TRI KIẾN PHẬT và TRI KIẾN KHOA HỌC
Hai loại tri kiến này rất khác nhau. Tri kiến Phật nói đầy đủ là tri kiến của Phật rất khác tri kiến thông thường của người thế gian. Tri kiến khoa học cũng là tri kiến của người thế gian đã được nghiên cứu tìm ra quy luật, định luật, quy tắc, nguyên lý từ đó có một sự hiểu biết đầy đủ tường tận về thế giới vật chất và tâm lý của con người và cũng từ đó tìm cách cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của loài người dựa trên những quy luật ấy.
Nhưng điều mà tuyệt đại đa số người thế gian và ngay cả những nhà hiền triết, nhà khoa học hàng đầu của nhân loại cũng không nhận thức được, không hiểu nổi; hoặc hiểu mà không thể chứng tỏ chứng minh được, chẳng hạn nhà hiền triết cổ Hy Lạp Zeno, ông không thể chứng tỏ mũi tên không thể đi đến đích đành mang tiếng ngụy biện. Những tri kiến vượt khỏi tầm hiểu biết của người thế gian thì thuộc lĩnh vực của tri kiến Phật, những bậc thánh nhân giác ngộ và thân chứng được những tri kiến đó, nó giống như thần thông nhưng không phải thần thông bởi vì bản chất của tam giới (dục giới- vũ trụ vạn vật, sắc giới, vô sắc giới) vốn là như vậy.
Vậy tri kiến Phật có những đặc trưng đặc điểm gì khác với tri kiến thế gian ? Nó vốn không có sẵn đặc trưng đặc điểm gì hết. Mọi đặc trưng đặc điểm đều là tri kiến thế gian mà thuật ngữ Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng 世流布想 nghĩa là tưởng tượng theo thói quen đã hình thành từ nhiều đời nhiều kiếp và đã trở nên phổ biến trên thế gian. Nó gồm hai thành phần cốt lõi là danh (tên gọi) và thực (hiện tướng, bản thể). Ví dụ : con trâu, con sông, quả núi, cội cây, không gian, thời gian, vật chất, số lượng, tâm lý, tinh thần …
Người thế gian và kể cả các nhà khoa học đều cho rằng hiện tướng là có thật, vật chất nằm ngoài ý thức hay tâm lý. Chẳng hạn nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại là Albert Einstein (người Đức gốc Do Thái 1879-1955) phát biểu rằng:
“Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng luôn ở đó ngay cả khi tôi không phải đang nhìn nó”
Ý ông muốn nói rằng Mặt trăng là một thực thề khách quan luôn luôn hiện hữu dù ông có nhìn nó hay không.
Nhưng sự thật không phải vậy, cơ học lượng tử ngày nay đã chứng tỏ rằng phát biểu của Einstein chỉ là thế lưu bố tưởng chứ không phải là thực thể khách quan, mặt trăng là một khái niệm của tâm, ngoài tâm không có mặt trăng, mặt trăng không phải thực thể chân lý. Cả 8 tỷ người trên địa cầu đều tin rằng phát biểu của Einstein là đúng và đều tin sái cổ, kể cả một số tu sĩ Phật giáo nhiều năm tu tập cũng vẫn tin mặt trăng hay núi non trăng sao đều là thực thể khách quan. Họ hoàn toàn không biết rằng đối với tri kiến Phật thì niềm tin, nhận thức như vậy là điên đảo mộng tưởng bởi vì mặt trăng hay vật chất nói chung đều không có thực thể, nó chỉ là một khái niệm do tâm tưởng tượng ra.
Khoa học ngày nay đã đủ hiểu biết để lý giải được điều này một cách rõ ràng dứt khoát. Bởi vì vật chất được cấu tạo bởi những hạt cơ bản như photon, electron, quark…có tất cả 18 loại hạt cơ bản gọi chung là lượng tử hiện nay đã được khoa học khám phá và sắp xếp trong một cái bảng gọi là Mô hình chuẩn của Vật lý hạt (standard model of particle physics- cern) (CERN= Conseil Européen pour la Recherche Nucléaire= Hội đồng nghiên cứu hạt nhân châu Âu)
Mô hình chuẩn của CERN (Conseil Européen pour la Recherche Nucléaire)
Như vậy 18 hạt cơ bản của vật chất gồm 6 loại hạt quark, 6 loại hạt lepton và 6 loại hạt tương tác (forces) bao gồm luôn cả hạt higgs (higgs boson).
