Chương 13

CHÁNH TƯ DUY LÀ GÌ?

Khái luận về chánh tư duy

Mọi Phật tử đều biết chánh tư duy là một trong Bát chánh đạo của Phật giáo bao gồm tám phép thực hành tu tập để cải thiện mình từ mê muội đến giác ngộ: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Bát chánh đạo tiếng Phạn là āryāṣṭāṅgamārga Hán dịch là 八正道 Anh dịch là Noble Eightfold Path (con đường tám đề mục cao quý).

Nguồn gốc của Bát chánh đạo xuất phát từ việc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thuyết giảng và dạy dỗ năm đệ tử đầu tiên của mình tại Vườn Lộc Uyển là các ông: Kondanna Kiều Trần Như 憍陈如, Bhaddiya Bạt Đề 跋提, Vāspa Bạt Ba 跋波, Mahanama Ma Ha Nam 摩訶男, và Vajrapani A Thuyết Thị 阿说示.

🌵🌵🌵

Khi Thái tử Siddhartha Sĩ Đạt Ta rời bỏ hoàng thành đi tầm đạo, vua cha Suddhodana Tịnh Phạn đã chọn năm người trong số những người thân trong hoàng tộc của mình, cụ thể là các ông Kondanna, Bhaddiya, Vāspa, Mahanama, và Vajrapani theo hầu để phục vụ cho thái tử.

Năm người này đi theo thái tử được sáu năm, tới lúc họ thấy Siddhartha uống cháo sữa do cô gái chăn cừu Sujata dâng cúng, họ nghĩ rằng thái tử đã không còn thực hành khổ hạnh nữa, vì vậy họ rời bỏ thái tử và đến khu rừng Lộc Uyển tiếp tục tu khổ hạnh.

Sau khi Đức Phật chứng được vô thượng chánh đẳng chánh giác, ngài liền nghĩ đến năm vị Tỳ kheo này, và ngài đã đến Lộc Uyển để thuyết Pháp cho họ. Ngài giải thích về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và các pháp tu khác.

Để loại bỏ sự hiểu lầm của năm người này về việc tu tập và thiết lập một cái nhìn đúng đắn về việc tu tập, trước tiên Đức Phật đã chỉ trích hai lối tu tập cực đoan bằng cách bám víu vào khổ hạnh hoặc sa vào các thú vui ngũ dục [Tiền tài, Sắc dục, Danh vọng, Ham ăn uống và Mê ngủ] và giải thích con đường tu tập trung đạo không quá khổ sở cũng không quá dễ chịu. Con đường trung đạo này bao gồm tám đề mục, cụ thể là Bát Chánh Đạo.

Nhưng trong bài viết này tôi đề cập tới chánh tư duy không phải theo quan điểm của giáo môn mà ngày nay đa số Phật tử đều theo, mà thiên về chánh gốc trung đạo của Đức Phật.

Trước khi nói về chánh tư duy, tôi xin đề cập tới một nguyên lý cốt lõi của Đạo Phật, đó là Nhất thiết duy tâm tạo. Nếu không hiểu nguyên lý này thì sai một ly đi ngàn dặm.

Tại sao có nguyên lý Nhất thiết duy tâm tạo? Có nhiều người kể cả nhiều vị sư đáng kính của Phật giáo, họ cho rằng vật chất không phải do tâm tạo. Thế nên họ nói rằng núi non, trăng sao, thiên hà, vũ trụ vạn vật không phải là do tâm tạo. Ngay chính nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại trong thế kỷ 20 là Albert Einstein cũng nghĩ như vậy.

Tôi đã nói đi nói lại rất nhiều lần trên Duy Lực Thiền rằng đó là quan điểm sai lầm rất cơ bản của Einstein. Quan điểm đó gọi là duy vật khách quan. Quan điểm này cho rằng vật chất là một tồn tại khách quan nằm ngoài tâm. Điều đó hoàn toàn sai với lời dạy của Đức Phật. Đức Phật đã chứng nghiệm rằng ngoài tâm không có vật, vật chất cũng chính là tâm niệm. Vì vậy mới có nguyên lý Nhất thiết duy tâm tạo.

