Chương 11

HẠNH ĐẦU ĐÀ NHẮM TỚI CỨU CÁNH GÌ?

Sư Minh Tuệ và đoàn bộ hành của ông gồm 35 người ngày 25-04-2025 đã đến Ấn Độ quê hương của Phật giáo để chiêm ngưỡng các thánh tích nổi tiếng của Phật giáo. Đoàn gồm những vị sư thực hành tu tập hạnh Đầu Đà tức là Khổ Hạnh nhắm tới cứu cánh gì ? Khổ hạnh là nói theo nhận thức của người bình thường thế gian cho rằng 12 hoặc 13 hành vi của hạnh Đầu Đà là khổ bao gồm những điểm chính như buông bỏ tất cả chỉ duy trì thân mạng ở mức tối thiểu như :

-Không sở hữu tiền bạc tài sản, quần áo, phương tiện, vật dụng. Mỗi người chỉ có 3 bộ y phục may bằng vải vụn nhặt được trên đường đi, một cái bình bát để đựng thức ăn khất thực. Thường xuyên đi bộ, đầu trần chân đất, không nón, không giày dép.

-Mỗi ngày chỉ ăn một bữa trước giờ ngọ, không tích lũy thức ăn hay bất cứ thứ gì khác, không sử dụng phương tiện như điện thoại, xe cộ, tàu thuyền, máy bay, chỉ trừ trường hợp bất khả kháng không thể đi bộ được.

-Ban đêm ngủ ngồi chứ không nằm cho thoải mái, ngủ ở tư thế ngồi thiền

-Không ở trong nhà cửa tiện nghi, thường ở ngoài trời, ngồi dưới gốc cây, trong rừng, nơi bãi sông, nơi nghĩa trang.

Tại sao họ phải buông bỏ hầu hết mọi thứ cần dùng trong đời sống con người ? Bởi vì Đạo Phật là phá chấp, phá bỏ tất cả những chấp trước kể cả thân mạng chỉ duy trì thân mạng ở mức tối thiểu để sống và tu tập.

Vậy phá chấp gần như triệt để như thế nhắm tới mục đích tối thượng hay cứu cánh là gì ? Đó là nhằm noi gương theo Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác hay còn gọi là vô thượng Bồ Đề (無上菩提The supreme bodhi or enlightenment of the Buddha- Giác ngộ tri kiến Phật) .

Vậy nội dung của vô thượng bồ đề là gì ? Hầu hết sách vở kinh điển đều không nói rõ nội dung của vô thượng bồ đề hay giác ngộ là gì khiến điều đó có vẻ linh thiêng huyền bí chỉ có Phật, Bồ Tát, Tổ Sư mới đạt tới còn người bình thường thì rất khó đạt được.

Ở đây tôi muốn vén bức màn bí mật đó lên để thấy rõ, không có gì huyền bí cả, tất cả đều minh bạch, rõ ràng. Cái đó vô cùng khó hiểu nhưng không phải huyền bí bất khả tư nghị.

Phần lớn con người ở thế kỷ 21 này đều tin theo quan điểm duy vật khách quan (objective materialism) của nhà khoa học số 1 thế kỷ 20 là Albert Einstein (1879-1955). Ông tuyên bố rằng :

“Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng luôn ở đó ngay cả khi tôi không phải đang nhìn nó”

Quan điểm của Einstein tin rằng vật chất là có thật, là khách quan, vật chất tồn tại ở ngoài tâm. Trong khi đó tri kiến của một bậc giác ngộ như Đức Phật thì thấy rằng Nhất thiết duy tâm tạo, ngoài tâm không có vật.

Người tin theo Phật ắt phải thấy rằng quan điểm của Einstein chỉ đúng 50% còn 50% là sai. Cái mà Einstein cho là duy vật khách quan, Phật giáo nói chỉ là chủ quan tập thể. Dù cho cả 8 tỷ người trên Địa cầu đều thấy giống như Einstein, quan điểm của ông cũng không phải là tuyệt đối đúng. Cái duy vật khách quan của Einstein chỉ là thế lưu bố tưởng 世流布想 là tưởng tượng bình thường được lưu truyền rộng rãi qua nhiều đời của thế nhân (is a common imagination that has been widely circulated through many generations of people)

Trong giới khoa học thế giới đã có một cuộc tranh cãi rất lớn giữa hai nhà khoa học hàng đầu là Albert Einstein và Niels Bohr diễn ra trong thế kỷ 20. Họ tranh cãi về vấn đề gì ? Họ tranh luận về việc các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron luôn luôn có sẵn đặc trưng đặc điểm hay các đặc trưng đó chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Einstein với quan điểm duy vật khách quan cho rằng các đặc trưng của hạt như vị trí (position), khối lượng (masse), điện tích (electric charge), số đo độ xoay (spin) lúc nào cũng có sẵn, chúng không liên quan với người quan sát, dù có người quan sát hay không, các đặc trưng vẫn tồn tại. Trái lại quan điểm của Bohr cho rằng các đặc trưng của hạt không có sẵn, chúng chỉ xuất hiện khi có người quan sát đo đạc. Nếu không có người quan sát thì các đặc trưng đó chỉ là tiềm năng chứ không phải hiện thực.

