Chương 14

VĂN HÓA TRUNG QUỐC

Ý nghĩa khái quát của văn hóa

Văn hóa là tổng hợp của cải vật chất và tinh thần do nhân loại sáng tạo ra; đặc biệt là sáng tạo tinh thần, như ngôn ngữ, tôn giáo, triết học, chính trị, giáo dục, khoa học, văn học, âm nhạc, nghệ thuật, v.v.

Deepseek là một phần mềm tin học mới xuất hiện, một sản phẩm văn hóa của người TQ đang làm xôn xao dư luận thế giới, nhất là các công ty công nghệ hàng đầu thế giới, như công ty sản xuất chip tiên tiến nhất của Mỹ Nvidia có giá trị vốn hóa trên thị trường 3500 tỷ usd hay công ty ChatGPT giá trị vốn hóa 3000 tỷ usd đang bị ảnh hưởng. Người phương tây đa số chưa hiểu rõ văn hóa TQ và thường đánh giá sai rằng người TQ chỉ giỏi sao chép bắt chước chứ không có đầu óc sáng tạo, do đó họ cho rằng người TQ sẽ không bao giờ đuổi kịp người Mỹ. Thậm chí nhà văn nổi tiếng TQ Lỗ Tấn còn tự ti đến mức đòi tiêu diệt chữ Hán. Tôi không hề ngạc nhiên về sự xuất hiện của Deepseek, chỉ có người không hiểu rõ văn hóa TQ mới ngạc nhiên thôi.

Văn hóa TQ hiện nay trở thành một đề tài hot bởi vì địa vị của TQ trên thế giới ngày càng được củng cố do kinh tế, xã hội, chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật…của quốc gia này ngày càng phát triển. Văn hóa TQ có những đặc trưng gì?

Để hiểu văn hóa TQ chúng ta cũng cần biết qua một chút về lịch sử.

Từ đầu thời Tây Chu (khoảng thế kỷ 11 TCN – 771 TCN) TQ có hơn 800 nước, mỗi nước là một dòng họ. Về sau các nước nhỏ bị sáp nhập dần vào các nước lớn đông dân hơn. Đến thời Thời Xuân Thu (春秋时代771 – 476 TCN) TQ chỉ còn khoảng 170 nước. Đến thời đại của Kinh Thi, khi người ta tiến hành sưu tập thi ca tại các nước thì chỉ còn 15 nước như đã nói trong phần Kinh Thi. Đến thời Chiến Quốc (476-221 TCN) chỉ còn 7 nước. Tần Thủy Hoàng diệt 6 nước thống nhất TQ năm 221 TCN.

Thời xưa các nước gọi là bang 邦Khi nhà Tần thống nhất TQ, tên gọi của nước Tần theo con đường tơ lụa lan đến Châu Âu, người Pháp đọc âm Tần thành Chine, người Anh thì đọc là China và duy trì cho đến ngày nay. Nghĩa là người phương tây cho đến nay vẫn gọi TQ là nước Tần. Vì TQ rộng lớn, cả TQ được coi như một thế giới được gọi là Thiên Hạ 天下 Tới khi có phong trào dịch kinh Phật giáo, người TQ dịch chữ Loka tiếng Phạn thành thế giới 世界 và sử dụng luôn đến nay. Đến đời Hán mới có danh xưng quốc 國 và người Hán xưng mình là Trung Quốc 中國là nước ở trung tâm. Chung quanh là các sắc dân kém văn minh hơn gồm Bắc Địch 北狄, Đông Di 東夷, Tây Nhung 西戎, Nam Man 南蠻. Quan điểm đó ngày nay đã lỗi thời, các dân tộc đều bình đẳng nên những danh xưng chỉ tứ di 四夷 không còn sử dụng nữa nhưng những danh xưng đã quá quen thuộc như TQ hay Tần (China) thì vẫn còn dùng.

Hán tự và ngôn ngữ TQ

Trước khi nói về Hán tự và ngôn ngữ TQ chúng ta hãy khái quát một tí về các ngôn ngữ trên thế giới.

Bảng chữ cái Ugarit được coi là bảng chữ cái cổ nhất trong lịch sử loài người, có nguồn gốc từ nền văn minh Ugarit (ngày nay thuộc Syria) xuất hiện vào khoảng thế kỷ 14-12 Trước CN, thuộc thời kỳ đồ đồng muộn. Đây là bảng chữ cái của người Sumer- Cuneiform (chữ hình cái nêm). Ban đầu nó cũng là loại ký tự tượng hình giống như chữ Hán.

Nhưng về sau nó biến đổi thành loại ký tự ghi âm.

Bảng chữ cái Ugarit là cơ sở để tạo ra các bảng chữ cái La tinh, Hy Lạp và tiếng Nga. Chữ La tinh là loại văn tự chữ cái được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay trong đó có cả tiếng Việt. Người Phoenician với tên khác là người Tím, một tộc người thương nhân sống ở bờ biển Lebanon và Israel ngày nay đã phát triển chữ hình nêm từ thế kỷ thứ 11 Trước CN đến khoảng 1600 đến 1500 TCN thì đã tạo được bảng chữ cái La tinh Semitic nguyên thủy. Nhưng phát hiện năm 1999 tại Ai Cập cho thấy Bảng chữ cái đầu tiên Wadi el-Hol có nguồn gốc từ người Do Thái sống ở Ai Cập đã xuất hiện từ khoảng năm 1900 đến 1800 TCN, tức sớm hơn người Phoenician khoảng 300 năm.

Cho đến ngày nay các ngôn ngữ trên thế giới có thể tạm chia thành những nhóm sau dựa vào số người sử dụng:

Nhóm 1: hai ngôn ngữ phổ biến được sử dụng nhiều nhất trên thế giới, đó là tiếng Anh và tiếng Hoa, mỗi ngôn ngữ có hơn một tỷ người sử dụng.

Nhóm 2: các ngôn ngữ phổ biến được dùng làm ngôn ngữ chính thức của Liên Hiệp Quốc, không kể tiếng Anh và tiếng Hoa đã xếp vào nhóm trên, còn lại là: tiếng Tây Ban Nha khoảng 500 triệu người sử dụng, tiếng Ả Rập 420 triệu, tiếng Pháp 320 triệu, tiếng Nga 260 triệu.

Nhóm 3: các ngôn ngữ có từ 100 triệu người sử dụng trở lên: tiếng Hindi 637 triệu, tiếng Bengali 265 triệu, tiếng Bồ Đào Nha 252 triệu, tiếng Indonesia 199 triệu, tiếng Urdu 171 triệu, tiếng Đức 132 triệu, tiếng Nhật 126 triệu, tiếng Việt 101 triệu. Tiếng Hindi, tiếng Bengali, tiếng Bồ Đào Nha tuy cũng có rất đông người sử dụng, nhưng mức độ phổ biến trên thế giới không cao nên không được chọn làm ngôn ngữ chính thức của Liên Hiệp Quốc.

Nhóm 4: Các ngôn ngữ còn lại, trong đó tiếng Hàn 77 triệu, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ 73 triệu, tiếng Hausa (ở Nigeria) 70 triệu, tiếng Ba Tư (tiếng Persian tại Iran) 50 triệu. Và ngôn ngữ của rất nhiều các quốc gia nhỏ khác.

Hán tự chính là một đặc trưng cốt lõi của văn hóa TQ. Nó là một thứ chữ viết cổ đại đã được phát minh cách nay nhiều ngàn năm ghi lại tiếng nói, ngôn ngữ của người Trung Hoa mà vào triều đại nhà Hán cách nay hơn 2200 năm, lần đầu tiên được phát huy rực rỡ và từ đó về sau họ lấy tên của triều đại này làm danh xưng của dân tộc tức là dân tộc Hán 漢族.

Chứng tích rõ ràng chắc chắn nhất của chữ Hán là giáp cốt văn 甲骨文 của nhà Ân 殷 có niên đại khoảng 1600 năm trước công nguyên tức cách nay hơn 3600 năm. Nhưng trước đó chữ Hán cũng đã hình thành rồi. Những chữ Hán đầu tiên xuất hiện từ các ký hiệu được khắc trên đồ gốm vào cuối thời kỳ văn hóa Đại Vấn Khẩu (大汶口khoảng 4.800 năm trước). Trước đó nữa đã có ký tự Giả Hồ 賈湖là những chữ Hán cổ xưa nhất. Giả Hồ là di chỉ của một điểm định cư thời đại đồ đá mới ở lưu vực Hoàng Hà, nay thuộc huyện Vũ Dương 舞陽縣, tỉnh Hà Nam.

Bốn chữ Hán cổ xưa trên ký tự Giả Hồ: Mục (mắt), Bát (tám), Hỏa (lửa), Nhật (mặt trời)

Di chỉ này có người định cư từ năm 7000 TCN đến năm 5800 TCN, song sau đó nó bị ngập nước và bị bỏ hoang. Khu định cư được bao quanh bởi một con hào và bao trùm một diện tích 55.000 m². Quán trưởng Bảo tàng huyện vùng này đã phát hiện ra di chỉ vào năm 1962, song việc mở rộng khai quật chỉ được tiến hành một thời gian khá dài sau đó, hầu hết di chỉ đến nay vẫn chưa được khai quật. Có trên 300 ngôi mộ đã được khai quật tại Giả Hồ, kèm theo đó là các lễ vật mai táng, từ đồ gốm cho đến mai rùa. Một trong các lễ vật quan trọng nhất được khai quật là cốt địch (sáo) công cụ âm nhạc có thể chơi được, làm từ xương cánh của hạc.

Tại Giả Hồ, các nhà khảo cổ học đã xác định được 11 ký hiệu của phù hiệu khế khắc Giả Hồ, chín ký hiệu trên mai rùa và hai ký hiệu trên xương, bằng chứng của chữ viết nguyên thủy.

Chữ Hán có nguồn gốc rất cổ xưa, những chữ đầu tiên như mục (mắt), nhật (mặt trời) đã xuất hiện cách nay 9000 năm. Đến thời của giáp cốt văn, cách nay 3600 năm, chữ Hán đã khá phổ biến. Hiện tại người ta khai quật được khoảng hơn 15 vạn mảnh xương giáp cốt như thế, có khoảng hơn 5.000 chữ khác nhau, trong đó đã đọc được khoảng 1.500 chữ.

Một số chữ trên giáp cốt văn đã đọc được

Đến đời Tần Thủy Hoàng, năm 221 TCN, nước Tần sau khi diệt 6 nước thời Chiến Quốc (Tề, Triệu, Ngụy, Yên, Hàn, Sở) thống nhất quốc gia, nhà Tần cũng thống nhất văn tự, bắt buộc toàn quốc phải sử dụng cùng một thứ văn tự do nhà nước ban hành. Thống nhất văn tự có lợi ích cực lớn là trên lãnh thổ TQ rộng lớn, nhiều dân tộc sử dụng nhiều tiếng nói khác nhau, nhưng sử dụng cùng một thứ chữ viết như nhau (về sau gọi là chữ Hán), đó là lợi ích rất lớn của chữ viết tượng hình. Trên thế giới chỉ duy nhất Hán tự thực hiện được thống nhất văn tự trên toàn lãnh thổ rộng lớn. Chữ Hán còn được phổ biến bao trùm cả khu vực Đông Á xưa là Trung Quốc, Cao Ly, Nhật Bản , Việt Nam. Bốn nước này hồi xưa được gọi là các quốc gia đồng văn 同文 vì cùng sử dụng chữ Hán làm chữ viết chung. Ngay cả vào đầu thế kỷ 20 khi Phan Bội Châu của VN gặp Lương Khải Siêu của TQ tại Nhật, họ không thể đàm thoại bằng tiếng nói với nhau vì nghe không hiểu, nhưng khi viết ra bằng chữ Hán thì hoàn toàn hiểu nhau gọi là bút đàm 筆談 Họ đã bút đàm với nhau suốt một ngày.