Thí nghiệm về liên kết lượng tử (quantum entanglement) do Alain Aspect tiến hành tại Paris năm 1982 đã chứng thực rằng các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron, quark không có sẵn đặc trưng đặc điểm, nghĩa là không có sẵn những tính chất như vị trí (position), khối lượng (masse), điện tích (electric charge) số đo về độ xoay (spin)…

Những tính chất, đặc điểm này chỉ xuất hiện khi có người quan sát. Chính người quan sát đã gán ghép tâm niệm của mình vào một loại năng lượng vô hình, một loại sóng tiềm năng không phải hữu (có) cũng không phải vô (không có), không thể khẳng định được nó là cái gì.

Cái đó Phật giáo gọi là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 Nó là cái vô hình bất biến không phải do cái gì sinh ra nhưng tùy theo tâm niệm của chúng sinh mà nó biến thành vật chất, thành vũ trụ vạn vật, thành núi non, trăng sao. Sóng tiềm năng vô hình đó Bát nhã Tâm kinh tạm gọi là Tánh không nhưng không phải là hư không vì nó có năng lực sinh ra vũ trụ vạn vật.

🌵🌵🌵

Chính vì nó không có sẵn tính chất, đặc trưng, đặc điểm gì hết nên kinh điển Phật giáo có nêu ra một nguyên lý khác gọi là Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性. Chính vì hai nguyên lý cốt lõi này của Phật giáo: Nhất thiết pháp vô tự tính và Nhất thiết duy tâm tạo mà chúng ta có nguyên lý Pháp giới bình đẳng 法界平等 nghĩa là trong pháp giới tất cả mọi sự vật đều bình đẳng như nhau.

Tại sao một vật to lớn như mặt trời lại bình đẳng với một hạt cơ bản cực nhỏ như hạt photon hoặc hạt electron?

Bởi vì cả hai vật đó đều là do tâm tạo, tâm tưởng tượng ra chứ không phải có thật. Mặt trời do một tỷ tỷ tỷ hạt cơ bản tạo thành. Một tỷ tỷ tỷ hạt cơ bản cũng chỉ là sóng tiềm năng mà thôi. Một hạt cơ bản cũng là sóng tiềm năng.

Sóng tiềm năng không có đặc điểm về số lượng nên không thể tính được nhiều hay ít. Vì vậy Mặt trời ngang bằng với một hạt cơ bản. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng không gian, thời gian, số lượng vật chất, cũng chỉ là do tâm tưởng tượng ra thôi chứ không phải có thật. Vật lớn nhỏ là vọng tưởng, thời gian dài ngắn cũng là vọng tưởng, số lượng nhiều ít cũng là vọng tưởng.

Năm 2012 Maria Vladimirovna Chekhova, Tiến sĩ Khoa học Đại học Moscow đã tiến hành thí nghiệm liên kết lượng tử với 100.000 photon ở trạng thái vướng víu (entangled).

100.000 photon ở trạng thái vướng víu (entangled) nghĩa là gì? Nghĩa là một photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau trong không gian. Số lượng vị trí xuất hiện có giới hạn không? Câu trả lời là không. Bằng chứng ở đâu? Bằng chứng là thuyết Big Bang.

Theo thuyết này, sau vụ nổ, thời gian và không gian đầu tiên xuất hiện như sau: thời gian bằng 10-43 (mười lũy thừa trừ 43) giây, vũ trụ chỉ là một hạt lượng tử có kích thước bằng 10-33(mười lũy thừa trừ 33) cm. Còn trước đó là bức tường Planck, không có không gian, không có thời gian, không có số lượng vật chất gì cả.

