Chương 26

THIÊN NHƯ DUY TẮC THIỀN SƯ

Thiên Như Duy Tắc Thiền Sư

天如惟則禪師

(Tiểu sử, nhận định và tác phẩm)

Thiên Như Duy Tắc Thiền sư (1286-1354CN) là một thiền sư thuộc hệ Lâm Tế thời nhà Nguyên, người quê ở huyện Cát An 吉安縣, tỉnh Giang Tây, họ đời thường là Đàm 譚, khi còn trẻ ông xuất gia ở Hòa Sơn 禾山. Sau ông đến núi Thiên Mục ở tỉnh Chiết Giang để tham học Phật pháp với Thiền sư Trung Phong Minh Bổn 中峰明本 (1263-1323CN), trở thành đệ tử nối pháp. Theo “Thiên Như hòa thượng Ngữ lục ” (Duy Tắc) có nói: “từ năm mười tuổi đến nay, mải mê học ngồi thiền, đè nén tham, sân, si ở trong đầu xuống”. Duy Tắc từ lúc còn trẻ đã xuống tóc, lúc chưa gặp minh sư đã từng trải qua một thời gian tu mù tập bừa một cách tự phát. Về sau du phương đến núi Thiên Mục lễ bái Trung Phong Minh Bổn làm thầy của mình, sau đó ông mới biết thế nào là tham Thiền học Đạo. Dần dà qua năm tháng công phu nhọc nhằn, sau đó ông mới tự giác phân biệt được sự khác nhau giữa Thiền và Tịnh, nhưng ông chủ trương ” Thiền Tịnh Nhất Trí”, và trở thành truyền nhân Hổ Khâu Phái của Lâm Tế Tông.

Việc Thiền sư Duy Tắc chủ xướng “Thiền Tịnh Nhất Trí” có quan hệ đến kinh nghiệm “ngồi thiền tu mù” lúc trẻ của ông, do minh sư khó gặp, vả lại những bậc thầy chân chính tham thiền phá được công án, sáng suốt thiền ý (minh liệu thiền ý) không có nhiều. Hơn nữa, số người ray rứt tưởng niệm về cái khổ của sinh tử luân hồi không nhiều. Thứ ba là số người có thể buông bỏ hư danh của thế gian, tránh thoát được vọng duyên và thói quen xấu (bãi đắc thoát vọng duyên ác tập) của người đời cũng không nhiều. Do đó, ông nhận thức rằng tham thiền có chỗ khó khăn trong việc đột phá:

Một là lúc đầu đã không gặp được thiện tri trức chân chính để cùng với người đó phát triển tông chỉ và khai thị đạo lý, do đó căn cơ bất ổn và phương hướng không đúng. …Thứ hai, không biết cái khổ do không lấy sinh tử là việc lớn (sinh tử sự đại) làm tâm niệm, nên đã không có công phu tinh tiến dũng mãnh, lại không có chí khí, quyết tâm bất cứ việc lâu xa nào cũng không thoái lui …Thứ ba, hoặc là không phá bỏ hư danh lợi lộc của thế gian, buông bỏ không được; hoặc là đối với vọng duyên ác tập của thế gian không đoạn trừ được, không tránh thoát được.

Thiền sư Duy Tắc đề xuất quan điểm “Thiền Tịnh Độ, Tịnh Độ Thiền “, đó là lấy Thiền pháp thu nhiếp pháp môn Tịnh Độ, và cũng lấy pháp môn Tịnh Độ hàm nhiếp Thiền pháp. Duy Tắc theo “Tứ Liệu Giản 四料簡” của Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽904-975CN) để chọn lựa trong vấn đề về Thiền và Tịnh (giản trạch Thiền Tịnh vấn đề) ông nhận thức Tứ Liệu Giản ca ngợi pháp môn Tịnh Độ, giống như một đỉnh núi đơn độc bên bờ vực với vách đá dựng đứng cao vạn nhận (nhận là đơn vị đo độ dài ngày xưa, 1 nhận dài khoảng 2,1m) khiến người ta không thể vượt qua, tuy nhiên, xét từ thân thế thiền sư, nhận định của ông khiến mọi người cảm thấy ông đang hạ giá Thiền và đề cao pháp môn Tịnh độ, sự thật có đúng không? Bài viết này nhằm theo dõi quan điểm của Duy Tắc về “Tứ Liệu Giản”

