởng.

Đây là phàm phu không có căn bản, cho rằng thế gian, xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng từ vọng tưởng sanh. Chẳng phải phàm ngu biết được.

Đây kết để hiển bày lỗi của ngoại đạo.

Do không biết duy tâm, nên rơi trong sự tiếp nối của ác kiến nhị biên, không biết đều từ tự tâm vọng tưởng mà sanh. Phàm ngu ngoại đạo này vì không có trí tuệ căn bản, họ cũng cho rằng Như Lai nói pháp thế gian, xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng cũng như họ từ ngôn thuyết vọng tưởng sanh.

Họ không biết Như Lai thuyết pháp lìa cảnh giới ngôn thuyết của tâm ý thức, nên điên đảo vọng kiến phân biệt như thế. Song chỗ Như Lai nói pháp chẳng phải chỗ phàm ngu có thể biết.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Xa lìa nơi sở tạo

Cùng với hình xứ khác

Tánh và sắc vô thường

Ngoại đạo ngu vọng tưởng

✅ Đây tụng chung bảy lối chấp vô thường của ngoại đạo đều là vọng tưởng phân biệt. Đoạn này nêu lên bốn, xem văn có thể biết.

Các tánh không có hoại

Mỗi đại tự tánh trụ

Ngoại đạo tưởng vô thường

Chìm trong các thứ kiến

✅ Đây tụng chuyển biến vô thường. Nghĩa là tất cả các pháp tự tánh thường trụ, không có chuyển động, ngoại đạo không rõ, vọng chấp vô thường rồi chìm trong các thứ tà kiến.

Các hàng ngoại đạo kia

Không có sanh hoặc diệt

Mỗi đại tánh tự thường

Sao gọi tưởng vô thường?

Tất cả duy tâm lượng

Hai dòng tâm lưu chuyển

Nhiếp thọ và sở nhiếp

Không có ngã ngã sở

✅ Đây tụng về lối chấp bất sanh vô thường và tứ đại là thường, tạo sắc là vô thường.

Nghĩa là ngoại đạo vọng chấp bất sanh là vô thường vào tất cả các pháp. Đã nói bất sanh, bất sanh ắt bất diệt, vì sao lại nói vô thường ư? Đã nói tứ đại là thường, vì sao lại nói sở tạo là vô thường? Cho nên biết tất cả các pháp chỉ là nhất tâm hiện lượng, thế thì nhị kiến có không, hai thủ năng sở, ngã và ngã sở, xưa nay không có, đều là tự tâm vọng phân biệt. Đường dịch: Các chúng ngoại đạo kia, đều nói chẳng sanh diệt, các đại tánh tự thường, gì là pháp vô thường?

Phạm thiên là gốc cây

Cành nhánh đều trùm khắp

Chỗ ta nói như thế

Chỉ là tâm lượng kia

✅ Đây tụng lối chấp của ngoại đạo không riêng bảy loại vô thường, tức tất cả thường kiến như chấp Phạm thiên là thường, làm chủ của chúng sanh hay sanh ra các vật, đều thuộc tà kiến. Nên ta nói rằng đó cũng là tự tâm lượng.

  • Trên trình bày về lối chấp vô thường của ngoại đạo để hiển Niết-bàn chân thường. Văn ở đây chỉ biện về vô thường, chỗ văn để hiển chân thường ẩn trong chương Tam-muội.

  • Dưới trình bày tam-muội của tam thừa để hiển Niết-bàn chân lạc.

H₃ - Hiển đức pháp thân chân lạc

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tất cả Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác, diệt chánh thọ thứ lớp tiếp nối, nếu khéo rành về diệt chánh thọ thứ lớp tiếp nối, con và các Bồ-tát rốt cuộc không vọng xả môn lạc diệt chánh thọ, không rơi trong tất cả Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo ngu si.

Trên nói về ngoại đạo tà chấp vô thường, sắp hiển Niết-bàn cứu cánh chân thường, văn kia chưa hết. Đây nói về chỗ chấp của hàng tam thừa về tam-muội môn lạc, để hiển bày Niết-bàn chân lạc, và để ngăn tà ngu.

Đại Huệ nương chỗ này liền hỏi về Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác diệt chánh thọ thứ lớp tiếp nối, ý rằng nếu giỏi biết tường tận về tướng diệt chánh thọ này, ắt không luống uổng xả bỏ pháp lạc diệt chánh thọ của Như Lai quả hải.

Xả bỏ cũng như mất vậy. Nghĩa là nếu biết Tam thừa đều chẳng cứu cánh, ắt không vọng nhận thiên tà, được ít cho là đủ, mất phần đối với tam-muội môn lạc, biển đại tịch diệt của Như Lai. Nên sau đây Thế Tôn tuần tự nói về Bồ-tát Bát địa không phải chân, dụ cho mộng qua sông, ý khiến răn nhắc tiến tới, chớ lầm thối đọa vậy.

Phật bảo Đại Huệ! Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin vì chúng con nói.

Phật bảo Đại Huệ: Hàng Lục địa Bồ-tát và Thanh văn, Duyên giác vào diệt chánh thọ.

Đây nói hàng Lục địa Bồ-tát và Thanh văn, Duyên giác cùng đoạn dứt hạt giống phiền não chướng trong ba cõi, khổ tâm nhọc mệt nên diệt tâm nhập chánh định.

Song vẫn còn xuất nhập, chưa thể niệm niệm nhập định, vì chưa quên tướng nhiễm tịnh vậy.

Đại Bồ-tát Thất địa niệm niệm chánh thọ, lìa tất cả tánh tự tánh tướng chánh thọ, chẳng phải Thanh văn, Duyên giác.

Các Thanh văn, Duyên giác rơi vào hữu hành giác nhiếp sở nhiếp tướng diệt chánh thọ, cho nên Bồ-tát Thất địa chẳng phải niệm chánh thọ.

Đây nói Thất địa Bồ-tát niệm niệm nhập chánh định, không giống Nhị thừa có tâm ưa chán.

Sở dĩ hàng Thất địa niệm niệm nhập định, vì không thấy có sanh tử đáng chán, không thấy có Niết-bàn đáng cầu, nên nói lìa tất cả tánh tự tánh tướng chánh thọ.

Chỗ này không phải Nhị thừa theo kịp. Nhị thừa sở dĩ chẳng theo kịp Thất địa, vì chán hữu vi mà chỉ ưa vô vi, không lìa cảnh giới năng thủ sở thủ. Cho nên Thất địa chẳng phải Nhị thừa hữu niệm chánh thọ. Ngụy dịch: Bồ-tát ở trong Thất địa, niệm niệm vào diệt tận định, vì các Bồ-tát thảy đều có thể xa lìa tất cả tướng các pháp hữu vi. Thanh văn, Bích chi Phật không thể niệm niệm nhập diệt tận định vì duyên theo hạnh hữu vi mà nhập diệt tận định, rơi trong cảnh giới năng thủ sở thủ. Thế nên Thanh văn, Bích chi Phật không thể vào trong niệm niệm diệt tận định của Thất địa.

Chẳng nhận được tất cả pháp tướng sai biệt, được các thứ tướng tánh, biết tất cả pháp thiện bất thiện tánh tướng chánh thọ. Cho nên Thất địa không có thiện niệm chánh thọ.

Đây nói về lý do Nhị thừa không theo kịp Thất địa.

Nhị thừa sở dĩ không bằng hàng Thất địa, bản Ngụy dịch: Nhị thừa dùng cái biết các pháp có các tướng khác, có pháp không pháp, pháp thiện bất thiện, tướng đồng tướng khác mà nhập diệt tận định. Cho nên Thanh văn, Duyên giác không thể được chỗ niệm niệm diệt tận định của Bồ-tát Thất địa, vì không có trí phương tiện thiện xảo. Chữ không có thiện niệm ở đây nghĩa là Bồ-tát Thất địa không có những niệm về thiện và bất thiện… của Nhị thừa.

Đại Huệ! Hàng Bồ-tát Bát địa và Thanh văn, Duyên giác, tướng vọng tưởng tâm ý ý thức diệt.

Đây nói về hành tướng Bát địa.

Nghĩa là Bồ-tát Bát địa vô công dụng đạo thường ở trong tam-muội, không có tướng xuất nhập, mà đồng như Niết-bàn của Thanh văn, Duyên giác, diệt vọng tưởng tâm thức. Song ở đây tên đồng nghĩa khác vì Nhị thừa diệt tiền lục thức, mệt nhọc đoạn dứt, chìm trong tịch diệt, nên không khởi tâm, không một niệm độ sanh. Hàng thánh nhân Bát địa, xả lìa tạng thức, tâm sanh diệt diệt, chìm trong tịch diệt, mà cũng không khởi nguyện độ sanh. Bởi chỗ tịch diệt tuy đồng, kỳ thật khác xa.

Vì sao? Vì Nhị thừa chấp đó là Niết-bàn, lại không tiến tới, còn Bát địa thì do giác tam-muội giữ gìn, lại được thần lực của Như Lai gia trì, nên không chấp tướng Niết-bàn. Do đây mà khác, văn sau tự rõ.

Đại Bồ-tát từ Sơ địa đến Thất địa, quán ba cõi tâm ý ý thức lượng, lìa ngã ngã sở, tự vọng tưởng tu, rơi vào các thứ tướng ngoại tánh và hai hạng ngu phu, tự tâm nhiếp sở nhiếp, hướng vô tri, không biết sự huân tập của tập khí hư ngụy lỗi lầm từ vô thỉ.

Đây nói Thất địa về trước không khéo tu tập, ắt rơi vào ngoại đạo tà kiến.

Nghĩa là từ Sơ địa đến Thất địa, chỗ quán hạnh tu tập tuy có thể quán sát ba cõi tất cả chỉ là tâm ý ý thức, vốn muốn lìa ngã ngã sở, nếu không có trí tuệ đa văn, y cứ vào chỗ thấy vọng tưởng của mình, không khéo tu tập, ắt rơi vào đường tà ngoại đạo và hai thứ vọng kiến có không của người. Ở trong tự tâm khởi lên năng thủ sở thủ, chấp cho đó là thật, đó là “tự tâm thủ tự tâm, không huyễn thành pháp huyễn”. Đây là một bề vô tri, không biết về tập khí hư ngụy lỗi ác từ vô thỉ huân biến. Bồ-tát đến đây mà còn lầm rơi vào tà kiến, nên rất cẩn thận đề phòng. Năm mươi thứ ấm ma trong Lăng Nghiêm, đều y cứ vào chỗ quán tâm nghiên cứu đến cùng tột mà phát khởi, thậm chí đã từng ở giác vị mà chìm diệt vậy, huống chi hàng Thất địa. Dùng đây so sánh kia, chính là khi hành ấm sắp phá chưa phá vậy.

Đại Huệ! hàng Đại Bồ-tát Bát địa, Thanh văn, Duyên giác Niết-bàn, Bồ-tát được tam-muội gìn giữ, cho nên tam-muội môn lạc không vào Niết-bàn. Nếu không giữ gìn thì không đầy đủ Như Lai địa, bỏ rơi tất cả việc chúng sanh hữu vi, Phật chủng ắt phải đoạn. Chư Phật Thế Tôn vì nêu ra bất khả tư nghị vô lượng công đức của Như Lai. Thanh văn, Duyên giác tam-muội môn, bị vui lôi kéo, nên khởi tưởng Niết-bàn.

Đây nói hàng Bát địa nếu không được thần lực của Như Lai gia trì ắt rơi vào Nhị thừa.

Nghĩa là trước nói hàng Bát địa được tam-muội cùng với Niết-bàn của Nhị thừa, tên tuy giống nhưng chỗ chứng lại khác. Do được thần lực của chư Phật gia trì, nên ở trong môn tam-muội chẳng vào Niết-bàn. Nếu không gia trì thì không hóa độ tất cả chúng sanh, không thể đầy đủ địa vị Như Lai, cũng tức là đoạn tuyệt chủng tánh Như Lai. Thế nên chư Phật vì nói các công đức lớn không thể nghĩ bàn của Như Lai, khiến kia rốt ráo chẳng vào Niết-bàn. Thanh văn, Duyên giác đắm trong vui tam-muội, cho nên ở trong ấy khởi tưởng Niết-bàn.

Đại Huệ! Ta phân bộ Thất địa, khéo tu tướng tâm ý ý thức khéo tu nhiếp thọ ngã ngã sở, nhân pháp vô ngã, tự tướng cộng tướng sanh diệt, giỏi về tứ vô ngại, quyết định lực tam-muội môn, thứ lớp tiếp nối các địa, pháp nhập đạo phẩm, không khiến hàng Đại Bồ-tát không biết tự tướng cộng tướng, không biết rõ Thất địa, rơi vào đường tà ngoại đạo nên lập thứ lớp các địa.

Đây nói hàng Thất địa là then chốt của đoạn chứng, nên cần dùng sức gia trì, không gia trì ắt rơi vào đường tà ngoại đạo, nhân đây nên nói tướng các địa.

Nghĩa là từ Sơ địa đến Thất địa, trải qua địa vị chân kiến đạo trở đi, thấy phương tiện thiện xảo, khéo hay quán sát tâm ý ý thức. Xa lìa chấp ngã ngã sở được nhân pháp vô ngã, vượt qua tự tướng cộng tướng sanh diệt, hiểu rành về tứ vô ngại biện, mới được môn tam-muội quyết định. Đến đây thuần quán vô tướng, mới có thể dần dần lên Bát địa, cho đến Thập địa, Đẳng giác, vào pháp Bồ-đề phần, cứu cánh quả hải, đều từ địa vị Thất địa mà kiến lập. Đây thật là phần quan trọng lớn của sự đoạn chứng, chỗ này gọi là đường hiểm. Nếu không được thần lực của Như Lai gia trì, ắt phần lớn rơi vào đường tà ngoại đạo.

Phật nói: Ta sợ các Bồ-tát này không khéo biết tự tướng cộng tướng, không biết thứ lớp tiếp nối các địa, rơi vào các ác kiến của ngoại đạo.

Cho nên ở đây vì nói hành tướng các địa, khiến biết chỗ nên rời bỏ nên vượt qua, không đến nỗi thối đọa. Đây là trong chỗ không tiệm thứ lập tướng tiệm thứ, là bất đắc dĩ mà kiến lập, chẳng phải thật có chỗ nói.

Đại Huệ,! Kia thật không có hoặc sanh hoặc diệt, trừ tự tâm hiện lượng. Đó là chỗ thứ lớp tiếp nối các địa, và các hành tướng trong ba cõi, chỗ người ngu không biết. Chỗ người ngu không biết là ta và chư Phật nói thứ lớp tiếp nối các địa, và nói các hành tướng trong ba cõi.

Đây nói các hành tướng trong ba cõi vốn không sanh diệt, thứ lớp các địa vốn không kiến lập, chỉ nhất tâm này lại không có pháp khác. Nhưng vì người ngu không rõ duy tâm, nên ta và chư Phật kiến lập nói như thế để đối trị, kỳ thật không có gì để nói. Người ngu không biết cho rằng ta thật có nói.

Lại nữa Đại Huệ! Hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát Bát địa, bị say bởi rượu diệt tam-muội môn lạc, không rành về tự tâm hiện lượng, bị tập khí về tự tướng cộng tướng ngăn che, rơi vào kiến chấp nhân pháp vô ngã, vọng tưởng về Niết-bàn, chẳng phải trí tuệ giác tịch diệt.

Đây nói Thanh văn, Duyên giác ở trong Bát địa, tên tuy đồng, chỗ chứng có khác.

Do hàng Nhị thừa kia đắm trước nhập vào diệt tam-muội, bị nó làm say, không biết tự tướng cộng tướng là tự tâm sở hiện, bị chướng tập khí ngăn che nên rơi trong kiến chấp pháp hai vô ngã nhiếp thọ, nên khởi tưởng về vọng tưởng Niết-bàn, chẳng phải như hàng Bát địa trí tuệ giác tịch diệt. Nói Nhị thừa ở trong địa chấp đó là Niết-bàn, bởi vì các vị xưa tu hạnh lớn của Bồ-tát mà thối thất bổn nguyện, chẳng phải hàng định tánh Thanh văn hướng về tịch diệt. Vì hàng định tánh hướng tịch diệt chỉ được ngã không, không được pháp không, còn không biết pháp của Bồ-tát Sơ địa huống gì Bát địa. Cuối chương này, bản Ngụy có nêu câu hỏi này, mà bản Tống và Đường đều không có.

Đại Huệ! hàng Bồ-tát thấy diệt tam-muội môn lạc, bổn nguyện ai mẫn, đại bi thành tựu, biết phân biệt mười câu vô tận, không vọng tưởng về tưởng Niết-bàn. Vì kia đã chẳng sanh vọng tưởng về Niết-bàn, (Đường dịch: Vì đã nhập quả Niết-bàn bất sanh) lìa vọng tưởng nhiếp sở nhiếp, biết rõ tự tâm hiện lượng. Tất cả các pháp vọng tưởng chẳng sanh, không rơi vào tâm ý ý thức, vọng tưởng chấp trước tướng ngoại tánh tự tánh, chẳng phải nhân Phật pháp chẳng sanh, theo trí tuệ sanh, được địa vị tự giác của Như Lai. Như người trong mộng tìm cách qua sông, chưa qua đã thức giấc, thức rồi suy nghĩ là chánh là tà? Chẳng chánh chẳng tà. Những thứ tưởng kiến văn giác tri từ vô thỉ làm nhân, các thứ tập khí các thứ hình xứ, rơi vào tưởng có không, tâm ý ý thức mộng hiện.

Đây nói hàng Bát địa nhập vào diệt tam-muội mà không thủ chứng, vì không bỏ đại nguyện độ sanh.

Hàng Bồ-tát này đã vào Niết-bàn mà không khởi tưởng Niết-bàn, nên nói vọng tưởng Niết-bàn chẳng sanh. Vì biết rõ duy tâm không có cảnh giới bên ngoài, nên lìa năng sở thủ. Nơi tất cả pháp không sanh phân biệt, vì được sâu vô sanh pháp nhẫn nên không rơi vào tâm ý ý thức và chấp trước tánh tướng pháp bên ngoài. Vì được sức chân tri kiến nên chẳng phải chánh nhân Phật pháp thì không sanh, chỉ tùy theo trí tuệ mà sanh. Vì như thế nên được địa vị tự giác của Như Lai. Vì đã lâu chìm trong sanh diệt mệt nhọc, nay một phen chóng được tịch diệt, cái vui ấy không thể diễn tả, nên tam-muội này rất khó ra được.

Công hạnh Bồ tát đến vô công dụng hạnh này, ít khi không say chìm, phần lớn rơi vào địa vị tịch diệt của Nhị thừa. Nên kinh Hoa Nghiêm, hàng Bồ tát Bát địa được mười phương chư Phật đồng thanh khuyến khích gia bị để khởi lên môn trí tuệ, khiến không chìm đắm trong vui tam-muội mà rơi vào hàng Nhị thừa. Thế nên trao cho phương tiện, dẫn phát khiến ra, Bồ-tát này ở trong mộng tam-muội, cực lực nguyện ra khỏi. Như mộng qua sông lớn, chưa qua mà tỉnh, bèn tự suy nghĩ là chánh là tà? Lại suy nghĩ thêm, nhân tướng như thế chẳng chánh chẳng tà, chỉ do cái nhân tập khí hư ngụy về kiến văn giác tri của ta từ vô thỉ huân tập, thấy các thứ sắc, hình tướng điên đảo, không lìa có không, ở trong mộng vọng tưởng tâm ý ý thức hiện thôi. Kỳ thật vốn chẳng có.

Chú giải xưa nói: Biết cảnh không có nước thì thuyền bè chẳng phải chánh; khi mộng thấy có nước thì thuyền bè chẳng phải tà. Để dụ cho hàng Bát địa tỉnh giác rồi thấy vốn không sanh tử nên đạo phẩm công đức chẳng phải chánh; Thất địa chưa giác, nên đạo phẩm công đức chẳng phải tà. Đó là ở chỗ chưa xuất ly vọng dụng công nên thấy có tu chứng, như trong mộng thấy qua sông, tạo lập thuyền bè đầy đủ vậy.

Đại Huệ! Đại Bồ-tát như thế ở trong đệ Bát địa, thấy vọng tưởng sanh (Ngụy dịch: Thấy tâm phân biệt) từ Sơ địa chuyển tiến lên Thất địa, thấy tất cả pháp phương tiện… như huyễn, qua khỏi tâm vọng tưởng về nhiếp sở nhiếp rồi, tạo phương tiện Phật pháp, người chưa được khiến được.

Đại Huệ! Đây là Bồ-tát Niết-bàn phương tiện không hoại. (Ngụy dịch: Chẳng phải diệt các Phật pháp gọi là Niết-bàn. Đường dịch: Chỗ được Niết-bàn không phải hoại diệt). Lìa tâm ý ý thức được vô sanh pháp nhẫn.

Đại Huệ! Ở trong Đệ nhất nghĩa không có thứ lớp tiếp nối, nói pháp vô sở hữu vọng tưởng vắng lặng.

Đây kết thành hành tướng Bát địa.

Thấy vọng tưởng sanh là luận nói: “Biết tâm sơ khởi, tâm không có tướng ban đầu, vì xa lìa niệm vi tế vậy. Được thấy tâm tánh, tâm tức thường trụ, gọi là cứu cánh giác”.

Đây là Bồ-tát dùng như huyễn tam-muội, không khởi diệt định mà hiện các oai nghi, siêng tu Phật pháp, rộng làm các sự nghiệp độ sanh. Đó là chỗ “độ hết chúng sanh mà không thấy có một chúng sanh được diệt độ”.

Đây chính là lìa tâm ý ý thức được vô sanh pháp nhẫn, là đại Niết-bàn của Bồ-tát, chẳng phải như Nhị thừa diệt hoại chư pháp mà chứng Niết-bàn.

Song tuy nói như vậy, cũng là phương tiện thi thiết. Ở trong Đệ nhất nghĩa đế vốn không có việc này, nên Đường dịch: “Trong Đệ nhất nghĩa không có thứ lớp, cũng không tiếp nối, xa lìa tất cả cảnh giới phân biệt. Đây ắt gọi là pháp tịch diệt”. Do Đại Huệ hỏi về diệt chánh thọ thứ lớp tiếp nối, nên kết thúc chỉ dạy rằng: Ở trong Đệ nhất nghĩa không có thứ lớp tiếp nối, nói pháp vô sở hữu, vọng tưởng vắng lặng.

Bản Ngụy dịch chỗ này thêm phần câu hỏi của Đại Huệ - lược nói: Thế Tôn, nay nói Nhị thừa được tịch diệt môn lạc của hàng Bát địa, lại nói Nhị thừa chỉ được nhân không, không được pháp không. Như thế ắt Nhị thừa còn không thể chứng pháp Sơ địa hà huống tịch diệt môn lạc của hàng Bát địa. Phật bảo: Thanh văn có ba bậc, nay nói về hàng nhập tịch diệt môn lạc Bát địa: Đây là người trước tu hạnh Bồ-tát, rơi vào Thanh văn địa, trở lại y nơi bổn tâm tu Bồ-tát hạnh, cùng vào tịch diệt môn lạc của Bát địa.

Chẳng phải hàng Thanh văn tăng thượng mạn tịch diệt, do kia không thể vào hạnh Bồ-tát. Vì chưa từng biết ba cõi duy tâm, chưa có thể tu các hành pháp của Bồ-tát. Cho nên hàng Thanh văn quyết định tịch diệt, không thể chứng được tịch diệt môn lạc sở hành của Bồ-tát.

Nói ba bậc Thanh văn là: 1/ Hàng nội bí ngoại hiện, 2/ Hàng thối Bồ-tát hạnh, 3/ Hàng định tánh tăng thượng mạn. Trước nói Nhị thừa thành Phật, đây nói quyết định không thể thành, ý ở chỗ vì ức dương khuyến khích.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Tâm lượng vô sở hữu — Địa này và Phật địa Quá khứ, hiện, tương lai — Chư Phật ba đời nói.

✅ Đây tụng chung trong Đệ nhất nghĩa vốn không có tướng thứ lớp của Phật địa và các địa, là lời cứu cánh của ba đời chư Phật. Sở dĩ vô sở hữu là vì duy tâm. Đường dịch: Các địa và Phật địa, duy tâm không ảnh tượng, đây là khứ, hiện, lai, lời của chư Phật nói.

Tâm lượng đệ Thất địa — Vô sở hữu đệ Bát Hai địa tên là Trụ — Phật địa tên Tối thắng. (Đường dịch: Hai địa này tên Trụ — Ngoài đó, chỗ ta được) Trí tự giác và tịnh — Đây ắt là địa ta.

✅ Đây tụng Thất địa và Bát địa còn thuộc về nhân địa, đến như tự giác thánh trí Niết-bàn thanh tịnh thuộc về quả địa cứu cánh của Phật chứng. Thất địa tuy là chân tu song tâm lượng chưa diệt, Bát địa tâm lượng tuy diệt mà chưa cứu cánh, nên cả hai không gọi là tối thắng. Chỉ có tự giác thánh trí mới gọi là chỗ tối thắng.