Tóm lại tất cả vũ trụ vạn vật đều là vọng tưởng, mặt trời, mặt trăng, núi non, sông hồ, cũng đều là vọng tưởng do tâm tạo. Lịch sử văn minh hàng ngàn năm của con người cũng là vọng tưởng, xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật phát triển, đời sống con người được nâng cao…Không có cái gì hoàn toàn tuyệt đối là chân thật.

Bằng chứng là tất cả những vật hữu vi không có cái gì tồn tại vĩnh cửu, tất cả đều xuất hiện rồi mất đi. Chỉ có vô sinh pháp nhẫn là bất biến và vĩnh cửu.

Nhiều nhà khoa học ngày nay tin rằng cái vũ trụ mà con người đang sống trong đó chỉ là một vũ trụ giả lập không tuyệt đối có thật. Nhà khoa học máy tính David Anderson tại Viện Tìm kiếm Trí thông minh Ngoài hành tinh (SETI) đã thu thập ý kiến liên quan đến giả thuyết, mang đến cái nhìn rõ nét về những đặc điểm của vũ trụ giả lập.

🌵🌵🌵

Sư Minh Tuệ tu hạnh đầu đà là muốn thực hiện điều gì? Ông ấy muốn tự mình thân chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác giống như Đức Phật thời xưa. Tại sao phải buông bỏ tất cả, kể cả thân mạng cũng không trân quý như đại đa số mọi người thế gian? Bởi vì tất cả đều là giả tạm, đều là vọng tưởng do tâm tạo chứ không phải chân thật. Ông muốn tự mình thân chứng cái vô sinh pháp nhẫn.

Tóm lại những điều trình bày trên đây mới đúng là chánh tư duy chứ không phải chánh tư duy là suy nghĩ chín chắn, đúng đắn về sự vật và hiện tượng để có hướng xử lý và cải tạo chúng phù hợp với khuôn khổ giáo lý của giáo môn.

Thế lưu bố tưởng và chấp trước tưởng

Tất cả suy nghĩ, nhận thức của con người đều là vọng niệm, vọng tưởng nhưng Đức Phật chỉ rõ thêm có hai loại vọng tưởng khác nhau.

Phật giáo nói rằng cuộc sống ở thế gian là thế lưu bố tưởng. Thế lưu bố tưởng 世流布想 là tưởng tượng bình thường được lưu truyền rộng rãi qua nhiều đời của thế nhân. Trong kinh “Đại bát Niết bàn” 大般涅槃经 do ngài Đàm Vô Sấm 昙无谶 (Dharmaraksa) pháp sư người Ấn dịch, Phật nói với Ca Diếp:

一切凡夫有二种想。一者世流布想。二者着想。一切圣人唯有世流布想无有着想。一切凡夫恶觉观故。于世流布生于着想。一切圣人善觉观故。于世流布不生着想。是故凡夫名为倒想。圣人虽知不名倒想。

Tất cả phàm phu có hai loại tưởng tượng, thứ nhứt là thế lưu bố tưởng, thứ hai là trước tưởng. Tất cả bậc thánh nhân chỉ có thế lưu bố tưởng mà không có trước tưởng. Tất cả phàm phu vì dựa vào cảm giác sai lầm của giác quan , từ thế lưu bố tưởng sinh ra trước tưởng. Tất cả bậc thánh vì có chánh giác thấu suốt, từ thế lưu bố tưởng không sinh ra trước tưởng. Vì vậy mới gọi cái thấy của phàm phu là điên đảo tưởng. Thánh nhân tuy cũng có tri giác (giống phàm phu) nhưng không gọi là điên đảo tưởng.