Cuộc tranh cãi về khoa học có thể nói là lớn nhất trong thế kỷ 20 giữa Einstein và Bohr không ngã ngũ, không thể kết luận ai đúng ai sai. Einstein qua đời năm 1955. Bohr qua đời năm 1962 mà cuộc tranh cãi vẫn bất phân thắng bại.

Năm 1964 một nhà khoa học người Ireland là John Bell đưa ra một bất đẳng thức nhằm biến cuộc tranh cãi giữa Einstein và Bohr từ giải quyết bằng lý luận sang giải quyết bằng thực nghiệm. Nhưng thế giới lúc đó chưa có phương tiện thực nghiệm chính xác để thực hiện.

Cho tới khi John Clauser một nhà khoa học người Mỹ chế tạo được cái máy, nó có thể làm cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau trong không gian vào năm 1972. Và năm 1982 Alain Aspect, một nhà khoa học người Pháp dùng cái máy đó, kết hợp với bất đẳng thức do John Bell đưa ra đã thực hiện một thí nghiệm quan trọng tại Paris có thể giải quyết rốt ráo cuộc tranh luận khoa học giữa Einstein và Bohr.

Alain Aspect thực hiện cuộc thí nghiệm về liên kết lượng tử hay còn gọi là rối lượng tử (quantum entanglement). Cuộc thí nghiệm cuối cùng đã xác định được hiện tượng rối lượng tử là có xảy ra thật. Nó cũng chứng thật rằng quan điểm duy vật khách quan của Einstein là sai, hạt cơ bản như photon hay electron không có sẵn đặc trưng đặc điểm, các đặc trưng chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Như vậy cái mệnh đề do Einstein phát biểu về mặt trăng nói trên cơ bản là sai. Nhưng sở dĩ gần như tất cả mọi người trên Trái Đất đều đồng tình với quan điểm của Einstein bởi vì họ không có được tri kiến Phật, họ không chứng được vô thượng bồ đề nên ngộ nhận. Sự ngộ nhận đó Phật giáo gọi là điên đảo mộng tưởng. Hầu hết người thế gian kể cả những nhà khoa học hàng đầu thế giới như Einstein đều là điên đảo mộng tưởng, không biết đâu là chân lý.

Năm 2008 một nhà khoa học người Áo Anton Zeilinger đã thực hiện lại thí nghiệm liên kết lượng tử với mức độ chính xác cao hơn do trình độ khoa học của thế giới đã nâng cao đáng kể, có sử dụng internet. Kết quả cũng vẫn như Alain Aspect đã xác định. Nó xác nhận rằng kết quả của thí nghiệm Alain Aspect về rối lượng tử là đúng.

Năm 2022 ba nhà khoa học John Clauser, Alain Aspect và Anton Zeilinger đã cùng nhận giải Nobel Vật lý do công sức đóng góp trong các thí nghiệm về rối lượng tử.

Sự xác nhận kết quả cuộc tranh luận khoa học giữa Eistein và Bohr vô tình cũng đã xác nhận những điều kinh điển Phật giáo đã nói từ lâu :

-Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 Các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron…không có sẵn đặc trưng đặc điểm.

-Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造 Khi có người quan sát thì đặc trưng của hạt cơ bản mới xuất hiện đồng thời hạt cơ bản mới hiện hữu. Điều đó chứng tỏ hạt cơ bản chỉ xuất hiện trong tâm niệm của người quan sát.

Tóm lại Phật giáo đã nói ngoài tâm không có vật. Cho tới tận bây giờ khoa học cũng không phản bác được điều đó.

Thí nghiệm liên kết lượng tử đã chứng tỏ một cách rõ ràng đầy thuyết phục rằng vật chất (cụ thể là hạt photon hay hạt electron) có bản chất là sóng tiềm năng vô hình. Và ở trạng thái đó vật là vô sở trụ (non locality) không có không gian và thời gian, và không có thật (non realism). Số lượng cũng không có thật (non quantity). Năm 2012 Maria Chekhova của đại học Moscow có thể làm cho 1 photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau. Như vậy chứng tỏ số lượng là không có thật. Một có thể biến thành nhiều để tạo ra vạn vật là do tác dụng của Tâm thôi.

