Chương 16

TỪ BI HỈ XẢ LÀ THẾ NÀO?

Ý nghĩa theo kinh điển

Trước hết tôi xin bàn đến Từ Bi Hỉ Xả theo ý nghĩa trích dẫn từ kinh điển Đại Thừa Phật Giáo.

Từ Bi Hỉ Xả 慈悲喜舍 是《阿含经》到大乘诸经中反复倡导的精神。慈、悲、喜、舍的无限扩大、无限深化,称为大慈、大悲、大喜、大舍,名“四无量心”,或称“四梵住”(四种清净无染的心)

Từ bi, hỷ xả là thuật ngữ trích trong Kinh A Hàm và các kinh điển Đại thừa khác nói lên tinh thần của lòng từ ái, an vui và buông bỏ. Sự mở rộng vô tận và sâu thẳm của tinh thần từ, bi, hỷ, xả được gọi là đại từ, đại bi, đại hỷ và đại xả, và được gọi là “tứ vô lượng tâm”, hay “tứ phạm trụ” (4 trụ cột thanh tịnh vô nhiễm vô lượng của Tâm)

慈(梵maitreya),音译为“弥勒”,著名的弥勒菩萨即以之为名。慈由“友”〔mitra〕演变而来,意为以深刻、亲切之友情待人,慈悯众生,深心愿给予众生快乐、幸福。

Từ 慈 (tiếng Phạn maitreya) phiên âm là Di Lặc với hình tượng Bồ Tát Di Lặc nổi tiếng (vui cười hỉ hả từ đó mà gọi tên theo tiếng Trung là Di Lặc còn gốc tiếng Phạn là Maitreya). Từ 慈 là do hữu 友 (bạn=mitra) diễn biến mà ra, ý nghĩa là lấy tình bạn thâm sâu mà đối đãi. Thương và quan tâm chúng sinh, tận trong đáy lòng muốn đem lại an lạc hạnh phúc cho chúng sinh.

悲〔梵,巴利karuna〕,原意为痛苦,引申为能感同身受地体察他人的痛苦(属于心理学所谓“移情”),深切同情、怜悯,愿为其拔除痛苦。佛典解释说:“慈名予乐,悲名拔苦”。

Bi 悲 (tiếng Phạn và Pali là karuna nghĩa gốc là thống khổ, mở rộng đến khả năng đồng cảm với nỗi đau của người khác (trong tâm lý học gọi là “đồng cảm” ), có sự cảm thông, thân ái sâu sắc và sẵn sàng xoa dịu nỗi đau cho họ. Kinh Phật giải thích: “ từ là ban vui, bi là cứu khổ”

喜〔梵mudita〕或作“随喜”,对众生所做善事随喜功德以促成,劝进行者。

Hỉ 喜 (tiếng Phạn mudita ) còn nói là tùy hỉ, khuyến khích hành giả làm việc thiện đối với chúng sinh là tùy hỉ công đức mà tiến hành.

舍〔梵upekga,巴利upekkha〕,意为舍弃、施舍,主要指舍弃怨亲等分别和自己的财物身命。也包括舍弃烦恼及过分的慈悲喜乐等,保持平静空寂的心境。

Xả 舍 (tiếng Phạn là upekga, tiếng Pali là upekkha) có nghĩa là buông bỏ, không cố nắm giữ, chủ yếu chỉ việc buông bỏ sự oán giận đối với người thân, vật thân, nói rõ hơn là buông bỏ cả với tài vật, thân mạng của mình, kể cả buông bỏ phiền não và cả những thương lo hỉ lạc quá mức, giữ sự bình tĩnh trống không trong lòng. Sư Minh Tuệ tu theo hạnh đầu đà (khổ hạnh) hiện nay có thể biểu trưng cho tinh thần Từ Bi Hỉ Xả.