Để khai triển ý nghĩa thực tế của “ Tịnh Độ Thiền, Thiền Tịnh Độ”, đồng thời dùng hai chủ đề “Thiền Tịnh Nhất Trí” và “Thiền Tịnh Song Tu” để xem xét ngài Duy Tắc đánh giá thế nào về mối quan hệ ràng buộc giữa Thiền và Tịnh. Nói chung chúng ta đều biết đề cao Tịnh Độ là phá hủy Thiền, chẳng những không hiểu Thiền mà còn không biết Tịnh Độ, đây có lẽ là một thứ bệnh của các hành giả tu Tịnh Độ. Ngược lại, hành giả Thiền chủ trương “Tịnh Độ là do Tâm, là tự tánh của A Di Đà”, nếu họ không biết rằng chỉ có đại Bồ Tát đã chứng ngộ Pháp thân, thì mới có thể chứng được thực tế đó, và thế là họ có một bụng trống tâm cao, từ bỏ việc tu tập, đây có thể cũng là một bệnh của người tu Thiền. Cái mà Duy Tắc muốn tu tập là Thiền còn Tịnh phải chăng chỉ là tu kiêm thêm thôi (Tịnh thị phủ khả dĩ kiêm đới nhi tu). Và sau khi đã chứng ngộ từ Thiền hay từ Tịnh, đó là sự thể nhận thái độ đối với chủ trương “Thiền Tịnh Nhất Trí” vậy.

Các tác phẩm chủ yếu của Thiền sư Duy Tắc bao gồm “Thiên Như Hòa thượng Ngữ lục”, “Lăng Nghiêm Kinh Hội Giải”, “Tịnh Độ Hoặc Vấn”, v.v. Trong đó, “Thiên Như Hòa thượng Ngữ lục” do người nối pháp của ông là Thiện Ngộ 善遇 biên tập, ban đầu xuất bản bốn tập “Ngữ Lục” tiếp theo là năm tập “Biệt Lục” phụ theo lời tựa từ năm Chí Chính 至正 thứ 9 (1349CN), sau đó tiếp tục xuất bản “Thặng ngữ tập” với 2 quyển bao gồm “Tịnh Độ Hoặc Vấn” và “Tông Thừa Yếu Nghĩa “. Vào năm Chí Chính thứ 14 (1354CN), tại chùa Vân Thê 雲栖寺 cải biên thành 9 quyển, còn “Tịnh Độ Hoặc Vấn” được chuyển thành một quyển sách riêng. Một số người Nhật như Trung Dã Đạt Huệ 中野达慧 (Nakano Tatsue) đã từng thu thập từ “Thiên Như Hòa thượng Ngữ lục” biên tập thành quyển “Vạn Tục Tạng Kinh” chủ yếu được xuất bản vào thời Edo. Ấn bản này có lời tựa của hai người là Dương Tông Đoan và Vô Học Dã Nhân, cuối quyển sách có phụ thêm bài ký của Âu Dương Huyền (1283-1357CN) nhan đề “Sư Tử Lâm Bồ Đề Chính Tông Tự Ký” (Bài ký chùa Bồ Đề Chính Tông tại vườn Sư Tử Lâm) ngoài ra có bài “Nhật Bổn hòa khắc ảnh ấn cận thế Hán tịch tùng khan” (Bản sao văn bản và ảnh tại Nhật các bộ sách Hán ngữ cận đại) do Aramoto Migo và Okada Takehiko biên tập cũng được sao chụp và xuất bản dựa trên quyển Ngữ lục này.