Ngày nay cùng với sự phát triển của TQ, tiếng Hoa cũng ngày càng phổ biến trên thế giới, song song với tiếng Anh, tạo ra sự đa dạng rất thú vị về chữ viết của nhân loại.

Thi ca và âm nhạc

Thi ca là một nội dung quan trọng trong văn hóa TQ. Những bài thơ xa xưa nhất đã xuất hiện cách nay hơn 3000 năm trong một quyển sách cổ mang tên là Kinh Thi 詩經 Kinh Thi được ví như một bức tranh miêu tả toàn cảnh về xã hội đương thời, từ lịch sử, phong tục tập quán, tình trạng xã hội và chế độ chính trị của Trung Quốc thời Chu. Kinh Thi là khởi đầu của thi ca Trung Quốc cổ đại và là tập thơ sớm nhất. Nó tập hợp 311 bài thơ từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu (thế kỷ 11 đến thế kỷ 6 trước Công nguyên- khoảng 500 năm), trong đó có 6 bài là Sênh Thi 笙诗 chỉ có tiêu đề (có thể có nhạc nhưng đã thất truyền và không có lời thơ).

Tương tuyền Kinh Thi được Duẫn Cát Phủ 尹吉甫thu thập trong dân gian và được Khổng Tử biên soạn. Như vậy đến thời Khổng Tử, ông chỉ có trong tay 305 bài thơ. 6 bài còn lại là sênh thi thì chỉ có tựa không có lời.

Đến đời Hán còn lưu truyền 4 bản Kinh Thi nhưng còn truyền đến nay là bản của Mao công (tức Mao Hanh 毛亨, ông truyền cho môn nhân là Mao Trường 毛萇) và được gọi là Mao Thi 毛詩gồm có ba phần như sau:

A. Quốc Phong:

Quốc phong là những bài ca dao của dân các nước do nhà Chu quản lý và các nước chư hầu, đã được nhạc quan sưu tập. Quốc phong có 160 thiên, chia làm 15 quyển, mỗi quyển là sưu tập thơ của một nước, gồm có:

A.1. Chính phong:

Chu nam và Thiệu nam (2 nước do nhà Chu trực tiếp quản lý)

A.2. Biến phong:

ca daocủa 13 nước chư hầu: Bội phong, Dung phong, Vệ phong, Vương phong, Trịnh phong, Tề phong, Ngụy phong, Đường phong, Tần phong, Trần phong, Cối phong, Tào phong, Bân phong.

Quốc phong 15 quyển của 15 nước ở các khu vực địa lý như sau:

Chu Nam ở phía bắc tỉnh Hà Nam ngày nay; Thiệu Nam thuộc phía bắc Thiểm Tây; Bội, Dung, Vệ thuộc Hà Bắc; Vương, Trịnh thuộc Hà Nam; Tề thuộc phía bắc Sơn Đông; Ngụy thuộc một phần phía bắc tỉnh Hà Nam và một phần thuộc tây nam tỉnh Sơn Đông; Đường thuộc Hà Bắc; Tần thuộc Thiểm Tây; Trần thuộc phía đông Hà Nam; Cối thuộc phía bắc Hà Nam; Tào thuộc phía bắc Sơn Đông; Bân thuộc phía bắc Thiểm Tây.

B. Nhã:

Nhã nghĩa là chính đính, gồm những bài hát ở nơi triều đình. Nhã chia ra làm hai phần:

B.1. Tiểu nhã:

những bài dùng trong những trường hợp không quan trọng lắm như các buổi yến tiệc (74 thiên)

B.2. Đại nhã:

những bài dùng trong những trường hợp quan trọng như khi Thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường (31 thiên)

C. Tụng:

Tụng nghĩa là ngợi khen, gồm những bài ca tụng các vua đời trước và dùng để hát ở chốn miếu đường. Tụng có tất cả 40 thiên, chia làm:

C.1. Chu tụng, 31 thiên

C.2. Lỗ tụng, 4 thiên

C.3. Thương tụng, 5 thiên

Tôi thử nêu một bài tiêu biểu trong phần Chu Nam, đó là bài Quan Thư

周南⑴·关雎⑵

关关雎鸠⑶,在河之洲。窈窕淑女(4),君子好逑(5)。

Quan quan thư cưu tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu

参差荇菜(6),左右流之。窈窕淑女,寤寐求之。

Sâm si hạnh thái, tả hữu lưu chi. Yểu điệu thục nữ tẩm mị cầu chi

求之不得,寤寐思服。悠哉悠哉,辗转反侧(7)。

Cầu chi bất đắc, tẩm mị tư phục. Du tai du tai, triển chuyển phản trắc

参差荇菜,左右采之。窈窕淑女,琴瑟友之(8)。

Sâm si hạnh thái, tả hữu thái chi. Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi

参差荇菜,左右芼之(9)。窈窕淑女,钟鼓乐之

Sâm si hạnh thái, tả hữu mạo chi. Yểu điệu thục nữ, chung cổ lạc chi

Chú thích:

  1. Chu Nam là 1 trong 15 nước được xếp vào Quốc phong của Kinh Thi, ngày nay chỉ còn lại 11 bài. Nó được sản sinh trong khu vực phía bắc tỉnh Hà Nam từ Lạc Dương 洛阳 đến phía nam là lưu vực sông Giang Hán 江汉

  2. Quan Thư là tên bài thơ có nghĩa là tiếng kêu của con chim tu hú mái. Chim cưu là loài sống có cặp gắn bó với nhau

  3. Quan quan là tiếng tượng thanh mô phỏng tiếng kêu của chim tu hú

  4. Yểu điệu thục nữ: cô gái chưa chồng có dáng dấp thướt tha. Các nhà chú giải cho rằng đó là ám chỉ bà Thái Tự 太姒 sau này là vợ của vua Chu Văn Vương Cơ Xương 姬昌

  5. Quân tử hảo cầu, người quân tử rất mong cầu. Quân tử ám chỉ Chu Văn Vương. Cơ Xương gặp gỡ Thái Tự tại Cáp Dương 郃陽, bên bờ sông Vị Thủy. Khi vừa gặp nhau, Cơ Xương đã cảm mến vì nhan sắc và đức độ của bà.

  6. Sâm si hạnh thái: rau hạnh mọc cây cao cây thấp, chim thư cưu luồn lách qua đám rau. Tưởng tượng nàng thục nữ xinh đẹp đi hái rau, đêm ngủ mơ thấy nàng

  7. Mong gặp mà không được, đêm ngủ cứ mơ màng, trằn trọc lăn qua lăn lại

  8. Cầm sắt hữu chi 琴瑟友之 Mong được kết duyên với nàng cùng nhau hòa hợp như đàn cầm đàn sắt cùng hòa âm.

  9. Tả hữu mạo chi 左右芼之 Nên chọn nàng làm vợ, chuông trống vui vầy

Thơ TQ đến đời Đường thì cực thịnh. Thơ Đường luật với niêm luật chặt chẽ trở nên rất phổ biến. Những bài thơ nổi tiếng nhất trong lịch sử TQ xuất hiện trong thời này, chẳng hạn bài Hoàng Hạc Lâu 黃鶴樓 của Thôi Hiệu 崔顥, Đề Tích Sở Kiến Xứ 題昔所見處 của Thôi Hộ 崔護, Phong Kiều Dạ Bạc 楓橋夜泊 của Trương Kế 張繼, Tĩnh Dạ Tư 靜夜思 của Lý Bạch 李白 v.v…Thơ Đường nhiều không kể xiết. Thơ Đường đã được nói rất nhiều, được quốc tế biết đến cũng không ít, nên ở đây tôi cũng không cần nói nhiều.

Đến đời Tống thì bắt đầu thịnh hành một thể thơ văn mới gọi là từ 詞 còn viết là 辭 Vì thể loại văn chương này rất thịnh vào đời Tống nên gọi là Tống Từ 宋辭

Tô Đông Pha có một bài từ nổi tiếng làm theo thể Thủy Điệu Ca Đầu 水調歌頭 tựa là Minh Nguyệt Kỷ thời Hữu 明月幾時有 làm vào dịp Trung Thu năm Bính Thìn năm 1076. Bài này đã được phổ nhạc nhan đề Đãn Nguyện Nhân Trường Cửu 但願人長久

145 Đãn Nguyện Nhân Trường Cửu – Tô Thức – Đặng Lệ Quân – Việt dịch

Một bài từ nổi tiếng khác của vị vua cuối cùng của nước Nam Đường (南唐後主 937 – 978 tên là Lý Dục 李煜) nhan đề Ngu mỹ nhân 虞美人 Bài này cũng đã được phổ nhạc nhan đề Kỷ Đa Sầu 幾多愁.

Ngu Mỹ Nhân Bài Từ nguyên tác của Lý Dục phổ nhạc Thái Hạnh Quyên hát

Âm nhạc xưa của TQ có ngũ âm là: Cung, Thương ,Giốc (Giác), Chủy, Vũ 宮商角徵羽 Trong đờn ca tài tử Nam Bộ thì ngũ cung được đọc thành Hò, Xự, Xang, Xê, Cống.

Trong bài trường ca Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương có đề cập tới từ ca xang:

Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn, Vui ca xang rồi đi tiến binh ngoài ngàn.

Ca xang là tiếng ca và tiếng nhạc, xang là một âm trong ngũ cung

Có mười nhạc khúc xưa được mệnh danh là Trung Quốc Cổ Điển Thập Đại Danh Khúc 中國古典十大名曲:

Quảng lăng tán 廣陵散

Mai hoa tam lộng 梅花三弄

Cao sơn lưu thủy 高山流水

Quan sơn nguyệt 关山月

Thập diện mai phục 十面埋伏

Ngư tiều vấn đáp 漁樵問答

Bình sa lạc nhạn 平沙落雁

Tịch dương tiêu cổ 夕陽簫鼓

Dương xuân bạch tuyết 陽春白雪

Hán cung thu nguyệt 漢宮秋月

Dưới đây tôi chọn một nhạc khúc mà tôi thường nghe để giới thiệu về cổ nhạc Trung Hoa.

Cao Sơn Lưu Thủy trình bày bằng đàn Cổ Tranh

Còn về âm nhạc Trung Hoa hiện đại đã rất phổ biến, nhiều người biết nên tôi không cần giới thiệu nữa.

Triết học và tôn giáo

Triết học của TQ còn lưu lại trong Bách Gia Chư Tử 百家諸子trong đó chữ Tử 子dùng để chỉ những nhà triết học lớn như Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Trang Tử, Mặc Tử…Trong đó bao gồm 3 tôn giáo lớn có lịch sử lâu đời tại đất nước này. Khổng giáo và Đạo giáo là triết học và tôn giáo bản địa. Còn Phật giáo là tôn giáo được du nhập từ Ấn Độ vào khoảng đầu công nguyên .

Triết học của TQ khác với triết học phương tây, triết học TQ không không phải là một hệ thống lý luận logic thật chặt chẽ nhằm suy luận từ những cái đã biết để có thêm những tri thức mới chưa từng biết. Các nhà triết học TQ cũng là những nhà Đạo học, họ có trực giác nhận ra những điều sâu kín mà người bình thường không nhận thấy.

Chẳng hạn Lão Tử 老子 (580-500 TCN) viết ra sách Đạo Đức Kinh. Đạo và Đức của triết học Lão Tử không phải quan niệm đạo đức thông thường của xã hội chúng ta. Đạo là một năng lực vô hình có khả năng sinh ra vũ trụ vạn vật. Ông nói:

Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa. 道生一 一生二 二生三 三生萬物。萬物負陰而抱陽 沖氣以為和

Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật. Vạn vật đều mang âm, ôm dương, xung khí tuy khắc chế nhau nhưng hài hòa bổ sung cho nhau.