Kinh điển Đại Thừa Phật giáo có câu : Vô Duyên Đại Từ, Đồng Thể Đại Bi

無緣大慈,同體大悲 出自《大乘本生心地觀經》。 經雲: 智光比丘汝諦聽,出家菩薩所應作, 無緣大慈攝眾生,猶如一子皆平等。

Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi xuất xứ từ “ Đại Thừa Bổn Sinh Tâm Địa Quán Kinh”. Kinh nói: Tỳ kheo Trí Quang, hãy lắng nghe, điều mà một vị bồ tát xuất gia nên làm là ban phát niềm vui lớn cho chúng sinh vô điều kiện, bình đẳng, chăm lo giống như đối với con cái của mình.

《華嚴經》云:「諸佛如來以大悲心為體故,因於眾生而起大悲,因於大悲生菩提心,因菩提心成等正覺。」 故知,慈悲心為修行的根本,欲成就無上菩提者,應先發大慈悲心。 一切眾生無始以來,隨業流轉,流浪生死。

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Bởi vì tất cả chư Phật và Như Lai đều có lòng đại bi coi chúng sinh như thân mình (chúng sinh khổ cũng như mình khổ), nên các ngài có lòng đại bi đối với tất cả chúng sinh. Vì lòng đại bi nên các ngài phát khởi bồ đề tâm, và vì bồ đề tâm mà các ngài thành đạt chánh giác.” Nên biết rằng lòng đại bi là căn bản tu hành, và muốn thành tựu Vô thượng Bồ đề trước hết nên phát tâm Đại Từ Bi. Tất cả chúng sinh từ vô thủy đến nay đã tùy nghiệp mà lưu chuyển lang thang trong sinh tử luân hồi.

Chúng sinh khổ sở vô biên nên tục ngữ có câu Đời là bể khổ. Cho nên Bồ Tát phát tâm từ bi hỉ xả muốn cho chúng sinh an lạc và hết khổ.

Ý nghĩa rốt ráo của từ bi hỉ xả

Tuy nhiên phần lớn kinh điển giáo môn chỉ giải thích từ bi hỉ xả theo nghĩa thông thường nương theo thói quen tâm lý của chúng sinh nên khiến đa số mọi người không thật sự thấu hiểu ý nghĩa rốt ráo cứu cánh của từ bi hỉ xả.

Từ 慈 (vui) Bi 悲 (khổ) có thực chất hay không hay chỉ là tâm niệm, là cảm nhận theo một thói quen mê muội không có thực thể ?

Chúng ta không thể tách rời khỏi vũ trụ quan của Phật giáo, đó là ánh sáng giác ngộ thấu hiểu và thân chứng, nhận ra tất cả mọi hiện tượng của vũ trụ vạn vật như không gian, thời gian, số lượng vật chất, tất cả đều không có bản thể và chỉ là tâm niệm mà thôi. Vì vậy kinh Hoa Nghiêm nói Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 nghĩa là tất cả các pháp trong vũ trụ đều không có tính chất, đặc trưng, đặc điểm gì cả. Tất cả những tính chất của vạn vật mà chúng ta cảm nhận đều chỉ là tưởng tượng, do tâm tạo mà thôi. Vì vậy kinh cũng nói Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造 nghĩa là Tất cả các pháp từ không gian, thời gian cho đến vật chất, năng lượng, hạt cơ bản, thông tin…đều là do tâm tưởng tượng ra chứ không có thực chất.

Các bậc giác ngộ từ xưa đã thân chứng sự huyễn ảo không có thật của vạn vật và họ đã mô tả kinh nghiệm đó trong các bài kệ. Ví dụ Lục Tổ Huệ Năng nói :

本來無一物 Bản lai vô nhất vật Xưa nay không có vật gì cả

何处惹尘埃 Hà xứ nhạ trần ai Bụi trần bám vào đâu ?

Kinh Kim Cang nói :

一切有為法 Nhất thiết hữu vi pháp Tất cả pháp hữu vi

如夢幻泡影 Như mộng huyễn bào ảnh Như mộng huyễn bọt bèo

如露亦如電 Như lộ diệc như điện Như sương mai điện chớp

應作如是觀 Ưng tác như thị quán Nên xem thấy như thế

Không phải chỉ có các nhà sư nói mà các khoa học lớn của thế giới cũng nói như thế.

Werner Heisenberg, người phát hiện ra nguyên lý bất định, nói: “Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật).