Giữa thế lưu bố tưởng 世流布想 và chấp trước tuởng 執著想 rất dễ nhầm lẫn. Vì dụ Mặt trăng là thế lưu bố tưởng, núi non sông hồ là thế lưu bố tưởng. Nhưng quan điểm của Einstein cũng như cái thấy của người đời về mặt trăng là chấp trước tưởng. Để phân biệt rõ ràng hơn nữa tôi xin nêu ra hai bức ảnh về cô gái đọc sách sau đây:

🌵🌵🌵

Thế lưu bố tưởng (ảnh trên) là sự vật đúng y như nó đang là không có chen vào cảm tưởng cảm giác chủ quan của người tạo tác, gọi là sự vật khách quan (mặc dù khách quan thật ra cũng chỉ là chủ quan tập thể chứ cũng không phải tuyệt đối chân thật bởi vì cũng do tâm tạo).

Chấp trước tưởng (ảnh dưới) là ảnh vẽ mang cảm giác ấn tượng chủ quan của người vẽ. Chính ấn tượng chủ quan là lý do tồn tại của nghệ thuật hội họa ngày nay khi tất cả mọi người có điện thoại di động trong tay đều có thể chụp lại mọi sự vật chung quanh mình kể cả những sự vật ở rất xa thông qua internet. Còn họa sĩ vẽ lại cảm tưởng ấn tượng chủ quan của mình.

Chấp trước tưởng còn gọi là điên đảo tưởng 颠倒想 tức là cái thấy lộn tùng phèo do chủ quan của cá nhân. Ví dụ ai cũng khao khát có nhiều tiền vì tiền mang lại nhà cửa, xe cộ, đồ dùng, tiện nghi vật chất. Tiền trở thành thước đo giá trị của con người trong xã hội, ai càng có nhiều tiền thì càng được xã hội coi trọng.

Ví dụ Elon Musk là người giàu có nhất hành tinh. Giá trị tài sản của ông ta hiện nay (tháng 3-2025) là khoảng 350 tỷ USD. Ông ta được coi trọng tới mức tổng thống Mỹ Donald Trump mời ông làm lãnh đạo Bộ Hiệu quả Chính phủ (DOGE = Department Of Government Efficiency) với mục tiêu giảm bớt chi phí chính phủ, tiết kiệm mỗi năm 2000 tỷ usd đủ để trả lãi nợ vay của chính phủ Mỹ hiện nay là hơn 36.000 tỷ usd.

Cái thấy đó bị coi là điên đảo bởi vì tiền tài danh vọng, tài nguyên lãnh thổ, học vấn, dục lạc…tất cả chỉ là con số 0 bởi vì toàn bộ chỉ là vọng tưởng. Thế nên sư Minh Tuệ tu tập thực hành hạnh đầu đà nhằm chứng thực vô thượng chánh đẳng chánh giác tức là trực tiếp phát hiện cái gọi là vô sinh pháp nhẫn 無生法忍. Cái đó mới đích thực là cái bản ngã, cái ta thật của tất cả chúng sinh, chứ không phải ngũ uẩn ngã mà mọi người đang theo đuổi.

Vô sinh pháp nhẫn không bị hạn chế bởi không gian, thời gian, số lượng vật chất. Tất cả chúng sinh đều có chung cái đó. Toàn bộ tam giới đều từ cái đó sinh ra cả. Cho nên mọi tranh giành về đất đai, tài nguyên lãnh thổ, địa vị thống trị đều chỉ là điên đảo tưởng, chỉ có giá trị tương đối, tạm thời, ngắn hạn, mắc kẹt trong không gian, thời gian, không có giá trị vĩnh cửu.

Chúng ta có lẽ ai cũng muốn sống khỏe mạnh, suốt đời không bệnh nặng, không bao giờ phải nằm bệnh viện, thân tâm luôn an lạc, thì hãy thực hành chánh tư duy. Tôi tạm lấy chánh tư duy làm đại diện cho bát chánh đạo, tám phương pháp thực hành đều có thể quy về chánh tư duy. Thực tế vẫn có không ít người sống đến 80, 90 tuổi mà không hề bị bệnh nặng, không một lần nào phải nằm bệnh viện.

Truyền Bình 1


NGUỒN

🔗 duylucthien.wordpress.com


GHI CHÚ

Footnotes

  1. 📝 Truyền Bình

⬆️
⬇️