Nếu diễn tả theo khoa học thì nghĩa như sau: Đạo là trường thống nhất, nó phân cực thành hai khí âm, dương. Âm dương tiếp xúc nhau sinh ra hạt cơ bản (fundamental particles). Hạt cơ bản sinh ra vũ trụ vạn vật.

Đức là biểu hiện hữu hình của Đạo, chẳng hạn Đạo hài hòa thì mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi nảy nở tốt đẹp, xã hội con người no ấm yên vui, thái bình.

Nhà cầm quyền (thiên tử) thực hiện đúng đạo trời thì nhân dân no ấm thái bình thịnh trị.

Những người theo triết học của Lão Tử về sau lập ra Đạo giáo nhưng họ chú trọng phép tu để trở thành tiên sống trường thọ. Nổi tiếng là Bát tiên gồm có:

鐵拐李 Thiết Quải Lý(李玄Lý Huyền)、漢鍾離 Hán Chung Ly(鍾離權 Chung Ly Quyền)、張果老 Trương Quả Lão(張果 Trương Quả)、呂洞賓Lữ Động Tân(呂岩 Lữ Nham)、何仙姑 Hà Tiên Cô(何瓊 Hà Quỳnh)、藍采和 Lam Thái Hòa(許堅 Hứa Kiên)、韓湘子 Hàn Tương Tử (con của Lão Thành 老成người gọi Hàn Dũ 韓愈là chú, ông nội của Hàn Tương Tử là anh thứ hai của Hàn Dũ- tên Hàn Giới 韩介có 2 con trai. Anh cả của Hàn Dũ là Hàn Hội 韩会 không có con nối dõi nên nhận Lão Thành làm con nuôi. Hàn Dũ là con út, cha mẹ mất sớm lúc ông 2 tuổi nên vợ chồng Hàn Hội nuôi ông và Lão Thành, Hàn Dũ sinh năm 768, Lão Thành sinh năm 770, chỉ hơn có 2 tuổi) 、曹國舅Tào Quốc Cữu(曹景休Tào Cảnh Hưu)

Còn Khổng Tử 孔子(571-479 TCN) thì dạy về mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội nên như thế nào cho tốt. Ông đưa ra chủ trương Tam cương 三綱 và Ngũ thường 五常

Tam cương là ba mối quan hệ cơ bản của con người trong xã hội TQ thời xưa, đó là Phụ tử 父子 Quân thần 君臣 và Phu phụ 夫婦 Trong quan hệ phụ tử Nho giáo quy định rằng cha phải thương yêu lo lắng cho con và có quyền lực rất lớn với con, con thì phải có hiếu với cha mẹ, có trách nhiệm lo cho cha mẹ lúc tuổi già. Trong quan hệ quân thần (vua và bề tôi), vua là thay trời trị dân (thiên tử) nên có quyền lực tuyệt đối, thần là bề tôi phải tuyệt đối trung thành với vua. Tôi trung thì không thờ hai vua. Vua bảo gì thì thần cũng phải nghe. Quân giáo thần tử thần bất tử bất trung, phụ giáo tử vong tử bất vong bất hiếu 君教臣死,臣不死不忠;父教子亡,子不亡不孝 Đó là câu tục ngữ quen thuộc thời xưa ở TQ, nhưng đó không phải lời của Khổng Tử. Ông chỉ nói: 孔子有言:“君使臣以礼,臣事君以忠”,“士有诤友,则身不离于令名;父有诤子,则身不陷于不义。故当不义,则子不可以不诤于父,臣不可以不诤于君。故当不义,则诤之,从父之令,又焉得为孝乎?” (Quân xử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung = Vua lấy lễ đối xử với bề tôi. Bề tôi lấy lòng trung thành để thờ vua), (Sĩ hữu tranh hữu, tắc thân bất ly vu lệnh danh = Kẻ sĩ có tranh luận với bạn bè ắt không rời xa lời lẽ nhã nhặn ; Phụ hữu tranh tử tắc thân bất hãm vu bất nghĩa = Cha tranh luận với con không để mình rơi vào điều bất nghĩa; Cố đương bất nghĩa, tắc tử bất khả dĩ bất tranh vu phụ = còn nếu bất nghĩa, con không thể không tranh luận với cha, thần bất khả dĩ bất tranh vu quân = bề tôi không thể không tranh luận với vua. Cố đương bất nghĩa tắc tranh chi, tòng phụ chi lệnh, hựu yên đắc vi hiếu hồ? = Nếu bất nghĩa ắt phải tranh luận, theo lệnh của cha thì có còn là hiếu nữa không? )

Còn trong quan hệ phu phụ (vợ chồng) Sách Lễ Ký, chương Giao Đặc Sinh 禮記‧郊特牲(Sách Lễ Ký do môn đệ của Khổng Tử ghi chép lời nói của ông và nghi lễ do ông soạn thảo. Giao Đặc Sinh nghĩa là qui định vùng ngoại ô của kinh đô phải hiến tế vật đặc biệt gì để đón tiếp vua)Lễ Ký của Nho giáo nói: Phụ nhân, tòng nhân giả dã, ấu tòng phụ huynh, giá tòng phu, phu tử tòng tử 婦人,從人者也,幼從父兄,嫁從夫,夫死從子 = Người vợ thì phải theo ông chứ. Lúc nhỏ thì vâng lời cha anh, lấy chồng thì vâng lời chồng, chồng mất thì nghe theo con trai.

Đó là quan niệm trọng nam khinh nữ của thời xưa khiến cho phụ nữ mất hết quyền tự chủ. Nhưng đó cũng chỉ là lời nói với một người, một trường hợp cá biệt: 婦人,從人者也 Người vợ thì phải theo ông chứ ! Về sau người ta cứ dựa vào lời nói đó để ràng buộc phụ nữ.

Ngũ thường là 5 điều mà con người trong xã hội phải giữ gìn, đó là: nhân, nghĩa, lễ , trí, tín 仁、義、禮、智、信

Nhân là lòng thương người, phải có lòng nhân thì xã hội mới yên

Nghĩa là lẽ phải, điều nên làm, điều đúng, phù hợp với hoàn cảnh thực tế

Lễ là hình thức trong quan hệ giao tiếp, hình thức phải trang nhã, tốt đẹp

Trí là sự hiểu biết, trí tuệ, khả năng nhận thức đâu là phải trái, đúng sai

Tín là sự tin cậy, nói và làm phải đi đôi với nhau, hứa thì phải giữ lời

Ngũ thường được biểu hiện thành những đức tính mà mọi người có thể thấy được. Những đức tính đó là: trung, dũng, cung, hiếu , đễ 忠、勇、恭、孝、悌

Trung là lòng trung thành đối với vua, tới tổ quốc, lòng trung thực với mọi sự kiện diễn ra, có sao nói vậy, không thêm bớt.

Dũng là thái độ dũng cảm hành động theo điều nghĩa, lẽ phải, không sợ kẻ mạnh, sự nguy hiểm.

Cung là sự cung kính đối với bậc trưởng thượng, người trên, người lớn tuổi hơn.

Hiếu là lòng hiếu thảo với cha mẹ, với quốc dân đồng bào

Đễ là thái độ khiêm nhường với người dưới, với anh chị em, với người nhỏ tuổi hơn.

Ngoài hai tôn giáo bản địa, một tôn giáo lớn khác du nhập từ nước ngoài cũng có ảnh hưởng rất lớn tại TQ, đó là Phật giáo du nhập từ Ấn Độ khoảng đầu công nguyên, sau đó là Thiền tông do Bồ Đề Đạt Ma truyền bá từ thế kỷ thứ tư CN. Thiên Chúa giáo cũng được du nhập từ phương tây từ khoảng thế kỷ 11-12 nhưng ảnh hưởng về triết học không quá lớn đối với TQ nên tôi lướt qua.

Còn Phật giáo chẳng những ảnh hưởng lớn tới người TQ về triết lý tư tưởng mà cả về ngôn ngữ. Ở đây tôi không đề cập tới Phật pháp mà chỉ nói về Phật giáo đã ảnh hưởng tới ngôn ngữ TQ như thế nào.

Người Trung-quốc dùng từ “DỊCH KINH” để chỉ chung cho công việc phiên dịch Tam Tạng giáo điển của PG (Kinh, Luật, Luận) từ Phạn văn (đôi khi cũng có Tạng văn) ra Hán văn. Các công trình dịch kinh ở Trung-quốc thời xưa, hầu hết là do chiếu chỉ của vua, cho nên, sau tên dịch giả, thường có thêm ba chữ “phụng chiếu dịch” như: “Diêu Tần Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phụng chiếu dịch”. Thường thì việc dịch kinh không phải chỉ do một người, cho nên, triều đình đã cho thành lập một hội đồng phiên dịch, gồm toàn các vị cao tăng ưu tú. Một vị pháp sư tinh thông cả Tam Tạng, giỏi cả Phạn văn lẫn Hán văn, được cử làm chủ tịch của hội đồng phiên dịch, và được xưng là “Tam Tạng Pháp Sư”

Một dịch trường (nơi dịch kinh) thường có 9 vị sau:

  1. Dịch chủ 譯主: vị Tam Tạng Pháp Sư đứng đầu hội đồng phiên dịch, ngồi ở ghế chủ tọa, tuyên đọc Phạn văn của bộ kinh được phiên dịch.

  2. Chứng nghĩa 證義: vị pháp sư ngồi bên trái vị Dịch chủ, có nhiệm vụ thẩm tra, đánh giá Phạn văn, hoặc xét đoán văn dịch có chính xác đúng Phật pháp hay không.

  3. Chứng văn 證文: vị pháp sư ngồi bên phải vị Dịch chủ, có nhiệm vụ thẩm xét Phạn văn mà vị Dịch chủ tuyên đọc là đúng, hay có chỗ nào sai sót.

  4. Thư tự 書字: cũng gọi là “Thư tự Phạn học tăng”, là vị pháp sư có nhiệm vụ nghe đọc Phạn văn, rồi theo âm tiếng Phạn mà viết thật đúng ra chữ Hán.

  5. Bút thọ 筆受: vị pháp sư giữ nhiệm vụ dịch âm Phạn ra Hán văn.

  6. Chuyết văn 綴文: vị pháp sư giữ nhiệm vụ nối kết văn tự làm thành câu.

  7. Tham dịch 參譯: cũng gọi là “Chứng Phạn ngữ”, là vị pháp sư giữ nhiệm vụ đối chiếu giữa Phạn văn và Hán văn, coi chỗ nào đúng, chỗ nào sai.

  8. San định 刊定: là vị pháp sư giữ việc cắt bỏ những lời rườm rà để ý nghĩa được rõ ràng trong sáng.

  9. Nhuận văn 潤文: vị pháp sư giữ việc tu sức văn từ cho trang nhã, đẹp đẽ.

Cách phiên dịch nghiêm cẩn như vậy chính là lý do thuyết phục để bác bỏ luận điểm của một vài người biết tiếng Phạn hiện nay và dựa vào bản kinh tiếng Phạn dịch ra tiếng Việt và cho rằng nó chuẩn xác hơn là dịch qua bản tiếng Hán. Tôi hoàn toàn bác bỏ luận điểm đó. Một cá nhân khó có khả năng hoàn bị hơn một tập thể gồm toàn những người ưu tú được triều đình chọn ra, hoàn toàn không dính dáng tới thương mại.

