THẾ NÀO LÀ PHẬT? BA CÂN GAI
Một vị tăng hỏi sư Động Sơn Thủ Sơ [洞山守初 910-990 thuộc tông Vân Môn (không phải bậc tiền bối Động Sơn Lương Giới 洞山良源 807-869 sống trước đó một thế kỷ)]:
-Thế nào là Phật? 如何是佛
-Ba cân gai 麻三斤(câu chuyện trích từ sách Bích Nham Lục 碧岩录)
Gai (Ma 麻) là một loại cây có thể dùng để dệt vải thô. Có chỗ nói là hồ ma 胡麻 nghĩa là mè, có lẽ không đúng. Vị tăng hỏi trong lúc sư Động Sơn Thủ Sơ đang cân gai được 3 cân. Nên sư đáp luôn Ba cân gai.
Lời đáp có vẻ tùy tiện và phi lý kỳ quái. Chúng ta sẽ xem xét kỹ coi nó có phi lý không hay hoàn toàn hợp lô gích.
Chúng ta biết rằng Phật giáo có hai khuynh hướng khác biệt. Một là Giáo môn thiên về tục đế (theo nhận thức phổ thông của thế tục thiên về hiện tượng). Hai là Thiền thiên về chân đế (nhận thức bản thể của sự vật).
Thiền sư Động Sơn Thủ Sơ thuộc tông Vân Môn 雲門宗 do Thiền sư Vân Môn Văn Yển – pháp tử của Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, sáng lập. Thế thì câu trả lời của Thủ Sơn thiên về bản thể.
Nguyên lý của Phật pháp là Nhất thiết duy tâm tạo nghĩa là tất cả vũ trụ vạn vật đều là khái niệm của tâm thức do tâm ngụy tạo chứ không có gì là chân thực cả. Nói trắng ra là tâm tưởng tượng ra vũ trụ vạn vật chứ vạn pháp không phải tuyệt đối có thật.
📒 Kinh sách ghi rất rõ ràng:
Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng 凡所有相皆是虛妄 All that have forms are false Phàm cái gì có hình tướng đều là hư vọng.
Như vậy Phật (hình tướng Đức Phật), Ba cân gai (vật chất) đều là hư vọng (ảo) không phải chân thật, cả hai có cùng bản chất, đều là khái niệm của tâm. Phật và ba cân gai đều là một thứ như nhau tức đều là khái niệm, là vọng tưởng. Thế thì nói “Phật là ba cân gai” là hoàn toàn hợp lý, hoàn toàn lô gích, không có gì phi lý cả.
Bây giờ chúng ta xét thêm về việc Ba cân gai (vật chất) có phải là hư ảo không.
Hầu hết các giải thích từ xưa tới nay đều bối rối không thật sự hiểu về điểm này nên họ giải thích rùa, mơ hồ không rõ ràng nên sức thuyết phục rất kém, chỉ tin vào lời trong kinh điển mà không thật sự hiểu. Tôi cho rằng muốn hiểu rõ về điểm này thì phải hiểu khoa học hiện đại nhất là cơ học lượng tử, điều mà người xưa không có điều kiện tiếp cận. Có người thấu hiểu nhưng không thể giải thích rõ ràng cho người khác hiểu được. Ngay cả kinh điển cũng giải thích rất trừu tượng khó nắm bắt. Còn người hiện nay thì rất ít người chịu khó tìm hiểu, họ cứ tin mù quáng vào nhà khoa học số một thế giới trong thế kỷ 20 là Albert Einstein mà không biết rằng Einstein vẫn còn có chỗ thiếu sót một cách rất cơ bản.
Chúng ta phải xem lại cuộc tranh luận về khoa học lớn nhất của thế kỷ 20 giữa hai nhà khoa học hàng đầu thế giới là Albert Einstein và Niels Bohr. Họ tranh luận về việc các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron…có sẵn đặc trưng đặc điểm hay không.
Những đặc trưng của hạt chẳng hạn vị trí (position), khối lượng (masse), điện tích (electric charge), độ xoay (spin). Hiện nay khoa học đã khám phá có tất cả 18 loại hạt cơ bản được sắp xếp trong bảng Mô hình chuẩn của Vật lý hạt.
18 loại hạt cơ bản của vật chất được chia thành 3 nhóm: 6 hạt quarks, 6 hạt leptons và 6 hạt truyền lực forces.
Quan điểm của Einstein cho rằng hạt luôn luôn có sẵn đặc trưng đặc điểm, hạt là khách quan độc lập ở ngoài tâm. Ông thể hiện rõ quan điểm đó:
“Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng luôn ở đó ngay cả khi tôi không phải đang nhìn nó”
Nhưng có hai thí nghiệm khoa học dẫn tới kết quả phản bác quan điểm của Einstein. Một là thí nghiệm về hai khe hở.
Thí nghiệm hai khe hở (Double Slit Experiment) là một thí nghiệm nổi tiếng, nó chứng tỏ ý thức của con người có tham dự vào việc tạo ra vật chất, cụ thể là tâm niệm của con người làm cho sóng tiềm năng sụp đổ thành hạt electron (vật chất) qua 2 thí nghiệm sau:
Khi không có tâm niệm tức không có người quan sát, electron là sóng khi đi qua 2 khe hở vẫn là sóng, các sóng giao thoa với nhau tạo ra nhiều vệt đậm và nhạt trên màn hứng. Vệt sáng là nơi sóng cộng hưởng, vệt tối là nơi sóng triệt tiêu nhau.