Werner Heisenberg (1901-1976) Nhà khoa học Đức

Niels Bohr cũng nhận ra các hạt cơ bản không phải là vật thật. Ông nói :

“Mọi thứ mà chúng ta gọi là thật được cấu tạo bởi những vật không thể coi là thật (hạt cơ bản). Nếu cơ học lượng tử không gây sốc cho bạn một cách sâu xa, bạn chưa hiểu gì về nó.”

Hạt cơ bản của vật chất chỉ là những hạt ảo, hoa đốm trong hư không như kinh điển Phật giáo nói mà thôi.

Tóm lại vì bản chất huyễn ảo không có thật của vũ trụ vạn vật mà chúng sinh cứ bám chấp cho là thật và cứ theo đó mà vui buồn một cách ảo tưởng vô căn cứ nên Kinh điển phải nói Vô duyên đại từ, Đồng thể đại bi để phá chấp thật và thoát ra khỏi cái vui buồn ảo tưởng đó.

Phật, Bồ Tát thương chúng sinh không phải bằng tình mà bằng trí. Thương bằng trí là thế nào ? Họ biết rằng vui buồn khổ chỉ là ảo tưởng không có thật, chúng sinh khổ chỉ vì chấp thật mà thôi. Chỉ cần phá chấp thật thì không có gì phải vui khổ nữa cả. Những hoàn cảnh đau thương khổ sở của con người, của chúng sinh chỉ là tâm niệm chấp trước. Nhưng vì chúng sinh đã nhiều đời nhiều kiếp quen chấp thật như vậy rồi. Những cái mà chúng sinh chấp là thật, kinh điển gọi là Thế lưu bố tưởng 世流布想 (tưởng tượng đã lưu truyền nhiều đời nhiều kiếp và trở nên phổ biến), và những cái thành kiến của chúng sinh là chấp trước tưởng 執著想 . Những cái mà nhà khoa học Albert Einstein cho là duy vật khách quan chính là thế lưu bố tưởng. Còn những tâm niệm vui buồn khổ sướng của chúng sinh chính là chấp trước tưởng. Các bậc giác ngộ cũng có thế lưu bố tưởng giống như chúng sinh nhưng họ không chấp trước cho là thật nên họ an nhiên tự tại không có khổ trong bất cứ hoàn cảnh nào. Kinh điển bày ra hình tượng Phật Di Lặc ban vui cứu khổ cho chúng sinh chỉ là một phương tiện để giúp những chúng sinh quá u mê có một chỗ dựa, một niềm tin để từ từ thoát khỏi cái vui khổ ảo tưởng mà thôi.

Những người tu hành theo Phật pháp phải hiểu rõ ý nghĩa rốt ráo của kinh điển Đại Thừa mới có thể tự giải thoát khỏi tất cả mọi phiền não, không nhất thiết phải lệ thuộc vào hoàn cảnh, vào các nhà lãnh đạo chính trị đầy tham vọng và cũng không ít mê lầm, vào các nhà khoa học duy vật, họ tuy có đóng góp rất lớn vào việc nâng cao đời sống vật chất cho con người nhưng cũng làm hại cho con người không ít bởi vì họ chưa thật sự chứng ngộ cái mà thuật ngữ Phật giáo gọi là Vô sinh pháp nhẫn 無生法忍 Cái đó mới đích thực là nguồn gốc của vũ trụ và nhân sinh mà các bậc giác ngộ như Phật, Bồ Tát, chư vị Tổ Sư đã chứng nghiệm và ghi nhận trong các kinh kệ của Phật giáo.

Phật tử chúng ta nên tránh biên kiến (thiên lệch một bên của các cặp phạm trù mâu thuẫn như đúng-sai, thiện-ác, tốt-xấu, phàm-thánh…Bởi vì biên kiến cũng tức là tà kiến mà tà kiến là rơi vào tương đối và không thể giác ngộ.

Truyền Bình 1


NGUỒN

🔗 duylucthien.wordpress.com


GHI CHÚ

Footnotes

  1. 📝 Truyền Bình

⬆️
⬇️