Dù hội đồng phiên dịch gồm có chín vị, nhưng thường thì chỉ có vị dịch chủ đứng tên dịch giả của bộ kinh được phiên dịch. Lịch sử Phật giáo Trung-quốc từng nêu lên quí vị sau đây, được coi là những vị dịch chủ trọng yếu ở Trung-quốc: Đời Hậu Hán (25-220) có An Thế Cao (người nước An-tức); đời Tam-quốc (220-280) có Chi Khiêm (người nước Nguyệt-thị); đời Tây Tấn (265-316) có Trúc Pháp Hộ (người huyện Đôn-hoàng); đời Đông Tấn (317-419) có Đạo An (người Trung-quốc); đời Hậu Tần (384-417) có Cưu Ma La Thập (người nước Qui-tư); đời Lưu Tống (420-479) có Cầu Na Bạt Đà La (người Trung Ấn-độ); đời Lương Trần (502-589) có Chân Đế (người Tây Bắc Ấn-độ); đời Bắc Ngụy (386-534) có Bồ Đề Lưu Chi (người Bắc Ấn-độ); đời Bắc Chu (559-581) có Xà Na Quật Đa (người Bắc Ấn-độ); đời Đường (618-907) có Huyền Trang (người Trung-quốc), Địa Bà Ha La (người Trung Ấn-độ), Thật Xoa Nan Đà (người nước Vu-điền), Nghĩa Tịnh (người Trung-quốc), Kim Cang Trí (người Nam Ấn-độ), Thiện Vô Úy (người Trung Ấn-độ), Bất Không (người Bắc Ấn-độ); đời Tống (960- 1279) có Pháp Thiên (người Trung Ấn-độ), Pháp Hiền (người nước Ca-thấp-di-la), Thi Hộ (người nước Ô-điền-nẵng); v.v… Riêng trong quí vị Tam Tạng Pháp Sư dịch chủ trên đây, bốn vị được chọn là trứ danh nhất (được sử gọi là “tứ đại dịch kinh gia” ): Cưu Ma La Thập, Chân Đế, Huyền Trang, và Bất Không (có thuyết thay Bất Không bằng Nghĩa Tịnh).

Để thẩm định tính chính xác của kinh điển chúng ta cần hiểu những nguyên lý cốt lõi của Phật pháp, những chi tiết nhỏ nhặt có thể sai nhưng những ý chỉ lớn thì không thể sai, đó là những nguyên lý nào:

  1. Nhất thiết pháp vô tự tính

  2. Nhất thiết duy tâm tạo

Bộ Thành Duy Thức Luận 成唯識論 của ngài Huyền Trang 玄奘 khẳng định lại một lần nữa các nguyên lý cốt lõi trên. Đó là câu: Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức 三界唯心 萬法唯識.

Những nguyên lý cốt lõi này nói lên rằng vũ trụ vạn vật, không gian, thời gian, số lượng vật chất cũng là do tâm tạo, không phải tuyệt đối có thật, chỉ là chủ quan tập thể chứ không phải khách quan. Ngày nay khoa học đã thừa nhận.

Vũ trụ không phải tuyệt đối có thật

Bây giờ chúng ta xem Phật giáo đã ảnh hưởng thế nào tới ngôn ngữ TQ.

Ảnh hưởng của Phật giáo vào ngôn ngữ trung quốc là rất lớn. Điều này chính yếu do việc phiên dịch và truyền bá những kinh sách Phật giáo từ tiếng Sanskrit, Pali và những ngôn ngữ Ấn Độ khác. Việc phiên dịch kinh Phật đã kéo dài hơn một ngàn năm ở Trung Quốc với khởi đầu vào thế kỷ thứ II TL và kết thúc vào cuối triều Tống thế kỷ XII. Có vào khoảng 173 dịch giả được biết đến và những người này đã dịch hơn 1.700 bản kinh với khoảng hơn 6.000 quyển. Vì cách nghĩ của người Ấn Độ khác với người Trung Quốc, vì vậy cách họ diễn đạt cũng khác với cách diễn đạt của người Trung Quốc. Do đó, những dịch giả Phật giáo phải sáng tạo và giới thiệu nhiều từ mới để diễn đạt những tư tưởng và khái niệm rất trừu tượng trong Phật giáo goài việc tìm kiếm những từ và khái niệm tương tự ở trong ngôn ngữ Trung Quốc. Theo đó những từ và khái niệm mới này dần dần sáp nhập vào trong ngôn ngữ Trung Quốc và một số chúng thậm chí trở thành một phần của những giao tiếp hàng ngày. Việc phiên dịch kinh Phật từ tiếng Sanskrit, Pali và những ngôn ngữ Ấn Độ khác đã ảnh hưởng ngữ nghĩa và cú pháp của người Trung Quốc trung đại cũng như làm phong phú thể loại văn học và những kỹ thuật tu từ học. Ngữ âm học Sanskrit đi cùng với việc phiên dịch Phật giáo đã nâng cao nhận thức của người Trung Quốc về ngữ âm học trong ngôn ngữ của họ. Điều này gây nên một sự quan tâm chưa từng thấy trong nghiên cứu ngôn ngữ học, cụ thể là việc diễn đạt và phân tích những giá trị ngữ âm của chữ viết Trung Quốc. Kết quả là việc biên soạn vô số từ điển mà chúng có giá trị to lớn cho việc tái thiết lại những giai đoạn khác nhau của những hệ thống ngữ âm của tiếng Trung Quốc trung đại.

Nhà ngôn ngữ học kiệt xuất Trung Quốc Vương Lực 王力 nói rằng thuật ngữ Phật giáo đã đóng góp cho từ vựng Trung Quốc rất lớn và một số trong những thuật ngữ này đã ăn sâu vào trong máu huyết của người Trung Quốc đến độ người ta thậm chí không biết rằng chúng có nguồn gốc từ Phật giáo. Ví dụ, thế giới 世界 dịch từ tiếng Phạn loka ngày nay được sử dụng phổ biến, nhưng người Trung Quốc cổ xưa sử dụng từ thiên hạ 天下 để nói về thế giới.

Theo nghiên cứu của những học giả hiện đại, việc dịch kinh Phật đã tăng số từ vựng chữ Hán lên ước 35.000 từ, bao gồm nhiều từ vẫn được sử dụng phổ biến, ví dụ phương tiện 方便, tiếng Sanskrit là upāya; và sát-na 刹那 tiếng Sanskrit là kṣaṇa) hòa thượng 和尚(phạn 梵语:upādhyāya,Pali 巴利语:upajjhāya)hòa thượng vốn được dịch từ tiếng Phạn upādhyāya hoặc tiếng Pali upajjhāya chứ không phải gốc tiếng Hán. Không 空, śunya được sử dụng chỉ cho sự không có bản thể. Pháp 法, dharma được sử dụng để chỉ cho tất cả sự vật trong vũ trụ. Nhân 因, hetu có nghĩa là nguyên nhân , duyên 緣, pratyaya có nghĩa là điều kiện, hoàn cảnh. Tự nhiên 自然 và vô vi 無爲, asaṃskṛta là hai từ vay mượn từ Đạo giáo để diễn đạt những ý nghĩa của Phật giáo khi chúng tương đồng với việc sử dụng của Phật giáo. Vô minh 無明, avidyā, hành 行, saṃskāra, thức 識, vijñāna, danh sắc 名色, nāmarūpa, lục nhập 六入, saḍāyatana, xúc 觸, sparśa, thọ 受, vedanā, ái 愛, tṛṣṇā, thủ 取, upādāna, hữu 有, bhava, sanh 生, jāti, lão tử 老死, jarāmaraṇa v.v… Tất cả những từ trong thập nhị nhân duyên 十二因緣 được tìm thấy trong tiếng Trung Quốc cổ, nhưng chúng được trao cho những nghĩa mới để điễn đạt ý nghĩa Phật giáo trong những bản dịch.

Một số lớn từ vựng tiếng Hán thì rõ ràng có nguồn gốc từ tiếng Phạn (sanskrit) hoặc Pali.

Phạm trù đầu tiên và lớn nhất là từ danh xưng chẳng hạn như Phật 佛, Buddha, phiên âm đầy đủ là Phật-đà 佛陀, Bồ-tát 菩薩, Bodhisattva, 菩提薩埵 Bồ-đề-tát-đỏa, La-hán 羅漢, Arhat; 阿羅漢, A-la-hán, Tỳ-kheo 比丘 Bhikṣu, Tỳ-kheo-ni 比丘尼 Bhikṣuni, Tăng 僧, Sangha 僧伽 Tăng-già, Thích Ca Mâu Ni 釋迦牟尼 Śakyāmuni, tháp 塔 stūpa 塔婆 tháp bà, cà-sa 袈裟 kaṣāya, già-lam 伽藍, ārāma (chùa, tịnh xá)…

Phạm trù thứ hai là phiên âm chứ không dịch nghĩa để chỉ những khái niệm mà người TQ rất xa lạ không có sẵn trong tiếng Hán. Bạc-già-phạm 薄伽梵 Bhagavat có nghĩa là bậc Thế Tôn, thiền 禪 dhyāna nói đủ là thiền na 禪那, nghiệp 業 karma, kiếp 劫 kalpa, Niết-bàn 涅槃 nirvāṇa, xá-lợi 舍利, diêm-phù-đề 閻浮提, Jambudvīpa còn gọi là Dɑkwiịɑ-jɑmbu-dvìpɑ Nam thiệm bộ châu 南贍步州 chỉ Nam Á ngày nay. A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề (阿耨多羅三藐三菩提 Anuttarā-samyaksaṃbodhi, Ba-la-mật 波羅蜜 pāramitā, bát-nhã 般若, prajñā. Đông Thắng Thân Châu 東勝神洲 Purva-Videha phía đông núi Tu Di, chỉ Trung Quốc ngày nay.

Phạm trù thứ ba là việc sáng tạo những từ mới bằng việc dịch nghĩa của nó để diễn đạt những khái niệm Phật giáo mới được giới thiệu. Chẳng hạn những từ như: Như Lai 如來 Tathāgata, quy y 皈依 śaraṇa, Tịnh độ 淨土 Sukhāvatī, giải thoát 解脫 mokṣa, luân hồi 輪回 saṃsāra, thật tế 實際 bhūtakoṭi, chân thật 真實 bhūta hay yathābhūtam, hữu tình 有情 sattva, tâm địa 心地, mano bhūmika, công đức 功德 puññā, phương tiện 方便 upāya, vô thường 無常 anitya, vô ngã 無我 anātma, bất khả tư nghị 不可思議 acintya v.v…

Khoa học Kỹ thuật và công nghiệp

Chữ Hán, Thi ca Âm nhạc, Triết học Tôn giáo thuộc về văn hóa cổ xưa của TQ. Âm nhạc TQ cũng có nhạc mới, nhạc hiện đại nhưng không phải lĩnh vực nổi trội của TQ ngày nay. Cái nổi trội nhất của TQ hiện đại chính là một nền công nghiệp khổng lồ, tất cả mọi loại sản phẩm người TQ đều tham gia sản xuất, buôn bán, xuất khẩu, nghiên cứu, phát minh sáng chế.

Thời cổ khoa học kỹ thuật của TQ bị kìm hãm do một nền tư tưởng không khuyến khích khoa học, không khuyến khích phát minh sáng chế vì sợ cơ tâm sẽ làm hỏng đức hạnh và cuộc sống lành mạnh của con người.

Ngày xưa ở TQ có quan niệm phản đối cơ tâm

Cơ tâm là cái trí xảo nghĩ ra những cách lợi dụng tự nhiên, lợi dụng các quy luật, dùng mưu trí để giành thắng lợi thay cho dùng sức của mình.