Chỗ tự tại tối thắng — Thanh tịnh diệu trang nghiêm Chiếu sáng như lửa rực — Ánh sáng đến khắp nơi. Rực rỡ không hoại mắt — Xoay vòng khắp ba cõi. (Đường dịch: Chỗ tối thắng Ma hê — Sắc cứu cánh trang nghiêm Giống như đốm lửa lớn — Ánh sáng rực phát ra. Hóa hiện nơi ba cõi — Đẹp ý mà mát mẻ).

Hóa hiện nơi ba cõi — Hoặc có thời trước hóa Nơi kia nói các thừa — Đều là Như Lai địa.

Đây nói kiến lập các thừa các địa, đều là do báo thân Phật và hóa thân Phật nói, không phải Pháp thân nói.

Nghĩa là người được tự giác thánh trí, ắt ở nơi cung điện Bảo hoa cõi trời Sắc cứu cánh thành Đẳng chánh giác, thị hiện thân rộng lớn trang nghiêm, ánh sáng chiếu soi, hóa hiện nơi ba cõi. Đây là Báo thân Phật. Luận nói: “Bồ-tát này công đức thạnh mãn, ở cõi trời Sắc cứu cánh, thị hiện thân rất cao lớn nơi tất cả thế gian, dùng nhất niệm tương ưng huệ, vô minh chóng dứt, gọi là Nhất thiết chủng trí, tự nhiên mà có nghiệp bất tư nghì, hay hiện mười phương lợi ích chúng sanh, hóa hiện tại ba cõi”. Đường dịch: “Hoặc có hiện biến hóa, hoặc có hóa thời trước”. Đây là ứng hóa Phật. Chỉ báo hóa Phật này diễn nói các thừa các địa. Tuy nói ba thừa, kỳ thật vì Nhất thừa, nên nói: Nơi kia nói các thừa, đều là Như Lai địa. Thế nên tuy có các địa, mà thật không có tướng thứ lớp. Rực rỡ không hoại mắt là rồng độc phóng ánh sáng liền tổn hại mắt người, ánh sáng của Như Lai không tổn mắt người, đó là chỗ mát mẻ đẹp ý.

Thập địa là Sơ địa — Sơ địa là Bát địa Cửu địa là Thất địa — Thất lại là Bát địa. Đệ nhị là đệ tam — Đệ tứ là đệ ngũ Đệ tam là đệ lục — Không thứ lớp như thế.

✅ Đây tụng trong pháp Đệ nhất nghĩa đế tịch diệt, không nói thứ lớp tiếp nối.

Ý hiển rõ kinh này chỉ là Pháp thân Phật nói pháp tịch diệt nên không thứ lớp. Đây chính là chỗ không dính lộ trình, không lạc đường tà, là một đường Phật Tổ hướng thượng. Song trong ấy mỗi mỗi dùng địa vị để nói là ý dùng tam-muội chân tu của mỗi địa, để ấn phá kiến chấp thiên tà của ngoại đạo Nhị thừa, khiến họ không rơi trong tà mạn tăng thượng mạn. Kỳ thật ý không cố định ở chỗ địa vị, trí giả biết đó.

  • Trên biện tam-muội sai biệt của ba thừa để hiển đức Niết-bàn chân lạc ngăn ngừa tà mê đã xong. Văn sau chánh chỉ đức Niết-bàn chân thường.

Lúc bấy giờ Bồ tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác là thường là vô thường?

Đây nhân trên Thế Tôn phá bảy thứ vô thường rồi, bèn nói pháp ta dạy chẳng thường chẳng vô thường. Nên Đại Huệ nhân đó liền hỏi Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác rốt ráo là thường là vô thường ư? Ý hiển Như Lai pháp thân lìa đoạn lìa thường nên là cứu cánh chân thường. Đây chính là văn hiển bày Niết-bàn chân thường, đáng lẽ đặt vào phần cuối chương bảy thứ vô thường, để lầm ở đây là lỗi của phiên dịch.

Phật bảo Đại Huệ: Như Lai ứng cúng Đẳng chánh giác chẳng thường, chẳng vô thường. Nghĩa là cả hai đều có lỗi. Nếu thường thì có lỗi tác chủ.

Thường đó, tất cả ngoại đạo nói tác giả, Như Lai không sở tác, cho nên Như Lai chẳng phải thường, chẳng phải tác giả thường, vì có lỗi.

Đây nói Như Lai Niết-bàn chẳng thường chẳng vô thường, sở dĩ là chân thường. Vì thường và vô thường cả hai đều có lỗi. Vì sao? Nếu nói Như Lai là thường, ắt rơi vào lỗi có người tạo tác, vì tất cả ngoại đạo nói có vi trần, thắng tánh… là năng tạo tác, là thường. Như Lai không năng tác, há giống với thường kia ư? Cho nên nói thường của Như Lai là chẳng thường, bởi chẳng phải tác giả thường, vì tác giả thường có lỗi.

Nếu Như Lai vô thường thì có lỗi làm vô thường, ấm sở tướng tướng vô tánh, ấm hoại nên phải đoạn, mà Như Lai chẳng đoạn.

Đây nói Như Lai chẳng phải vô thường, nếu nói Như Lai là vô thường, ắt rơi vào lỗi có tạo tác. Nếu nói sở tác ắt đồng với năm ấm, mà năm ấm là tướng của sở tướng. Tướng này rốt cuộc không có.

Như Lai nếu đồng với năm ấm thì ấm hoại, Như Lai cũng phải đoạn diệt, song Như Lai pháp thân thường trụ chẳng hoại, há đồng với ấm sở tác ư? Vì không đồng nên chẳng vô thường.

Đại Huệ! tất cả sở tác đều vô thường. Như bình, y phục… tất cả đều có lỗi vô thường, nhất thiết trí đầy đủ các phương tiện lẽ ra vô nghĩa, vì là sở tác.

Tất cả sở tác lẽ ra đều là Như Lai, vì không nhân tánh sai biệt. Thế nên này Đại Huệ! Như Lai chẳng thường chẳng vô thường.

Đây nói rõ lại về sở tác vô thường, tổng kết nghĩa lìa lỗi.

Nghĩa là tất cả sở tác đều là vô thường, như bình, như áo… Nếu Như Lai đồng với sở tác thì có lỗi vô thường. Nếu Như Lai vô thường ắt Nhất thiết trí làm chánh nhân tu tập, phước huệ trang nghiêm, lục độ vạn hạnh, các phương tiện đầy đủ thảy đều không, không lợi ích, vì đồng với sở tác vô thường.

Huống công đức Như Lai lưu truyền muôn đời mà thường tồn, đạo xuyên suốt trăm kiếp mà cao vời, há vô thường ư? Nếu Như Lai quả đồng sở tác, ắt là ở thế gian tất cả sở tác đều là Như Lai, vì không nhân khác. Thế nên Như Lai chẳng thường chẳng vô thường.

Lại nữa Đại Huệ! Như Lai chẳng phải như hư không thường. Như hư không thường có lỗi, tự giác thánh trí các phương tiện vô nghĩa.

Đây nói Như Lai thường, chẳng phải như cái thường của hư không. Vì hư không ngoan nhiên vô tri mà Như Lai chân trí linh giám. Nếu nói giống với cái thường của hư không, ắt là tự giác thánh trí tánh tự đầy đủ hằng sa công đức, thảy đều rỗng không vô ích. Như thế, ắt rơi vào lỗi đoạn diệt vô tri, nên Như Lai chẳng phải như cái thường của hư không. Đây sợ ngu phu nghe nói pháp thân chân thường, bèn khởi lên kiến chấp rỗng không, nên Thế Tôn dự phá như thế.

Đại Huệ! thí như hư không, chẳng thường chẳng vô thường, vì lìa những lỗi thường vô thường, một khác, chung chẳng chung. Thường vô thường không thể nói, cho nên Như Lai chẳng thường.

Trên nói chẳng phải như hư không, nghĩa là Như Lai đầy đủ thánh trí công đức, không thể so sánh với hư không ngoan nhiên vô tri. Đây nói như hư không, nghĩa là như thể tánh hư không trạm nhiên, không biến động, không rơi trong lỗi các số lượng có không, một khác, chung chẳng chung… nên không thể nói là thường vô thường.

Lại nữa Đại Huệ! nếu Như Lai vô sanh thường như sừng thỏ, sừng ngựa… vì do vô sanh thường, phương tiện vô nghĩa, vì lỗi vô sanh thường. Như Lai chẳng thường.

Đây nói Như Lai chẳng phải do bất sanh mà thường.

Nhân trước nói bất sanh là tên khác của Như Lai, e vọng chấp rốt ráo chẳng sanh là Như Lai thường, nên ở đây phá rằng: Nếu cho bất sanh là Như Lai thường, ắt Như Lai giống như sừng thỏ, ngựa… Vì rốt ráo bất sanh thì Như Lai rơi vào lỗi hoàn toàn không. Nếu Như Lai hoàn toàn không, ắt tất cả Bồ-tát đã tu vạn hạnh phương tiện, không chỗ chứng đắc, thảy đều không, vô ích, mà trong quả Như Lai cũng hoàn toàn không có đại dụng lợi ích, vì là tuyệt đối không.

Nếu do bất sanh là Như Lai thường, ắt rơi vào lỗi lớn này, nên Như Lai chẳng phải bất sanh thường.

Lại nữa Đại Huệ! Lại có việc khác biết Như Lai thường. Vì sao? Nghĩa là vì vô gián sở đắc trí thường, nên Như Lai thường.

Đại Huệ! Nếu Như Lai xuất thế hoặc không xuất thế, pháp quyết định trụ, Thanh văn Duyên giác chư Phật Như Lai trụ vô gián, chẳng trụ hư không, cũng chẳng phải chỗ giác tri của người ngu.

Đây nói Như Lai thật có pháp chân thường, mà chẳng phải chỗ biết của ngu phu.

Nghĩa là thường pháp của Như Lai là lý chân thường, chỗ chứng của vô gián thánh trí, là chư Phật Như Lai đồng một pháp tánh pháp trụ pháp vị. Như Lai xuất thế hoặc không xuất thế, quyết định thường trụ chẳng biến chẳng dời.

Pháp này tức ở trong tánh vô gián là chỗ trụ của tất cả Nhị thừa ngoại đạo, chẳng phải là rỗng không, không có. Song không phải chỗ phàm ngu biết được.

Đại Huệ! Trí sở đắc của Như Lai là do huân tập Bát nhã, chẳng phải tâm ý ý thức là chỗ huân của các ấm giới nhập.

Đại Huệ! Tất cả ba cõi đều từ vọng tưởng chẳng thật sanh, Như Lai không phải từ vọng tưởng hư dối chẳng thật sanh.

Đại Huệ! Vì hai pháp thường vô thường chẳng phải không hai. Không hai là tịch diệt, vì tất cả pháp không có hai sanh tướng, nên Như Lai ứng cúng Đẳng chánh giác chẳng thường chẳng vô thường.

Đại Huệ! Cho đến ngôn thuyết phân biệt sanh, ắt có lỗi thường vô thường, người được phân biệt giác diệt ắt lìa kiến chấp thường vô thường không tịch tĩnh của người ngu. Người trí tuệ hằng lìa thường vô thường, chẳng huân tập thường vô thường.

✅ Đây giải thích sở dĩ Như Lai chân thường.

Nghĩa là Như Lai sở dĩ chân thường, mà chúng sanh sở dĩ vô thường, vì Như Lai được thánh trí là do sự huân tập thật trí Bát Nhã, không theo sự huân tập của vọng tưởng tâm ý, ý thức ấm giới nhập, nên Như Lai được tên là thường.

Tất cả chúng sanh trong ba cõi sở dĩ vô thường vì họ đều bị huân bởi vọng tưởng không thật, nên gọi là vô thường. Như Lai không theo vọng tưởng kia sanh, thì tâm hạnh của ngu phu kia, lại há có thể biết được pháp thường của Như Lai ư? Vì thấy chân vọng hai mặt khác nhau, thấy Niết-bàn sanh tử là hai, nên có lời nói thường vô thường, đây chẳng phải là pháp tịch diệt không hai. Nếu chân vọng cả hai đều quên, tịch diệt không hai, ắt tất cả pháp thảy đều bình đẳng, không hai không khác, không sanh, không khởi.

Do Như Lai được pháp tịch diệt bất nhị nên không thể nói là thường vô thường. Vì trong pháp tịch diệt bất nhị, đường suy tư ngôn ngữ dứt, cho đến khởi tâm động niệm, có ngôn thuyết phân biệt tâm sanh, ắt rơi vào lỗi thường, vô thường. Hà huống các thứ vọng chấp ư? Chỉ có người chấm dứt phân biệt vọng tưởng mới chóng lìa lỗi kia. Ngoại đạo ngu phu kiến chấp thường vô thường, nên chẳng tịch diệt.

Người lìa nhị kiến gọi là người đại trí tuệ.

Vì người trí tuệ hằng lìa kiến chấp không tịch tĩnh, nên không bị huân tập vọng kiến về thường vô thường, bèn dùng trí huệ chân thường huân tập.

Ý rằng nếu chẳng phải người trí tuệ tức tâm thức có chút ít trôi động, sanh diệt chưa quên, ít khi không bị sự huân tập của kia.

Đây là Như Lai lòng từ sâu xa phòng ngừa kỹ lưỡng, răn nhắc cẩn thận, có thể không nhận biết ư?

Lúc bấy giờ, Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Chúng cụ không có nghĩa — Sanh lỗi thường vô thường Nếu không phân biệt giác — Hằng lìa thường vô thường.

Hai bản dịch đều có một bài kệ. Đường dịch: “Xa lìa thường vô thường, mà hiện thường vô thường, thường quán Phật như thế, không sanh ra ác kiến.

Nếu thường vô thường ấy, chỗ tập đều vô ích, vì trừ phân biệt giác, không nói thường vô thường”.

Chúng cụ ở đây là chỉ ác kiến của ngoại đạo, chấp thường vô thường, một khác…

Nghĩa là những kiến chấp như thế thảy đều vô ích, chỉ là vọng chấp phân biệt, khởi lên lỗi thường vô thường, nếu tình chấp phân biệt quên, các kiến chấp chóng dứt, ắt là hằng lìa lỗi thường vô thường.

Từ chỗ lập tông kia — Ắt có các nghĩa tạp Đẳng quán tự tâm lượng — Ngôn thuyết không thể được.

Đây nói nếu theo chỗ lập tông của ngoại đạo, ắt có nhiều thứ tri kiến tạp loạn không đồng.

Nếu đạt duy tâm hiện lượng, ắt đường ngôn tư dứt tuyệt, mà ngôn thuyết cũng không thể được, huống hồ lại y theo tà thuyết đó mà tìm cầu thật nghĩa ư? Đây nói từ chỗ lập tông có các nghĩa tạp loạn, đủ biết nhân biện biệt bảy thứ vô thường để hiển nghĩa Niết-bàn chân thường của Như Lai, văn nghĩa tự có liên hệ nhau, người xem nên biết.

  • Trên căn cứ vào văn biện biệt bảy thứ vô thường để hiển đức chân thường của Niết-bàn xong. Dưới đây nêu Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh để hiển đức chân tịnh của Niết-bàn.

GHI CHÚ

⏯️ (tiếp theo)

QUYỂN THỨ VIII

CHƯƠNG BỐN - PHẦN CUỐI

H₄ - Hiển đức pháp thân chân tịnh

🪷

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Cúi xin Thế Tôn lại vì con nói ấm giới nhập sanh diệt, kia không có ngã, cái gì sanh cái gì diệt? Người nghe y cứ nơi sanh diệt, không biết sự chấm dứt khổ, không biết Niết-bàn.

GIẢI

Đây sắp nêu ra Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh, để hiển đức pháp thân thanh tịnh nên đưa ra câu hỏi này.

Đại Huệ thưa: Vì con nói ấm giới nhập sanh diệt… do hai quyển trước ban đầu chỗ hiển lý cứu cánh, đã hỏi về Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh chuyển ba mươi hai tướng vào trong tất cả thân chúng sanh, mà bị chiếc áo ấm giới nhập nhơ nhiễm trói buộc, bị tham dục ngu si trần lao vọng tưởng làm ô uế.

Lại nghi Như Lai nói Như Lai tạng đồng với thần ngã của ngoại đạo. Thế Tôn đã giải nghi rằng: Ta nói Như Lai tạng không đồng với ngã của ngoại đạo, ta có khi nói không, vô tướng, chân như, thật tế, pháp tánh, pháp thân Niết-bàn, lìa tự tánh, không sanh không diệt, bổn lai tịch tĩnh, tự tánh Niết-bàn. Những câu như thế nói về Như Lai tạng rồi.

Bởi những điều ấy để hiển bày lý cứu cánh, để hiển pháp thân vô ngã, để phá chấp thần ngã của ngoại đạo, nên đặc biệt nêu Như Lai tạng để chất vấn. Nay chỗ đoạn chứng này đã rốt ráo, sắp hiển bày pháp thân bổn tịnh, chỉ vì khách trần ấm giới nhập làm nhiễm ô.

Thẳng muốn trừ sạch cái nhiễm ô ấy, để hiển bày Niết-bàn tịnh đức, nên đặc biệt nêu lên chỗ trừ sạch nhiễm ô ấm giới nhập sanh diệt… để thưa thỉnh. Sắp thỉnh Thế Tôn nói về Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh để hiển đức Niết-bàn chân thật, bèn nói Lại vì con nói về ấm giới nhập… Đây là Đại Huệ đứng về mặt nhiễm ô mà hỏi, phần sau Thế Tôn đứng về mặt Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh mà đáp.

🪷

Phật nói: Lành thay! Lắng nghe! Sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Như Lai tạng là nhân của thiện và bất thiện, có thể biến khắp tạo ra tất cả nẻo thọ sanh. Thí như nhà huyễn thuật, biến hiện các loài, lìa ngã ngã sở, vì không biết điều này, ba duyên hòa hợp phương tiện mà sanh.

Ngoại đạo không biết, chấp trước tác giả, bị tập khí ác hư ngụy từ vô thỉ huân tập, gọi là thức tàng, sanh vô minh trụ địa, cùng chung với thất thức, như sóng nơi biển cả sanh liên miên không dứt. Lìa lỗi vô thường, lìa luận thần ngã, tự tánh không nhơ, rốt ráo thanh tịnh.

GIẢI

✅ Đây nói Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh để hiển bày đức chân tịnh của pháp thân.

Như Lai tạng là tên gọi của tự tánh thanh tịnh tâm tại triền. Đại Huệ nghi rằng năm ấm vô ngã, nếu không có ngã, thì ai sanh ai diệt, ai biết khổ tận, ai chứng Niết-bàn? Phật nói: Ấm giới nhập tuy vô ngã, mà có Như Lai tạng làm Phật tánh của chúng sanh.

Chỉ tạng tánh này hay làm nhân thiện và bất thiện của thế, xuất thế gian, hay biến khắp hưng tạo các pháp nhiễm ô, hình sắc sanh tử trong sáu đường. Cũng như nhà ảo thuật biến hiện các việc, song vốn vô ngã ngã sở, cũng có thể thành tựu pháp thanh tịnh xuất thế.

Do Nhị thừa không biết Như Lai tạng tánh này là nhân của sanh tử, mới cho là căn trần thức ba duyên hòa hợp phương tiện mà làm sanh nhân. Ngoại đạo không biết Như Lai tạng tánh này mà vọng chấp thần ngã tác giả làm sanh nhân.

Song tạng tánh này bị tập khí ác hư ngụy từ vô thỉ huân nhiễm, mất tên Như Lai tạng chỉ gọi là thức tàng. Nên nói, Phật nói: Như Lai tạng tức là A-lại-da, nương tạng tánh này mà sanh vô minh trụ địa, biến khởi lên sóng tiền thất thức, sanh diệt không ngừng. Vì thế Như Lai tạng cũng trôi theo bảy thức lưu chuyển sanh tử, như sóng trên biển, nhân gió khởi lên, nên sanh tử tiếp nối nhiều kiếp không chấm dứt.

Kỳ thật Như Lai tạng tánh vốn tự thường trụ, lìa kiến chấp vô thường của Nhị thừa, vốn tự vô ngã lìa luận thuyết thần ngã của ngoại đạo, tuy ở trong chỗ nhiễm ô triền miên, kỳ thật tự tánh vô cấu, rốt ráo thanh tịnh.

Đây chính là mê tánh này mà sanh tử, ngộ tánh này mà thành Niết-bàn. Do tạng tánh này, vô thường không thể hoại nên là chân thường, các khổ không thể xâm chiếm nên là chân lạc, sanh tử không thể câu thúc nên là chân ngã, phiền não không thể nhiễm ô nên là chân tịnh. Đây sở dĩ là Như Lai vô tướng Niết-bàn chân thật quả thể.

🪷

Ngoài ra các thức có sanh có diệt, ý ý thức… niệm niệm có bảy. Nhân vọng tưởng chẳng thật, chấp thủ các cảnh giới, các thứ hình xử chấp trước danh tướng, không biết tự tâm hiện sắc tướng, không biết khổ vui, không đến giải thoát, danh tướng các thứ buộc ràng, tham sanh rồi sanh tham.

GIẢI

✅ Đây nói tạng thức vốn chẳng sanh diệt, chỉ là Thất thức sanh diệt, để rõ Như Lai tạng là nhân nhiễm ô sanh tử.

Đại Huệ nghi hỏi ấm giới nhập đã vô ngã, ai sanh ai diệt, mà ngu phu kia nhân gì không biết khổ tận, không biết giải thoát? Ý Phật đáp rằng: Ấm giới nhập vốn là Như Lai tạng, bất sanh bất diệt, nay tuy tại triền tên thức tạng, thể của nó vốn chân, cũng chẳng sanh chẳng diệt.

Cái sanh diệt ấy, chẳng phải là thức tạng, chỉ là tiền thất thức có sanh diệt thôi. Nên Đường dịch: “Ngoài ra Thất thức, ý ý thức… niệm niệm sanh diệt, song Thất thức kia sở dĩ sanh diệt, riêng lấy vọng tưởng làm nhân, cảnh giới làm duyên, hòa hợp mà sanh.

Chấp trước danh tướng cho là thật có, do không rõ cảnh giới tự tâm hiện này, sắc… các pháp chỉ là sự hiển hiện của tự tâm. Do không rõ nên tham trước danh tướng, đối cảnh nghịch thuận sanh tâm yêu ghét, khởi lên thọ khổ vui, vì sự trói buộc của danh tướng này, đã từ tham sanh, lại sanh ra tham”.

Do nhân duyên này, chúng sanh ngu si trôi theo dòng sanh tử, không biết chỗ dứt khổ, không cầu giải thoát. Đây là lý do Như Lai tạng biến hiện lục thú là nhân nhiễm của sanh tử.

🪷

Hoặc nhân hoặc phan duyên, các thọ kia căn diệt, thứ lớp chẳng sanh. Ngoài ra các tự tâm vọng tưởng, không biết khổ lạc, nhập chánh thọ diệt thọ tưởng, được Tứ thiền, rành về chân đế giải thoát, người tu hành khởi tưởng giải thoát, không lìa không chuyển tên Như Lai tạng (Đường dịch: Nếu nhân và sở duyên, gốc chấp thủ diệt, không tiếp nối sanh, tự trí tuệ phân biệt khổ lạc thọ, hoặc được diệt định, hoặc được Tứ thiền, hoặc lại khéo vào các đế giải thoát, lại vọng sanh nơi đó được tưởng giải thoát, mà thật chưa xả chưa chuyển tên thức tạng trong Như Lai tạng). Thức tạng, Thất thức lưu chuyển bất diệt (Đường dịch: Nếu không Tạng thức, Thất thức ắt diệt). Vì sao? Vì kia nhân phan duyên, nên các thức sanh. Chẳng phải cảnh giới tu hành của Thanh văn Duyên giác, không biết vô ngã, tự tướng cộng tướng, nhiếp thọ sanh ấm giới nhập.

GIẢI

✅ Đây nói nương Như Lai tạng làm nhân cho ngoại đạo vô tưởng và Nhị thừa.

Hoặc nhân hoặc phan duyên là trên nói vọng tưởng làm nhân, cảnh tướng làm duyên. Bởi vọng tưởng, là chỉ tiền thất thức, là Kiến phần của đệ bát thức, cảnh tướng là Tướng phần của đệ bát, nay nói các gốc chấp thọ diệt thứ lớp chẳng sanh.