Cuốn “Lăng Nghiêm Kinh Hội Giải” khi đã lưu hành khoảng hai trăm năm, và được nhiều người “khen ngợi và siêng năng giảng dạy”. Tuy nhiên, cũng có những quan điểm phản đối, chẳng hạn như Phùng Mộng Trinh (馮夢禎1548-1595CN) đã nói:

Ông Phùng cho rằng trong “Lăng Nghiêm Kinh Hội Giải” có quá nhiều quan điểm chủ quan của Duy Tắc, vì ông thường có quan điểm cá nhân khi viện dẫn chú thích của các tông phái khác khi giải thích Kinh Lăng Nghiêm nên Kinh Lăng Nghiêm đã có nhiều ý kiến cá nhân thêm vào rồi. Do đó “ Lăng Nghiêm Kinh Hội Giải” đã có nghi vấn. Phán đoán của Tiền Khiêm Ích 錢謙益càng sáng tỏ hơn, ông nói:

Hai trăm năm sau vẫn còn có ý kiến ​​dị nghị, có người nói “Lăng Nghiêm” của Thiên Như không phải là “Lăng Nghiêm” mà Như Lai đã thuyết. “Mông sáo” (mờ mịt) là mô tả “Hội giải” này. Dấu ấn tông môn của nó tuy có nguồn gốc từ Thiên mục (tánh thấy), nhưng con mắt giáo môn ắt chuyên thuộc về Thiên thai.

Người ta chỉ ra rằng Duy Tắc diễn giải Kinh Lăng Nghiêm theo giáo lý của Thiên Thai tông, nhận định này là đúng. Duy Tắc cũng lấy giáo lý Thiên Thai để diễn giải “Tịnh Độ Hoặc Vấn” của mình, tức là ông đã sử dụng khá nhiều giáo lý Thiên Thai để khai triển tư tưởng Tịnh độ và ngay cả quan niệm về “Thiền Tịnh Nhất Trí”.

(Tâm Nghị 心毅 Đại Bồ Văn Hóa 大菩文化 Hội Phật giáo Phổ Đà Sơn 普陀山佛教协会 thành phố Chu Sơn 舟山tỉnh Chiết Giang) Bài Tựa Lăng Nghiêm Kinh Hội Giải của Thiên Như Duy Tắc Thiền sư

天如惟則禪師《楞嚴經會解》序

Chấp bút: Sa Môn Khắc Lập

Thiên Như Duy Tắc Thiền sư là người kế thừa của Trung Phong Quốc Sư, sống vào thời nhà Nguyên và đã đạt được những thành tựu to lớn trong Thiền tông. Thiền sư Duy Tắc cả đời theo tông phong của đại sư Lâm Tế và được sắc tứ danh hiệu “Phật tâm Phổ tế Văn Huệ Đại biện Thiền sư” và một chiếc áo kim lan.

Những lời dạy của ông về Tịnh độ tông đã được biên soạn thành cuốn sách “Tịnh Độ Hoặc Vấn (Các câu hỏi hoài nghi về Tịnh Độ)” và được đưa vào sách “Mười điều cốt yếu của Tịnh độ”, một tác phẩm kinh điển quan trọng của Tịnh Độ tông. Sách “Lăng Nghiêm Kinh Hội Giải” của ông thu thập tinh hoa chú giải của chín nhà nghiên cứu vào thời Đường và Tống, với các chú thích thuyết minh bổ sung, tổng cộng hai mươi tập. Nó luôn được các thế hệ người tu học hậu thế đánh giá cao.

Thủ Lăng Nghiêm Kinh là huệ mạng của chư Phật, là con đường đạt đạo của tất cả chúng sinh, là giềng mối lớn của hệ thồng giáo lý, là cửa ải quan trọng của Thiền môn. Kể từ khi Thế Tôn thành đạo, năm thời chuyển hóa không gì khác hơn là một đại sự nhân duyên.

Hãy tìm cầu cơ duyên bao quát toàn diện của kinh, trực chỉ tâm thể phát hiện cái chân thực tối thắng, xác định được ý nghĩa tính chất cơ bản giản đơn, chân thực viên thông, để con người có thể xoay chuyển sự vật giống như Như Lai, chỉ bằng một cái búng tay, vượt qua hàng vô học, đạt đến Lăng Nghiêm vô thượng. Giải thích tên gọi của kinh, tất cả mọi việc rốt ráo là vững chắc, tức cái gọi là nguồn gốc các pháp, không chuyển động không hư hoại, nguồn gốc bí mật của Như Lai, vạn hạnh của Bồ Tát đều bắt đầu từ đây, và tất cả quy về đây vậy.