Chẳng hạn có người lợi dụng dòng suối chảy, lợi dụng sức của nước để múc nước đưa lên cao rồi nước tự chảy về nhà qua máng dẫn không cần phải ra sức gánh nước. Điều đó trái với sự tự tại của các thiền sư như câu thơ của Bàng Uẩn 龐蘊:

神通并妙用 Thần thông tịnh diệu dụng Thần thông và diệu dụng

運水及般柴 Vận thủy cập ban sài Gánh nước và bửa củi

Và có người chê rằng cái trí xảo đó là cơ tâm sẽ làm mất đi sự trong sáng của tâm hồn con người, nên họ không hoan nghênh. Chẳng hạn trong sách Trang tử 莊子, thiên Thiên địa 天地 có câu:

Cơ tâm tồn ư hung trung, tắc thuần bạch bất bị 機心存於胸中, 則純白不備 (Để cơ tâm ở trong lòng thì tính trong sáng trong tâm hồn không còn vẹn toàn nữa).

Lưu Cơ 劉基 (1311- 1375 tức Lưu Bá Ôn, thụy hiệu Văn Thành, nhà văn, nhà thơ và là công thần khai quốc của triều đại nhà Minh (ai xem bộ phim Lưu Bá Ôn Kỳ Truyện thì biết rõ nhân vật này):

Tảo tức cơ tâm lao dịch thiểu, Lãn văn thế sự vãng lai sơ. 早息機心勞役少, 懶聞世事往來疏 (Bài từ 詞 Hoán khê sa 浣溪沙 ) Sớm dứt cơ tâm ít nhọc nhằn, Lười nghe thế sự thưa qua lại. Ý nói sớm dừng cái cơ tâm giúp cho việc lao động cực nhọc ít đi, thì sẽ có nhiều thời giờ để tới lui xóm giềng bàn chuyện đời thị phi vô bổ. Còn nếu không có cơ tâm thì phải mất nhiều thời giờ lao động vất vả thì sẽ lười không rảnh việc qua lại xóm giếng bàn luận thế sự thị phi.

Bàng Uẩn là người giác ngộ,Trang tử, Lưu Bá Ôn đều là những nhà trí thức hàng đầu của TQ thời xưa, nhưng họ không hoan nghênh cơ tâm, cũng tức là họ không hoan nghênh cơ khí hóa, sử dụng máy móc công nghiệp hóa thay cho cơ bắp của người lao động. TQ đã phải trả giá rất đắt cho quan niệm này với 100 năm ô nhục vì thua kém lạc hậu so với phương tây, ngay cả bị một tiểu quốc lân cận là Nhật Bản đè đầu cỡi cổ từ 1895 đến 1945.

Cơ tâm nổi bật ngày nay chính là trí thông minh nhân tạo (artificial intelligence) là một hạng mục vô cùng quan trọng của khoa học kỹ thuật ngày nay. Đến nay ai mà không sử dụng điện thoại thông minh (smartphone)? Nó chính là một sản phẩm kỳ diệu của cơ tâm.

Ngày xưa các bậc giác ngộ của Ấn Độ, chẳng hạn các tổ sư, cũng chỉ có thể truyền dạy giáo pháp để mọi người biết cách sống. Họ cũng có dạy trung đạo nhưng rất ít người biết ứng dụng. Kết quả là Phật giáo đã bị quét sạch khỏi Ấn Độ vào thế kỷ 12, được đánh dấu bằng việc người Hồi giáo tàn phá Đại học Phật giáo Nalanda vào khoảng năm 1190 CN.

Tại sao một quốc gia sản sinh ra một nhân vật giác ngộ vĩ đại như Đức Phật nhưng rốt cuộc cho đến ngày nay, dân chúng vẫn còn rất nghèo nàn lạc hậu? Chính vì tuyệt đại đa số người dân đã không biết ứng dụng trung đạo, người theo Phật giáo thì cứ chấp chặt vào giáo môn, họ không biết hễ cái gì lệch một bên đều là tà đạo. Người theo Ấn giáo thì suốt ngày nghĩ tới thần linh mà thiếu đầu óc thực tiễn khoa học. Nhiều Phật tử vẫn cứ nghĩ rằng suốt đời tụng kinh, niệm Phật, siêng năng trì giới, tu hành khổ hạnh, đến khi chết, hỏa táng thu được rất nhiều xá lợi, vậy là thành công đắc đạo rồi. Nhưng theo Thiền thì hỏa táng dù thu được rất nhiều xá lợi vẫn chưa phải là giác ngộ. Hãy nghe thuyết giảng của thầy Duy Lực.

Xá lợi có giá trị gì không?

TQ cũng như Ấn Độ đều là những nền văn minh cổ đại của nhân loại, họ có nhiều nhân tài phát minh sáng chế, chẳng hạn TQ có tứ đại phát minh thời cổ (Giấy, in ấn, la bàn và thuốc súng); Ấn Độ phát minh ra số zero, con số có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong toán học và triết học. Nhưng vì những nhà trí thức thông thái thời xưa họ hướng dẫn quần chúng nhân dân đi theo con đường quá chú trọng văn minh tâm linh tinh thần mà coi nhẹ khoa học kỹ thuật khiến cho đời sống vật chất của đông đảo người dân không được cải thiện.

Ngày nay thì ngược lại, xã hội quá coi trọng cuộc sống vật chất, khoa học kỹ thuật thì phát triển nhưng văn minh tinh thần thì lại bị xem nhẹ, con người cũng vẫn bi quan, không phải vì thiếu thốn vật chất mà vì mất cân bằng, mất phương hướng, bệnh tật phát sinh nhiều, tranh chấp chiến tranh vẫn không ngớt. Rốt cuộc đối với nhiều người cũng vẫn là bất hạnh

Tóm lại con người muốn có cuộc sống hài hòa hạnh phúc thì phải thực hành trung đạo, tránh biên kiến. Biên kiến sẽ dẫn đến tà đạo, tà đạo thì không thể hạnh phúc vững bền.

Tuy vậy thời cổ TQ cũng đã có những phát minh lớn đi trước thế giới.

  1. GIẤY

Trước khi phát minh ra giấy, con người chỉ biết ghi chép lại các văn tự trên đá, đất sét, thẻ tre, lụa. Việc phát minh ra giấy có một ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với lịch sử nhân loại. Nó giúp truyền bá và lưu giữ văn hóa, tri thức, tư tưởng, lịch sử,…Từ năm 105 CN thời Đông Hán, kỹ thuật làm giấy đã xuất hiện tại Trung Quốc nhưng Thái Luân – một thái giám (50 – 121) đã cải tiến cách làm giấy dựa trên kỹ thuật làm giấy đã có, thì đây mới thật sự là một cuộc cách mạng. Giấy được sử dụng rộng rãi và truyền tới châu Âu vào thế kỷ 12.

  1. RƯỢU

Khoảng đầu thế kỷ thứ III TCN, người Trung Quốc đã nghĩ ra cách để xử lý các sản phẩm như giấm và nước tương bằng việc sử dụng công nghệ lên men và chưng cất.. Không lâu sau đó, rượu ra đời. Bằng chứng xác thực nhất là vào năm 2013, một mảnh gốm có niên đại 9.000 năm tuổi đã được phát hiện ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc cho thấy sự người Trung Quốc đã biết đến rượu 1000 năm trước khi các cư dân của bán đảo Ả Rập biết ủ rượu.

  1. LA BÀN

La bàn là công cụ dùng để xác định phương hướng hiệu quả và chính xác bậc nhất. Hiện nay là bàn vẫn được sử dụng rộng rãi. Ít ai biết rằng la bàn có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc trong khoảng khoảng thế kỷ 2 TCN đến thế kỷ 1 CN. Trung quốc cũng được coi là nước đầu tiên dùng la bàn trong ngành hàng hải, sau đó qua các tàu buôn, la bàn dần trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi đến tận ngày nay.

  1. ĐỒNG HỒ CƠ KHÍ

Nguyên mẫu của các loại đồng hồ cơ khí ngày nay cũng đều bắt nguồn từ Trung Quốc. Chiếc đồng hồ cơ học đầu tiên được Trương Hành 张衡 phát minh vào thời Đông Hán – một thiên cầu xoay rò rỉ nước, có bánh răng kết nối thiên cầu và đồng hồ nước để tạo thành đồng hồ nước đo thời gian. Nước rò rỉ từ đồng hồ nước đẩy thiên cầu quay với tốc độ không đổi, mỗi vòng quay là một ngày 24 giờ.

  1. MÁY PHÁT HIỆN ĐỘNG ĐẤT

    Theo các ghi chép thì Zhang Heng (Trương Hành 张衡78 – 139) vào thế kỷ thứ 2 cũng là người đã phát ra máy đo động đất đầu tiên với công dụng là xác định phương hướng của trận động đất.

  2. GỐM SỨ

Đồ sứ là một phát minh vĩ đại vào thời Trung Hoa cổ đại. Được biết, đồ sứ xuất hiện lần đầu tiên vào triều đại nhà Thương (1600 TCN – 1046 TCN) với gốm sứ men tro, gốm men ngọc. Đến thời nhà Tống (960 – 1279) công nghệ sản xuất đồ sứ đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ về độ tinh xảo, kiểu dáng, hoa văn, các loại men và kỹ thuật chế tác. Gốm sứ được phổ biến đến châu Âu qua Con Đường Tơ Lụa khoảng thế kỷ thứ 10-14 (thời Tống, Nguyên), cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cảng Tuyền Châu. Cảnh Đức Trấn 景德鎮, huyện Đức Hóa 德化縣 thuộc thành phố Tuyền Châu 泉州市 tỉnh Phúc Kiến là vùng đất xuất khẩu gốm sứ cổ từ Trung Quốc ra thế giới với số lượng lớn sớm nhất nước này.

  1. LUYỆN SẮT

Các bằng chứng khảo cổ phát hiện được cho thấy kỹ thuật rèn sắt đã được phát triển ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ thứ 5 TCN vào thời nhà Chu (1050 TCN – 256 TCN). Đến thời Xuân Thu Chiến Quốc, những cuộc chiến tranh phe phái đã tạo điều kiện cho ngành này phát triển nhanh chóng. Đến thời nhà Hán (202 TCN – 220 SCN), triều đình đã độc quyền ngành rèn sắt này và sau đó đạt đến một trình độ điêu luyện về rèn luyện vũ khí và đồ gia dụng.

  1. TƠ LỤA

Nghề dệt lụa xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc có thể từ rất sớm khoảng năm 6000 trước công nguyên. Ban đầu, chỉ có vua mới được dùng hoặc ban tặng cho người khác; tuy nhiên sau đó thì lụa dần dần được các tầng lớp xã hội ở Trung Quốc dùng rồi lan ra đến các vùng khác của châu Á. “Con đường tơ lụa” mở ra bắt đầu từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh, Trường An qua Mông Cổ, Ấn Độ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, xung quanh vùng Địa Trung Hải và đến toàn châu Âu nhằm đưa tơ lụa từ Trung Quốc tới châu Âu và châu Phi.

  1. THUỐC SÚNG

Đây là phát minh nổi tiếng bậc nhất của người Trung Quốc cổ đại. Theo các truyền thuyết để lại thi thuốc súng vô tình được các đạo sĩ chế ra khi luyện đan để pha chế thuốc trường sinh cho Vua chúa. Họ đã trộn các nhân tố lưu huỳnh, than củi, và diêm tiêu. Hỗn hợp ba chất này cháy rất mạnh, chính vì vậy người ta còn gọi hỗn hợp này là “hoả dược” tức thuốc súng.