Nghĩa là tiền lục thức chẳng chấp thủ các cảnh, mà Thất thức tự nhiên chẳng khởi. Do ngoại đạo và hàng A-na-hàm độn căn đều có thể diệt sạch Lục thức, vì không rõ duy tâm, lại không có trí tuệ đa văn, chỉ y cứ vào tự tâm vọng tưởng phân biệt, chán khổ ưa vui, hoặc nhập diệt thọ tưởng định mà ở lại cõi ngũ na-hàm, hoặc rơi trong cõi vô tưởng mà nhập Tứ thiền của ngoại đạo. Hoặc có hàng La-hán lợi căn, khéo tu Tứ đế, ra khỏi ba cõi, được chân đế giải thoát, chứng lý thiên không, mà thật chưa được cứu cánh Niết-bàn, bèn tự vọng sanh tưởng giải thoát diệt độ. Đây chỉ là sanh tử chấm dứt gọi là giải thoát, kỳ thật chưa được giải thoát tất cả. Vì kia kỳ thật chưa xả chưa chuyển được tên Thức tạng trong Như Lai tạng.

Thức tạng, Thất thức lưu chuyển không diệt, nghĩa là ngoại đạo Nhị thừa kia sở dĩ chưa phải là chân diệt độ, vì Tạng thức chưa chuyển, nên Thất thức lưu chuyển bất diệt.

Vì sao? Vì “Y bỉ chuyển duyên bỉ” lẫn nhau làm duyên khởi. Nên Đường dịch: “Nếu không có Tạng thức thì Thất thức ắt diệt. Vì sao? Vì nhân kia và sở duyên mà được sanh”.

Ý ở chỗ nếu chuyển tên Tạng thức thì Thất thức cũng theo đó mà diệt. Sở dĩ Thất địa trở lên chưa xả được Tạng thức, chỉ y cứ trên vọng tưởng của mình mà tu, tâm cảnh chẳng như, dùng ngoài tâm tìm pháp nên phần lớn rơi trong tà kiến. Hàng Nhị thừa không rõ, nên rơi vào kiến chấp tự cộng tướng. Vì các vị ấy chưa trừ sạch được tập khí hư ngụy từ vô thỉ trong Tàng thức. Đường dịch: “Bởi không phải là cảnh giới sở tri của những người tu theo Nhị thừa và ngoại đạo, vì các vị ấy chỉ rõ được nhân vô ngã, vì đối với uẩn xứ giới chấp giữ tự tướng và cộng tướng.”

Tạng thức cũng tên là A-lại-da thức, cũng tên A-đà-na-thức, Trung Hoa dịch là Thức không mất, vì trôi trong dòng sanh tử mà không mất.

Kệ nói: Thức A-đà-na vi tế thậm thâm, tập khí chủng tử thành bộc lưu, ta đối với phàm phu không khai diễn, e họ phân biệt chấp làm ngã. Nên ✅ Đây nói chẳng phải cảnh giới kia.

🪷

Thấy Như Lai tạng, năm pháp ba tự tánh nhân pháp vô ngã ắt diệt, thứ lớp các địa tiếp tục chuyển tiến, các kiến chấp ngoại đạo không thể khuynh động (Đường dịch: Nếu thấy Như Lai tạng, năm pháp ba tự tánh các pháp vô ngã, tùy theo thứ lớp các địa mà dần dần chuyển biến, không bị ác kiến của ngoại đạo làm lay động).

Đây gọi là trụ Bồ-tát Bất động địa, được mười tam-muội đạo môn lạc, sức gìn giữ của tam-muội giác, quán sát Phật pháp bất tư nghì, tự nguyện không thọ tam-muội lạc và thật tế (Đường dịch: Được sức tam-muội chư Phật giữ gìn, quán sát nghĩa Phật pháp bất tư nghì và sức bổn nguyện không trụ thật tế và tam-muội lạc).

Hướng về tự giác thánh trí, không chung với tất cả Thanh văn Duyên giác, và lối tu của các ngoại đạo, được mười chủng tánh đạo hiển thánh và thân trí ý sanh, lìa tam-muội hành.

Cho nên Đại Huệ! Đại Bồ-tát muốn cầu tiến tới thù thắng nên thanh tịnh Như Lai tạng và tên Thức tạng.

GIẢI

✅ Đây nói Như Lai tạng là tịnh nhân của xuất thế.

Nghĩa là chuyển tên Thức tạng thấy Như Lai tạng, liền được vô công dụng đạo đệ Bát địa, mới chứng trí pháp vô ngã. Kệ Duy Thức nói “Bất động địa tiền tài xả tạng”, là xả cái tên tàng thức nhiễm ô này, tức là Như Lai thanh tịnh tạng chẳng phải riêng có sở đắc.

Nói pháp chấp đó, là năm pháp ba tự tánh, tám thức hai vô ngã, tất cả pháp chân vọng đối trị, do khi chưa chuyển Tạng thức, Thất thức chưa diệt, đều có chấp giữ, chấp đó làm ngã. Nay Tạng thức đã chuyển ắt Thất thức diệt, Thất thức diệt thì năm pháp ba tự tánh nhân pháp vô ngã ngay đó tùy diệt, vì năm pháp… đều y cứ vào Tạng thức mà lập. Nay thức chuyển thì kia cũng diệt, đó là “Da không còn thì lông mọc vào đâu”.

✅ Đây là lý do vì được pháp vô ngã mà tiến lên Bát địa, đến đây sanh diệt đã diệt, đối trị cũng quên, không công để dụng, nên nói vô công dụng đạo.

Đã vô công dụng được pháp vô ngã, ắt tất cả ác kiến ngoại đạo không thể lay động, nên gọi là trụ bất động địa.

Trụ địa này rồi liền được mười thứ tam-muội môn lạc, song Bồ-tát này đã ở bên sanh diệt mệt nhọc, giác thức phiền động, chưa được chân lạc, nay sanh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền, vui không thể tả, ắt là đắm trong tam-muội không muốn ra, trọn không có niệm độ sanh. Nếu không nhờ Phật lực gia trì dẫn bạt khiến ra khỏi, ắt rơi trong Nhị thừa, nên là được thần lực tam-muội của chư Phật gia trì. Lại cũng do sức bổn nguyện từ xưa gìn giữ, nên tuy chứng Niết-bàn mà không trụ thật tế, cũng không chấp cái vui tam-muội, nên dùng tam-muội như huyễn hiện ý sanh thân, lợi ích chúng sanh, để hướng về quả tự giác thánh trí cứu cánh. Đây là lý do không đồng với lối tu của Nhị thừa ngoại đạo. Thế nên Bồ-tát tu hạnh như thật cầu thắng pháp, nên trừ sạch tên tạng thức trong Như Lai tạng như thế mà thôi, ngoài chỗ này không riêng có gì để chứng đắc. Trên chánh hiển đức Niết-bàn chân tịnh xong.Văn sau giải nghi khuyến tu.

H₅ - Giải thích nghi khuyến tu

🪷

Đại Huệ! Nếu không có tạng thức, Như Lai tạng ắt không sanh diệt.

Song Đại Huệ! Các hàng phàm thánh thảy đều có sanh diệt, người tu hành tự giác thánh trí hiện pháp lạc trụ, không bỏ phương tiện.

GIẢI

✅ ✅ Đây giải thích nghi.

❔ HỎI:

Đã chuyển tạng thức tên Như Lai tạng, song tạng thức có sanh diệt, mà Như Lai tạng cũng có sanh diệt ư?

📣 ĐÁP:

Nếu không có tên tạng thức thì Như Lai tạng ắt không sanh diệt.

❔ HỎI:

Tất cả phàm phu vì chưa chuyển tạng thức nên tâm có sanh diệt, tất cả thánh nhân đã chuyển tạng thức tâm cũng có sanh diệt chăng?

📣 ĐÁP:

Bậc Đẳng giác trở xuống tuy chuyển tạng thức mà vẫn dung có sanh diệt, vì tuy hướng tự giác thánh trí, trụ hiện pháp lạc, mà không bỏ sự nghiệp dũng mãnh tinh tấn độ sanh. Vả lại dị thục chưa trọn không, còn có vi tế vô minh sanh tướng chưa hết gọi là chân thường lưu chú, nên cũng có sanh diệt, nên nói các hàng phàm thánh thảy đều có sanh diệt, người tu hành tự giác thánh trí hiện pháp lạc trụ không bỏ phương tiện.

❔ HỎI:

Sanh diệt là Thất thức, nên nói nếu không có Tạng thức Thất thức ắt diệt, Thất thức đã diệt mà các bậc thánh đã chuyển Như Lai tạng lại có sanh diệt gì ư?

📣 ĐÁP:

Do chỉ chuyển danh ngôn, vì không thật tánh. Văn kinh sau nói Thất thức không lưu chuyển, không chịu khổ lạc, chẳng phải nhân Niết-bàn. Như Lai tạng thọ khổ lạc cùng chung với nhân sanh hoặc diệt.

Do đây mà xem, trước nói sanh diệt đó, không phải Thất thức mà là Như Lai tạng. Vì sao? Vì Như Lai tạng có nghĩa tùy duyên, nghĩa bất biến. Nên bất sanh diệt là nghĩa bất biến, mà sanh diệt là nghĩa tùy duyên. Do tùy duyên nhiễm thì làm nhân sanh tử, mà chúng sanh niệm niệm sanh diệt, tạo các ác nghiệp, nên trầm luân sanh tử.

Đây là phàm phu sanh diệt. Nếu theo duyên tịnh, thì làm nhân Niết-bàn, mà Bồ-tát niệm niệm vô sanh, khởi lên đại trí dụng, lợi lạc hữu tình, nên hướng thú Niết-bàn. Đây là thánh nhân sanh diệt. Thế nên phàm thánh thảy đều có sanh diệt, vì sanh mà vô sanh, vô sanh mà sanh, nên phàm thánh bình đẳng. Lục tổ nói: “Phật tánh vô thường”. Lại nói: “Nếu pháp thân tịch diệt, ắt đồng cỏ cây ngói đá, ai sẽ thọ lạc.”

Lại nói: “Pháp tánh là thể sanh diệt, ngũ uẩn là dụng sanh diệt, một thể có năm dụng, nên sanh diệt là thường”. Chỗ này nếu không phải người thâm chứng vô sanh, đạt pháp tánh duyên khởi, làm sao nêu lên điều này.

🪷

Đại Huệ! Như Lai tạng, thức tạng này, tất cả Thanh văn, Duyên giác tâm tưởng thấy, tuy tự tánh thanh tịnh, vì bị khách trần che, còn thấy chẳng thanh tịnh, chẳng phải như chư Như Lai.

Đại Huệ! Như Lai hiện tiền cảnh giới như thấy quả A-ma-lặc trong tay.

GIẢI

✅ Đây giải thích chỗ chuyển nạn.

❔ HỎI:

Đã nói Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh, phàm thánh bình đẳng, vì sao có sự sai khác giữa thánh phàm?

📣 ĐÁP:

Vì chỗ thấy không đồng (Đường dịch: Như Lai tạng, thức tạng hai tánh vốn thanh tịnh, vì bị khách trần nhiễm mà thành bất tịnh.

Tất cả hàng Nhị thừa và các ngoại đạo phỏng đoán khởi lên kiến chấp, không thể hiện chứng. Như Lai đối với chỗ này thấy rõ ràng như xem quả Yên-ma-lặc trong bàn tay).

Vì phàm phu bất giác nên là bất tịnh, ngoại đạo vọng giác, Nhị thừa thiên giác đều thuộc về tỷ lượng và phi lượng, nên chỗ thấy bất tịnh.

Bồ-tát phần giác, vì hàng Bồ-tát Thập địa quán Phật tánh như thấy mặt trăng qua lớp mây nên cũng thuộc tỷ lượng, cũng chưa thật thanh tịnh.

Chỉ có cảnh giới hiện tiền của Như Lai, thấy Như Lai tạng như xem quả trong tay, mới là hiện lượng cứu cánh thanh tịnh.

Thế nên kinh này quán duy tâm hiện lượng, chóng thấy Phật tánh, nghĩa này rõ ràng.

🪷

Đại Huệ! ta đối với nghĩa này dùng thần lực kiến lập khiến phu nhân Thắng Man và các Bồ-tát trí lanh lợi như Mãn Túc… tuyên dương diễn thuyết về danh từ Như Lai tạng và Thức tạng, Thất thức câu sanh.

Thanh văn chấp trước thấy nhân pháp vô ngã (Đường dịch: Khiến các Thanh văn thấy pháp vô ngã, nên phu nhân Thắng Man thừa oai thần của Phật, nói về cảnh giới Như Lai, chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh văn Duyên giác và ngoại đạo.

Như Lai tạng Thức tạng, chỉ có cảnh giới Phật và các vị Bồ-tát khác trí tuệ bén nhạy y nghĩa. Thế nên ông và Đại Bồ-tát, nơi Như Lai tạng Thức tạng nên siêng tu học, không nên chỉ nghe giác rồi tưởng là đủ.

GIẢI

Chỗ hiển đức thanh tịnh cứu cánh của Niết-bàn cùng tột nơi đây, nên kết luận khuyên tu.

Đường dịch: Ta vì phu nhân Thắng Man và các Bồ-tát trí thâm diệu sâu xa khác, nói Như Lai tạng tên thức tạng cùng Thất thức chung sanh khởi, khiến các Thanh văn thấy pháp vô ngã.

Đại Huệ - vì phu nhân Thắng Man nói về cảnh giới Phật, chẳng phải là cảnh giới Nhị thừa ngoại đạo.

Đại Huệ - Như Lai tạng thức tạng này, là cảnh giới Phật, vì các ông so sánh như chỗ sở hành của hàng Bồ-tát trí thanh tịnh tuỳ thuận nghĩa, không phải là chỗ sở hành của ngoại đạo Nhị thừa chấp trước văn tự.

Pháp Hoa nói: “Người căn độn trí kém, kẻ chấp tướng kiêu mạn, không thể tin pháp này”.

Nên không phải chỗ hành, về trí chưa tịnh vậy.

Kinh Pháp Hoa lại nói: “Có Phật tử tâm tịnh, nhu hòa và lợi căn, ở chỗ vô lượng Phật, mà hành đạo thâm diệu, vì các Phật tử này, nói kinh Đại thừa này”.

Nên vì người đầy đủ trí lanh lẹ, nói Như Lai tạng tức thức tạng, cùng thất thức sanh chung.

Sở dĩ nói điều này chính vì sách tấn hàng Nhị thừa thấy pháp vô ngã.

Gọi trí thanh tịnh nghĩa là người y nghĩa không y ngữ.

Bảo Cảnh nói: “Chỉ có hình sắc, nét chữ tức là thuộc nhiễm ô”.

Bách Trượng nói: “Vốn không tên gọi, gọi là Phật là nhiễm ô, gọi là pháp là nhiễm ô.”

Ôi! Gọi là Phật pháp đều là nhiễm ô, huống tham, nhuế, si và các thứ tà kiến, ức tưởng phỏng đoán ư? Đây là lý do chẳng phải người tịnh trí sâu xa thì không thể vào vậy.

Nên răn rằng: Không nên chỉ nghe giác rồi khởi tưởng là đủ.

🪷

Bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:

Như Lai tạng thậm thâm

Mà cùng thất thức chung

Hai thứ nhiếp thọ sanh

Người trí ắt xa lìa

GIẢI

✅ Đây tụng Như Lai tạng tự tánh thanh tịnh.

Nghĩa là Như Lai tạng vốn tự thanh tịnh, chỉ do tập khí từ vô thỉ huân tập, mà thành thức tạng, sanh trụ địa vô minh, cùng với thất thức chung.

Vì thế nhân duyên nhiễm tịnh nương đây mà lập, nên nói hai thứ nhiếp thọ sanh. Vì tạng này tánh nhiễm hay tịnh đều phi, thánh phàm tình tận nên nói người trí ắt xa lìa. Hai thứ nhiếp thọ là năng thủ và sở thủ tức kiến phần và tướng phần, vì có tâm cảnh nên sanh, tâm cảnh mất thì không sanh.

🪷

Như ảnh gương hiện tâm

Tập khí vô thỉ huân

Nếu quán sát như thật

Các việc đều vô sự

GIẢI

✅ Đây tụng này giải thích nghĩa viễn ly ở trên.

Bởi vì tất cả các pháp sanh tử Niết-bàn thánh phàm, ở trong tánh Như Lai tạng thảy như bóng hiện trong gương. Xưa nay không có, chỉ vì do hai tập khí nhiễm và tịnh từ vô thỉ huân mà có, trong Như Lai tạng tìm kiếm sanh tử mê ngộ đến đi trọn không thể được, nên nói: Nếu quán sát như thật, các việc đều vô sự. Cổ đức nói: “Cùng khắp đại địa tìm một người vô sự không thể được”. Răn nhắc như thế.

🪷

Ngu thấy tay chỉ trăng

Thấy tay không thấy trăng

Người chấp trước danh tự

Không thấy ta chân thật

GIẢI

✅ Đây tụng nói ngu phu chấp trước danh ngôn, không được nghĩa chân thật, trước nói Pháp ta nói ra như ngón tay chỉ mặt trăng.

🪷

Tâm là người thợ khéo

Ý như người hòa nhạc

Năm thức là bè bạn

Vọng tưởng chúng xem hát

GIẢI

✅ Đây tụng ngu phu hành động theo thức không theo trí. Vĩnh Gia nói: “Tổn pháp tài, diệt công đức thảy đều do tâm ý thức.”

Tâm là thức thứ tám hay biến hay hiện, nên như con hát. Ý là thức thứ bảy nương nhân gá duyên, nên như người đánh đàn, năm thức cùng nhóm chung nên là bạn cùng hát, thức thứ sáu phân biệt nên là người xem. Từ trước đến nay vốn chẳng có, như huyễn không thật, nên thí dụ là tuồng hát. Vì vậy mà trách chỗ xem hát cho là thật.

Vương Văn Công xem đào kép đóng tuồng, làm kệ rằng: Đào kép trong hí trường, lúc sang lại lúc nghèo, tâm biết vốn tự đồng, nên không có ưa ghét.

Tịch Am nói rằng: Ông lão này toàn thân là mắt, lừa gạt ông một điểm không được.

  • Từ quyển đầu từ chương Phân biệt tên tánh, phá danh tướng vọng tưởng đến đây dứt. Đứng về năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã để biện tà chánh nhân quả đã xong.

  • ✅ Sau Đây nói rõ tướng sai biệt rốt ráo của năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã. Chia hai:

  • Phần đầu nói chung nhân y cứ của mê ngộ.

C₃ - Nói rõ tướng sai biệt rốt ráo năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã, có 2:

D₁ - Nói chung nhân y cứ của mê ngộ

D₂ - Hiển riêng bốn môn nhiếp nhập

🌳🌲🌵

D₁ - Nói chung nhân y cứ của mê ngộ

🪷

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tướng phân biệt rốt ráo của năm pháp ba tự tánh tám thức hai thứ vô ngã (Hai bản dịch nói: tướng sai biệt). Con và các đại Bồ-tát khác ở nơi tất cả địa thứ lớp tiếp nối, phân biệt pháp này, vào tất cả Phật pháp. Vào tất cả Phật pháp ấy cho đến Như Lai tự giác địa.

GIẢI

Đây hỏi để rõ tướng sai biệt rốt ráo của năm pháp ba tự tánh.

Do ở trước một phen nói tất cả nhân quả tà chánh của thế xuất thế, phàm thánh, đều y nơi năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã mà kiến lập.

Nay chỗ kiến lập tà chánh nhân quả đã trọn vẹn, chỉ chưa rõ tướng năng kiến lập sai biệt của năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã nên thỉnh vấn điều này.

Mong Phật chỉ dạy rõ khiến người tu hành thấu đạt không nghi, ắt có thể y cứ vào đó phân biệt không lầm, mà vào tất cả Phật pháp, cho đến vào địa vị tự giác thánh trí cứu cánh.

Trong phần trả lời tiếp theo, trước nói chung nhân y cứ của mê ngộ.

Kế hiển riêng bốn môn nhiếp nhập.

D₂ - Hiển riêng bốn môn nhiếp nhập. Có 5:

E₁ - Nói chung tướng sai biệt của năm pháp

E₂ - Nói ba môn nhập năm pháp

E₃ - Nói bốn môn nhiếp nhập tất cả pháp

E₄ - Nói bốn môn thảy quy về như như để bày chánh quán

E₅ - Kết khuyên tu học

🪷

Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Tướng phân biệt của năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã, đó là danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như. Nếu hành giả tu hành nhập Như Lai tự giác thánh thú, lìa những kiến chấp đoạn thường hữu vô, hiện pháp lạc chánh thọ ngay hiện tại trước mắt.

Đại Huệ! Không biết năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã tự tâm hiện ngoại tánh, phàm phu vọng tưởng chẳng phải thánh hiền.

GIẢI

✅ Đây nói chung nhân y cứ của chân vọng mê ngộ.

Ý rằng nếu người tu hành, nhân quán sát năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã thấy rõ không lầm, ắt ở nơi cảnh giới Như Lai tự chứng, ắt lìa những kiến chấp đoạn thường có không, được tam-muội hiện pháp lạc thâm sâu. Nếu các người ngu nhân vì không rõ pháp này, thì sẽ vọng thấy ngoài tâm có các pháp, vọng sanh phân biệt chấp trước, nên lưu chuyển sanh tử. Thế nên mê ngộ thánh phàm đều y cứ pháp này.

  • Phần kế hiển bày bốn môn nhiếp nhập, chia năm.

  • Ban đầu nói chung tướng sai biệt của năm pháp. Chia hai.

  • Trước nói pháp sai biệt.

E₁ - Nói chung tướng sai biệt của năm pháp, có 2:

G₁ - Nói chung pháp sai biệt

G₂ - Hiển người trụ như như

🌳🌲🌵

G₁ - Nói chung pháp sai biệt

🪷

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như thế nào người ngu sanh vọng tưởng chẳng phải thánh hiền?

Phật bảo Đại Huệ: Người ngu chấp trước tục số danh tướng theo tâm trôi dạt. Trôi dạt rồi, các thứ tướng, hình tượng, dung mạo, rơi trong kiến chấp hy vọng về ngã ngã sở, chấp trước sắc. Chấp trước rồi, vô tri che lấp nên sanh nhiễm trước. Nhiễm trước rồi, tham nhuế si làm chỗ tích tập sanh ra nghiệp. Tích tập rồi, vọng tưởng tự trói như tằm làm kén, rơi trong biển sanh tử các đường hoang dại, như guồng kéo nước. Vì ngu si nên không biết tự tánh như huyễn, sóng nắng, trăng nước, lìa ngã ngã sở, khởi lên tất cả vọng tưởng không thật, lìa tướng sở tướng và sanh trụ diệt. Từ tự tâm vọng tưởng sanh, chẳng phải trời Tự tại, thời tiết, vi trần, thắng diệu sanh. Ngu si phàm phu trôi theo danh tướng.

GIẢI

✅ Đây nói chung nhân sanh khởi sai biệt của danh tướng trong năm pháp và lý do ngoại đạo vọng chấp.

Đường dịch: “Phàm ngu không biết danh là giả lập, tâm theo đó trôi nổi thấy các thứ tướng, chấp ngã ngã sở, nhiễm trước nơi sắc, che lấp thánh trí, khởi tham sân si tạo tác các nghiệp, như tằm làm kén, vọng tưởng tự trói, rơi trong các nẻo sanh tử biển lớn như guồng nước quay, lên xuống không dừng.

Không biết các pháp như huyễn, sóng nắng, như trăng trong nước, tự tâm hiện, vọng khởi phân biệt, lìa năng sở thủ và sanh trụ diệt, cho là từ Tự tại, thời tiết, vi trần, thắng tánh mà sanh, trôi theo danh tướng.”

Bởi người ngu không biết danh tướng hư giả chẳng thật, nên vọng chấp là ngã ngã sở, y cứ vào đó tạo tác các thứ nghiệp, tự nhận quả khổ sanh tử không dừng. Các ngoại đạo không biết danh tướng chỉ duy tâm hiện, theo vọng chấp phân biệt nhân duyên sanh diệt năng sở mà sanh, bèn khởi kiến chấp khác. Nghĩa là từ trời Tự tại, thời tiết, thắng tánh, vi trần mà sanh. Đây là danh tướng vốn không, chỉ y tha khởi theo biến kế chấp mà có.

Sau đây chánh giải thích năm pháp sai biệt.

🪷

Đại Huệ! Tướng ấy là, duyên nhãn thức soi chiếu, gọi là sắc, được nhĩ tỷ thiệt thân ý ý thức chiếu soi thì gọi là thanh hương vị xúc pháp. Đây gọi là tướng.

GIẢI

✅ Đây giải thích danh tướng trong năm pháp.

Danh tướng là sắc tâm. Ý thức là danh, tên chung của năm căn sáu trần là tướng. Lại mỗi tướng đều có tên cũng gọi là danh tướng, nên nói được nhãn thức chiếu soi gọi là sắc…

Bởi, đối tượng của năm căn là sắc thật, pháp trần được duyên bởi ý căn là sắc giả. Song thật ắt có thể thấy có đối, giả thì không thể thấy không đối. Duy thức bách pháp giảng đủ, trong đây chỉ nói về danh tướng.