Khi có tâm niệm tức có người quan sát, sóng electron khi đi qua 2 khe hở thì sụp đổ thành hạt vật chất tức là hạt electron nên trên màn hứng chỉ xuất hiện 2 vệt đậm tương ứng với 2 khe hở chứng tỏ sóng đã biến thành hạt và hạt không có sự giao thoa với nhau.
Trong trường hợp có đặt một thiết bị cảm ứng (sensor) sau 2 khe hở thì sensor cũng có tác động giống như tâm niệm là biến sóng thành hạt và màn hứng cũng chỉ xuất hiện 2 vệt tương ứng với 2 khe hở.
Đến năm 1982 tại Paris Alain Aspect tiến hành thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement). Và sau đó tại Geneva năm 2008 Nicolas Gisin đã tiến hành lại thí nghiệm này với những điều kiện tiên tiến chuẩn xác hơn do có nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật. Thí nghiệm này thực hiện được việc một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai hoặc vô số vị trí khác nhau trong không gian. Nó dẫn đến kết quả có thể gây khủng hoảng cho giới khoa học.
Nó chứng tỏ quan điểm duy vật khách quan của Einstein không hoàn toàn đúng. Cái gọi là khách quan thật ra chỉ là chủ quan tập thể. Dù cho cả 8 tỷ người trên Trái Đất đều nhìn thấy Mặt trăng như nhau, đó cũng chưa hẳn là tuyệt đối khách quan, Kinh điển Phật giáo gọi đó là Thế lưu bố tưởng nghĩa là tưởng tượng đã lưu truyền phổ biến nhiều đời nhiều kiếp trên thế gian. Chẳng những hạt cơ bản như photon, electron không có sẵn đặc trưng đặc điểm, nghĩa là không có thật, mà cả không gian, thời gian, số lượng vật chất cũng đều không có thật. Tất cả các pháp hay hiện tượng đều chỉ có thật trong tâm thức con người thôi chứ không có thật ở bất cứ nơi đâu khác. Những kết luận mà các nhà khoa học đưa ra là:
Vật không có thật (non realism)
Không gian, thời gian, vị trí, không có thật (non locality)
Số lượng vật chất không có thật (non quantity)
Bát Nhã Tâm Kinh có nói rõ: Sắc Bất Dị Không, Không Bất Dị Sắc. Sắc Tức Thị Không, Không Tức Thị Sắc. Chúng ta có thể diễn giải câu trên theo khoa học như sau: Hạt (cơ bản như electon…) không khác Sóng tiềm năng. Sóng tiềm năng không khác Hạt cơ bản. Hạt cơ bản tức là Sóng tiềm năng. Sóng tiềm năng tức là Hạt cơ bản.
Chân đế là bản thể của pháp giới là Sóng tiềm năng, không có Không gian, Thời gian, Số lượng vật chất. Tục đế là hiện tượng hữu hình của pháp giới Có Không gian, Thời gian, Số lượng vật chất. Phát biểu của Einstein dựa trên Tục đế nên chỉ đúng 50% còn 50% sai.
Thế nên các bậc giác ngộ nói rằng Người thế gian điên đảo mộng tưởng, họ chấp thật cho nên họ khổ: nào là sinh lão bệnh tử, thiên tai nhân họa, nghèo đói, chiến tranh loạn lạc. Ngay cả khi đời sống vật chất được nâng cao, con người vẫn khổ như thường, không có an lạc. T hế giới không bao giờ được hoàn toàn Thái bình.
Hai thí nghiệm nêu trên xác nhận rằng những điều mà kinh điển Phật giáo nêu ra từ xa xưa đều đúng. Chẳng hạn câu Nhất thiết pháp vô tự tính và Nhất thiết duy tâm tạo.
Tóm lại chúng ta có thể kết luận một cách chắc chắn có cơ sở khoa học rằng câu trả lời của của thiền sư Động Sơn Thủ Sơ trích trong Bích Nham Lục (Hỏi:Thế nào là Phật. Trả lời: Ba cân gai) là hoàn toàn hợp lý, hợp lô gích, hợp khoa học, không có gì là kỳ quái phi lý cả.
Để bổ sung thêm về mặt khoa học cho vấn đề này tôi xin trích một phát biểu nổi tiếng của nhà khoa học hàng đầu thế giới thuộc thế kỷ 20 là Niels Bohr.
Niels Bohr cũng đã nhận ra các hạt cơ bản không phải là vật thật. Ông đồng tình với Phật pháp. Kinh Phật nói rằng hạt vi trần (ý chỉ các hạt cơ bản) chỉ là hoa đốm trong hư không.
Ông nói:
“Mọi thứ mà chúng ta gọi là thật được cấu tạo bởi những vật không thể coi là thật (hạt cơ bản). Nếu cơ học lượng tử không gây sốc cho bạn một cách sâu xa, bạn chưa hiểu gì về nó.” Có bao giờ bạn cảm thấy bị sốc vì Cơ học lượng tử chưa?
Truyền Bình 1
NGUỒN
GHI CHÚ
Footnotes
-
📝 Truyền Bình ↩