  1. KỸ THUẬT IN ẤN

Giấy đã được phát minh từ lâu dưới thời Đông Hán nhưng người ta chỉ khắc chữ trên bảng gỗ và bôi mực lên để in, lâu lắc và bất tiện. Đến triều đại nhà Tống, đời Tống Nhân Tông, Tất Thăng 毕昇 đã nhận thức về những hạn chế này, ông đã tiến hành cải tiến bằng cách chạm khắc các ký tự riêng lẻ. Việc chạm khắc này thực hiện trên mảnh đất sét mịn đã tạo ra các ký tự giống hệt nhau và cứng cáp. Điều này cho phép sắp xếp từng ký tự riêng lẻ tùy thuộc vào văn bản cần in. Khi quá trình in ấn hoàn thành, các ký tự này có thể được lưu trữ và sử dụng lại cho các lần in tiếp theo. Đây là bước quan trọng mở ra thời kỳ in ấn hiện đại và có ảnh hưởng lớn đến việc truyền đạt kiến thức trong xã hội. Sau này, khi công nghệ chế tạo giấy và làm mực phát triển, kỹ thuật in khắc bản dần hoàn thiện và trở thành một trong những thành tựu nổi bật của nền văn minh Trung Quốc có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn minh nhân loại.

Trong các phát minh trên, Giấy, La bàn, Thuốc súng và Kỹ thuật in ấn được coi là tứ đại phát minh thời cổ của TQ.

Khoa học Kỹ thuật hiện đại của TQ

Ngày nay, cụ thể là đến năm 2025, TQ đã đạt được những bước tiến nổi bật trong các lĩnh vực sau:

-Đường sắt cao tốc: Vào đầu thế kỷ 21, Trung Quốc không có đường sắt cao tốc nhưng họ đã phát triển cực kỳ nhanh trong khoảng 2 thập kỷ nay. Số liệu mới nhất vừa công bố ngày 26/12/2024 cho thấy, mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc đã dài khoảng 47.000 km. Theo kế hoạch, tàu cao tốc chở khách nhanh nhất thế giới với tốc độ thiết kế 450 km/giờ dự kiến sẽ được nước này đưa vào vận hành trong năm 2025. Nước đứng thứ hai về đường sắt cao tốc là Tây Ban Nha đến tháng 9-2024 có 3.973km. Nước đứng thứ ba là Nhật Bản đến cuối năm 2024 có khoảng 3000km đường sắt cao tốc. Mỹ chỉ có 604 km đường sắt cao tốc đang vận hành mang tên Acela Express, tại Hành lang Đông Bắc giữa Boston, New York và Washington, D.C. với tốc độ tối đa là 240km/giờ, thực tế chỉ là 160km/giờ. -Xe hơi điện: Năm 2024 cũng là năm đầu tiên dự báo doanh số xe điện có khả năng vượt xe xăng. Đây được xem là bước ngoặt lịch sử đưa thị trường ô tô Trung Quốc vượt xa các đối thủ phương Tây. Theo dự báo từ các công ty đầu tư lớn như UBS, HSBC, Morningstar và Wood Mackenzie, doanh số xe điện của Trung Quốc dự kiến đạt 12 triệu chiếc vào năm 2024, tăng mạnh 20% so với 2023. Ở chiều ngược lại, doanh số của các dòng xe động cơ đốt trong dự kiến sẽ giảm 10%, xuống dưới 11 triệu chiếc. Năm 2024, thị phần của ô tô nước ngoài tại TQ giảm chỉ còn 37%, so với 64% vào năm 2020.

Siêu xe điện Xiaomi SU7 Ultra giá 114200 USD

Trong năm 2024, lượng xe hơi con sản xuất tại Trung Quốc là 31.282.000 chiếc, đứng đầu thế giới. Trong khi đó sản lượng tại Mỹ là 16 triệu chiếc. Trung Quốc lần đầu tiên trở thành nước xuất khẩu ô tô lớn nhất thế giới vào năm 2023, khi xuất khẩu hơn 5,2 triệu chiếc xe. Trong năm 2024, TQ tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu về xuất khẩu ô tô trên thế giới, với khoảng gần 6 triệu chiếc được xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

Thành tích thám hiểm vũ trụ của TQ

-Trạm không gian vũ trụ: Từ năm 2022 TQ đã hoàn thành xây dựng trạm không gian riêng của mình mang tên Thiên Cung 天宫 cấu tạo hình chữ T gồm 3 mô-đun. Module chính Thiên Hòa 天和 và hai module làm việc mang tên Vấn Thiên 问天và Mộng Thiên 梦天 Trạm Thiên Cung có vị trí cách mặt đất từ từ 340 đến 450 km, có khối lượng từ 80 đến 100 tấn, thể tích khả dụng 110 m3. Chu kỳ quay một vòng quanh quỹ đạo Trái đất là 92,2 phút . Ngày 30-10-2024 TQ đã phóng tàu Thần Châu 19 đưa 3 phi hành gia lên trạm không gian. Từ lúc xây dựng trạm Thiên Cung từ năm 2021 đến nay, đã có 8 đoàn phi hành gia lên trạm không gian mỗi đoàn 3 người.

Trạm vũ trụ Thiên Cung 天宫 đã hoàn tất năm 2022

Ngoài tự lực xây dựng trạm không gian riêng của mình, TQ còn có nhiều thành tích khám phá vũ trụ có tiếng vang.

Tháng 1-2019 tàu Hằng Nga 4 với xe tự hành Thỏ Ngọc 2, lần đầu tiên loài người có thiết bị đáp xuống vùng khuất của Mặt trăng. Vùng khuất là phần mặt trăng không bao giờ quay về phía Trái đất nên không thuận tiện cho phi thuyền đáp xuống vì không thể nhìn thấy và liên lạc được. TQ phải dùng vệ tinh Thước Kiều 鹊桥 làm chiếc cầu Ô Thước đặt tại vị trí Lagrange 2 (L2) để tiếp vận tín hiệu liên lạc với tàu Hằng Nga 4 và Thỏ Ngọc 2. Trong tương quan giữa Mặt trời và Trái đất, người ta xác định có 5 điểm Lagrange.

5 vị trí Lagrange trên quỹ đạo Trái đất quanh Mặt trời

Ngày 25-06-2024 Khoang trở về của tàu Hằng Nga 6 đã lần đầu tiên của nhân loại mang 1.935,3 gram đất đá từ vùng khuất của mặt trăng về Địa cầu.

Mẫu vật Mặt trăng được bỏ vào thùng bảo vệ sau lễ bàn giao -Ngày 15-05-2021 tàu vũ trụ Thiên Vấn 1 天问一号 đáp xuống Hỏa Tinh. Cơ quan Vũ trụ Quốc gia Trung Quốc (CNSA) xác nhận tàu thăm dò Zhurong Chúc Dung 祝融 trong sứ mệnh Thiên Vấn 1 đáp thành công xuống khu vực Utopia ở phía nam Sao Hỏa lúc 7h18 phút (giờ Bắc Kinh) tức 6 giờ 18 phút (giờ Hà Nội). Thành công này đưa Trung Quốc trở thành nước thứ hai sau Mỹ có tàu vũ trụ hạ cánh xuống bề mặt sao Hỏa kể từ năm 1973. Ngày 2-12-1971 tàu vũ trụ Mars 3 của Liên Xô có thả một xe đổ bộ nhỏ xuống Hỏa Tinh nhưng liên lạc đã bị mất chỉ sau 110 giây. Về sau người ta biết xe đã đáp được xuống bề mặt Sao Hỏa nhưng chỉ hoạt động được 15 giây và chỉ gởi được một ảnh không hoàn chỉnh về Địa cầu. Do đó sứ mệnh chưa được xem là thành công. Xe tự hành Chúc Dung dự trù hoạt động 3 tháng trên Sao Hỏa nhưng thực tế hoạt động được một năm, đến tháng 5-2022 Chúc Dung ngủ đông nhưng sau đó không dậy dược do bụi bám trên các tấm pin mặt trời quá nhiều khiến nó không đủ năng lượng để thức dậy hoạt động.

Xe Chúc Dung và bộ phận đáp Hỏa tinh của tàu Thiên Vấn 1 (Tianwen-1 lander)

Các công ty công nghệ truyền thông TQ

Nếu Mỹ có những công ty công nghệ lớn (Big Tech) bao trùm thế giới như Alphabet (sở hữu Google), Facebook, Microsoft, Amazon, Nvidia, Apple… thì TQ cũng có những công ty tương tự bao trùm TQ, như Baidu 百度, Alibaba 阿里巴巴 (sở hữu Alipay 支付宝), Tencent 騰訊 (sở hữu Wechat 微信), ByteDance 字节跳动 (sở hữu Douyin 抖音 và Tiktok), RedNote 小紅書, Huawei 华为 Vài công ty cũng có ảnh hưởng lan ra thế giới, chẳng hạn như TikTok, Deepseek…

TikTok có hơn 1,5 tỷ người sử dụng trên khắp thế giới không kể TQ, trong đó riêng người Mỹ là 170 triệu chiếm một nửa dân số Mỹ. Riêng Douyin có 750 triệu người sử dụng tại TQ.

Nếu Google là công cụ tìm kiếm phổ biến trên toàn thế giới thì Baidu là công cụ tìm kiếm bằng tiếng Trung phổ biến tại TQ. Baidu maps là một bản đồ điện tử cho phép người dùng có thể truy cập vị trí đến địa điểm mong muốn hay tìm kiếm những địa điểm lân cận không chỉ ở riêng TQ mà còn trên phạm vi bản đồ thế giới. Các loại xe tự hành không người lái tại TQ hiện nay đều sử dụng Baidu maps. Các thành phố và liên thành phố sau đây đã có hoạt động taxi tự lái:

Bắc Kinh, Thượng Hải, Trùng Khánh, Ordos (Nội Mông), Thẩm Dương, Trường Xuân, Nam Kinh, Tô Châu, Vô Tích, liên minh Hàng Châu-Đồng Hương-Đức Thanh, Hợp Phì, Phúc Châu, Tế Nam, Vũ Hán, Thập Yển, Trường Sa và Quảng Châu, Thâm Quyến , Liên doanh Hải Khẩu-Tam Á-Quỳnh Hải, Thành Đô.

Phóng viên VTV Thái Bình trải nghiệm xe tự lái tại TQ

Công ty Huawei và mạng 5G tại TQ

Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin Trung Quốc cho biết, tính đến tháng 10/2024, tổng số trạm gốc 5G ở Trung Quốc lên tới 4,2 triệu, đứng đầu thế giới về quy mô mạng lưới. Số trạm gốc này chiếm hơn 60% tổng số toàn cầu. TQ vừa đạt một cột mốc quan trọng khi số thuê bao điện thoại di động 5G tại nước này vượt 1,002 tỷ thuê bao vào cuối tháng 11/2024, chiếm 56% tổng số thuê bao di động. Hiện Trung Quốc đã đạt tỷ lệ 29 trạm gốc 5G trên mỗi 10.000 dân, mục tiêu đến năm 2027 bao gồm 38 trạm gốc 5G trên mỗi 10.000 dân.

Hiện nay Hàn Quốc có số lượng trạm gốc trên 10.000 dân cao nhất là 59,3, tiếp đến là Litva 32,8, TQ 29 và Phần Lan 25,1. Mức trung bình của các thành viên OECD (=Organization for Economic Co-operation and Development = Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển) là khoảng 10 trạm gốc 5G/10.000 dân.