🪷

Đại Huệ! Vọng tưởng ấy là lập bày các danh, hiển bày các tướng, như thế không khác (Đường dịch: Việc này như thế quyết định không khác). Tên của voi ngựa xe cộ nam nữ… gọi là vọng tưởng.

GIẢI

✅ Đây giải thích vọng tưởng trong năm pháp.

Lập bày các tên, hiển bày các tướng, nghĩa là danh y tướng lập, tướng theo danh sanh, danh tướng vốn không, nương phân biệt mà có, nên gọi là vọng tưởng.

🪷

Đại Huệ! Chánh trí là danh tướng kia không thể được, cũng như khách qua đường, các thứ không sanh, không đoạn không thường, không rơi vào tất cả ngoại đạo Thanh văn, Duyên giác.

GIẢI

✅ Đây giải thích chánh trí trong năm pháp.

Chẳng trụ là khách, nơi danh tướng chẳng trụ, nên không thể được. Do có thể được, nên các thức không sanh, song thức đã chẳng sanh, chẳng phải trí không được. Dùng trí quán các pháp, ắt không phân biệt, không điên đảo, không đoạn, không thường, ắt tự không rơi vào chỗ tất cả Thanh văn, Duyên giác. Do không rơi vào thiên tà nên gọi là chánh trí.

🪷

Lại nữa Đại Huệ! Đại Bồ-tát do chánh trí này, không lập danh tướng, chẳng phải không lập danh tướng, xả lìa hai kiến chấp, dựng lập và phỉ báng, biết danh tướng chẳng sanh. Đây gọi là như như.

GIẢI

✅ Đây nói về như như trong năm pháp.

Nếu dùng thức mà biết, thì danh tướng nổi lên, nếu dùng chánh trí mà quán thì danh tướng không lập. Đây tức là danh tướng vốn như, chẳng phải lìa ngoài danh tướng riêng có như.

Chỉ ở nơi danh tướng không khởi lên hai kiến chấp có và không, dựng lập và phỉ báng.

Do biết danh tướng vốn tự không sanh nên gọi là như như vậy, nên nói chẳng phải không lập danh tướng…

Đó là chỉ riêng còn trí như như. Vì thế biết danh tướng không sanh thì cảnh như, biết danh tướng không sanh thì tâm như, tâm cảnh như như nên một pháp chẳng lập.

Trên nói pháp sai biệt.

Dưới hiển người trụ như như.

G₂ - Hiển người trụ như như

🪷

Đại Huệ! Đại Bồ-tát trụ nơi như như, vì được cảnh giới vô sở hữu, được địa vị Bồ-tát Hoan hỷ địa. Được Bồ-tát Hoan hỷ địa rồi, vĩnh ly tất cả đường ác của ngoại đạo, chánh trụ đường xuất thế gian, thành thục pháp tướng, phân biệt tất cả pháp huyễn… tướng tự giác pháp thú lìa các vọng tưởng, thấy tánh dị tướng.

GIẢI

✅ Đây nói thật chứng của người trụ như như. Được cảnh giới vô sở hữu, vì chỉ duy có như. Thành thục pháp tướng là vì không bị tướng chuyển. Do được tự giác pháp thú nên lìa các vọng tưởng. Do được chân như dụng nên thấy tánh dị tướng. Chính là trừ diệt vô minh thấy bổn pháp thân, tự diệt mà có các dụng bất tư nghị nghiệp, tức cùng chân như biến khắp tất cả nơi. Đây là hành tướng từ Sơ địa đến Cửu địa.

Bên Duy Thức nói hàng đăng địa chứng mười chân như, là đứng về mặt thắng đức. Ở đây chỉ là một Như không có hai Như, là đứng về mặt thật chứng.

Thứ lớp cho đến Pháp vân địa, ở trong khoảng giữa khai mở các thứ tam-muội, lực, tự tại, thần thông (Ngụy dịch: Vào Pháp vân địa rồi, kế dùng tam-muội lực tự tại thần thông trang nghiêm Như Lai địa). Được Như Lai địa rồi, các thứ biến hóa thị hiện tròn đầy thành thục chúng sanh như trăng trong nước, khéo rốt ráo đầy đủ mười câu vô tận, vì các chúng sanh có các tri thức mà phân biệt thuyết pháp, pháp thân lìa sự tạo tác của ý. Đây gọi là chỗ của Bồ-tát nhập Như như.

✅ Đây nói về tướng hạnh thành đắc quả.

Vì chuyển thức tạng được tên Như Lai tạng nên nói pháp thân lìa tạo tác của ý, gọi là Bồ-tát nhập như như. Luận nói: “Tự thể tướng của chân như từ xưa đến nay tự tánh đầy đủ tất cả công đức.

Đó là vì tự thể có đại trí tuệ quang minh, vì biến chiếu pháp giới, vì chân thật thức tri, vì tự tánh thanh tịnh tâm, vì thường lạc ngã tịnh, vì thanh lương bất biến tự tại. Như thế có đầy đủ Phật pháp chẳng lìa chẳng đoạn chẳng khác, nhiều hơn số cát sông Hằng, cho đến đầy đủ không thiếu một nghĩa nào, gọi là Như Lai tạng, cũng gọi là pháp thân Như Lai”. Luận cũng nói: “Tịnh pháp vô lượng công đức như thế tức là nhất tâm, lại không chỗ niệm, thế nên đầy đủ, gọi là pháp thân Như Lai tạng, do không chỗ niệm mới được đầy đủ”.

Cho nên Đây nói pháp thân lìa sự tạo tác của ý thức, gọi là nhập như như. Nên hàng đăng địa cho đến cứu cánh địa, pháp y nhiên đầy đủ nghiệp dụng như thế.

  • Trên nói về tướng sai biệt của năm pháp rồi.

  • Dưới nói ba môn vào năm pháp. Chia hai.

  • Ban đầu ba tự tánh vào năm pháp.

E₂ - Nói ba môn nhập năm pháp, có 2:

G₁ - Nói ba tự tánh vào năm pháp

G₂ - Nói tám thức hai vô ngã vào năm pháp

🌳🌲🌵

G₁ - Nói ba tự tánh vào năm pháp

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như thế nào là ba tự tánh vào trong năm pháp? Là mỗi mỗi có tự tướng tông?Phật bảo Đại Huệ: Ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã thảy vào trong năm pháp.

Đây hỏi cho rõ bốn môn lẫn nhau nhiếp nhập, để hiển nhất tâm chân như nhiễm tịnh dung thông, để hiển tánh Như Lai tạng hàm nhiếp vi diệu.

Cựu chú nói, Đại Huệ trước đưa ra bốn môn để hỏi, Như Lai chỉ đứng về một môn năm pháp mà đáp.

Nên ở đây hỏi lại: Là ba tự tánh vào trong năm pháp ư? Là riêng có tự tướng tông ư? Phật đáp, ba môn còn lại đều vào trong năm pháp.

Bởi chỉ tu một môn, thì các môn nhiếp đủ, ba môn kia cũng vậy. Song sở dĩ gồm nhiếp lẫn nhau vì pháp tánh dung thông, tùy duyên chuyển biến.

Đại Huệ! danh và tướng là tự tánh vọng tưởng.

✅ Đây nói tự tánh vọng tưởng vào danh, tướng trong năm pháp.

Do có danh, tướng nên khởi phân biệt, danh, tướng nếu không, phân biệt từ đâu khởi. Nên vọng tưởng này gồm vào danh, tướng kia.

Đại Huệ! nếu nương vọng tưởng kia sanh tâm tâm pháp gọi là đồng thời sanh, như mặt trời và ánh sáng đồng thời.

Các thứ tướng gìn giữ phân biệt riêng. Đây gọi là duyên khởi tự tánh.

✅ Đây nói tự tánh duyên khởi vào vọng tưởng trong năm pháp.

Nghĩa là vọng tưởng, danh, tướng trong năm pháp cùng làm nhân cho nhau mà khởi.

Bởi khi vọng tưởng sanh tâm tâm sở pháp, thì các pháp giả danh nương đó mà sanh, như mặt trời và ánh sáng.

Nghĩa là vì tâm cảnh không rời nhau, đã có các thứ tên ắt có các thứ tướng, lại khởi các thứ phân biệt, hỗ tương nhau mà gìn giữ.

Đó là tâm sanh thì các pháp sanh, vì tâm cảnh lẫn nhau làm duyên khởi. Tự tánh duyên khởi này tức thuộc vọng tưởng trong năm tánh.

Đại Huệ! chánh trí như như ấy, không thể hoại, nên gọi là tự tánh viên thành.

✅ Đây nói tự tánh viên thành nhập vào chánh trí, như như trong năm pháp, nghĩa là chánh trí, như như là diệu tánh thiên nhiên, chẳng phải pháp có thể tạo tác, nên không thể hoại.

Do không thể hoại nên vốn tự viên thành, tức gọi là tự tánh viên thành.

Trên nêu ba tánh và năm pháp xong.

Dưới nêu tám thức hai vô ngã vào năm pháp.

G₂ - Nói tám thức hai vô ngã vào năm pháp

Lại nữa Đại Huệ! tự tâm hiện vọng tưởng, tám thứ phân biệt là tạng thức, ý, ý thức và năm thức thân tướng.

Tướng ấy không thật vì là vọng tưởng. Hai thứ nhiếp thọ ngã và ngã sở diệt, hai vô ngã sanh.

✅ Đây nói tám thức hai vô ngã vào trong năm pháp.

Nghĩa là đối với vọng pháp do vọng tâm hiện đó là danh tướng.

Ở nơi đây chấp trước sanh khởi tám thức, tức là vọng tưởng.

Nếu rõ vọng tưởng này đều là không thật, ắt phân biệt không sanh, tức là chánh trí như như.

Đây là tám thức vào trong năm pháp. Nếu đối với tâm cảnh vọng chấp thật có ngã, ngã sở, tức là danh tướng, vọng tưởng.

Nếu rõ tâm cảnh không thật, hai thứ nhiếp thọ diệt, hai vô ngã sanh, tức là chánh trí như như. Đây là hai vô ngã vào trong năm pháp.

E₃ - Nói bốn môn nhiếp nhập tất cả pháp

Cho nên Đại Huệ! năm pháp này, Thanh văn Duyên giác Bồ-tát Như Lai, tự giác thánh trí các địa tiếp nối thứ lớp, tất cả pháp đều vào trong đây.

✅ Đây nói bốn môn nhiếp vào tất cả pháp.

Nghĩa là không những năm pháp nhiếp ba môn kia, tức Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Như Lai hoặc nhân hoặc quả tất cả các pháp đều nhập vào trong ấy.

Nói tất cả quy về như như để nêu chánh quán.

E₄ - Nói bốn môn thảy quy về như như để bày chánh quán

Lại nữa Đại Huệ! năm pháp ấy là tướng, danh, vọng tưởng, như như, chánh trí.

Đại Huệ! tướng là hoặc chỗ nơi hình tướng, sắc tượng… hiện ra.

Đây gọi là tướng (Đường dịch: Tướng trong đây là sắc được thấy có hình trạng khác biệt. Đây gọi là tướng).

Nếu kia có tướng như thế, gọi là cái bình…, tức là cái này không phải cái khác.

Đây gọi là danh (Đường dịch: Căn cứ vào các tướng kia mà lập tên bình…

Đây như vầy đây không khác, bình… tâm tâm pháp. Đây gọi là vọng tưởng.

Danh ấy tướng ấy rốt ráo không thể được, trước sau không giác tri, nơi các pháp không có lần lượt lìa vọng tưởng chẳng thật, đây gọi là như như (Đường dịch: Danh ấy tướng ấy rốt ráo không có chỉ là vọng tâm triển chuyển phân biệt, quán sát như thế, cho đến giác diệt, đây gọi là như như). Chân thật quyết định rốt ráo tự tánh không thể được.

Ấy là tướng như, là chỗ ta và chư Phật tùy thuận vào, khắp vì chúng sanh chỉ bày diễn nói dựng lập như thật.

Đối với điều này tùy nhập chánh giác, không đoạn không thường, vọng tưởng chẳng khởi, tùy thuận tự giác thánh trí, là chỗ tất cả Thanh văn, Duyên giác ngoại đạo không đạt được. Đây gọi là chánh trí.

Đây là nói phương tiện tu hành năm pháp.

Trước nói năm pháp làm nhân cho nhau mà có. Nghĩa là danh tướng nhân vọng tưởng mà có, như như nhân chánh trí mà được.

Vả lại, danh tướng ấy là đứng chung về mặt tâm cảnh đối đãi nhau mà nói, nên nhiếp nhập vào ba tánh. Đây riêng nói tất cả các pháp gọi chung là tướng, mỗi tướng có tên, phân biệt cái tên đó là vọng tưởng. Nghĩa là danh tướng, vọng tưởng này vốn tự như như, chỉ hay biết rõ tướng như như này, rồi lại có thể vì chúng sanh hiển thị, bèn gọi là chánh trí, tức là tự giác thánh trí.

Thứ lớp trước sau của năm pháp không đồng, mà lập ý cũng khác biệt. Danh tướng kia rốt ráo không thể được vì cảnh vốn như. Trước sau không giác trí, nghĩa là đã không có cảnh bị biết, cũng không có tâm để biết, ắt tâm vốn như. Tâm cảnh như như nên đối với các pháp không cần lần lượt sanh diệt, mà chỉ cần lìa vọng tưởng chẳng thật 1.

Tướng chân như này, vì vô tướng nên chân thật quyết định rốt ráo tự tánh không thể được. Đây là chỗ ta và chư Phật đã chứng nhập, mà sở dĩ khắp vì chúng sanh khai thị nói bày, cũng nói về thật tướng như như này, hiển thị điều này, khiến chúng sanh tùy thuận nhập vào chỗ này, không rơi vào đoạn thường, không sanh vọng tưởng, vào tự giác thánh trí thú, vượt qua tất cả cảnh giới ngoại đạo Nhị thừa, như thế mới gọi là chánh trí.

Thế là những điều ta chứng và ta nói, chỉ có việc này mà thôi, tức là muốn chúng sanh được cũng chỉ việc này mà thôi. Nên Pháp Hoa nói “Chỉ một việc thật này, có hai ắt chẳng chơn.”

  • Sau đây kết khuyên tu học

E₅ - Kết khuyên tu học

Đại Huệ! đây gọi là năm pháp ba tự tánh, tám thức hai vô ngã, tất cả Phật pháp đều vào trong ấy.

Cho nên Đại Huệ! nên tự phương tiện học, cũng dạy người khác chớ rơi vào chỗ khác.

Đây kết khuyên tu. Đường dịch: “Ở trong pháp này, các ông nên dùng tự trí khéo léo thông đạt, cũng khuyên người khác khiến họ thông đạt.

Thông đạt đây rồi, tâm ắt quyết định không theo kẻ khác chuyển”. Bởi thông đạt như như thì tâm ấy mới quyết định không bị kẻ khác chuyển. Đây là sở dĩ Thất địa chỉ lìa tâm thức còn sợ rơi vào đường tà ngoại đạo.

Lúc ấy Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa trên bèn nói kệ:Năm pháp ba tự tánh & Và cùng tám thứ thứcHai thứ không có ngã & Đều nhiếp về Đại thừa.

✅ Đây tụng chung bốn môn trên gồm nhiếp hết tất cả Phật pháp Đại thừa.

Danh, tướng, tưởng hư vọng & Tự tánh hai thứ tướngChánh trí và như như & Đây gọi là thành tướng.

✅ Đây tụng năm pháp nhiếp ba tự tánh.

  • Trên chỉ năm pháp ba tự tánh, tám thức hai vô ngã để rõ tướng sai biệt rốt ráo xong. Dưới nói rõ pháp thân thường trụ để chỉ tướng sanh tử Niết-bàn bình đẳng, chia hai.

  • Phần đầu nói pháp thân thường trụ.

C₄ - Nói pháp thân thường trụ để chỉ tướng sanh tử Niết-bàn bình đẳng, có 2:

D₁ - Nói pháp thân thường trụ

D₂ - Nói bình đẳng như như

🌳🌲🌵

D₁ - Nói pháp thân thường trụ

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn, như Thế Tôn nói câu “Quá khứ chư Phật như hằng hà sa, vị lai hiện tại cũng lại như thế.”

Thưa Thế Tôn, vì sao? Vì như thuyết mà thọ hay vì còn có nghĩa khác? Cúi xin Như Lai thương xót giải nói.Phật bảo Đại Huệ: Chớ nên như thuyết mà thọ. Ba đời chư Phật số lượng chẳng như hằng hà sa. Vì sao? Vượt qua hy vọng thế gian, chẳng thí dụ nào có thể thí dụ.

Trước một phen hiển bày chung nhân quả chân vọng rốt ráo trong pháp giới, trọn trở về như như, đây sắp chỉ bày pháp thân thường trụ để hiển pháp giới bình đẳng như như, nên đưa ra thí dụ như hằng hà sa để thỉnh vấn.

Bởi nêu số nhiều thường dùng hằng hà sa làm thí dụ, ý Đại Huệ rằng quả là ba đời chư Phật nhiều như hằng hà sa ư? Nên nói như thuyết mà thọ hay là riêng có nghĩa khác ư?

Phật nói không thể cho rằng ba đời chư Phật nhiều như hằng hà sa. Vì sao? Vì Như Lai tối thắng siêu vượt thế gian, không có gì sánh kịp, không thể dùng số lượng tìm cầu, nên nói vượt qua sự trông mong của thế gian, chẳng thí dụ nào có thể thí dụ.

Kinh nói: “Ba cõi tất cả pháp có không, không thể cùng Phật làm thí dụ.”

Vì phàm phu chấp thường, ngoại đạo vọng tưởng (Đường dịch: Ta vì các hàng ngoại đạo và phàm ngu, thường chấp trước thường và vô thường) nuôi lớn ác kiến, sanh tử không cùng, muốn khiến chán lìa nẻo sanh tử xoay lăn, tinh tấn siêng năng thăng tiến.

Vì họ nói rằng: Chư Phật dễ gặp, chẳng phải như hoa Ưu-đàm-bát khó thấy, dứt phương tiện tìm kiếm. Có khi quán những người thọ hóa, nói lời này: Phật khó gặp như hoa Ưu-đàm-bát, hoa Ưu-đàm-bát không có đã thấy, hiện thấy, sẽ thấy. Bậc Như Lai thế gian đều thấy, vì không do kiến lập tự thông, nên nói Như Lai xuất thế như hoa Ưu-đàm-bát.

Đại Huệ! tự kiến lập tự thông là vượt qua sự trông mong của thế gian. Các phàm phu kia chỗ không thể tin, cảnh giới tự giác thánh trí, không dùng cái gì để thí dụ. Như Lai chân thật, vượt quá tướng thấy được của tâm ý thức, không thể làm dụ.

Đây là nói pháp thân thường trụ, không thể dùng ngôn thuyết tâm lượng thí dụ mà tìm cầu.

Bởi, pháp thân ly ngôn, không nằm trong số lượng, há có thể đem số lượng so sánh mà tìm cầu ư? Song dùng cát sông Hằng để dụ cho Phật dễ gặp, vì sách phát hàng chúng sanh giải đãi, phá cái tình chấp sợ xa xôi của họ, muốn khiến chán lìa sanh tử, phát tâm tinh tấn, nên vì họ nói chư Phật dễ thấy như cát sông Hằng, chẳng phải như hoa Ưu-đàm. Như nói bảo sở gần kề vậy.

Nếu nói Phật khó gặp ắt họ sợ hãi thối lui, vì cho là khó thấy, không chịu cầu tiến. Vì thế ta dùng lời lẽ “dễ gặp” để khai phát cho họ, chẳng phải lời thật.

Nếu có người căn cơ thuần thục kham nhận sự giáo hóa, sợ họ lười biếng muốn khiến họ tinh tấn nhanh chóng hướng đến Bồ-đề, nên ta lại nói rằng “Phật khó gặp như hoa Ưu-đàm” khiến họ sanh tâm khát ngưỡng luyến mộ, đây cũng là nói có ngụ ý, chẳng phải thật.

Hơn nữa, hoa Ưu-đàm chưa có ai từng thấy, đang thấy hay sẽ thấy, còn Như Lai ra đời mọi người đều biết đều thấy, há có thể dùng hoa Ưu-đàm so sánh với Như Lai ư?

Như thế dùng Ưu-đàm để thí dụ cho Phật là nói phương tiện của hóa Phật dẫn dụ chúng sanh, chẳng phải chỗ kiến lập pháp thân tự thông, nên nói Như Lai như hoa Ưu-đàm.

Bởi, tự kiến lập pháp tự thông là cảnh giới nội chứng thánh trí pháp thân, thế gian không thể sánh bằng, nên nói vượt qua sự trông mong của thế gian.

Hàng phàm ngu kia, không thể tin nhận cảnh giới tự giác thánh trí, không thể lấy gì làm thí dụ, vọng cho là có thể dùng thí dụ mà biết.

Đâu chẳng biết pháp thân chân thật của Như Lai, là vượt qua tướng tự thấy của tâm ý thức, không thể ở trong đó đem thí dụ mà tìm cầu, nên kinh Kim Cương Bát Nhã nói: “Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh tìm ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.”

Đại Huệ! song ta thí dụ Phật như cát sông Hằng không có lỗi.

Đây là giải nghi.

Nghi rằng: Pháp thân Như Lai đã không thể thí dụ mà lại thí dụ Phật như cát sông Hằng, há không rơi vào lỗi tự ngữ tương vi ư?

Nên ở ✅ Đây giải thích rằng: Có lúc ta nói thí dụ Phật như cát sông Hằng, không có lỗi tương vi. Vì sao? Vì ta nói cát sông Hằng, chẳng phải cho là nhiều, vì có ý nghĩa sâu xa. Sau đây dùng bảy thứ nghĩa thâm sâu để giải thích.

Thí như cát sông Hằng tất cả cá, rùa, thân-thu-ma-la (sát tử ngư), sư tử, voi, ngựa, người, thú, giẫm đạp lên trên, cát không nghĩ rằng “Chúng não loạn ta” mà sanh vọng tưởng, tự tánh thanh tịnh không có các cấu uế.

Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác tự giác thánh trí như sông Hằng, đại lực thần thông tự tại, nhiều như cát, tất cả ngoại đạo, người, thú… tất cả não loạn, Như Lai không khởi nghĩ mà sanh vọng tưởng.

Như Lai tịch nhiên không có niệm tưởng, vì Như Lai vốn nguyện đem tam-muội lạc làm an lạc chúng sanh nên không não loạn, cũng giống như cát sông Hằng không khác, lại vì đoạn tham nhuế.

Đây thí dụ để hiển pháp thân lìa niệm.

Như Lai tự giác thánh trí pháp tánh như sông, đại lực tự tại thần thông… như cát trong sông Hằng, tuy bị giẫm đạp mà không khởi niệm tưởng não loạn. Các ngoại đạo thiên ma… não loạn Như Lai mà Như Lai tịch nhiên không sanh một niệm tâm chán bỏ. Vì được sức giữ gìn của tam-muội bổn nguyện lợi ích chúng sanh, lại vì đoạn tập khí tham nhuế ái tăng từ vô thủy. Do trí ly niệm này nên như cát sông Hằng, chẳng phải chỉ có nghĩa là nhiều. Dùng duyên Bồ-đề để duyên với chúng sanh khổ, nên nói bổn nguyện tam-muội lạc.

Thí như cát sông Hằng, là tự tánh của đất, khi kiếp tận bị thiêu đốt, thiêu tất cả đất đai, mà địa đại kia không bỏ tự tánh, vì cùng sanh chung với hỏa đại. Ngoài ra hàng ngu phu khởi tưởng đất bị thiêu đốt, mà đất không bị thiêu đốt, vì do lửa làm nhân.

Như thế này Đại Huệ! pháp thân của Như Lai như cát sông Hằng không hoại.

Đây là thí dụ để hiển pháp thân không hoại.

Pháp thân Như Lai nơi vô tình gọi là pháp tánh, nơi hữu tình gọi là Phật tánh, nên nói như cát là tự tánh của đất.

Vô tình thế giới thành trụ hoại không, hữu tình chúng sanh sanh lão bệnh tử, tuy bị tám tướng dời đổi, lửa vô minh tam độc đốt cháy mà pháp thân trạm nhiên không từng bị tổn hoại trong khoảng ấy.

Vì sao? Vì cùng có vô sanh không hai.

Như Lai địa bị thiêu mà cát không mất tự tánh, vì cát cùng lửa sanh chung.

Người ngu cho là đất bị thiêu cháy mà đất thật không bị thiêu, vì đất dùng lửa làm nhân, lửa hay sanh đất, nên lửa là nhân của đất. Để dụ cho ngu phu cho là tam độc hỏa thiêu pháp thân cũng hoại, mà pháp thân thật không hoại. Vì sao? Vì phiền não tam độc là nhân của pháp thân.