18 loại hạt này gọi là hạt cơ bản của vật chất (elementary particles). Mỗi loại hạt đều có hai hình thái đối lập nhau là hạt và sóng. Nghĩa là mỗi loại hạt đều có một loại sóng tương ứng. Nhưng cả 18 loại sóng đều có chung một bản chất sóng vô phân biệt gọi là sóng tiềm năng (potential wave). Sóng tiềm năng là một trường thống nhất vô tự tính, vô phân biệt. Phật giáo có nhiều tên gọi cho trường thống nhất này : Tâm, Phật, Phật tánh, Tánh không, Vô ký không, Vô thủy vô minh. Các triết học tôn giáo khác cũng có nhiều tên gọi cho cái bản thể này như : Trời, Thiên lý, Đạo, Thượng đế (God, Dieu).
Trường thống nhất là vô phân biệt đâu đâu cũng như nhau. Từ chỗ vô phân biệt ấy, vậy cái gì phân biệt sóng tiềm năng thành 18 loại sóng khác nhau và thành 18 loại hạt cơ bản và cuối cùng cấu tạo thành vũ trụ vạn vật ?
Phật giáo trả lời đó là Tâm và biểu hiện cụ thể là tâm niệm của chúng sinh, đặc biệt là của con người. Có người vặn lại : con người chỉ mới xuất hiện khoảng 3 triệu năm, còn vũ trụ đã xuất hiện 13,8 tỷ năm, trước khi có con người thì làm sao có tâm niệm ?
Bắt bẻ này mắc kẹt trong thời gian. PG đã nói thời gian, không gian, vật chất, đều không tuyệt đối có thật, số lượng cũng không có thật, nên con số 13,8 tỷ năm hay 3 triệu năm chỉ là ảo tưởng của con người mà thôi. Từ khi con người xuất hiện và có nền văn minh thì con người mới thấy có vũ trụ vạn vật, và đặt ra giả thuyết Big Bang và nhiều giả thuyết khác. Thực tế thì bản chất của vũ trụ vạn vật, con người đều là tánh không, là sóng tiềm năng vô tự tính, vô phân biệt, xưa nay vẫn vậy, ngay hiện tại bây giờ cũng vậy, phân biệt tạo tác chỉ là tâm niệm không có thực thể. Tâm là sóng, Vật là hạt. Hai hình thái tương phản nhưng đồng nhất thể. Tâm hay sóng tiềm năng là vô phân biệt. Hành giả đạt tới vô tâm cũng chưa phải là giác ngộ. Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan 白雲守端(1025-1072CN)đời Tống nói:
莫謂無心云是道 Mạc vị vô tâm vân thị đạo Đừng nói vô tâm là đạt đạo
無心猶隔一重關 Vô tâm do cách nhất trùng quan Vô tâm cách đạo một trùng quan (cửa ải)
Bởi vì vô tâm là không có tâm niệm, vô tâm thì hạt chưa xuất hiện. Vô tâm thì không có vật chất, không có vũ trụ vạn vật, không có không gian thời gian, không có cuộc sống.
Phái Toàn Chân Đạo chủ trương Tam giáo đồng nguyên, nói : Một quyền đập nát hư không (Nhất quyền phấn toái hư không 一拳粉碎虛空).
空靈虛幻入凡塵 Không linh hư huyễn nhập phàm trần Linh tánh từ không nhập phàm trần
仙佛儒修一念間 Tiên Phật Nho tu nhất niệm gian Tiên Phật Nho chỉ trong một niệm
抽添有減總由虛 Trừu thiêm hữu giảm tổng do hư Dù thêm hay bớt đều hư huyễn
粉碎虛空成大覺 Phấn toái hư không thành đại giác Đập nát hư không mà giác ngộ
Nghĩa là không cái gì là có thật, kể hư không, tất cả đều do tâm tạo ra (Nhất thiết duy tâm tạo).