Hãy xem xét sự giải thích cặn kẽ của kinh, ắt là nói về cái lý tròn đầy để làm sáng tỏ bản chất chân thực và khai mở các hạnh viên mãn để chỉ rõ cách tu hành chân chính. Bản chất của nó cả thể và dụng đều rõ ràng. Về mặt tu hành nhân quả đều khế hợp, từ đầu tới cuối đều là liễu nghĩa. Nếu người tu hành quay lưng với chân mà hướng về vọng sẽ không đạt được vô thượng Bồ đề.

Hoặc có người yêu thích Tiểu thừa chỉ được chút ít cho là đủ. Hoặc nếu không trừ bỏ ham muốn hữu lậu nuôi dưỡng tánh nghe, những người đó đều phạm sai lầm. Vì vậy, khi A-nan lấy đa văn tà nhiễm làm duyên để phát triển đại giáo. Đức Thế Tôn trước tiên bảo ông ấy rằng: “Tất cả chúng sinh đều ở trong vòng luân hồi sinh tử liên tục vì không biết được chân tâm thường hằng, tánh thanh tịnh, thể trong sáng, mà dùng đủ thứ vọng tưởng. Những tưởng tượng đó không thật do đó mà luân chuyển trôi lăn. Ngài lại nói: “Có một pháp Tam ma đề (Samadhi= Thiền định) tên là Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm Vương đầy đủ vạn hạnh, Như Lai mười phương đều do một cửa này mà siêu xuất diệu trang nghiêm lộ. Hiểu và thực hành kinh này là gốc lớn (của Phật pháp) vậy.

Do đó, phá bảy chỗ dính mắc (phá thất xứ phan duyên), và phân biệt hai loại căn bản. Do cái thấy nên phát hiện được tâm, và do tâm mà phát hiện tánh thấy. Tuy tánh thấy của tâm luôn hiển hiện, nhưng hiển hiện chính là do tâm.

Giống như người mù nhìn bóng tối, thí dụ cho ý nghĩa là nhìn không cần mắt; chỉ ra là thấy không cần ánh sáng, thể nghiệm cái thấy thường hằng không lay động; giống như nhìn cái bất biến của con sông, thí dụ cho buông thỏng tay mà không rớt; Nói về bát hoàn (tám sự trở lại) 1, chọn trong vạn vật, không trải ra cũng không cuốn lại, không đúng cũng không sai. Khiến cho nhận ra chân tâm thanh tịnh và viên mãn, phá vọng, cái thấy nghe phân biệt sắc không không dựa vào tai, mắt. Tức nhận ra sự sai lầm, mê muội lộn xộn, do đó phá vỡ khái niệm tự nhiên và khai thị sự sai lầm của cái thấy; cái thấy kết hợp với biệt nghiệp, đồng thời chỉ ra đó cũng là nơi sinh ra cái thấy sai lầm.

Và lấy một người làm thí dụ cho nhiều người, lấy một nước làm thí dụ cho nhiều nước. Nói chung là hiển thị gốc rễ của đồ vật và sinh vật của toàn thế giới đều là vọng vậy. Từ nông đến sâu, từ hẹp đến rộng. Tuy có nhiều cách để hiển bày cái vọng nhưng chỗ hiển bày rốt ráo là cái chân thật.

Đó là cách đưa nguyên lý Âm vào mọi cảnh giới (cố hựu cử âm nhập xứ giới), mở rộng đến thất đại 2, dung hội vào bản chất của Như Lai Tạng, khiến nhận ra rằng ta và vạn vật là cùng một gốc, đúng và sai là cùng một bản chất, và chỉ là vọng không có tự tánh và cái toàn thể là chân (thị phi nhất thể, vọng vô tự tánh, toàn thể tức chân). Phàm thập giới 3 đều là hình tướng biểu hiện của cái chân chính (phàm thập giới y chính chi tướng), đều theo nghiệp mà phát hiện vậy (giai tuần nghiệp phát hiện nhi dĩ).