Đại Huệ! thí như cát sông Hằng không có hạn lượng, ánh sáng của Như Lai cũng lại như thế không có hạn lượng, vì thành thực chúng sanh, chiếu khắp tất cả đại chúng của chư Phật.

Đây là dụ pháp thân không hạn lượng.

Luận nói: “Chính vì tự thể có nghĩa đại trí tuệ quang minh, nghĩa chiếu khắp pháp giới”.

Lại nói: “Vì trí tánh tức sắc, tên là pháp thân biến tất cả nơi chốn. Sắc biến hiện không có giới hạn, tùy tâm có thể thị hiện mười phương thế giới, vô lượng Bồ-tát, vô lượng báo thân, vô lượng trang nghiêm mỗi mỗi sai biệt, đều không có chừng hạn, mà chẳng chướng ngại nhau.

Đây chẳng phải chỗ tâm thức phân biệt có thể biết, vì là nghĩa dụng tự tại của chân như”. Vì vậy nói ánh sáng không có hạn lượng.

Đại Huệ! thí như cát sông Hằng, ngoài ra không có loại cát khác.

Như thế này Đại Huệ! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác, không có sanh tử sanh diệt vì đã đoạn nhân duyên ba cõi.

Đây là dụ cho pháp thân nhất tướng.

Nghĩa là pháp thân xa lìa sanh trụ dị diệt vì đã vĩnh viễn đoạn diệt nhân sanh tử trong ba cõi. Luận nói: “Xưa nay bình đẳng, vì đồng nhất giác”, nên nói thí như cát sông Hằng, ngoài ra không có loại cát khác.

Đại Huệ! thí như cát sông Hằng, không tăng không giảm. Như thế, này Đại Huệ! trí tuệ Như Lai thành thục chúng sanh không tăng không giảm vì chẳng phải thân pháp. Thân pháp có hoại, pháp thân Như Lai chẳng phải thân pháp.

Đây là dụ pháp thân lìa lỗi sanh diệt.

Luận nói: “Một là thể đại, nghĩa là tất cả pháp chân như bình đẳng không tăng không giảm.” Nói trí tuệ Như Lai là đứng về mặt thành thục chúng sanh mà nói.

Không tăng không giảm là đứng về mặt quyền trí lợi vật, tức mười phương vô lượng chúng sanh đều nhận lấy trí tuệ Như Lai mà Như Lai không giảm, đều khế hợp Phật tâm, cũng không chỗ tăng.

Chính là chỗ mình vì người, mình càng có; mình cho người mình lại tăng.

Vì sao? Vì pháp thân chẳng phải thân (Đường dịch: Thí như cát sông Hằng, lấy đi không thấy giảm, ném thêm vào không thấy tăng, chư Phật cũng thế, dùng trí phương tiện thành thục chúng sanh, không giảm không tăng, vì sao? Vì pháp thân Như Lai không có tướng thân).

Như cát sông Hằng không thể ép ra dầu (Hai bản dịch đều có bốn chữ “Đại Huệ! thí như”).

Như thế tất cả chúng sanh cực khổ bức bách Như Lai, cho đến chúng sanh chưa được Niết-bàn, không bỏ pháp giới tự tam-muội nguyện lạc, vì đại bi vậy.

Đây là dụ để hiển đồng thể đại bi.

Bởi do nghiệp tánh chúng sanh trọn vẹn là pháp thân Như Lai, thế nên chúng sanh chịu khổ cùng tột đều là bức bách Như Lai. Vì vậy, chúng sanh chưa trọn vẹn Niết-bàn thì Như Lai cũng không được thường lạc ngã tịnh.

Vì lý do đó, cho đến một chúng sanh nhỏ nhiệm chẳng nhập Niết-bàn, Như Lai cũng không bỏ pháp giới, tự tam-muội nguyện lạc, sự nghiệp độ sanh, vì đồng thể đại bi giữ gìn. Dầu dụ cho tâm sân.

Ngụy dịch rằng: Chư Phật Như Lai bị các chúng sanh khổ não ép ngặt, cũng chẳng sân.

Đại Huệ! thí như cát sông Hằng theo nước trôi đi, chẳng phải không nước.

Như thế Đại Huệ! Như Lai nói tất cả pháp theo dòng Niết-bàn, cho nên nói như cát sông Hằng.

Như Lai không theo các thứ lưu chuyển trôi đi, vì trôi đi là nghĩa hoại. Đại Huệ! bờ mé sanh tử không thể biết, vì không thể biết làm sao nói là trôi đi. Đại Huệ! đi là nghĩa đoạn, mà ngu phu không biết.

Đây dụ về ngôn thuyết pháp thân.

Cát dụ cho tất cả pháp sanh tử, nước dụ pháp thân pháp Niết-bàn.

Song pháp thân lưu chuyển trong năm đường, gọi là chúng sanh, nếu chúng sanh dùng vô minh nghiệp thức mà nói pháp Niết-bàn, thì pháp Niết-bàn đều theo dòng sanh tử.

Còn Như Lai dùng tự giác thánh trí nói pháp sanh tử, thì pháp sanh tử đều theo dòng Niết-bàn.

Không những pháp được nói theo Niết-bàn, mà ngôn thuyết cũng tức Niết-bàn, vì tướng ngôn từ tịch diệt.

Thế nên Như Lai nói các pháp không theo các lưu chuyển trôi đi. Sở dĩ không theo lưu chuyển, vì không thấy có pháp sanh tử, nên nói bờ mé sanh tử không thể biết.

Đã không thể biết bờ mé sanh tử, vì sao ta nói sanh tử có nghĩa trôi đi ư? Hơn nữa đi là nghĩa đoạn dứt, mà bờ mé sanh tử tức Niết-bàn thường trụ, vì sao lại nói đoạn dứt.

Chỉ vì điều này chẳng phải ngu phu có thể biết.

  • Trên nói pháp thân thường trụ.

  • Dưới nói sanh tử Niết-bàn bình đẳng.

D₂ - Nói bình đẳng như như

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nếu chúng sanh bờ mé sanh tử không thể biết, làm sao giải thoát có thể biết.

Phật bảo Đại Huệ: Nếu nhân tập khí vọng tưởng lỗi hư vọng từ vô thỉ diệt, tự tâm hiện biết nghĩa bên ngoài, vọng tưởng thân chuyển giải thoát chẳng diệt (Đường dịch: Biết rõ cảnh bên ngoài do tự tâm hiện, phân biệt vô biên chẳng phải hoàn toàn không có, vì vọng tưởng tạo ra tên khác.

Quán sát trong ngoài lìa vọng tưởng, không có chúng sanh khác, trí và nhị diệm, tất cả các pháp, thảy đều tịch tĩnh (Đường dịch: Lìa tâm phân biệt, không có chúng sanh khác, dùng trí quán sát các pháp trong ngoài, người biết và vật được biết thảy đều tịch diệt). Không biết tự tâm hiện vọng tưởng nên vọng tưởng sanh, nếu biết ắt diệt.

✅ Đây nói về sanh tử Niết-bàn xưa nay bình đẳng, để hiển Phật giới như, chúng sanh như, một như không có hai như.

Đường dịch: “Nếu bờ mé sanh tử không thể biết, làm sao chúng sanh ở trong sanh tử mà được giải thoát.”

Ý Đại Huệ cho rằng lìa ngoài sanh tử riêng cầu giải thoát. Phật nói: “Bờ mé (bổn tế) sanh tử tức là Niết-bàn”.

Do chúng sanh mê bổn tế mà bị sanh tử, nên có tập khí vọng tưởng lỗi ác hư ngụy từ vô thỉ làm nhân. Đây là lý do vọng thấy ngoài tâm thật có các pháp, nay chỉ cần diệt tập khí vọng tưởng ấy, ắt có thể biết rõ ngoài tâm không pháp, ngay vọng tưởng ấy lại là Niết-bàn, chẳng phải lìa ngoài vọng tưởng này riêng có Niết-bàn, nên nói vọng tưởng thân chuyển giải thoát chẳng diệt.

Vì thế vô biên chẳng phải hoàn toàn không có, do bản tế toàn bộ thành vọng tưởng, tức vọng tưởng này là tên khác của bản tế. Bản Ngụy dịch: Bổn tế là tâm phân biệt, một thể khác tên, lìa tâm phân biệt lại không có chúng sanh, đây là bổn tế tức vọng tưởng, vọng tưởng tức chúng sanh, nên bổn tế Như mà chúng sanh cũng Như, vì đều là Như vậy.

Dùng trí quán sát các pháp trong ngoài, năng tri và sở tri thảy đều tịch diệt, chỉ vì không rõ vọng tưởng ngôn thuyết tự tâm sanh nên vọng tưởng sanh.

Nếu rõ duy tâm, tức vọng tưởng chóng diệt, từ đây mà quan sát sanh tử Niết-bàn vốn không hai nơi, chỉ ở trong khoảng mê ngộ, hết thảy đều do tự tâm chuyển biến, há lại có cái bên ngoài ư?

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này bèn nói kệ:

Quán sát các đạo sư

Cũng như cát sông Hằng

Không hoại cũng không đi

Cũng lại không cứu cánh

Thế đó là bình đẳng.

Đây là tụng pháp thân bình đẳng. Bởi chẳng hoại chẳng dời cũng chẳng phải cứu cánh đoạn diệt. Đây sở dĩ là bình đẳng như như.Quán sát chư Như Lai

Cũng như cát sông Hằng

Thảy lìa tất cả lỗi

Theo dòng mà tánh thường

Thế là Phật chánh giác.

✅ Đây tụng pháp thân thường trụ. Do theo dòng mà tánh thường, chính là nghĩa chân thật thường trụ.

  • Trên nói pháp thân thường trụ để hiển tướng sanh tử Niết-bàn bình đẳng xong.

  • Dưới nêu tạng tâm tự tánh để hiển tướng chân vọng sanh diệt bình đẳng.

C₅ - Chỉ tạng tâm tự tánh để hiển tướng chân vọng sanh diệt bình đẳng

Lúc ấy Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Cúi xin vì nói tất cả pháp tướng sát-na hoại. Thế Tôn! Thế nào tất cả pháp sát-na?

Đây sắp hiển bày chúng sanh Như, nên hỏi về pháp sát-na sanh diệt.

Bản Ngụy dịch: “Vì con nói tướng sanh diệt của tất cả pháp. Vì sao Như Lai nói tất cả pháp niệm niệm chẳng trụ”. Tất cả pháp ấy, nói tột cùng là pháp thế xuất thế thánh phàm, đều gồm hết.

Nói lược là pháp thân tâm năm uẩn của chúng sanh, nói chung đều nằm trong sanh diệt nên gọi là chúng sanh. Nếu dùng vọng tâm phân biệt thì đều là pháp diệt, tức là chỗ ban đầu Đại Huệ hỏi trăm lẻ tám câu đó vậy.

Ở trước Đại Huệ đặt câu hỏi, Thế Tôn bài xích chung mà nói rằng “phi”, ý hiển bày vì trong lý chân như vốn không có việc này. Nay một phen đứng trong môn sanh diệt đem năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã… mỗi mỗi khai thị, cho đến chân vọng nhất như, cứu cánh đã cùng cực.

Lại sắp nói rõ sanh diệt vốn như, để hiển không riêng Phật giới Như mà chúng sanh giới cũng như như. Vì Đại Huệ đã nghe pháp thân thường trụ, nên ở đây đặc biệt nêu lên pháp sanh diệt để hỏi. Vì pháp chân vọng không ra khỏi nhất tâm, nên Thế Tôn gom về Như Lai tạng để nêu ra.

Phật bảo Đại Huệ: Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó sẽ vì ông nói.

Phật bảo Đại Huệ: Tất cả pháp là thiện bất thiện vô ký, hữu vi vô vi, thế gian xuất thế gian, có tội không tội, hữu lậu vô lậu, thọ chẳng thọ

(Ngụy dịch: Pháp trong pháp ngoài. Đường dịch: Pháp có thọ, pháp không thọ).

Đại Huệ! nói giản lược thì tâm ý, ý thức và tập khí là nhân của năm thọ ấm, là tập khí tâm, ý, ý thức trưởng dưỡng (Đường dịch: Nếu chỗ cần yếu mà nói, thì pháp ngũ thọ uẩn do tập khí tâm, ý, ý thức làm nhân mà được tăng trưởng). Phàm ngu vọng tưởng thiện, bất thiện. Đại Huệ! tu tam-muội lạc, tam-muội chánh thọ hiện pháp lạc trụ, gọi là thiện vô lậu của hiền thánh (Đường dịch: Phàm ngu ở nơi đây mà sanh phân biệt, cho rằng thiện, bất thiện, thánh nhân hiện chứng tam-muội lạc trụ. Đây gọi là pháp thiện vô lậu).

✅ Đây nói về pháp thế xuất thế thánh phàm tất cả đều nương ngũ uẩn, thân tâm mà có.

Nghĩa là tất cả pháp, nói chung không ra khỏi thế, xuất thế gian thiện ác vô ký và pháp hữu vô, tâm cảnh, hữu lậu, vô lậu thôi.

Các pháp này dùng năm uẩn thân tâm làm nhân. Song, phàm ngu chấp năm uẩn này cho là thật có, nên cứ y cứ vào đó tạo ra các nghiệp tội hữu lậu về thiện ác, vô ký của thế gian.

Ngoại đạo không biết năm uẩn vô ngã nên vọng chấp cho là thần ngã, khởi lên kiến chấp có không, nên nói là sanh diệt.

Hàng thánh nhân xuất thế do sức tam-muội quán năm uẩn thân tâm này như huyễn như hóa, hiện trụ pháp lạc mà thành pháp thiện vô lậu, nên nói là không sanh diệt.

Chung cuộc đều chỉ một thân tâm năm uẩn, bởi do chỗ thấy không đồng nên có thánh phàm khác biệt.

Căn cứ trên chỗ thật mà luận thì thảy đều không lìa sanh diệt, gọi đó là sát-na. Vì sao? Vì đều chưa lìa tâm ý thức.

Nói rằng tâm Bồ-đề sanh, tâm sanh diệt diệt, cũng là sanh diệt; chỉ còn thấy có tâm sở đắc đều là sanh diệt, huống vọng chấp phân biệt. Song pháp sanh diệt này vốn tự vô sanh, vì sao? Vì đều chẳng lìa Như Lai tạng. Trong Như Lai tạng vốn không có đến đi mê ngộ sanh tử mà các pháp kia lại há có sanh diệt ư? Thế nên biết sát-na là vọng kiến vậy.

Đại Huệ! thiện bất thiện là tám thức, những gì là tám? Là Như Lai tạng tên là thức tạng, tâm, ý, ý thức và năm thức thân, chẳng phải chỗ ngoại đạo nói.

✅ Đây nói Như Lai tạng là nhân của thiện bất thiện, để hiển sanh diệt vốn chẳng sanh diệt.

Bởi đoạn trên nói các pháp sanh diệt không ngoài thiện và bất thiện, nay nói pháp thiện ác đều là tám thức. Tám thức tức Như Lai tạng, mà Như Lai tạng vốn chẳng sanh diệt, tức là tám thức kia tuy sanh diệt mà cũng chẳng sanh diệt.

Vì sao? Vì Như Lai tạng tùy theo huân biến của duyên nhiễm và tịnh. Nếu vô minh huân chân như, Như Lai tạng theo duyên nhiễm mà khởi, tức gọi là tám thức mà có sanh diệt. Nếu chân như nhuần vô minh thì Như Lai tạng theo duyên tịnh mà khởi, tức tám thức tên Như Lai tạng mà không sanh diệt.

Thế là nhiễm tịnh tùy duyên khởi diệt tự nơi khác, mà Như Lai tạng tánh trạm nhiên thường trụ, trọn không có tướng sanh diệt thiện ác khứ lai. Đây không phải chỗ biết của ngoại đạo.

Luận Khởi Tín nói: “Y cứ vào vô minh huân tập khởi lên thức, chẳng phải phàm phu có thể biết, cũng không phải chỗ biết của trí tuệ Nhị thừa, cho đến Bồ-tát ở địa vị rốt ráo không thể biết hết.

Chỉ có Phật mới biết tận cùng, vì sao? Tâm ấy từ xưa đến nay tự tánh thanh tịnh mà có vô minh, vì vô minh nhiễm nên có tâm nhiễm kia, tuy có tâm nhiễm mà thường hằng bất biến.

Cho nên nghĩa này chỉ Phật mới có thể biết. Lại nói: Nghĩa huân tập có hai thứ: Một là căn bản huân tập vì nghĩa hay thành tựu nghiệp thức, hai là sở khởi kiến ái huân tập vì nghĩa hay thành tựu phân biệt sự thức”.

Thế nên ở Đây nói Như Lai tạng tên là thức tạng, tâm ý ý thức và năm thức thân. Song, trước nói sanh diệt là các thức, nay đến chỗ này nói không sanh diệt cũng là các thức, vì thức tạng tức Như Lai tạng.

Đại Huệ! năm thức thân ấy, tâm, ý, ý thức, chung thiện và bất thiện cùng lần lượt biến hoại, tiếp nối lưu chú, thân bất hoại sanh, cũng sanh cũng diệt (Đường dịch: Thể vô dị sanh, sanh rồi liền diệt. Không biết tự tâm hiện, thứ lớp diệt, thức khác sanh, hình tướng sai biệt nhiếp thọ).

✅ Đây nói trạng thái sanh diệt của năm thức trước.

Tâm ý ý thức chung, nghĩa là khi tiền ngũ thức khởi, mỗi mỗi không tự tánh, ắt phải nương đệ lục ý thức đồng thời khởi.

Song ý thức phải nương đệ thất thức ý căn, mà đệ thất thức thì nương trong và ngoài chuyển.

Nếu khi nương vào bên ngoài cùng với đệ lục thức chuyển, ắt bên trong nương vào đệ bát thức làm căn bản y, vì đệ thất thức vô thể.

Nên nói khi năm thức khởi ắt cùng tâm, ý, ý thức đồng thời mà chuyển, nên làm thiện làm ác lần lượt biến hoại, tiếp nối lưu chú, sanh diệt không ngừng.

Song vì đều chẳng lìa tự chứng phần của đệ bát thức, tuy mỗi mỗi rõ biết tự cảnh mà không sanh thể khác, nên nói thân bất hoại sanh.

Đã không sanh thể khác, thì tuy sanh mà không sanh, nên nói sanh rồi liền diệt. Nghĩa là chính khi sanh tức diệt, nên bài kệ sau nói vật sanh ắt có diệt.

Đây là hiển bày ý vô sanh chân thật. Chỉ do không biết tự tâm hiện, vọng thấy sanh diệt sai biệt chấp thủ.

Kỳ thật vốn tự vô sanh. Thứ lớp diệt, thức khác sanh đó là khi năm thức một niệm tối sơ tiếp cảnh chưa có phân biệt, gọi là hiện lượng.

Khi niệm thứ hai có phân biệt đẹp xấu, tiền ngũ thức đã dứt, liền thuộc đệ lục minh liễu ý thức, khởi tâm phân biệt hình tướng tốt xấu sai biệt mà sanh chấp thủ, nên nói thứ lớp diệt, thức khác sanh.

Ý thức, năm thức, cùng tương ứng sanh, sát-na chẳng trụ gọi là sát-na.

✅ Đây nói về trạng thái sanh diệt của đệ lục thức.

Bởi ý thức không tự sanh, phải đợi khi ngũ thức duyên cảnh rồi ý thức đồng thời tương ứng mà khởi, nên Đường dịch rằng: “Cùng năm thức kia chung, chấp giữ các hình tướng sai biệt, sát na chẳng trụ, ta gọi đây là pháp sát-na”.

Do đây xem xét năm thức, thức thứ bảy, thức thứ tám đều vốn bất sanh. Chỗ lý do sanh diệt chỉ là ý thức thôi.

Nên hai quyển trước trong chương Niết Bàn nói: thức vọng tưởng diệt gọi là Niết-bàn. Đối chiếu văn đây và văn trước để xem xét, tự sẽ thấy rõ được ý chỉ thâm sâu.

Đại Huệ! sát-na tên là thức tạng Như Lai tạng (Ngụy dịch: A-lê-da thức tên là Như Lai tạng. Đường dịch: Như Lai tạng tên là thức tạng) ý câu sanh thức tập khí sát-na, tập khí vô lậu chẳng phải sát-na; chẳng phải chỗ biết của phàm ngu. Vì chấp trước luận sát-na, không biết tất cả pháp sát-na chẳng phải sát-na, do đoạn kiến nên hoại pháp vô vi.

Đây là chánh hiển sanh diệt vốn chẳng sanh diệt, để rõ nghĩa bất biến tùy duyên tùy duyên bất biến.

Ý rằng, nói sát-na đó chẳng phải cái gì khác, chính là thức tạng vậy. Thức tạng tức Như Lai tạng, song Như Lai tạng đã chẳng phải sát-na, thì thức tạng lại há là sát-na ư? Thế là sát-na chẳng phải sát-na, đủ biết sanh diệt vốn chẳng sanh diệt.

Bởi sanh diệt kia chẳng phải thức tạng mà là đệ lục thức trong thất thức câu sanh, nó bị nhiễm ô bao trùm vì huân biến của tập khí hữu lậu mà tự sanh diệt. Thế là sanh thì theo duyên sanh, diệt theo duyên diệt, cùng với tạng thể của ta rõ ràng không can thiệp, nên nói ý câu sanh thức tập khí sát-na.

Nếu đem tập khí vô lậu huân vào thì sanh diệt kia cũng là bất sanh diệt, nên nói tập khí vô lậu chẳng phải sát-na.

Nhưng điều này chẳng phải phàm phu biết được. Do họ chấp trước về luận sát-na, do họ không biết tất cả pháp sát-na vốn chẳng phải sát-na, nên vọng chấp chân như vô vi cùng đồng các pháp hoại diệt, nên rơi vào đoạn kiến sát-na.

Ngụy dịch văn tuy không hay mà nghĩa rõ ràng. Họ nói: “Sát-ni-ca tên là Không, A-lê-da thức tên là Như Lai tạng, vì không chung với huân tập của ý chuyển thức nên gọi là không”. Điều này phù hợp với luận Khởi Tín nói về nghĩa thứ nhất và thứ hai trong bốn nghĩa của thể tướng giác. Luận nói: “Thể tướng giác có bốn nghĩa lớn cùng hư không đồng, cũng như gương sáng sạch.

Thế nào là bốn? Một là gương như thật không, xa lìa tất cả tướng cảnh giới tâm thức, không pháp nào có thể hiện, vì không phải nghĩa giác chiếu. Hai là gương nhân huân tập, nghĩa là như thật bất không, tất cả cảnh giới thế gian thảy hiện trong đó, không ra không vào, không mất không hoại, thường trụ nhất tâm, vì tất cả pháp tức là tánh chân thật.

Lại tất cả pháp nhiễm lại không thể làm nhiễm, vì trí thể bất động, đầy đủ vô lậu huân chúng sanh vậy. Bản Ngụy dịch Không cùng huân tập với ý chuyển thức, tức là trong luận nói xa lìa tất cả tướng cảnh giới tâm. Đem điều này đối chiếu đủ biết sanh diệt vốn chẳng sanh diệt.

Đại Huệ! thất thức chẳng lưu chuyển, không thọ khổ vui, chẳng phải là nhân Niết-bàn.

Đại Huệ! Như Lai tạng thọ khổ vui chung với nhân, hoặc sanh hoặc diệt, tử trụ địa vô minh trụ địa làm say, phàm ngu không giác ngộ, thấy sát-na, vọng tưởng huân tâm.

✅ Đây giải thích về nghĩa sanh vốn bất sanh ở trên.

Bình thường đều nói thất thức sanh diệt lưu chuyển đưa đến sanh tử. ✅ Đây nói thất thức không lưu chuyển, chính là hiển bày nghĩa thâm sâu của vô sanh. Thất thức sở dĩ không lưu chuyển vì không tự tánh.

Bởi các pháp sanh tử khổ vui thiện ác, người tạo tác là tiền lục thức, mà thọ huân trì chủng đến quả vị lai là thức thứ tám.

Còn thức thứ bảy không tạo không thọ nên không thể làm nhân sanh tử. Huống ngay sanh tức diệt nên không lưu chuyển.

Đã không thể làm nhân sanh tử, lại há có thể làm nhân Niết-bàn? Đã không thể làm nhân nhiễm tịnh ắt không tự tánh, điều này rõ ràng. Tự tánh đã không, ai sẽ chịu sanh diệt.

Song Như Lai tạng thanh tịnh, vốn chẳng sanh diệt không thọ khổ vui, chẳng phải nhân sanh tử, nay nói thọ khổ vui chung với nhân, hoặc sanh hoặc diệt, e rằng không phải Như Lai tạng.

Đó là tứ trụ phiền não, và duyên vô minh, bị những thứ này làm say nên có khổ vui cùng sanh tử chung vọng có sanh diệt. Tạng tánh này thể hằng thanh tịnh trạm nhiên thường trụ, sao lại thường có tướng sanh tử khổ vui sanh diệt?