Thí nghiệm hai khe hở (Double Slit Experiment) là một thí nghiệm nổi tiếng, nó chứng tỏ ý thức của con người có tham dự vào việc tạo ra vật chất, cụ thể là tâm niệm của con người làm cho sóng tiềm năng sụp đổ thành hạt electron (vật chất) qua 2 thí nghiệm sau :

Khi không có tâm niệm tức không có người quan sát, sóng khi đi qua 2 khe hở vẫn là sóng, các sóng giao thoa với nhau tạo ra nhiều vệt đậm và nhạt trên màn hứng. Vệt sáng là nơi sóng cộng hưởng, vệt tối là nơi sóng triệt tiêu nhau.

Khi có tâm niệm tức có người quan sát, sóng khi đi qua 2 khe hở thì sụp đổ thành hạt vật chất tức là hạt electron nên trên màn hứng chỉ xuất hiện 2 vệt đậm tương ứng với 2 khe hở chứng tỏ sóng đã biến thành hạt và hạt không có sự giao thoa với nhau.

Trong trường hợp có đặt một thiết bị cảm ứng (sensor) sau 2 khe hở thì sensor cũng có tác động giống như tâm niệm là biến sóng thành hạt và màn hứng cũng chỉ xuất hiện 2 vệt tương ứng với 2 khe hở.

Tóm lại Thí nghiệm liên kết lượng tử (Quantum entanglement) và Thí nghiệm 2 khe hở (Double slit experiment) đã chứng tỏ một cách rõ ràng đầy thuyết phục rằng :

1.Vật chất không phải là tuyệt đối có thật (non realism) mà nó tùy thuộc vào tâm niệm, trong tâm niệm thì hạt cơ bản như photon, electron, quark…mới xuất hiện đặc trưng đặc điểm và từ đó nguyên tử, phân tử, vật thể mới hình thành, đồng thời cũng hình thành không gian, thời gian, số lượng.

2/Không gian và thời gian là vô sở trụ (non locality) cũng tức là không có thật. Không gian và thời gian cũng chỉ là tâm niệm chứ không có thực thể. Chính vì không gian không có thật nên hiện tượng liên kết lượng tử mới xảy ra được. Bởi vì giữa hai photon thật ra không hề có khoảng cách nào nên tín hiệu cũng không cần truyền đi, không có sự di chuyển. Từ thời cổ đại cho tới thời hiện đại cũng không có khoảng cách nào về thời gian cả. Thời gian cũng chỉ là tâm niệm.

3/Số lượng là không có thật (non quantity). Một photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau giống như là hai photon, thật ra chỉ là một. Thậm chí năm 2012 Maria Chekhova tại đại học Mat-xcơ-va còn tạo được một liên kết với 100.000 hạt photon. Vậy 100.000 hạt photon cũng chỉ là một hạt. Vậy số lượng là không có thật. Số lượng 100.000 photon mà con người đếm được chỉ là ảo, không phải thật.

Chúng ta hãy nghe lại thầy Duy Lực đã nói không gian, thời gian, số lượng chỉ là những khái niệm do tâm tạo chứ không có bản thể.

1401 Việc trần sa kiếp cũng như việc hiện nay

Kết luận

Sư Minh Tuệ và các sư khác tinh tấn thực hành hạnh Đầu Đà, buống bỏ tất cả nhằm phá bỏ cái thói quen chấp thật hình thành từ bao đời nay. Chính cái thói quen vô minh đó mà kinh điển Phật giáo gọi là Thế lưu bố tưởng 世流布想 là tưởng tượng bình thường được lưu truyền rộng rãi qua nhiều đời của thế nhân. Chính thói quen tâm lý đó tạo ra thế giới vật chất cũng như không gian thời gian, tạo ra cõi thế gian đầy đau khổ, nghèo đói, tham sân si, thù hận, chiến tranh loạn lạc cũng như những thiên tai kinh hoàng. Tất cả đều là do tâm tạo chứ không phải tuyệt đối có thật.

Các vị sư muốn tự mình thân chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác tức giác ngộ vô thượng bồ đề giống như Đức Phật đã thực hiện hơn 2600 năm trước. Chứng ngộ đó có nội dung rõ ràng minh bạch được khoa học hiện đại đồng tình chứ không có gì là huyền bí cả. Họ phải tự mình thân chứng bằng trực giác chứ không phải chỉ bằng lý luận rằng Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, tất cả không gian, thời gian, số lượng vật chất đều là do tâm tạo, đều là giả tạm như mộng huyễn bào ảnh không phải là tuyệt đối chân thật.

Truyền Bình 1


NGUỒN

🔗 duylucthien.wordpress.com


GHI CHÚ

Footnotes

  1. 📝 Truyền Bình

⬆️
⬇️