Đã ngộ tức là chân, còn theo đuổi mê lầm mà mong ngộ cũng khó như dời núi lấp sông, là căn nguyên sinh khởi của nghèo nàn cùng cực (thâm cùng sinh khởi chi do). Ví như hư không không ngăn cản vạn pháp phát triển (thí hư không bất cự chư tướng phát huy), hiển thị sáng tỏ chân tâm diệu giác, soi sáng khắp pháp giới, một và nhiều ứng biến với nhau, lớn và nhỏ chứa đựng được nhau (nhất đa hỗ ứng, tiểu đại tương dung) 4, thể và dụng không mâu thuẫn nhau, nó không phải phàm tục cũng không phải chân thực (tức thể tức dụng, phi tục phi chân).

Đến như rời xa là rời cái sai đúng, cái tức là cũng không phải tức là (Chí vu ly tức ly phi, thị, tức phi tức), nó hàm chứa tính vi diệu của tâm và không đi đôi với những câu danh ngôn (tắc tàng tâm diệu tính, bất thiệp danh ngôn hĩ). Rồi (Phật) lại thí dụ một người nhìn vào gương mà chạy càn, đó là ví dụ cho cái vọng tưởng mà không có nguyên nhân, đó là cái hại của đa văn và khuyên nên tu pheo pháp môn vô lậu (dụ vọng vô nhân, kết trách đa văn, khuyến tu vô lậu). Lời nói đả thông đều là lý tròn đầy. Lý giải tuy đầy đủ nhưng nếu không thực hành thì nó không được chứng tỏ. Vậy, đã rõ ý nghĩa của cặp mâu thuẫn, bước đầu là xác định nguyên nhân mà phát tâm rồi đoạn trừ vô minh, đó là cốt yếu của việc tu hành.

Kế đó là xem xét căn bản của phiền não, ý chọn đúng một căn đầy đủ để từ đó phát nguyện thực hành (ý trạch viên căn vi phát hành chi do). Nghĩa là từ chỗ xác định ưu nhược điểm của sáu căn, và quyết định chọn một căn để thâm nhập. Đánh chuông để biết đâu là chân thường, buộc khăn để thấy sáu nút thắt, đến hai mươi lăm thánh sở 5 để chứng pháp môn. Chọn nhĩ căn làm phương tiện cho sơ tâm. Rồi (Phật) lại dạy các quy tắc nhiếp tâm, đứng yên tại đạo tràng nghe tứ trọng luật nghi 6 và đính quang thần chú 7. Thông hiểu và nói được những điều ấy là thực hành viên mãn vậy (thông nhi ngôn chi giai viên hành dã).

Cho đến do tam tăng tiến 8 mà thành tựu 55 điểm đến trên con đường tới Chân Bồ Đề 9 (thành tựu ngũ thập ngũ vị chân bồ đề lộ). Tuy nói về những quả vị chưa đạt tới, nhưng do thực hành giới nghiệp và đã quen với bảy cảm xúc và ý nghĩ, thiền định đề phòng năm loại tà ma, không khác gì hơn việc tu hành của tông môn, tức hướng tới “Viên mãn Bồ Đề, trở về vô sở đắc”(tất kỳ vu “viên mãn bồ đề, quy vô sở đắc ”), thì mới có thể gọi là chứng cứu cánh kiên cố tối thượng.

Tuy nhiên, dựa trên những nguyên lý vững chắc tối thượng, chúng ta nên tu theo những hạnh vững chắc cứu cánh đó, và chứng nghiệm những nguyên lý vững chắc tối thượng đó. Kinh Lăng Nghiêm chỉ dạy đại để là như vậy. Đó là biết ba điều: lời chỉ dạy, thực hành, và nguyên lý, tất cả được gọi là Lăng Nghiêm. Đó là nói về liễu nghi, không cần phải thêm gì nữa. Những người nghiên cứu kinh sách phải phù hợp nguyên lý, hành vi phải đúng theo tông phái. Ngoài chính tông còn có 5 thành phần: một là kiến đạo, hai là tu đạo, ba là chứng lý, bốn là sưu tập kinh điển, và năm là trợ đạo. Người ta nói rằng sau khi thấy đạo thì tu đạo, sau khi tu đạo thì chứng lý, đây là thứ tự của con đường thông thường thôi vậy.