Thế là xét kỹ trong ngoài, rõ biết rốt ráo không sanh diệt, mà phàm ngu không biết nghĩa này, vọng khởi kiến chấp sát-na, đó là vọng tưởng huân tâm, chẳng phải minh trí. Sau đây dùng dụ để rõ.

Lại nữa Đại Huệ! như vàng, kim cang, xá-lợi của Phật có tính chất kỳ đặc, trọn không tổn hoại.

Đại Huệ! nếu được vô gián (Ngụy dịch: Như Lai chứng pháp. Đường dịch: Nếu đắc các pháp) có sát-na, thánh đáng lẽ chẳng phải thánh, mà thánh chưa từng chẳng phải thánh, như vàng, kim cang, tuy trải qua nhiều kiếp, xứng lượng không giảm, tại sao phàm ngu không hiểu rõ lời nói ẩn mật của ta, đối với các pháp trong ngoài khởi tưởng sát-na.

Đây dùng thí dụ để kết thành tướng cứu cánh tịch diệt.

Nghĩa là Như Lai tạng tự tánh cứng chắc thanh tịnh, tuy ở trong sanh tử mà thể thường chẳng hoại như kim cang, xá-lợi Phật, vì được tính chất kỳ đặc.

Tất cả chư Phật chứng đó, dùng làm tự giác thánh trí vô thượng Niết-bàn, nơi tất cả chúng sanh được đó mà làm tâm tánh, gọi là pháp thánh phàm bình đẳng vô gián.

Nếu chúng sanh được tánh vô gián này lại có sanh diệt, thì thánh nhân được tánh vô gián này cũng chẳng phải thánh nhân.

Nay thánh nhân đã được đó chưa từng chẳng phải thánh, mà phàm phu được đó lại há là phàm phu thật ư?

Song tánh này đã như kim cang, tuy trải qua kiếp số xứng lượng không giảm, há có thể nơi thánh có tăng, nơi phàm lại giảm ư?

Đã thánh phàm bình đẳng, tại sao nơi một pháp lại có sanh diệt, nên nói tại sao người ngu không hiểu rõ lời nói ẩn mật của ta, đối với tất cả pháp trong ngoài khởi tưởng sát-na.

Kinh này chỉ thẳng nghiệp thức của chúng sanh chóng hiển bày Như Lai tạng tâm, nên từ quyển ban đầu chương sanh diệt dẫn khởi, những lời bàn luận biện rõ tà chánh nhân quả, đều y cứ vào sự mê ngộ của thức thứ tám mà lập.

Đến đây chỗ hiển bày hạnh lý nhân quả đã tột cùng, nên lại kết thúc quy về Như Lai tạng thức tạng.

Nay nói thức thứ tám vốn chẳng sanh diệt để nêu lên bình đẳng như như, để hiển từ cửa sanh diệt vào cửa chân như, hội quy nhất tâm để làm cứu cánh.

Đây là ý chỉ bao quát, nên sau đây lại nói về tu vốn vô tu vô đắc, chỉ pháp thân lìa lỗi, để kết thúc chỗ nói ra.

Về sau, trong phần văn kệ nói không, vô thường, sát-na lẽ ra thuộc về phần này, mà người dịch để lầm, người xem hiểu chỗ này thì lý càng sáng tỏ.

  • Trên hiển tướng sanh diệt bình đẳng xong.

  • Dưới nói lục độ để chỉ tướng diệu hạnh vô tu.

C₆ - Nói lục độ để chỉ tướng diệu hạnh vô tu

Đại Huệ bạch Phật rằng: Thế Tôn! Như Thế Tôn nói lục ba-la-mật đầy đủ được thành chánh giác. Những gì là lục? (Hai bản dịch đều có câu “Thế nào là đầy đủ?”)

✅ Đây nói rộng về Lục độ để chỉ bày diệu hạnh vô tu vô đắc, để thành tựu nghĩa bình đẳng trên.

Nhân ở trước một phen nói: “Chỉ biết rõ tự tâm hiện lượng, chứng tự giác thánh trí, tức gọi là Phật.”

Thế là không cần nhiều kiếp rộng tu Lục độ. Tại sao Thế Tôn ở nơi các kinh khác thường nói đầy đủ Lục độ mới được thành Phật? Đây là thánh giáo tương vi.

Chỉ không biết những gì là Lục độ, nay nói thành Phật như thế nào đầy đủ, nên nêu câu hỏi này.

Sau đây Thế Tôn đáp có ba thứ Lục độ, tức ở Đây nói mãn túc đó, vì một niệm đốn tu cũng chẳng cần trải qua nhiều kiếp, để rõ vô tu vô đắc, để chỉ cứu cánh trí như như.

Phật bảo Đại Huệ! ba-la-mật có ba thứ phân biệt, nghĩa là thế, xuất thế gian, xuất thế gian thượng thượng.

Đại Huệ hỏi Phật những gì là Lục độ mà Thế Tôn đáp có ba thứ. Thế gian tức hạnh của trời người, xuất thế gian tức hạnh của Nhị thừa, xuất thế gian thượng thượng là hạnh nhất thừa.

Đại Huệ! thế gian ba-la-mật, ngã ngã sở nhiếp thọ chấp trước, nhiếp thọ hai bên, vì thọ sanh các chốn ưa thích sắc, thanh, hương, vị, xúc nên đầy đủ Đàn ba-la-mật (Đường dịch: Nghĩa là các phàm ngu chấp trước ngã ngã sở, chấp giữ hai bên, vì mong cầu các thân hình, tham các cảnh sắc… như thế mà tu hành Đàn ba-la-mật).

Các độ giới, nhẫn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ cũng như thế.

Phàm phu thần thông mà sanh Phạm thiên.

✅ Đây nói về Lục độ hữu lậu thế gian.

Nghĩa là phàm ngu chấp tướng tu hạnh bố thí, bèn chấp có ta hay thí, chấp có vật được thí, căn cứ vào hai kiến chấp có không, để cầu vị lai thọ sanh cõi nhân thiên thù thắng, là cảnh giới lục trần đầy đủ ngũ dục mà hành bố thí, cho đến giới…

Năm độ kia cũng như thế. Do nhân hữu lậu cảm quả hữu lậu, nên được sanh Phạm thiên, được ngũ thông của phàm phu, không lìa sanh tử, nên xưng là thế gian.

Vĩnh Gia nói: “Trụ tướng bố thí phước sanh thiên, cũng như ngửa mặt bắn hư không, sức hết tên lại rơi xuống đất, cảm đến đời sau bất như ý”, là đây vậy.

Đại Huệ! xuất thế gian ba-la-mật, Thanh văn Duyên giác vì rơi vào nhiếp thọ Niết-bàn, thực hành lục ba-la-mật, vui với cái vui Niết-bàn tự kỷ.

✅ Đây nói Lục độ của Nhị thừa.

Nghĩa là hàng Nhị thừa vì chán bỏ sanh tử, ưa hướng Niết-bàn, cầu nơi tự độ, tu tập sáu hạnh vô lậu yếu kém, nên không được làm Phật, vì trước tướng Niết-bàn vậy.

Xuất thế gian thượng thượng ba-la-mật, vì giác tự tâm hiện vọng tưởng lượng nhiếp thọ, và hai pháp tự tâm, không sanh vọng tưởng, đối với các nẻo thọ sanh không có phần, không chấp trước tự tâm sắc tướng, vì an lạc tất cả chúng sanh nên phát sanh Đàn ba-la-mật, khởi phương tiện thượng thượng.

✅ Đây nói hạnh tối thượng nhất thừa đầu tiên là bố thí độ.

Nghĩa là Đại Bồ-tát thấu rõ duy tâm hiện lượng, đối hai pháp trong ngoài của tự tâm khởi quán như thật, biết rằng chỉ là vọng phân biệt hiện.

Thực hành bố thí, khéo đạt tam luân không tịch, không khởi vọng tưởng về người thí, không sanh chấp trước về người nhận, không chấp giữ sắc tướng của vật thí.

Chỉ vì an lạc tất cả chúng sanh, mà thường hành bố thí, nên dùng sự xả bỏ chướng pháp tánh làm đàn độ.

Luận nói “Ở trong pháp chân như thâm giải hiện tiền, chỗ tu lìa tướng, vì biết thể của pháp tánh không có san tham, tùy thuận tu hành đàn ba-la-mật”.

Song đàn ba-la-mật có thể nắm trọn cả Lục độ.

Luận nói: “Nghĩa của đàn độ nhiếp trong Lục độ, sanh ra pháp vô úy”.

Trong đây bố thí, trì giới, nhẫn nhục gọi là tu hành trụ, nên nói phương tiện thượng thượng.

Tức nơi duyên chẳng lìa vọng tưởng, là Thi-ba-la-mật.

Đây là giới độ.

Phạn ngữ nói đủ Thi-la, Trung Hoa dịch là thanh lương, lại nói chỉ đắc, chính dịch là giới.

Gọi là giới ở đây chẳng phải có tướng tác trì, mà là tánh giới. Các độ khác cũng vậy, tức nơi duyên kia chẳng sanh vọng tưởng giới, nghĩa là đối với chỗ thí và thọ kia, tất cả cảnh duyên nhiễm tịnh, vọng tưởng không sanh ắt là tự tánh thanh tịnh.

Giới tướng như không, có gì là trì phạm, dùng tánh tịnh làm giới độ. Luận nói “Vì biết pháp tánh vô nhiễm, vì lìa lỗi ngũ dục, tùy thuận tu hành Thi-ba-la-mật”.

Tức nơi vọng tưởng kia không sanh nhẫn, biết nhiếp sở nhiếp, là Sằn-đề ba-la-mật.

Đây là nhẫn độ.

Phạn ngữ Sằn-đề, Trung Hoa dịch là An nhẫn, lại gọi là nhẫn nhục.

Do tâm hay an nhẫn cảnh bị nhục bên ngoài, nên gọi là nhẫn nhục.

Nghĩa là tức đối với chỗ trì phạm kia vọng tưởng chẳng sanh, dùng pháp vô sanh này, nhẫn chịu nơi tâm, là vô sanh nhẫn, chẳng phải gọi là nhẫn nhục.

Song vô sanh không phải là chỗ bị nhẫn, mà gọi là nhẫn vì biết năng thủ sở thủ tánh không tịch, dùng đây làm nhẫn độ vậy. Luận nói “Do biết pháp tánh không khổ, vì lìa sân não, tùy thuận tu hành Sằn-đề ba-la-mật”.

Đầu giữa cuối đêm, phương tiện tinh tấn, tùy thuận tu hành phương tiện, vọng tưởng không sanh, là Tỳ-lê-da ba-la-mật.

Đây là Tinh tấn độ.

Phạn ngữ Tỳ-lê-da, Trung Hoa dịch là Tinh tấn. Do xứng hợp như thật tu hành, đối với phương tiện tu hành cũng không khởi tưởng là phương tiện.

Kinh Pháp Hoa nói: “Chóng xả chấp hai bên là chân tinh tấn”, nên lấy đây làm Tấn độ. Luận nói: “Do biết pháp tánh không có tướng thân tâm, vì lìa giải đãi, tùy thuận tu hành Tỳ-lê-da ba-la-mật”.

Vọng tưởng thảy đều diệt, không rơi vào nhiếp thọ Niết-bàn của Thanh văn, là Thiền ba-la-mật.

Đây là Thiền độ.

Phạn ngữ nói đủ là Thiền-na, Trung Hoa dịch là Tu duy tu, chính dịch là Tịnh lự. Nghĩa là tâm ý ý thức vọng tưởng hết thảy đều diệt, mà dùng đại bi đại nguyện cứu độ chúng sanh.

Tuy được Niết-bàn mà không thủ chứng nên không rơi vào Niết-bàn của Thanh văn, vì thiền Nhị thừa có chấp thủ. Đây do không thủ Niết-bàn làm thiền độ. Luận nói “Do biết pháp tánh thường định, vì thể không loạn nên tùy thuận tu hành thiền ba-la-mật”.

Tự tâm vọng tưởng phi tánh, trí tuệ quán sát, không rơi vào hai bên, thân trước chuyển thắng mà không thể hoại, được tự giác thánh thú, là Bát-nhã ba-la-mật.

Đây là Trí độ.

Phạn ngữ Bát-nhã, Trung Hoa dịch là trí tuệ. Nghĩa là rõ biết tướng tam giới, từ tự tâm vọng tưởng hiện, chẳng phải thật có. Dùng trí tuệ quán sát, không rơi vào hai kiến chấp có không mà pháp thân chuyển thắng, biết rõ chỗ không sanh diệt mà không thể hoại, được vào tự giác thánh trí thú, dùng đây làm Trí độ. Luận nói “Vì thể pháp tánh sáng suốt, vì lìa vô minh, tùy thuận tu hành Bát-nhã ba-la-mật”.

Lục độ này, đều đứng về tánh mà tu. Hoa Nghiêm nói “Tâm thường không hòa hợp với tâm thế tục gọi là tinh tấn, bi trí đều có lợi cho đời, không đi chung với thức, gọi là thiền định, đã noi theo diệu trí của quả Phật xuất thế, gọi là trí tuệ, do đều xứng tánh mà tu, nên tu mà không tu”. Đây là chỗ một niệm đầy đủ vô thượng Bồ-đề, nên nói không có tướng sở đắc, đó là chỗ tu hành như thật.

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại ý trên bèn nói kệ:

Không, vô thường, sát-na

Ngu phu khởi vọng tưởng

Như sông, đèn, hạt giống

Mà khởi tưởng sát-na.

Sát-na dứt phiền loạn

Tịch tịnh lìa tạo tác

Tất cả pháp chẳng sanh

Ta nói nghĩa sát-na.

Vật sanh ắt có diệt

Không vì người ngu nói.

(Ngụy dịch: Mới sanh ắt có diệt)

Đây là tụng về nghĩa của chương sát-na trước. Người dịch lầm để ở đây.

Nghĩa là người ngu vọng tưởng phân biệt các pháp cho là thật có, chấp cho là thường. Nên Thế Tôn nói không, vô thường sát-na, như sông chảy, như ánh đèn, như hạt giống dời đổi nhanh chóng, sát-na không dừng để phá cái chấp của họ. Người ngu không biết rõ ý sâu kín, lại chấp ngôn thuyết cho là thật, rồi quyết định khởi tưởng sát-na. Đâu không biết pháp sát-na vốn chẳng phải sát-na, dứt động loạn, đương thể tịch tĩnh, lìa chỗ được tạo tác. Các ông vọng khởi cái thấy sanh diệt, vì tất cả pháp vốn tự vô sanh nên ta mới nói nghĩa sát-na. Song tất cả pháp ngay khi sanh liền diệt, đương thể vô sanh. Nghĩa vô sanh này, há có thể nói cho người ngu ư? Nên nói mới sanh liền có diệt, không vì người ngu nói. Lăng Nghiêm nói: “Ngay chỗ phát sanh liền theo đó diệt tận, huyễn vọng gọi là tướng, mà tánh kia thật là diệu giác minh thể”. Điều này há dễ nói cho người ngu ư?

Tánh vô gián tiếp nối

Bị vọng tưởng huân tập

Vô minh làm nhân kia

Tâm ắt theo đó sanh.

Cho đến sắc chưa sanh

Khoảng giữa có phần gì

(Ngụy dịch: Nếu vô minh làm nhân

Hay sanh ra các tâm

Cho đến sắc chưa sanh

Khoảng giữa nương đâu trụ).

Thứ lớp tiếp nối diệt

Tâm khác theo đó sanh.

(Ngụy dịch: Vừa sanh liền vừa diệt)

Khi không trụ nơi sắc

Duyên chỗ nào mà sanh

Vì theo kia mà sanh

Nhân sanh không như thật.

Làm sao không chỗ thành

Mà biết sát-na hoại.

(Đường dịch: Nếu duyên kia tập khởi

Nhân ấy ắt hư vọng

Nhân vọng thể không thành

Làm sao sát-na diệt.)

✅ Đây tụng lần lượt phát minh tâm cảnh vô sanh, để giải thích nghĩa sát-na chẳng phải sát-na.

Nghĩa là ba cõi trên dưới sáu đường qua lại, vốn từ chỗ rỗng không, không một vật, đương thể thường trụ, trọn không có mảy may tướng khởi diệt.

Nếu cho rằng tướng sanh diệt tiếp nối trong sáu nẻo, do sự huân tập của vọng tưởng, vô minh làm nhân, tâm theo cảnh kia mà có sanh diệt.

Đây cũng chẳng phải. Vì sao? Nếu quả có sắc cảnh làm duyên cho tâm, mới nói tâm theo đó sanh.

Nếu khi sắc chưa sanh thì tâm ấy lại trụ vào pháp nào mà sanh phân biệt? Nên nói: Cho đến sắc chưa sanh, khoảng giữa nương đâu trụ.

Thế thì chấp tâm từ cảnh sanh là vọng, nên Bát Nhã nói: “Không nên trụ sắc sanh tâm”.

Bởi không trụ sắc sanh tâm là vì vốn vô sanh, nếu cho rằng các pháp tiếp nối thứ lớp sanh diệt, mà các tâm tâm sở khác cũng nhân tùy theo cảnh giới kia biến diệt mà sanh, điều này không đúng. Vì sao? Nếu cảnh sắc ấy quả thật có trụ, mới có thể nói tùy theo cảnh kia sanh.

Còn các pháp kia ngay nơi phát sanh liền tùy chỗ diệt tận, tự thể vắng lặng, trọn không có các tướng sanh. Thế là sắc vốn không trụ, sắc đã không trụ, lại còn có pháp nào làm chỗ cho tâm duyên để sanh? Nên nói khi không trụ nơi sắc, duyên chỗ nào mà sanh. Đây ắt là chấp cảnh có sanh diệt là vọng.

Sắc đã không trụ, ắt cảnh vốn không sanh. Nếu nói rằng nhân theo cảnh vô sanh ấy mà sanh tâm, nhân này như con của gái đá, cũng thành hư vọng. Cho nên nói vì theo kia mà sanh, nhân sanh không như thật. Nhân đã hư vọng, thì thể được sanh chẳng thành tựu. Vì sao đối với chỗ chẳng thành mà vọng thấy có pháp sát-na sanh diệt ư? Do đây mà quán sát, lần lượt xét kỹ, tâm cảnh tịch nhiên, đây là lý do ta nói sát-na. Sở dĩ không sanh diệt, vì tâm cảnh không đến nhau, nên kinh Lăng Nghiêm nói: “Thí như nước trong sông, tranh nhau mà trôi chảy, các pháp không biết nhau, mỗi mỗi cũng như thế”.

Bậc tu hành chánh thọ

Kim cang, xá lợi Phật

Cung điện trời Quang Âm

Thế gian việc không hoại.

Trụ nơi chánh pháp được

Như Lai trí đầy đủ

Tỳ-kheo được bình đẳng

Vì sao thấy sát-na.

Càn-thát-bà, huyễn thủy…

Sắc không có sát-na

Nơi sắc không thật thảy…

Quán đó như chân thật.

✅ Đây nói các pháp vô sanh, chỉ có mắt trí mới thấy rõ, chẳng phải chỗ của vọng tưởng tà kiến có thể biết.

Nghĩa là bậc tu hành như thật, ở trong chánh định, quán thế gian mỗi pháp mỗi pháp chân thường, đương thể kiên cố, cũng như kim cang, xá-lợi, cung điện Quang Âm thiên, thường trụ không hoại, vì cõi trời Quang Âm nước lửa không đến.

Song, người tu hành dùng định tâm quán sát còn biết được như thế, huống gì hàng Bồ-tát Bát địa an trụ chánh pháp, đã được đầy đủ thánh trí của Như Lai, hàng Tỳ-kheo chứng chân như bình đẳng, làm sao còn thấy các pháp lại có tướng sát-na sanh diệt ư?

Vả lại, tất cả pháp xưa nay không thật, như thành Càn-thát-bà, như huyễn, không có sát-na sanh diệt.

Đã là không thật, tại sao người nghe ở trong chỗ chẳng thật vọng cho là chân thật chấp tứ đại chủng là hay tạo sắc? Đã là đại chủng không thật, tại sao nói là hay tạo? Đây đều là ngu phu vọng kiến.

Văn tụng trên đây, nên theo chương Sát-na mà quán sát, nghĩa ấy tự rõ.

Trên nói về tướng diệu hạnh vô tu đã xong.

Dưới rộng phá các nghi, hiển chung pháp thân lìa lỗi.

C₇ - Rộng phá các nghi, hiện chung pháp thân lìa lỗi

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Thế Tôn thọ ký A-la-hán được thành Vô thượng

chánh đẳng chánh giác, cùng các Bồ-tát bình đẳng không sai biệt. Tất cả chúng sanh pháp chẳng Niết-bàn, ai đến Phật đạo.

✅ Đây giải thích rộng các nghi, hiển bày chung pháp thân lìa lỗi.

Đại Huệ nhân những điều Thế Tôn đã nói lời lẽ rất trái nhau, e người sau không khéo hiểu mật ý sâu kín của Như Lai mà sanh nghi hoặc, nên ở đây mỗi mỗi nêu lên để làm sáng tỏ, để hiển bày pháp thân Như Lai hằng lìa các lỗi.

Những vấn đáp ở đây, chú xưa chia làm mười đoạn, nay xét kỹ mạch của từ ngữ và ý đáp, đối chiếu với hai bản dịch Đường-Ngụy, đều gom sáu đoạn nghi vấn trước thành hai đoạn, nên chỉ còn sáu nghi, mà ngữ ý vẫn liên tục.

Bởi Như Lai xuất thế, dùng thân khẩu ý tam luân ứng hợp, xa lìa các lỗi, nay trong sáu đoạn vấn đáp kia, chỗ thọ ký nói về thức lập bày bản tế… là khẩu nghiệp; kim cang hộ vệ gặp quỷ thọ báo… là thân nghiệp; không nói một chữ, thường định không tư duy quán sát… là ý nghiệp.

Do ba nghiệp thanh tịnh, nên chẳng phải thân hiện thân, không nói năng thị hiện nói năng, không suy nghĩ mà ứng hợp, không quán xét mà biết.

Đây chính là pháp thân biến khắp như trăng trong nước, không ra không vào nên hằng lìa các lỗi.

Cái nghi đầu tiên, Thế Tôn vì hàng Nhị thừa thọ ký làm Phật, không khác với Bồ-tát, bởi nhân ở chương lục độ, nói Thanh văn Duyên giác, vui với Niết-bàn của mình, tuy thực hành lục ba-la-mật, không thể thành Phật, đây tức là Nhị thừa và Bồ-tát khác nhau.

Vì sao ở trước, trong chương Bất định tánh, nói hàng Thanh văn ưa trụ tam-muội, sẽ được thân tối thắng của Như Lai?

Trong chương Diệt chánh thọ nói hàng Bồ-tát đệ lục địa cùng Thanh văn, Duyên giác đồng nhập diệt chánh thọ? Đây lại là Bồ-tát và Nhị thừa không khác.

Song Nhị thừa đã có phần thành Phật, vì sao trong chương sát-na, lại nói thất thức không lưu chuyển, không thọ quả khổ, chẳng phải nhân của Niết-bàn? Thức thứ bảy là thức của tất cả chúng sanh, đã nói không phải là nhân của Niết-bàn thì chúng sanh tuyệt không có phần thành Phật, mà hàng Nhị thừa cũng là chúng sanh. Đã là pháp chúng sanh không đến Niết-bàn, thì ai là người đến Phật đạo?

Từ khởi đầu thành Phật đến nhập Niết-bàn, ở trong khoảng giữa không nói một chữ, cũng không chỗ đáp, vì Như Lai thường định, cũng không suy nghĩ, cũng không quán sát, hóa Phật hóa làm Phật sự.

Trong đây lần lượt gồm có ba nghi, mà sau đây văn đáp hợp lại một nghĩa.

Nghĩa là trong chương Tứ đẳng, nói Như Lai có sáu mươi bốn thứ Phạm âm vì chúng sanh nói pháp.

Vì sao trong chương Bổn trụ lại nói từ buổi đầu thành Phật đến nhập Niết-bàn, trong khoảng giữa không nói một chữ mà trong chương Hằng sa lại nói Như Lai tịch nhiên, không có niệm tưởng.

Thế là tâm Như Lai thường ở tại định, không suy nghĩ không quán xét. Vả lại thuyết pháp là ý ngôn phân biệt, sao lại dùng nhiều thứ âm thanh mà thuyết pháp?

Trong chương Tứ đốn nói: Pháp thân Phật là lìa tâm tự tánh, nay không suy nghĩ không quán xét mà hay thuyết pháp ắt là Pháp thân Phật thuyết pháp, cớ sao lại nói hóa Phật hóa làm Phật sự?

Đây ắt là cái nghi này kéo theo cái nghi khác, nên mong Phật xác biệt.

Đây là kết hợp với chú giải xưa, ba nghi vấn gồm lại một.