Một báo cáo khác trong ngành ước tính rằng trong 5 năm kể từ khi 5G được thương mại hóa tại Trung Quốc vào năm 2019, công nghệ này đã trực tiếp thúc đẩy tăng tổng sản lượng kinh tế trị giá tương đương khoảng 767 tỷ USD . Kế hoạch sắp tới là thúc đẩy áp dụng công nghệ 5G-A (5G Nâng cao) và tích hợp sâu với trí tuệ nhân tạo. Ngoài ra, Thượng Hải còn tích hợp 5G với công nghệ tiên tiến như robot hình người và hệ thống năng lượng mới

Hệ thống 5G tại TQ đã được ứng dụng kết nối với hoạt động công nghiệp (khai thác than, sản xuất hàng hóa), thương mại lưu thông hành hóa (các cảng biển), giao thông (kiểm tra độ an toàn của các đường rail cao tốc), y khoa (khám chữa bệnh từ xa)…

Ở các bến cảng, những người điều khiển cần cẩu ngồi trong buồng lái cách mặt đất 50 mét, điều chuyển container hàng hóa giữa xe tải và tàu biển. Trong mỗi giờ, họ có thể di chuyển từ 28 đến 30 container. Hỗ trợ bởi cơ sở hạ tầng viễn thông 5G cẩu thông minh có thể điều phối hoạt động bốc dỡ 36 container TEU (20 feet)/ giờ, nhanh hơn so với hệ thống con người bốc dỡ thủ công. Nhà ga C, là “Trung tâm thông minh” của Cảng Thiên Tân, một cầu cảng được số hóa hoàn toàn và tự động, nơi cần cẩu bờ, cần trục, xe nâng được điều khiển bởi một trung tâm chỉ huy cách đó hàng dặm. Yang Jiemin, Phó Chủ tịch Tập đoàn Cảng Thiên Tân, cho hay số hóa “là xu hướng của ngành, một hướng đi không chỉ đối với các cảng Trung Quốc mà còn đối với tất cả các cảng toàn cầu.

Lợi ích của tự động hóa là rõ ràng. Một đội ngũ gồm 200 nhà khai thác và kỹ sư có thể quản lý sản lượng 1 triệu TEU hàng năm tại Nhà ga C của Cảng Thiên Tân. Số nhân lực này chỉ bằng khoảng 25% số nhân viên cần thiết trong một năm điển hình của thời kỳ tiền kỹ thuật số. Cảng Thiên Tân là nơi trưng bày công nghệ mới nhất của Huawei, khi nhà cung cấp thiết bị mạng điện thoại lớn nhất thế giới tìm cách “tự tái tạo” sau hơn 4 năm bị Mỹ đưa vào danh sách trừng phạt, tăng mức độ sử dụng của họ vào cơ sở hạ tầng viễn thông 5G vốn là thế mạnh của tập đoàn.

Dịch vụ số hóa hỗ trợ 5G đang là yếu tố chính để hiện đại hóa xương sống ngành sản xuất công nghiệp tại các mỏ than của Trung Quốc , bến cảng và thậm chí cả bệnh viện.

Trong dự án của Huawei với Shaanxi Coal Industry (doanh nghiệp nhà nước sở hữu Hóngliǔlín méikuàng 红柳林煤矿, Hồng Liễu Lâm Môi Khoáng, mỏ than lớn nhất Trung Quốc), nhà sản xuất thiết bị viễn thông này không chỉ lắp đặt các trạm cơ sở 5G mà còn cung cấp khả năng điện toán đám mây và AI để cùng nhau tạo ra một bản sao kỹ thuật số của hoạt động ngầm trên một nền tảng trực tuyến trong phòng chỉ huy.

Những thiết bị này dự kiến sẽ hỗ trợ tải lên dữ liệu thời gian thực một cách ổn định và nhanh chóng từ máy móc, cảm biến và camera độ phân giải cao không cần nhân viên, giúp ngành công nghiệp nguy hiểm nhất Trung Quốc cắt giảm số lượng người được cử đi làm việc dưới lòng đất trong các hầm mỏ.

“Chúng tôi từng có 13 người dưới mặt đất trong một ca làm việc, nhưng giờ chỉ còn 7 người. Chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ chỉ cần năm người làm việc dưới lòng đất trên mặt than”, Fu Shaohui là một công nhân khai thác than tại tỉnh Thiểm Tây cho hay.

Trí tuệ nhân tạo DeepSeek gây chấn động thế giới

DeepSeek đang là cái tên được giới công nghệ thế giới nhắc đến nhiều nhất kể từ ngày 20-01-2025 khi mô hình AI mang tên R1 xuất hiện, vậy nó có đặc điểm gì?

Mô hình AI DeepSeek khởi nghiệp tại Hàng Châu do Lương Văn Phong sáng lập

Đó là một mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) của TQ. Giới công nghệ toàn cầu phải kinh ngạc về sự thông minh, tính hiệu quả với mức chi phí vận hành và đầu tư ban đầu thấp hơn rất nhiều so với các công cụ AI khác hiện nay như ChatGPT, Gemini. Sự xuất hiện của DeepSeek đang khiến Nvidia, công ty chế tạo chip tiên tiến nhất thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Giá cổ phiếu của Nvidia đã sụt giảm hơn 20%, khiến giá trị vốn hóa của công ty “bay hơi” hơn 600 tỷ USD chỉ tính riêng trong ngày thứ hai (27/1) vừa qua.

Mô hình AI mới này được phát triển bởi DeepSeek, một công ty khởi nghiệp mới được thành lập tại Hàng Châu cách đây một năm. Người sáng lập công ty này là Lương Văn Phong, sinh năm 1985, tốt nghiệp cử nhân và thạc sĩ ngành kỹ thuật điện tử và thông tin tại Đại học Chiết Giang. Dù tuổi đời ngắn, sức mạnh của DeepSeek đã có thể sánh ngang hoặc thậm chí vượt trội so với những mô hình AI nổi tiếng như ChatGPT của OpenAI, Gemini của Google, CoPilot của Microsoft hay Llama của Meta…DeepSeek cũng là mô hình ngôn ngữ lớn mã nguồn mở, nghĩa là các công ty khác có thể sử dụng DeepSeek trong các sản phẩm của mình, đồng thời DeepSeek cũng có thể được phát triển nhờ vào sự đóng góp của cộng đồng.

Theo tiết lộ của @dorialexander trên mạng xã hội X, DeepSeek R1 đang chạy các tác vụ suy luận (inference) trên chip Ascend 910C của Huawei, dù vẫn dựa vào GPU NVIDIA H800 để huấn luyện. Huawei được cho là đã lên kế hoạch sản xuất hàng loạt chip Ascend 910C từ quý 1/2025, thu hút sự quan tâm từ các ông lớn AI trong nước như ByteDance và Tencent. Hiện tại các thông tin về nguồn lực tính toán được sử dụng cho mô hình R1 của DeepSeek vẫn chưa rõ ràng và đang có nhiều hiểu lầm trên truyền thông. Trước hết, con số “5 triệu USD” không phải là tổng chi phí huấn luyện mà chỉ là chi phí để chạy mô hình cuối cùng. Thứ hai, có thông tin cho rằng DeepSeek có quyền truy cập vào hơn 50.000 GPU H100 của NVIDIA, điều này ngụ ý công ty vẫn cần nguồn lực tương tự như các mô hình AI khác.

Công nghiệp năng lượng sạch của TQ

Năng lượng gió

Thiết bị sản xuất điện bằng gió của TQ hiện đã thống trị thế giới với tổng công suất lắp đặt như sau: Dựa theo số liệu của Cục Thống kê Điện lực Trung Quốc: Tính từ ngày 1/1/2023 đến 31/12/2023, các công ty tại Trung Quốc đã lắp đặt 116.490 MW tức 116,49 GWđiện gió (bao gồm các dự án trong nước và quốc tế). Số liệu được nghiên cứu thống kê dựa trên tổng số dự án của 14 nhà thầu sản xuất tua bin tại 779 dự án điện gió đã thực hiện trong năm 2023 lắp đặt tại Trung Quốc và trên toàn thế giới.

Với ưu thế về giá thấp hơn nhiều so với châu Âu, hay của Hoa Kỳ và qua 2 năm vận hành thực tế tại Việt Nam, các tua bin gió của các hãng hàng đầu Trung Quốc đã chứng minh được sản lượng phát điện, cũng như chất lượng không thua kém so với công nghệ cùng loại của các nước phát triển.

Ngoài ra, công nghệ điện gió Trung Quốc cũng có lợi thế về giá vận hành tua bin, cũng như có nhiều phương án linh hoạt và phù hợp trong việc phối hợp vận hành dự án cùng chủ đầu tư.

Với Mỗi turbine 16 MW lắp đặt trong dự án có ổ trục turbine cao 146 m, tương đương tòa nhà 50 tầng. Cánh quạt có đường kính 252 m và diện tích quét 50.000 m2. Mỗi vòng quay, turbine có thể sản xuất 34,2 kWh điện, và 66 GWh trong một năm, đủ để cung cấp cho 25.000 hộ gia đình.

Tuabin gió công suất lớn nhất thế giới có tên MySE 22MW của hãng Mingyang 明阳智能(Minh Dương trí năng) có rotor (bộ phận chuyển động của tuabin, có cánh quạt gắn vào) dài hơn 310 mét là tuabin gió lớn nhất hiện nay trong kỹ thuật điện gió ngoài khơi. Diện tích quét ít nhất là 75.477 m2. Sản lượng điện của nó còn cao hơn nhiều so với tuabin 16MW.

Các cty điện gió TQ tổng hợp tại thị trường trong nước và quốc tế

Các cty điện gió TQ tại thị trường Quốc tế

Tuabin gió 22MW của Mingyang (明阳智能Minh Dương trí năng)

Năng lượng mặt trời

TQ cũng là nước thống trị về năng lượng mặt trời cụ thể là các tấm pin mặt trời để sản xuất điện năng. TQ thống trị tuyệt đối ngành sản xuất pin mặt trời toàn cầu.

Tại nhà máy công suất 2 GW mỗi năm của Eco Green Energy ở Nam Thông, tỉnh Giang Tô, chỉ khoảng 30 công nhân làm việc và tăng lên 45 vào mùa cao điểm. Quá trình sản xuất hầu hết đều tự động bằng chính các máy móc nội địa. TQ chiếm ba phần tư công suất sản xuất tấm pin mặt trời thế giới vào 2021. Đến nay, vài công ty Trung Quốc đã chuyển một phần sản xuất sang Đông Nam Á để tránh các rào cản thương mại của Washington. Vì vậy, thị phần sản xuất pin mặt trời của các nước châu Á khác đạt khoảng 14%, trong khi châu Âu và Mỹ chỉ nắm giữ lần lượt 3% và 1%. Mô-đun pin mặt trời của TQ bán ra nước ngoài chiếm 80% tổng xuất khẩu toàn cầu, đạt tổng công suất phát điện khoảng 220.000 MW, tăng hơn 55.000 MW so với năm 2022. Khách hàng tiêu thụ chính là châu Âu, chiếm 46,35%. Tiếp đến là châu Á 23%, Mỹ Latinh và Caribe thị phần lớn thứ ba với 14%.

Tại Hội nghị Năng lượng mới Thượng Hải – một trong những hội chợ thương mại lớn nhất trong ngành, được tổ chức vào giữa tháng 6-2024. Các nhà triển lãm lớn đều là nội địa như Longi, Chint, Q-Sun, Yingli, Sunflower. “Hầu như mọi thứ đều diễn ra ở Trung Quốc và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt”, Chris Cheng, Giám đốc bán hàng Morego Solar trụ sở tại Nam Kinh nhận xét.