Nghiên cứu về luận là căn bản cho tu chứng, như sau khi phát hiện tính chất tiềm ẩn, gọi là ngộ Pháp thân mà không cần trải qua a tăng kỳ kiếp, mới được mời tới trước bảo sở, gọi là mọi nghi hoặc được tiêu trừ, tâm ngộ thực tướng, há bị giới hạn cục bộ ở những điều thường nghiệm sao? (vị bất lịch tăng kì hoạch pháp thân; thỉnh nhập hoa ốc chi tiền, vị nghi hoặc tiêu trừ, tâm ngộ thật tướng chi loại, hựu khởi cục vu thường tai) Thật là một lời dạy vĩ đại! Nếu muốn phát hiện bản tâm chân thật của mình và trở về nguồn cội, người muốn minh tâm kiến tánh, hãy nhận ra cái bản tâm của mình là đây vậy.

Tuy nhiên, Kinh không thể tiếp thu nếu không giảng dạy, và không thể nắm được nếu không có vận dụng. Hoặc là lời nói lệch lạc, ý bị vo tròn không chuẩn hoặc danh từ giống nhau nhưng nội dung lại khác.

Người ngu tối, thấp kém có chỗ không hiểu, nhưng người truyền bá kinh điển nghĩ là họ thông đạt, rồi lấy đó giải thích. Từ đời Đường đến đời Tống có hơn mười nhà giải thích kinh. Bắt đầu tôi thấy có sư Trường Thủy Tuyền, sư Cô Sơn Viên, sư Lặc Đàm Nguyệt, sư Ôn Lăng Hoàn; Tôi cũng đọc qua nắm được ý từ sách của các vị sư Ngô Hưng Nhạc, Hưng Phú, Khác Tư, Trung Duyện, Chân Tế, Tiết Tuy và Lý Mẫn. Tất cả đều gần giống nhau. Chỉ có cái thấy mỗi người xuất phát từ lập trường của mình thì không thể không có sự khác biệt nhỏ. Điều này làm cho hành giả hoang mang chia rẽ, không biết đi đường nào cho đúng, và nếu họ không được sự hướng dẫn biện giải tốt ắt có mối lo không đạt, nếu không sai chỗ này thì cũng sai chỗ nọ.

Nay tôi tổng hợp những giải thích cốt yếu của các nhà để mở thông con đường lớn, những chỗ khác nhau không được mọi người công nhận thì lược bỏ, những chỗ khác nhau nhưng được đa số thông qua thì giữ lại, cùng nhau đưa lên xem xét, thẩm tra chứng cứ đích xác giữ lại có mức độ. Những chỗ có mâu thuẫn ắt có nêu phụ thêm ý của mình coi như chú thích bổ sung. Giống như các dòng sông khác nhau nhưng đều chảy ra hội tụ ở biển, do đó gọi là hội giải. Ý Đạo vốn không có lời, nhưng không có lời nói thì không hiển thị được Đạo.

Đức Phật bất đắc dĩ phải nói mà thôi vậy. Nếu nói không rõ, ắt lời nói của các vị thầy sẽ không thể dung thứ cho mình. Bởi vì lời nói thì nhiều và khác nhau, và đạo đi sai càng xa, ắt người hội giải lại có thể dung thứ cho mình sao!

Diễn giải đã là tổng hợp, nhiều người xem xét do hội giải có thể hiểu lời nói của người khác, do lời của người khác mà biết lời của Phật nói. Hiểu lời của Phật thì nắm được cứu cánh kiên cố vậy, đó là hành, là lý, là giáo, là thiền, là đạt đạo, là huệ mạng, là tất cả những chữ nghĩa còn lại (giai thặng ngữ hĩ) hà huống chỉ giải với hội thôi sao !

Thời gian là vào năm thứ hai niên hiệu Chí Chánh (1342 Công nguyên triều đại nhà Nguyên) năm Nhâm Ngọ, sa môn Duy Tắc (ước 1280-1350 Công nguyên) người đất Lư Lăng (nay là thành phố Cát An tỉnh Giang Tây) ký thuật tại thành phố Cô Tô (nay là Tô Châu) tại vườn Sư Tử Lâm.

Xưa Thiên Thai Trí Giả đại sư nghe nói ở Tây Vực có kinh này (tức Thủ Lăng Nghiêm Kinh), ngày đêm nhìn về hướng Tây, ước nguyện thấy kinh nhưng không thấy được.