Tại sao nói thức sát-na lần lượt tướng hoại.

Đây là nghi thứ ba.

Trong chương Sát-na nói thất thức không lưu chuyển, cớ sao lại nói năm thức thân tâm ý ý thức đều có tướng thiện bất thiện, lần lượt biến hoại tiếp nối lưu chú?

Lực sĩ kim cang thường theo hộ vệ.

Đây là nghi thứ tư, trong chương Hằng sa nói pháp thân Như Lai vượt qua sự trông mong thế gian, đó là tướng không thể thấy, lực sĩ kim cang lại theo hộ vệ cho ai?

Sao không lập bày bản tế?

Đây là nghi thứ năm.

Trong chương Hằng sa nói bản tế sanh tử không thể biết. Bản tế là bắt đầu, giải thoát là cuối cùng.

Đã không biết khởi đầu bản tế, vì sao lại nói chúng sanh được giải thoát rốt sau?

Chúng sanh đã được giải thoát, là có bản tế có thể biết, sao không lập bản tế?

Hiện ma ma nghiệp, quả báo ác nghiệp, Chiến-già ma-nạp, nữ nhân Tôn-đà-lợi, ôm bát không về, chướng ác nghiệp hiện, vì sao Như Lai được nhất thiết chủng trí mà không lìa các lỗi ấy?

Đây là nghi thứ sáu.

Bài kệ chương Hằng sa nói: “Quán sát các Như Lai, thảy lìa tất cả lỗi”.

Khi Phật vừa mới thành đạo thiên ma đem bốn binh chủng mang khí giới rùng rợn đến gốc cây quấy nhiễu Phật. Đây là ma nghiệp.

Bà-la-môn nữ Chiến-già dùng khúc gỗ độn bụng, với nữ ngoại đạo Tôn-đà-lợi cùng phỉ báng Phật. Phật cũng đã từng vào làng Ta-lợi-na, đi quanh các nhà khất thực không có ai cúng, phải mang bát không về. Đến như ăn lúa ngựa, đau đầu, đau lưng, giáo đâm chân, Điều-đạt xô núi đè Phật, bày chuyện voi say, cơm độc, hầm lửa, đây đều là ác nghiệp chướng hiện, không thể kể hết, đều là lỗi ác.

Vì sao nói Như Lai thảy lìa các lỗi? Vì hai bản dịch chia câu hỏi ác nghiệp ra làm hai. Nay cùng hợp làm một.

Phật bảo: Đại Huệ! Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật rằng: Lành thay Thế Tôn! Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo: Đại Huệ! Vì vô dư Niết-bàn, vì dẫn dụ sách tấn người hành Bồ-tát hạnh.

Những người tu Bồ-tát hạnh ở đây và ở thế giới khác, ưa Niết-bàn của Thanh văn thừa, vì khiến họ lìa Thanh văn thừa tấn hướng Đại thừa, hóa Phật thọ ký cho Thanh văn, chẳng phải là pháp thân Phật.

Đại Huệ! nhân đây nên thọ ký cho Thanh văn và Bồ-tát không khác.

Đây là đáp câu hỏi thứ nhất.

Nghĩa là sở dĩ thọ ký cho Nhị thừa, có hai ý. Một, vì hàng Thanh văn tự chấp giữ Niết-bàn hữu dư, nay muốn sách phát tiến lên Đại thừa, để chứng Niết-bàn vô dư.

Hai, vì hàng Bồ-tát sơ tâm sợ hãi Đại thừa, tự sanh thối lui, ưa hạnh Thanh văn, cũng khiến bỏ tiểu hướng đại.

Có hai ý này nên vì hàng Nhị thừa thọ ký thành Phật, đây là phương tiện thi vi của hóa Phật, chẳng phải pháp thân Phật.

Nhân đây nên nói Thanh văn cùng Bồ-tát không khác. Văn sau giải thích lý do không khác.

Đại Huệ! không khác đó là Thanh văn, Duyên giác, các đức Phật Như Lai, phiền não chướng đoạn, một vị giải thoát, chẳng phải trí chướng đoạn.

Đại Huệ! trí chướng là thấy pháp vô ngã, thù thắng thanh tịnh, phiền não chướng là tập khí ban đầu kiến chấp nhân vô ngã đoạn, thất thức diệt, pháp chướng giải thoát, tập khí thức tạng diệt, rốt ráo thanh tịnh.

✅ Đây giải thích lý do Nhị thừa không khác Bồ-tát.

Nghĩa là Nhị thừa sở dĩ không khác Bồ-tát, vì Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát là quả Phật tạng giáo đồng đoạn phiền não chướng chứng nhân vô ngã, chỗ đắc chỉ là không, Niết-bàn không sai biệt, chẳng phải đoạn trí chướng chứng pháp vô ngã. Thiên Thai giáo nói: “Cùng trừ tứ trụ, chỗ này thì ngang hàng, nếu hàng phục vô minh, hàng tam thừa ắt kém”, nên nói Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Như Lai phiền não chướng đoạn một vị giải thoát, chẳng phải trí chướng đoạn. Nếu trí chướng đoạn thì được thanh tịnh thù thắng chân thật, vì chỗ chứng của hàng Nhị thừa, kém về mặt vô lậu. Phiền não chướng là tập khí ban đầu, tập khí ban đầu là sanh nhân của ba cõi, nhuận sanh vô minh và chi mạt vô minh tức kiến hoặc tư hoặc. Hàng Nhị thừa chứng lý ngã không, đã đoạn sanh nhân trong ba cõi, không còn Phần đoạn sanh tử, nên nói tập khí ban đầu kiến chấp nhân vô ngã đoạn. Song phiền não chướng đoạn, chỉ diệt tiền lục thức, chỉ chỗ nay cùng Bồ-tát đồng, nếu thất thức diệt, ắt phần đoạn căn bản vô minh, mới được giải thoát pháp chướng. Nếu chủng tử sanh tướng vô minh trong tạng thức diệt sạch, mới được cứu cánh thanh tịnh, đây chẳng phải chỗ biết của Nhị thừa.

Do vì nhân nơi pháp bổn trụ, trước sau chẳng phải tánh, vì không tận bổn nguyện, nên Như Lai không suy nghĩ không quán xét mà diễn nói pháp, vì chỗ chánh trí giáo hóa, vì chẳng quên niệm.

Không suy nghĩ không quán xét, vì tập khí tứ trụ địa vô minh trụ địa đoạn dứt, hai phiền não đoạn, lìa hai thứ tử, biết nhân pháp vô ngã, và hai chướng đoạn.

Đây đáp về câu hỏi thứ hai.

Trước hỏi Thế Tôn từ khi mới thành Phật cho đến khi Niết-bàn khoảng giữa không nói một chữ. Phật nói rằng sở dĩ không nói đó vì ta chứng pháp bổn trụ.

Bởi, pháp bổn trụ là thật tướng các pháp, dù có Phật hay không Phật, pháp giới vẫn thường trụ, thường trụ thì không có trước sau, không trước sau thì không có tướng thành Phật và tướng Niết-bàn, nên nói trước sau chẳng phải tánh.

Mé trước mé sau dứt, vắng lặng không sanh, niệm lự hằng dứt lại còn có pháp nào để nói ư? Song ở trong chỗ không thể nói mà có nói, chỉ vì chư Phật Như Lai tu nhân trong nhiều kiếp, do huân tập bổn nguyện vô tận phát khởi cứu hộ chúng sanh, ở trong pháp giới trạm nhiên, tâm định vắng lặng, không niệm lượng xét, ứng hợp căn cơ chúng sanh mà diễn nói pháp. Tức chỗ thuyết pháp, là từ chánh trí xứng tánh lưu xuất, không có vọng niệm, không đợi suy nghĩ sau mới nói.

Như Lai sở dĩ không nghĩ không lo, vì Như Lai từ lâu đoạn tận tập khí của ngũ trụ phiền não và hai thứ phiền não căn bản chi mạt, lìa hai thứ tử, biết nhân pháp vô ngã, hai chướng phiền não và sở tri vĩnh viễn vắng bặt.

Do các chướng dứt bặt, liền được chủng loại câu sanh vô hành, tác ý sanh thân, tự nhiên mà có bất tư nghì nghiệp dụng, mà có thể hiện Ứng hóa thân hóa làm Phật sự.

Đây là sở dĩ không nói mà nói, chẳng phải thân hiện thân, gọi là chân pháp của Như Lai.

Đại Huệ! tâm ý ý thức nhãn thức… bảy thức sát-na tập khí nhân, lìa phẩm thiện vô lậu, không còn luân chuyển.

Đại Huệ! Như Lai tạng luân chuyển, nhân khổ lạc Niết-bàn, không loạn ý huệ, ngu si phàm phu không thể biết.

Đây đáp câu hỏi thứ ba.

Trước nghi ở chương sát-na nói thất thức không lưu chuyển, vì sao nói năm thức thân tâm ý ý thức chung, tướng thiện bất thiện lần lượt biến hoại tiếp nối lưu chú? Đã nói thất thức biến hoại sát-na không trụ, tức là lưu chuyển.

Chỉ có một thất thức cớ sao nói lưu chuyển, lại nói không lưu chuyển?

Nay ý Phật trả lời rằng: tâm… thất thức, sở dĩ nói lưu chú do tiền thất thức vốn không tự tánh, chỉ do Như Lai tạng bị vô minh huân mà có tập khí.

Dùng cái huân tập này làm nhân, huân khởi cái bóng vọng tưởng của tiền thất thức, niệm niệm sanh diệt, sát-na chẳng trụ, nhân đây chỉ nói thất thức sanh diệt, chẳng nói lưu chuyển.

Nói lưu chuyển là thuận pháp tánh mà lưu nhập sanh tử, chuyển sanh tử thành Niết-bàn, làm cái nhân thiện và bất thiện cho thế và xuất thế.

Do đầy đủ công năng thù thắng này, có nghiệp dụng lớn, mới gọi là lưu chuyển.

Nay tiền thất thức chỉ làm nhân hữu lậu bất thiện cho thế gian, không thể làm nhân vô lậu thiện xuất thế cho nên ta nói không lưu chuyển.

Nên nói lìa phẩm thiện vô lậu nên lại không lưu chuyển.

Cho đến nói Như Lai tạng luân chuyển vì tự tánh thanh tịnh, thể chẳng sanh diệt, chỉ vì Như Lai tạng không tự tánh, tùy duyên chuyển biến, do nhận sự huân tập thiện bất thiện hữu lậu, ắt làm nhân khổ vui sanh tử trong sáu đường nhân thiên.

Nếu nhận sự huân tập pháp thiện vô lậu thuần tịnh ắt có thể làm cái nhân vui chân thật của Niết-bàn xuất thế.

Do đầy đủ nghiệp dụng chuyển biến như thế nên nói Như Lai tạng luân chuyển, nhân khổ vui Niết-bàn, không nương cái thâm ý bí mật này thì chẳng phải hàng tam thừa hiểu cạn, ngoại đạo ngu phu có thể biết được, nên nói không loạn ý huệ, ngu si phàm phu không thể biết.

Không loạn ý huệ là người mới bắt đầu tu Đại thừa, chưa đạt chân không, không có lòng tin quyết định.

Đại Huệ! được lực sĩ kim cang theo hộ vệ là hóa Phật, chẳng phải thật là Như Lai.

Đại Huệ! Như Lai chân thật, lìa tất cả căn lượng, tất cả căn lượng phàm phu Thanh văn Duyên giác và ngoại đạo đều diệt, được hiện pháp lạc, vì trụ pháp trí nhãn vô gián, chẳng phải được lực sĩ kim cang ủng hộ.

Tất cả hóa Phật không theo nghiệp thọ sanh, hóa Phật là chẳng phải Phật chẳng lìa Phật, nhân thợ gốm, bánh xe… tướng của chúng sanh tạo mà thuyết pháp, chẳng phải chỗ tự thông nói cảnh giới tự giác.

Đây đáp câu hỏi thứ tư.

Ý hỏi đoạn trước nhân chương Hằng sa nói pháp thân Như Lai vượt qua hy vọng thế gian, bèn nghĩ rằng vì sao lại có lực sĩ kim cang thường theo hộ vệ?

Nay Phật trả lời, được lực sĩ kim cang theo hộ vệ đó, là hóa Phật, chẳng phải là Phật thật.

Như Lai chân thật lìa tất cả căn lượng, vì dẹp hết tất cả căn lượng của phàm phu, Nhị thừa, ngoại đạo, nơi hiện pháp lạc an trụ pháp trí, dùng trí nhãn chiếu soi không gián đoạn, há cần kim cang ủng hộ ư? Vả lại tất cả hóa Phật không theo nghiệp thọ sanh, chẳng phải thật có sanh diệt, vì hóa Phật chẳng phải Phật, vì chẳng phải là chân thân, mà chẳng lìa Phật, vì do chân thân hiện ra.

Tuy ứng hợp căn cơ chúng sanh mà thuyết pháp, như thợ gốm dùng bánh xe nặn đồ gốm, chỉ là việc huyễn hóa của thế gian, chẳng phải là chỗ tự thông nói về cảnh giới tự giác của chân thân Như Lai vậy.

Đại Huệ! pháp chúng sanh không thể biết bản tế, do vì chẳng biết, nên nói bản tế chẳng thể biết.

Đại Huệ! vì muốn dứt tập khí vọng tưởng lưu chú của tâm ý ý thức, nên nói giải thoát, chẳng phải là diệt pháp.

Đây đáp câu hỏi thứ năm.

Ý hỏi trước nhân chương Hằng sa nói bản tế sanh tử không thể biết, bèn nghĩ rằng giải thoát là rốt sau, nếu không có cái đầu (bản tế) làm sao có cái cuối (giải thoát)?

Nay Phật đáp rằng: Sở dĩ nói bản tế chẳng thể biết, vì pháp chúng sanh (tâm cảnh) vốn từ vô sanh. Đã là vô sanh thì làm sao có bắt đầu, vì phàm phu không biết nên mới nói bản tế chẳng thể biết.

Nghĩa là bản tế ngay nơi đương thể vốn không, chẳng phải đợi tìm cái bắt đầu mà không thể biết.

Bởi do tâm ý ý thức huân tập vọng tưởng không dứt, gọi là lưu chú sanh tử, nay chỉ cần dứt sạch tập khí lưu chú này, gọi là giải thoát, chẳng phải là diệt sạch các pháp chúng sanh rồi sau đó mới gọi là giải thoát.

Đại Huệ! vì hàng phàm phu sợ tội lỗi, vì dẫn dắt họ, hóa Phật vì họ thị hiện có các lỗi.

Nay ý Phật đáp, Bản tế đó là thật tế lý địa. Bởi trong thật tế vốn không có sanh tử, làm sao có đầu cuối. Ta nói bản tế sanh tử không thể biết, là trách hàng phàm phu ngoại đạo chỉ tùy theo vọng tưởng sanh diệt, không biết mé thật, chẳng phải nói sanh tử có bản tế mà không thể biết.

Bởi vì người ngu kia y cứ thất thức chỗ niệm niệm diệt mà khởi lên đoạn kiến, không biết thức tạng. Chỉ theo chỗ tương tục lưu chú không đoạn mà khởi lên thường kiến.

Đây đều tự sanh vọng tưởng phân biệt nên không biết bản tế, chẳng phải nói sanh tử có đầu mối, chỉ là tự vọng tưởng kia diệt bèn là giải thoát, cũng chẳng phải Niết-bàn có sau cùng.

Tập khí vô minh trụ địa, tứ trụ địa đoạn dứt, nên tất cả lỗi đoạn.

Đây đáp câu hỏi thứ sáu.

Câu hỏi trước nhân chương Hằng sa nói Như Lai thảy lìa tất cả lỗi, bèn đưa những việc ma oán ác nghiệp quả báo làm chỗ nghi.

Nay ý Phật đáp, nói Như Lai lìa tất cả lỗi ấy vì tập khí của ngũ trụ phiền não rốt ráo đoạn dứt, song lại còn gặp ma nạn, đây là định nghiệp, việc này hiển thị thân kham nhẫn, điều phục chúng sanh cang cường, cần đầy đủ vô sanh pháp nhẫn, và sức từ tâm tam-muội.

Sở dĩ có quả báo ác nghiệp, do vì chúng sanh thị hiện định nghiệp khó trốn, thành Phật cũng không khỏi, muốn khiến chúng sanh tin rõ nhân quả, vì sắp khiến cho sợ quả mà dứt nhân, lìa đường sanh tử khổ.

Đây đều là quyền trí phương tiện của hóa Phật, thị hiện cùng chịu hoạn nạn như chúng sanh, chẳng phải là Như Lai thật có nghiệp ác báo ứng đầy đủ các lỗi lầm.

Vả lại do ngũ trụ phiền não vĩnh đoạn nên nói lìa lỗi, không phải nói chẳng thọ định nghiệp là lìa lỗi.

🪷

Lúc bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này bèn nói kệ:

Ba thừa cũng chẳng thừa

Như Lai không diệt mất

(Đường nói: Không có Phật Niết-bàn)

Chỗ khởi tất cả Phật

Nói lìa các lỗi ác.

Vì người trí vô gián

Và vô dư Niết-bàn

Sách tấn người căn kém

Nên nói cách ẩn phú.

Chư Phật chỗ trí khởi

Tức phân biệt nói đạo

Các thừa chẳng phải thừa

Kia tức chẳng Niết-bàn

GIẢI

✅ Đây tụng chung năm bài kệ, chỉ riêng một nghĩa thọ ký. Một bài kệ đầu, ý nói trong lý pháp giới vốn không có ba thừa, nên nói cũng chẳng phải thừa, pháp thân Như Lai cũng không nhập Niết-bàn, nên nói không diệt mất.

Song đã không có tam thừa cũng không Niết-bàn, mà nói không tất cả Thanh văn được Phật thọ ký, nhân vì nói hàng Nhị thừa có lỗi yếu kém, muốn khiến xả lìa tâm nhỏ hẹp, thú hướng đại đạo, rốt ráo được chủng trí vô gián chứng nhập vô dư Niết-bàn, dẫn dụ sách tấn những người hạ liệt, bỏ cái tưởng quen thân ấy.

Thế nên mật ý nói ẩn phú có Phật quả để thành khiến họ sanh vui vẻ, chẳng phải là thật có Niết-bàn để đợi họ chứng đắc.

Đây là phương tiện lập bày của quyền trí, nếu dùng thật trí căn bản là chỗ chứng của chư Phật, tức nương tự trí nói về đạo tự chứng chân thật, ắt là các thừa không phải thừa, bởi vì “trong mười phương cõi Phật, chỉ có một thừa pháp, không hai cũng không ba”.

Thế là chỗ chứng của hàng Nhị thừa không phải là Niết-bàn chân thật, rõ ràng vậy. Nên nói Chư Phật chỗ trí khởi, tức phân biệt nói đạo…

Dục, sắc, hữu và kiếnNói là tứ trụ địaChỗ khởi của ý thứcNhà thức chỗ ý trụ. Ý và nhãn thức thảyĐoạn diệt nói vô thườngHoặc khởi Niết-bàn kiếnMà vì nói thường trụ. Đây là phiền não chướng đoạn trong phần thọ ký, chẳng phải là ý nói tứ đoạn. Nói phiền não chướng là tứ trụ phiền não. Đó là dục ái trụ địa, sắc ái trụ địa, hữu ái trụ địa, kiến nhất thiết trụ địa. Bốn phiền não này là chỗ khởi của ý thức, là chỗ trụ vững chắc của đệ thất mạt-na nội huân bát thức, dùng làm chủng tử sanh tử, nên nói nhà thức chỗ ý trụ. Do vì tiền thất thức niệm niệm sanh diệt vô thường, mà lại thấy lại đoạn, do không biết Tạng thức lưu chú, mà lại cho là thường, bèn khởi kiến chấp Niết-bàn, nên ta nói kia chẳng phải Niết-bàn. Lời nói thường trụ này là chỉ ra vọng chấp của hàng Nhị thừa.

Nên Đường dịch: “Kiến, ý thức, nhãn… vô thường nên nói đoạn, mê ý tạm khởi thường, tà trí cho là Niết-bàn”.

Xem văn kệ này thì thấy văn nghĩa của bài tụng thọ ký cũng còn chưa đủ, ngoài ra ý của năm câu hỏi, cũng còn có tụng, hoặc văn kinh nói lược sơ vậy.

  • Trên ✅ Đây giải thích đầy đủ về các nghi để hiển bày pháp thân lìa lỗi đã xong.

  • Sau đặc biệt chỉ giới bổn chân tu Phật tánh để trình bày chúng sanh Phật bình đẳng.

C₈ - Đặc biệt chỉ giới bổn chân tu Phật tánh để trình bày chúng sanh Phật bình đẳng

🪷

Lúc bấy giờ Bồ-tát Đại Huệ dùng kệ hỏi Phật:

Các Bồ-tát kia thảy

Người chí cầu Phật đạo

Rượu thịt và tỏi nén

Ăn uống là thế nào?

Cúi xin Vô thượng tôn

Thương xót vì diễn nói

Chỗ người ngu tham trước

Xú uế không danh xưng.

Thú cọp sói thích ăn

Làm sao có thể ăn?

Ăn đó sanh các lỗi

Không ăn là phước lành.

Cúi xin vì con nói

Tội phước ăn, không ăn

GIẢI

Bồ-tát Đại Huệ nói kệ xong rồi lại bạch Phật rằng: Cúi xin Thế Tôn vì chúng con nói công đức và lỗi lầm của ăn và không ăn thịt. Con và các Bồ-tát ở đời hiện tại vị lai, sẽ vì những chúng sanh ưa thích ăn thịt mà phân biệt thuyết pháp khiến chúng sanh kia cùng hướng lòng từ, được từ tâm rồi, mỗi mỗi biết rõ trụ địa thanh tịnh (Đường dịch: Vì chúng sanh ở đời hiện tại vị lai không huân tập ăn thịt mà diễn nói, khiến bỏ được mùi vị thịt, tìm cầu pháp vị, khởi tâm đại bi với tất cả chúng sanh, lại thương yêu chúng sanh xem như con một, trụ địa vị Bồ-tát).

Chóng được vô thượng Bồ-đề rốt ráo, ngừng dứt địa vị Thanh văn Duyên giác rồi, cũng được chóng thành vô thượng Bồ-đề.

Đây là nhân ở trước Thế Tôn một phen khai thị lý hạnh nhân quả rốt ráo đã tột cùng, mà Đại Huệ đến đây đặc biệt thưa thỉnh về vấn đề ăn thịt, sắp sửa chỉ dạy cho hành giả tu như thật phải dùng tánh giới làm gốc.

Như kinh Lăng Nghiêm, phần tiến tu năm mươi lăm vị, ban đầu dùng ba loại tiệm thứ nêu lên trước. Than ôi! Chúng sanh sở dĩ thường ngủ mê trong sanh tử, chỉ vì bốn tội nặng căn bản là sát, đạo, dâm, vọng trói buộc khiến không thể ra khỏi.

Lăng Nghiêm đầu tiên đoạn dâm dục, kinh này chuyên đoạn dứt sát sanh, đều là trọng yếu của chân tu. Nhưng kinh này truyền sang chưa đủ, không thể thấy hết gương mẫu thanh tịnh của Như Lai.

Hoặc cho rằng, các kinh đề xướng ban đầu là đoạn sát, Lăng Nghiêm riêng nói đoạn dâm, bảo là chân tu lấy đoạn dâm làm gốc, lợi sanh dùng đoạn sát làm đầu, vì sao ✅ Đây nói chấm dứt ăn thịt là chân tu?

Tôi nói không hẳn vậy. Như Lai thuyết pháp tùy theo nguyên nhân của mỗi pháp hội, không cố chấp một lời nào.

Lăng Nghiêm nhân A-nan bị nạn nên dạy bảo đoạn dâm, ở kinh này nhân ở cung vua Dạ Xoa nên dạy lời đoạn sát, mỗi nơi đều tùy theo tánh huân tập nghiêng nặng mà dứt, chính là đau đâu lẻ đó.

Bởi do chúng sanh đắm trước ngũ dục, trầm luân sanh tử. Ngũ dục là tài sắc danh thực thùy, há có riêng sắc dục khiến người sanh tử, mà thực dục lại không đưa vào sanh tử ư? Trong ba tương tục của Lăng Nghiêm, dùng ba loại tham làm gốc, đó là tham dâm, tham sát, tham đạo.

Kia nêu tham dâm ra trước, mà ở đây chú trọng tham sát tham đạo. Bởi vì chúng sanh mạt thế, mê nơi chân tánh, mờ nơi đồng thể, ăn nuốt lẫn nhau, cùng giết hại nhau quá hơn La Sát. Thế nên Như Lai đại bi, đặc biệt nhân vua quỷ Dạ Xoa mà khai phát chỗ này.