Công nhân làm việc trong dây chuyền sản xuất mô-đun quang điện ở Liên Vân Cảng, Giang Tô 2024

TQ có lợi thế hoàn toàn trong toàn bộ chuỗi cung ứng sản xuất pin mặt trời, từ vật liệu, chi phí đến công nghệ . Sản xuất vật liệu cơ bản từ silicon là ví dụ. Silicon phải được nung nóng đến nhiệt độ rất cao để tinh chế và hình thành các khối dùng tạo ra tế bào quang điện. Trong quá trình này, chi phí điện chiếm 40% giá thành. Nhờ có nhiệt điện than rẻ nên tinh chế silicon ở Trung Quốc chỉ tốn khoảng 75 USD mỗi mWh, thấp hơn 30% so với chi phí trung bình toàn cầu. Tại Eco Green Energy, dây chuyền cung cấp bởi Autowell tại Vô Tích, cách đó chưa đầy 100 km. Họ đánh bại các nhà cung cấp Đức nhờ giá thấp và công nghệ được cập nhật trung bình 2 năm một lần, cho phép tấm pin tạo ra nhiều năng lượng hơn trên cùng một diện tích bề mặt. Eco Green Energy có 8 máy như vậy, với mỗi cái giá khoảng 150.000 USD. Mỗi máy có kích thước chục mét nhưng được giao trong vòng một tháng và lắp đặt tại chỗ với khả năng bảo trì nhanh chóng. Chuỗi cung ứng cũng được tổ chức rất nhanh. Dalibor Nikolovski, đồng sáng lập Eco Green Energy cho biết chỉ cần đặt hàng vào buổi sáng thì vật tư – tế bào quang điện, thanh và tấm nhôm anod và kính đặc biệt – được giao ngay buổi chiều. “Ở châu Âu, các tế bào quang điện cũng có nguồn gốc Trung Quốc cần 2 tháng để vận chuyển đến, “, ông so sánh.

Nhà máy của công ty mới vận hành từ 2022, sau khi lựa chọn giữa hàng loạt ưu đãi về giá thuê đất, đơn giản hóa thủ tục hành chính, khả năng tiếp cận cao tốc và bến cảng của các khu công nghiệp khác nhau ở Nam Thông. Chỉ mất tổng cộng 6 tháng để tìm vị trí, xây nhà máy, lắp đặt máy móc và đi vào hoạt động. Chi phí lao động TQ cũng là một yếu tố cạnh tranh nhưng ngày nay chỉ là thứ yếu, đặc biệt khi tiền lương ở các khu vực phát triển như Giang Tô đôi khi còn cao hơn ở Đông Âu. Theo IEA (International Energy Agency), chi phí trên toàn bộ chuỗi cung ứng pin quang điện ở Trung Quốc rẻ hơn 10% so với Ấn Độ, 20% so với Mỹ và 35% so với châu Âu. IEA cho hay giá tấm pin mặt trời toàn cầu đã giảm gần 50% trong năm ngoái. Hiện tại, nhà sản xuất pin mặt trời lớn nhất thế giới cũng là của TQ, tên là Longi Solar. Hồi tháng 3-2024, họ xác nhận đang cắt giảm 5% lực lượng lao động, thay bằng robot tự động.

Longi Solar 隆基綠能科技股份有限公司(Long Cơ Lục Năng Khoa Kỹ Cổ Phần Hữu Hạn Công Ty) hiện diện toàn cầu

Năng lượng điện hạt nhân

TQ đã thử nghiệm thành công bom nguyên tử (bom A) vào năm 1964, bom nhiệt hạch (bom H) vào năm 1967, nhưng phải 30 năm sau (1994), Trung Quốc mới có nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) đầu tiên được xây dựng và vận hành.TQ đã trở thành nước thứ 2 trên thế giới (sau Mỹ) về số lượng lò phản ứng (LPƯ) đang hoạt động và sản lượng ĐHN; đồng thời là nước có số lượng LPƯ đang xây dựng nhiều nhất thế giới (30/64 lò).Tháng 03/1985, Tần Sơn – Nhà máy ĐHN đầu tiên đã được khởi công xây dựng bên bờ vịnh Hàng Châu thuộc tỉnh Chiết Giang. Nhà máy này do Trung Quốc tự thiết kế và xây dựng, sử dụng 1 LPƯ kiểu nước áp lực (PWR=pressurized water reactor) với công suất 300 MW, hoàn thành vào tháng 10/1991 và phát điện thương mại từ tháng 04/1994.

Nhà máy ĐHN thứ 2 của TQ là Nhà máy Vịnh Đại Á, được xây dựng bên bờ vịnh Đại Á thuộc tỉnh Quảng Đông, gồm 2 LPƯ kiểu PWR-900 do Công ty Framatome (Pháp) cung cấp, khởi công tháng 08/1987, hòa lưới điện vào đầu năm 1994. Phần lớn sản lượng điện của nhà máy này được cung cấp cho Hồng Kông.

Đến nay TQ đã có 12 nhà máy ĐHN gồm 56 LPƯ với tổng công suất 54.362 MW đang hoạt động. Mới nhất là LPƯ số 4 có công suất 1.105 MW của Nhà máy ĐHN Phòng Thành Cảng tại Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, cách biên giới Việt Nam gần 60 km, sử dụng loại lò Hualong One do Trung Quốc tự thiết kế chế tạo đã hòa lưới điện tháng 04/2024. Năm 2023, các nhà máy ĐHN của TQ đã sản xuất 406,5 tỷ kWh điện. Tổng công suất toàn hệ thống điện TQ năm 2023 là 2920 GW, ĐHN mới chỉ chiếm khoảng 5% cơ cấu điện năng của TQ, sau điện than (50%), thủy điện (16%) và điện gió (8%), điện mặt trời (21%) . Hiện tại, TQ đang xây dựng 30 LPƯ với tổng công suất 39.661 MW và đã lập kế hoạch xây dựng tiếp 37 LPƯ với tổng công suất 39.860 MW.

Tháng 03/2021, Quốc vụ viện TQ đã công bố Kế hoạch 5 năm lần thứ 14, trong đó dự kiến đến cuối năm 2025 sẽ nâng tổng công suất các nhà máy ĐHN lên 70 GW (70.000 MW). Ngoài ra, TQ còn có dự kiến đầy tham vọng là tiếp tục xây dựng 158 LPƯ với tổng công suất tới 186.450 MW.

Để xây dựng tiềm lực ĐHN của mình, TQ đã nhập khẩu nhiều kiểu lò LPƯ tiên tiến đã được kiểm chứng của Mỹ (AP1000), Nga (VVER-1000/V-428, VVER1200/V-491), Pháp (M310, M310+PWR, EPR) và Canada (Candu 6 PHWR)…

Bên cạnh đó, TQ đã tự thiết kế, chế tạo và phát triển đồng thời nhiều công nghệ LPƯ với công suất khác nhau, từ những kiểu LPƯ công suất lớn như CPR-1000, ACPR-1000, CAP-1000, CAP-1400, HPR-1000 (Hualong-One)… đến các kiểu LPƯ module nhỏ (SMR) sử dụng cho các nhà máy ĐHN vùng sâu, vùng xa hoặc nhà máy ĐHN nổi như ACP-100, CAP-200, CAP-150, CAP-50… Bên cạnh các LPƯ kiểu PWR, Trung Quốc cũng nghiên cứu, thiết kế, xây dựng các LPƯ kiểu nơtrôn nhanh, làm mát bằng khí nhiệt độ cao, muối nóng chảy…

Tháng 12-2023 Nhà máy điện hạt nhân với lò phản ứng thế hệ thứ 4 đầu tiên trên thế giới làm mát bằng khí nhiệt độ cao (HTGR=High Temperature Gas Cooled Reactor) Shidaowan (石岛湾 Thạch Đảo Loan) được xây dựng tại tỉnh Sơn Đông đi vào hoạt động thương mại. Dự án do TQ tự phát triển, chủ đầu tư dự án là Tập đoàn China Huaneng, Đại học Thanh Hoa và Tổng công ty hạt nhân quốc gia TQ. Điều đó chứng tỏ TQ đã có khả năng tự thiết kế chế tạo lò phản ứng hạt nhân tiên tiến. Nhà máy bắt đầu thi công vào năm 2012, bao gồm hai lò phản ứng nhiệt HTGR công suất 250 megawatt và một máy phát điện hơi nước có công suất lắp đặt 200 megawatt, theo CNNC (Tổng công ty Hạt nhân Quốc gia Trung Quốc ) 93,4% vật liệu sử dụng ở Shidaowan HTGR đến từ nguồn nội địa.

Đặc điểm chính của lò phản ứng thế hệ thứ 4 là nhiên liệu hạt nhân có dạng hình cầu nhỏ như quả bóng tennis, mỗi lò phản ứng có tới 430.000 viên . Viên nhiên liệu hình cầu này có đường kính 6cm và bên trong là 12.000 hạt nhiên liệu cỡ 1mm. Bên trong hạt có một lõi nhiên liệu rất nhỏ và 4 lớp vỏ ceramic. Nhiệt độ của viên nhiên liệu không vượt quá nhiệt độ của vỏ ceramic. Mỗi quả cầu có năng lượng tương đương 1,5 tấn than đá và cho phép vận hành liên tục, không cần tắt lò phản ứng tạm thời để nạp nhiên liệu. Lò phản ứng được làm mát bằng khí trơ heli thay vì nước, giúp tăng cường độ an toàn.

Zhang Aijun, phó chủ tịch của Công ty Điện hạt nhân HTGR, cho biết giai đoạn đầu tiên của dự án mở rộng là lắp đặt một lò phản ứng nước áp suất thế hệ thứ ba khác do đơn vị trong nước phát triển – Hualong One có công suất 1,2 triệu kW sẽ hoạt động cùng với lò phản ứng làm mát bằng khí .

Trong tương lai kế hoạch mở rộng gồm việc bổ sung thêm 4 lò phản ứng nước áp suất, mỗi lò có công suất hơn 1 triệu kW. Như vậy sau khi hoàn thành, tổng công suất lắp đặt của nhà máy điện sẽ vượt quá 5 triệu kW, công suất phát điện hàng năm là 35 tỷ kWh, đủ để cung cấp điện cho hơn 17 triệu hộ gia đình trong một năm. Điều này tương đương với việc thay cho 11,5 triệu tấn than tiêu chuẩn và 27,6 triệu tấn khí thải carbon dioxide hàng năm.

Kết luận

Văn hóa TQ thời xưa không khuyến khích cơ tâm tức không khuyến khích phát triển khoa học kỹ thuật. Điều này cũng giống như Đức Phật không khuyến khích thần thông. Thần thông chẳng phải là cái gì huyền bí, nó chẳng khác gì khoa học kỹ thuật. Ví dụ như Quán Thế Âm Bồ Tát có thần thông, có thể xuất hiện ở bất cứ nơi nào để cứu khổ cứu nạn cho người đang gặp nạn thành tâm khẩn cầu. Một số người vượt biên như Vân Sơn đã thấy Bồ Tát xuất hiện và thuyền của anh đã được cứu.

Vân Sơn và Kristine- Sa thấy Quán Thế Âm Bồ Tát

Chính vì không phát triển khoa học kỹ thuật mà TQ đã bị phương tây vượt mặt và bắt nạt trong hơn một thế kỷ ô nhục. Nhưng các học giả phương tây đã nhầm lẫn khi cho rằng người TQ không đủ thông minh để sáng tạo ra chữ phát âm như Latin tiện dụng hơn chữ tượng hình. Họ còn cho rằng người TQ chỉ giỏi sao chép bắt chước chứ không có khả năng sáng tạo. Nhà văn TQ nổi tiếng Lỗ Tấn còn tự ti đến mức đòi tiêu diệt chữ Hán. Đó thật sự là quan điểm sai lầm thiển cận. Ngày nay TQ chú tâm phát triển khoa học kỹ thuật và đã có những tiến bộ vượt bậc, qua mặt phương tây về rất nhiều lĩnh vực.

Khi khoa học phát triển tới một mức độ cao cấp, nó có thể thực hiện được những việc thần kỳ giống như thần thông. Chẳng hạn viễn tải lượng tử (quantum teleportation) một ngày kia có thể giúp con người đi từ VN qua Mỹ chỉ trong vài phút.

Truyền Bình 1


NGUỒN

🔗 duylucthien.wordpress.com


GHI CHÚ

Footnotes

  1. 📝 Truyền Bình

⬆️
⬇️