Năm 1982 ở Đại Lễ Đường Nhân Dân Trung Quốc tại Bắc Kinh, Trương Bảo Thắng đã dùng đặc dị công năng để chứng tỏ vật chất không có thực thể. Trước mặt đông đảo các nhà lãnh đạo TQ và các nhà khoa học. Người ta đặt hai quả táo vào trong một thùng sắt và hàn kín thùng lại. Trương Bảo Thắng đã dùng tâm lực lấy một quả táo ra khỏi cái thùng sắt mà nắp đã bị hàn kín. Nếu quả táo là có thật, thùng sắt là có thật thì làm sao lấy được quả táo ra khỏi thùng sắt ?. Sau đó mở nắp thùng sắt thì thấy chỉ còn một quả táo trong thùng, còn quả kia đã được lấy ra ngoài bằng tâm lực và còn nằm ở một góc của khán đài.
Bộ trưởng Bộ Tài chính TQ lúc đó là Bạc Nhất Ba 薄一波 đã bắt tay chúc mừng Trương Bảo Thắng biểu diễn thành công.
Kết luận : Tri kiến của người thế gian hay tri kiến khoa học chỉ là tương đối, nói trắng ra là vọng tưởng, là điên đảo mộng tưởng, không phải là chân lý, nó chỉ là một nửa của tri kiến Phật. Tri kiến khoa học hay tri kiến thế gian chỉ là dạng hạt của vũ trụ vạn vật. Tri kiến này nhầm lẫn rằng vật chất là thực thể có thật, không gian, thời gian, số lượng vật chất là có thật. Đó chỉ là một nửa của chân lý. Một nửa của chân lý thì không phải là chân lý bởi vì nó mâu thuẫn với mặt đối lập.
Ví dụ : tri kiến khoa học cho rằng vật chất là có thật và cho rằng vật chất là chân lý. Nó mâu thuẫn với tri kiến ngược lại là vật chất không có thật, vật chất không phải khách quan, vật chất chỉ là chủ quan tập thể, dù cho cả 8 tỷ người trên địa cầu đều thấy là mặt trăng có thật nhưng sự thật là mặt trăng không tuyệt đối có thật, nó chỉ là thế lưu bố tưởng của 8 tỷ con người sống trong điên đảo mộng tưởng.
Tri kiến Phật thì phổ quát hơn, nó bao hàm cả dạng hạt và dạng sóng của hạt cơ bản. Nó chỉ ra chỗ thiếu sót của Einstein khi nhận thức về hiện tượng rối lượng tử hay còn gọi là liên kết lượng tử (quantum entanglement). Einstein nói rằng trong hiện tượng này (một photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau, khi tác động vào vị trí A thì vị trí B tức thời bị tác động theo bất kể khoảng cách không gian là bao xa). Năm 2017 sau khi TQ phóng vệ tinh lượng tử Mặc Tử (Micius) lên không gian một năm trước đó, họ làm lại thí nghiệm này thì khoảng cách giữa A và B là 1200km, thì tác động vẫn là tức thời. Năm 1935 Einstein gọi tác động đó là : tác động ma quái từ xa (spooky action at a distance) bởi vì Einstein đã không hiểu rằng khoảng cách 1200km không gian hay bất kể bao xa đều là không có thật, nên B phản ứng theo A tức thời không mất chút thời gian nào. Với tri kiến Phật, Bồ Tát Quán Thế Âm đi từ cõi Thế gian tới cõi Tây phương cực lạc xa không biết bao nhiêu năm ánh sáng mà kể, chỉ một niệm là tới, bởi vì khoảng cách đó không có thật.
Tóm lại tri kiến Phật bao quát cả hai mặt đối lập của tri kiến khoa học, do đó hai mặt ngược nhau hoàn toàn của thế giới tương đối như giữa có và không, đúng và sai, thiện và ác, âm và dương, xa và gần… không có xung khắc mà bổ sung cho nhau, tạo ra một sự hòa hợp trọn vẹn của vũ trụ vạn vật.
Truyền Bình 1
NGUỒN
GHI CHÚ
Footnotes
-
📝 Truyền Bình ↩