Kinh kia (Lăng Nghiêm) đầu tiên nêu chánh tánh, kinh này trước trừ trợ nhân, trái hiện nghiệp, cùng là cần thiết cả. Song hiềm vì chưa được thấy chỗ luận bàn cùng tột, dẫn văn kinh phần trước nói Tất cả chúng sanh đều nhiếp thọ dục thực, không thể nhiếp thọ pháp thực, đây nói, Muốn khiến chúng sanh lìa bỏ vị thịt mà cầu vị pháp, đối với tất cả chúng sanh dùng lòng từ hướng đến, xem như con một.

Nếu không thấm sâu được pháp vị, ngộ tánh bình đẳng, cớ gì do không ăn thịt lại có thể trụ địa vị Bồ-tát, chóng chứng vô thượng Bồ-đề? Đây là chỉ dạy chân tu tánh giới, nhân quỷ vương mà phát khởi, không có gì để nghi. Hơn nữa nói rằng Thanh văn trụ Niết-bàn của mình, cũng nhân không ăn thịt mà có thể chóng được vô thượng Bồ-đề, há chẳng do tham Niết-bàn vị, chấp giữ lòng tham làm tổn hại pháp thân, trái với tự tánh bình đẳng đó sao? Nhị thừa nếu có thể xả dục vị này, ắt một niệm chóng chứng vô thượng Bồ-đề, thành Phật nhanh chóng không gì mau hơn đây. Chỗ tôi gọi là tánh giới này, thỉnh bậc trí xem kỹ.

Pháp luận tà ác (Đường dịch: Lộ-già-da…, Trung Hoa dịch là Thuận thế, hay là Bổ luận). Các phái ngoại đạo chấp trước tà kiến điên đảo đoạn thường còn có pháp ngăn không cho ăn thịt, huống là Như Lai cứu hộ thế gian thành tựu chánh pháp mà ăn thịt ư?

✅ Đây nói ngoại đạo tà kiến còn có sự cấm ngăn không cho ăn thịt, hà huống Như Lai là bậc đại bi dưỡng dục hàm linh, là chỗ nương tựa của thế gian, mà cho phép tự mình hay người khác ăn thịt ư? Biết rõ chỗ này ắt cần cấm chế đoạn dứt.

Phật bảo Đại Huệ: Lành thay! Lành thay! Lắng nghe, lắng nghe, khéo suy nghĩ đó, ta sẽ vì ông nói.

Đại Huệ bạch Phật: Xin vâng thọ giáo.

Phật bảo Đại Huệ: Có vô lượng nhân duyên không nên ăn thịt, nhưng nay ta sẽ vì ông nói sơ lược. Nghĩa là tất cả chúng sanh theo bản tâm mà đến, nhân duyên lần lượt thường làm lục thân quyến thuộc. Do tưởng thân quyến nên không nên ăn thịt (Đường dịch: Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến đây, luân hồi trong sanh tử không ngừng, đã từng làm cha mẹ anh em quyến thuộc nam nữ, cho đến là bằng hữu thân ái, người hầu cận sai khiến, vì khác đời mà thọ thân chim chóc, cầm thú… tại sao lại bắt chúng mà ăn?). Vì những loại thịt lừa, lạc đà, la, chồn, chó, trâu, ngựa, người, thú… đồ tể bán lẫn lộn nên không nên ăn hịt. Vì tăng trưởng khí tanh nhơ nên không nên ăn thịt. Vì chúng sanh nghe mùi đều sanh sợ hãi, như Chiên-đà-la (Đường dịch là Đồ tể) và Đàm-bà (Trung Hoa dịch là Người ăn thịt chó, hoặc Thợ săn).

Vì loài chó thấy rất ghét, kinh sợ đua nhau sủa, nên không nên ăn thịt. Lại vì khiến người tu không sanh tâm từ, nên không nên ăn thịt. Vì là chỗ phàm ngu ghiền ăn, hơi hám bất tịnh, không có danh xưng tốt, nên không nên ăn thịt. Vì khiến chú thuật không thành tựu, nên không nên ăn thịt. Vì người sát sanh thấy hình chúng sanh liền khởi tâm, đắm trước vị thịt, nên không nên ăn thịt. Người ăn thịt bị chư thiên chê xa lánh, nên không nên ăn thịt. Vì khiến hơi miệng hôi, nên không nên ăn thịt. Vì nhiều ác mộng, nên không nên ăn thịt. Vì ở trong rừng đồng vắng, loài cọp sói nghe mùi, nên không nên ăn thịt. Vì khiến người ăn uống vô độ, nên không nên ăn thịt. Vì khiến người tu không sanh nhàm lìa, nên không nên ăn thịt.

Ta thường nói rằng: Phàm khi ăn uống vì tưởng như ăn thịt con, tưởng như uống thuốc, nên không nên ăn thịt. Cho phép ăn thịt là điều không đúng.

Đây là những lời nói thậm tệ về lỗi ăn thịt.

Thật ra có vô lượng nhân duyên không nên ăn thịt, nay nói lược chỉ như thế. Trước tiên nói tất cả chúng sanh ở trong sanh tử đã từng làm cha mẹ anh em lục thân quyến thuộc bằng hữu tri thức, đây chính là pháp tánh bình đẳng, từ bi đồng thể. Dùng người thân mà quán chúng sanh, ắt không thứ thịt nào có thể ăn.

Dùng Phật tánh mà quán chúng sanh, ắt không có vật nào để chấp thủ. Không có vật để chấp thủ thì chúng sanh tướng không; không thứ thịt nào có thể ăn thì tự tánh thanh tịnh. Tướng không, tánh tịnh, đây là lý do tánh giới thành tựu, một niệm liền lên Phật địa. Lợi ích của không ăn thịt, đã có thể xa chứng Bồ-đề, còn tai hại của ăn thịt thì ngay đó đoạn dứt huệ mạng Phật, hằng tổn thiện căn. Do đây mà xem, như trên nói sơ lược về lỗi, còn đưa ra lời nói dễ tin nhận, là để ngăn sự kinh sợ của chúng sanh vậy.

Lại nữa, Đại Huệ! Đời quá khứ có một vị vua tên Sư Tử Tô-đà-sa, ăn các thứ thịt cho đến ăn thịt người, thần dân không chịu nổi bèn mưu phản, dứt hết bổng lộc vua. Do ăn thịt có lỗi như thế, nên không nên ăn thịt.

Đây là nói nặng về chỗ mê muội đồng thể, cho đến ăn thịt người, trái ngược chân tánh, nên phải chịu sự phản nghịch. Thuận nghịch do ta, theo đó mà có chống trái hay ứng hợp. Trong hai bản dịch có nói nhiều nhân duyên, cần hợp lại để xem.

Lại nữa, Đại Huệ! Phàm những người sát sanh vì tài lợi nên sát sanh bán thịt, chúng sanh ngu si thích ăn thịt, dùng tiền làm lưới để thâu tóm các thứ thịt (Ngụy dịch: Thế nên người mua và người giết không khác).

Người sát sanh hoặc dùng tài vật, hoặc dùng lưới câu, bắt các chúng sanh ở trên không, dưới nước, trên bờ, các thứ giết hại, người đồ tể buôn bán cầu lợi.

Đại Huệ! Cũng không thể có chuyện không bảo, không cầu, không tưởng mà có cá thịt. Do nghĩa này nên không nên ăn thịt.

✅ Đây nói nhân ăn thịt mà giúp cho nghiệp sát.

Người sát sanh vì lợi mà giết, người ăn thịt dùng tiền làm lưới, thế nên người ăn thịt nhiều thì người sát sanh cũng nhiều. Người sát sanh ngày càng tăng mà người ăn thịt nghiệp càng nặng. Vì vậy bán thịt và sát sanh tội như nhau. Tóm lại đều vì vọng tưởng tham cầu. Người sát sanh vì cầu lợi mà tưởng càng tăng, người ăn thịt vì tìm vị thịt mà tưởng càng mạnh, thế nên người sát sanh người ăn cùng xúi bảo nhau, cùng giúp cho việc ác đồng hành. Nên nói cũng không có không bảo, không cầu, không tưởng mà có cá thịt. Đây là ý do nghiệp ăn và nghiệp sát ngang bằng. Ngụy dịch: Ta xem thế gian không có thịt nào mà chẳng có mạng sống, nên ta nói tội của ăn thịt, đoạn dứt hạt giống Phật.

Đại Huệ! Có khi ta nói ngăn năm loại thịt, hoặc cấm chế mười thứ. Nay ở kinh này tất cả loại, tất cả thời, phương tiện khai trừ, tất cả đều chấm dứt.

✅ Đây nói về ý khai quyền hiển thật.

Phật dạy rằng: Ta ở trong các kinh khác, cũng từng cho phép ăn năm thứ tịnh nhục. Cấm giết mười loài sinh vật mà thôi. Nay thì tất cả đều chấm dứt, tất cả sanh mạng hoàn toàn không cho ăn. Vì sao? Vì ngày xưa căn cơ chưa thuần thục, chưa nêu nghĩa Phật tánh, tạm dùng phương tiện ngăn cấm để chuẩn bị thành tựu, vì muốn đợi thời. Nay thì chí nguyện của chúng thuần lương, thời nói pháp đã đến, nếu không chóng đoạn dứt ăn thịt, để hiển thị chủng tử Phật tánh, khiến họ thành tựu chỗ thật, ắt là ta dùng pháp Tiểu thừa độ người, tự rơi vào chỗ keo kiệt pháp. Việc này nhất định không được. Nên ta ở hội Lăng Già này, tất cả đều chấm dứt, không cho phép ăn thịt.

Năm thứ tịnh nhục là: Không thấy, không nghe, không nghi, chim ăn còn dư, tự chết.

Mười thứ thịt không cho ăn là: Người, rắn, voi, ngựa, rồng, chồn, chó, heo, sư tử, khỉ.

Đại Huệ! Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác còn không ăn, huống ăn cá thịt, cũng không dạy người. Dùng đại bi làm hạnh trước tiên, nên xem tất cả chúng sanh như con một (Đường dịch: Thanh văn, Duyên giác và các Bồ-tát còn chỉ có pháp thật, huống là Như Lai. Đại Huệ! pháp thân Như Lai chẳng phải thân tạp thực. Đại Huệ! ta đã tẩy trừ tất cả tập khí, ta đã khéo chọn các tâm trí tuệ, đại bi bình đẳng, xem khắp chúng sanh như con một, vì sao mà cho phép đệ tử Thanh văn ăn thịt, huống gì tự ăn). Cho nên không cho phép ăn thịt con.

Đây là Thế Tôn nói rộng lỗi ăn thịt, dùng đồng thể đại bi để tóm kết chỗ chỉ dạy.

Pháp thân Như Lai chẳng phải thân tạp thực, dùng pháp hỷ làm thức ăn, đây chính là muốn hành giả xa lìa thức ăn tham dục mà nhiếp thọ pháp thực. Sở dĩ tha thiết ngăn người tu hành chớ ăn huyết nhục chúng sanh, vì Như Lai xem tất cả chúng sanh như con một, mà con với cha mẹ khí phần đồng nhất.

Bởi do pháp thân lưu chuyển trong năm đường, gọi là chúng sanh, mà tất cả chúng sanh đều dùng pháp thân Như Lai làm thể, nên dùng đồng thể mà xem thì cũng như con một, không có chúng sanh.

Nếu ăn thịt chúng, há chẳng phải là người giết hại pháp thân, đoạn dứt huệ mạng ư?

Không ăn thịt thì tự tánh không giảm tổn, pháp thân thường trụ.

Việc cốt yếu thành Phật không gì mau hơn việc này.

Văn xuôi của chương Không ăn thịt, cả hai bản dịch rất nhiều, chánh văn của bản này so với bản Ngụy chỉ là một phần mười, so với bản Đường chỉ là ba phần mười.

Xem văn xuôi tuy sơ lược, nhưng văn kệ rất rõ ràng.

Sơ lược và rõ ràng cùng hỗ trợ nhau, bởi tài khéo hiểu nghĩa của người dịch, không phải lời của Như Lai có sơ suất.

Người xem đối với toàn bộ ba bản dịch, cần lấy nghĩa để hội vậy.

Bấy giờ Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này mà nói kệ:

Đều từng làm quyến thuộc

Thô nhơ lẫn bất tịnh

Do bất tịnh sanh trưởng

Nghe mùi đều sợ hãi

Đây là tụng khí phần bất tịnh đồng đẳng. Chính là văn xuôi rõ ràng, văn kệ sơ lược.

Tất cả thực cùng hành

Và các thứ tỏi nén

Các rượu buông lung

Tu hành thường xa lìa.

Cũng thường lìa dầu mè

Và các giường thủng lỗ

Do các trùng nhỏ kia

Trong ấy rất kinh sợ

Đây là văn xuôi đơn giản mà văn kệ rõ ràng. Hành hẹ tỏi nén là ăn sống sanh sân, ăn chín sanh

[328]

Hôi nhơ rất đáng ghét

Chỗ sanh thường ngu si.

Thường làm Chiên-đà-la

Dòng thợ săn Đàm-bà

Hoặc sanh Đà-di-ni

Và các dòng ăn thịt.

(Ngụy dịch: La Sát Nữ)

La Sát, mèo chồn thảy

Sanh trong những nơi ấy

✅ Đây nói ưa ăn thứ tanh hôi, chắc chắn đọa vào loại đó.

Tính chất như vậy. Phược tượng cùng đại vân Ương-quật-lợi Ma-la. Phược tượng, Ngụy dịch: Tượng dịch, Đường dịch: Tượng hiệp. Ương-quật-lợi Ma-la, Đường dịch: Ương-quật-ma. Đều là tên kinh.

Và kinh Lăng Già này

Ta đều cấm ăn thịt

Chư Phật và Bồ-tát

Thanh văn chỗ quở trách.

Ăn rồi không hổ thẹn

Đời đời thường si mù

Trước nói thấy, nghe, nghi

Nay dứt tất cả thịt.

Vọng tưởng chẳng giác tri

Nên sanh chỗ ăn thịt

✅ Đây nói Như Lai vốn không từng cho phép ăn tịnh nhục

Phật bảo rằng: Trước ta nói thấy giết, nghe giết, nghi giết, không cho phép ăn, mật ý đã là chấm dứt tất cả loại thịt, đều không phép ăn. Vì tất cả loại thịt đều không ra ngoài ba thứ giết hại này. Nói rằng không thấy, không nghe, không nghi giết, trừ ba việc này ắt không có thịt có thể ăn. Nhưng chúng sanh vọng tưởng vô tri, cho rằng Như Lai cho phép những thứ không thấy giết… là tịnh nhục, rồi sanh vọng tưởng có thể cho ăn.

Đây là rất ngu vậy.

[330]

Ăn thịt không từ huệ nghĩa là vì thương tổn đồng thể không có chánh tri kiến. Hằng trái chánh giải thoát nghĩa là vì không tùy thuận pháp tánh, đi đường tà hiểm vào trong sanh tử. Trái biểu tướng thánh nghĩa là vì thiếu oai nghi hộ sanh không thể giáo hóa lợi sanh. Có nhiều lỗi như vậy nên người tu hành không nên ăn thịt

.Được sanh dòng Phạm chíVà các chỗ tu hànhNhà phú quý trí tuệĐây do không ăn thịt.

Đây kết về lợi ích không ăn thịt.

Phàm báo ứng thiện ác có ba loại: Hiện báo, sanh báo, hậu báo. Như trong chánh văn nói thân miệng hôi nhơ, vật thấy kinh sợ và quần thần phản nghịch… đều là hiện báo. Như trong văn kệ trước nói đọa địa ngục kêu gào và loài cọp sói hôi hám, mèo chồn La Sát, nhà đồ tể… trong chủng loại ác, đều là sanh báo, hậu báo. Nay kệ nói: Không ăn thịt được sanh dòng Phạm chí, các chỗ tu hành nhà phú quý trí tuệ, đây là sanh báo huệ báo của nghiệp thiện. Theo chỗ này mà nghiệm thì có thể biết hiện báo. Do xa lìa uế ác sanh dòng Phạm chí. Do hay thuận pháp giới tánh nên sanh chỗ tu hành, đó là không lìa đạo tràng. Do xả bỏ ngu si nên sanh vào nhà trí tuệ. Do chấm dứt tham cầu kham làm Phật tử nên sanh vào nhà phú quý. Vì Như Lai là bậc giàu có làm chủ pháp giới, tôn quý là bậc Thế Tôn.

Chỉ người thông đạt pháp tánh bình đẳng không ưa ăn thịt, mới hay nối thạnh gia nghiệp, người nào khác làm sao sánh cùng.

Than ôi! Tất cả chúng sanh đồng mê pháp tánh mà thọ thân tâm năm uẩn huyễn vọng này.

Nhìn tướng tuy khác, quán tánh thật đồng, mờ tối nên mê chỗ đồng mà chợt sanh khác loài, kia đây tự tâm sanh cừu thù, phóng túng giết hại để vui tích cho mình, há chẳng lầm lẫn ư!

Đây chính là “Tự tâm chấp tự tâm, chẳng huyễn thành pháp huyễn”.

Nếu hay liễu đạt tự tâm hiện lượng, ắt vật ngã cùng quên, người pháp đều mất, nhất thể phẳng lặng rỗng rang dứt bặt. Chẳng phải chẳng do quên tình chấp trước mà làm thềm bậc thành Phật ư? Đây sở dĩ là hạnh chân tu, lấy đoạn nhục làm lời dạy thanh tịnh bậc nhất. Song xét về tứ trọng, việc này tuy chỉ nằm trong một phần, bậc trí cũng cần nhìn sâu để suy xét kỹ vấn đề; có thể thấy nó chiếm hơn phân nửa tội trọng.

Kinh Lăng Già này đại bộ có bốn chục quyển, 151 phẩm, truyền sang Trung Hoa chỉ có bốn quyển, một phẩm duy nhất, vì kinh truyền sang chưa hết nên thiếu phần Lưu thông. Nay trong trăm lẻ tám câu hỏi, chỗ hỏi riêng đáp riêng về năm pháp ba tự tánh tám thức hai vô ngã, trình bày tổng quát hay riêng biệt về cấp độ mê ngộ nhân quả tà chánh, sự sai biệt của căn tánh, tu chứng trước sau, ý nghĩa đã rõ ràng đầy đủ trong mỗi câu vấn đáp, chỗ đáp chưa rõ hết chỉ là sai biệt danh tướng của sự vật.

Từ câu “Ai sanh các tánh báu” trở xuống, đến như sai biệt của vạn tượng người vật trong trời đất, khác nhau của lòng tham yêu thích, và những điều Phật bổ túc cho

Câu hỏi của Đại Huệ - số lượng tính đếm, hình trạng trong Hoa Tạng thế giới bất đồng… đều chứng minh đầy đủ như các phẩm trong kinh Hoa Nghiêm: Hoa Tạng Thế Giới, Thế Giới Thành Tựu, A Tăng Kỳ Thọ Lượng.

Ắt là chỗ văn kinh chưa truyền đến phương này, chỉ đặc biệt về danh tướng thôi. Người xưa cho rằng sở dĩ không truyền sang, vì chỗ chú trọng nơi pháp môn duy tâm duy thức, muốn đốn ngộ nhất tâm, tức ngoài chỗ này lại không có pháp khác. Cho đến phần chưa truyền sang hết cho dù cùng tận số lượng pháp giới, chẳng qua cũng là ảnh hiện của nhất tâm. Tổ sư Đạt-ma chỉ kinh này làm tâm ấn, há ngoài đây lại có pháp dư? Người đọc nên biết vậy.

Kệ viết:

Kính lễ biển tịch diệt

Thân trang nghiêm diệu sắc.

Pháp tổng trì viên mãn

Hằng lìa tướng văn tự.

Chúng hòa hợp tùy duyên

Tăng tự tánh thanh tịnh.

Mong dùng đồng thể từ

Thương xót nhiếp thọ con.

Dùng được tâm tư duy

Vào tạng thậm thâm này.

Nơi một đầu lông xíu

Hiện cảnh giới tự giác

Khiến mọi chỗ thấy nghe

Đốn ngộ pháp tánh không.

Tất cả duyên huyễn hóa

Thấu rõ duy tâm hiện

Nguyện lượng pháp giới diệt

Đồng nhập bình đẳng quán.

Hiện khắp tất cả thời

Trong tất cả bụi trần

Phàm tại thân hữu tình

Cùng về cõi Cực lạc

Quán Lăng-già A-bạt-đa-la Bảo Kinh Ký - Quyển 8 hết.

🛑🛑🛑

NGUỒN

🔗


GHI CHÚ

Footnotes

  1. 📝 Vu Điền (于闐): Một nước xưa thuộc miền Tây vực, nằm trên tuyến đường phía Nam của con đường tơ lụa từ Ấn sang Trung Hoa. Ngày nay được gọi là Hòa Điền, sản xuất rất nhiều ngọc quý. Từ Vu Điền vào Trung Hoa, qua cửa ải Ngọc Môn, vì tất cả ngọc quý đưa vào kinh đô đều phải đi qua cửa ải này. Thời gian chuyến chở đường bộ khoảng ba năm mới đến Bắc Kinh. Tên gọi xưa của Vu Điền là Cú-tát-đán (Khotan). ↩ ↩2 ↩3 ↩4 ↩5 ↩6 ↩7 ↩8 ↩9

  2. 📝 Một trượng Tàu khoảng 3m. ↩ ↩2 ↩3 ↩4 ↩5 ↩6

  3. 📝 Thời gian ngài Hám Sơn ở Ngũ Đài Sơn từ năm 1575 đến năm 1582. Nơi ở của Ngài là vùng Long Môn - Bắc Đài. Tại đó có một ngọn núi tên Hám Sơn, Ngài lấy tên núi làm tên hiệu của mình. ↩ ↩2 ↩3 ↩4 ↩5 ↩6

  4. 📝 Không khiển: Dẹp cái chấp không. ↩ ↩2 ↩3 ↩4 ↩5 ↩6 ↩7

  5. Cảnh bị chấp có 100: Cảnh giới là đối tượng bị chấp, gồm 10 cõi (tứ thánh lục phàm) trong mỗi cõi lại có 10, nên 10×10 = 100. ↩ ↩2 ↩3 ↩4

  6. 🖋 Đường dịch: Thế nào khỏi kế độ. Thế nào tịnh kế độ. Thế nào khỏi mê hoặc. Thế nào tịnh mê hoặc. (Kể đó là suy nghĩ tinh toán). ↩ ↩2 ↩3

  7. Tất cả đều phi: [❔ Tăng hỏi Mã Tổ: Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật? 📢 Sư đáp: Vì để dỗ con nít khóc. ❔ Con nít rịn nỗi thế nào? 📢 Phi tâm phi Phật ❔ Người trụ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào? 📢 Nói với y là “Phi vật”] ↩ ↩2 ↩3

  8. 🖋 Đường dịch: Thế nào chư hữu khởi. ↩ ↩2 ↩3

  9. 2 ngã: Phân biệt ngã chấp và Câu sanh ngã chấp. ↩ ↩2 ↩3

  10. 🖋 Bản Ngụy: Pháp lại có mấy loại? Giải nghĩa có mấy loại? 🖋 Bản Đường: Đạo lý mấy bất đồng? Giải thích mấy sai biệt? ↩ ↩2

  11. 🖋 Bản Ngụy: Nhân gì có gió mưa? ↩

  12. 🖋 Bản Đường: Lục thời nhiếp. Cựu chú: bên Ấn Độ hai tháng thành một tiết, một năm chia 6 tiết. Ngoại đạo có lục tiết sư. ↩

  13. Nhất xiển-đề: (Nhất xiển: Tin; Đề: Bất cụ) nghĩa là người tin bất cụ (lòng tin không đủ). ↩

  14. Hai bản dịch: Tu hành tận tới. ↩

  15. 🖋 Ngụy dịch: Dạy những người nào tu, khiến trụ những pháp nào. ↩

  16. 🖋 Đường dịch: Tiên nhân thường khổ hạnh, là dạy bảo những ai. ↩

  17. 2 bản dịch đều nói: Thiên sư là Thế Tôn. ↩

  18. Bốn môn: Bốn vấn đề chính là năm pháp, ba tự tánh, tâm thức, hai vô ngã. Mười cõi: Tứ thánh và lục phàm. ↩

  19. Song trần: Bụi ở cửa sổ. ↩

  20. Thố mao đầu trần: Bụi đầu lông thỏ. ↩

  21. Dương mao đầu trần: Bụi đầu lông dê. ↩

  22. Ngưu mao đầu trần: Bụi ở đầu lông trâu (tức lớn hơn các hạt bụi trên). ↩

  23. Bản Đường: Thế nào các diệu sơn, tiên-thát-bà trang nghiêm ↩

  24. Từ phần đầu kinh đến câu kết luận này là ở trong phạm vi nhất tâm chân như, vì thế Phật không giải thích, chỉ đáp “Phi”. Cần lưu ý! ↩

  25. ¹ Chỗ khác nói là: Biến Kế, Y Tha, Viên Thành. ↩ ↩2 ↩3