Vào cuối đời Đường Vũ Hậu (Võ Tắc Thiên) tại Trường An, sa môn Bàn Lạt Mật Đế (Pramiti người Thiên Trúc) bắt đầu cầm bản tiếng Phạn (của Kinh Lăng Nghiêm), từ Nam Hải đến Quảng Châu gặp Tể tướng Phòng Dung, khi biết sư Nam Tuyền đang ở Quảng Châu tại chùa Chế Chỉ 制止寺, bèn thỉnh cầu ngài dịch ra Hán ngữ bằng cách bút thụ 笔受 (nghĩa là sư Bàn Lạt Mật Đế dịch miệng từ bản tiếng Phạn và sư Nam Tuyền viết ra chữ Hán). Năm đầu niên hiệu Thần Long đời Đường Trung Tông (705 Công nguyên) vào ngày 23 tháng 5 năm Ất Tỵ, cuốn kinh được hoàn thành và chép ra tâu lên vua (đằng tả nhập tấu).

Do triều đình xảy ra nhiều việc nên chưa rảnh ban hành. Thiền sư Thần Tú vào đạo tràng và nhìn thấy tấu bản đó, ông chép lại và đưa về chùa Độ Môn ở Kinh Châu. Lúc pháp sư Huệ Chấn đến viếng chùa Độ Môn thấy được quyển kinh đó, và kinh bắt đầu được truyền bá. Vào năm Thiên Bảo thứ mười (751 Công nguyên), pháp sư Duy Khác chùa Hưng Phúc ở Tây Kinh (Trường An) nhân đến nhà của cố tể tướng Phòng Dung, có được bản kinh bút thụ, bèn bắt đầu viết chú giải và truyền bá rộng rãi.

Tiếp đó, các ông Trường Thủy, Cô Sơn, Ngô Hưng lần lượt phát kiến thêm và giải thích ngày càng tường tận hơn. Tuy nhiên, các học giả có thể bị mắc kẹt trong chi tiết và không thể khám phá được hết. Nay Thiên Như Thiền sư Duy Tắc tại vườn Sư Tử Lâm hội giải một lần cho thật chín chắn, ắt không đợi khám phá tất cả, các vẻ đẹp đều đầy đủ ở đây (kim Sư Tử Lâm Thiên Như Thiền sư hội giải nhất xuất, tắc bất đãi biến thám, nhi chúng mỹ cụ tại), không phải mệt nhọc biện luận điều cốt yếu, các nghi ngờ sẽ tự tiêu (bất lao biện hạch, nhi quần nghi tự tiêu).

Đây là phương tiện cho tụng và tu tập, không phải phương tiện để tranh luận tìm lẽ đúng nhé (tụng tập chi tiện, mạc tiện vu thị hĩ ). Tôi (sa môn Khắc Lập) đã cùng sư phụ (Thiền sư Duy Tắc) đi du phương đã lâu, đã tham chước khắp các nhà, chắt lọc kiến giải​, mất ba năm mới thành quyển hội giải này, tôi đã xem qua tất cả. Thế mới biết sơ sơ về công phu thâm sâu của kinh này vậy (cái diệc phả tri kì thâm hữu công vu thị kinh giả dã). Ấy là vì mọi người mà khắc bản gỗ để lưu hành, khôi phục một quyển kinh đã trải qua bao năm tháng.

Sa môn Khắc Lập ở quận Lâm Xuyên 臨川 (thành phố Phủ Châu 撫州市tỉnh Giang Tây) viết bài tựa.

Truyền Bình


NGUỒN

🔗 duylucthien.wordpress.com


GHI CHÚ

Footnotes

  1. Bát hoàn: 8 tình huống trở về, ý nghĩa là sự phục hoàn. Mọi sự biến hóa trên thế giới đều quay trở lại nguồn gốc ban đầu. Có tám loại, gọi là bát hoàn. Biện là phân biệt; Kiến là thấy, khả năng thấy còn gọi là tánh thấy. Bát hoàn biện kiến là sử dụng tám loại trạng thái của đối tượng thấy có thể hoàn nguyên để biện luận, còn tánh thấy vốn không lay động nên không có biến đổi. Theo tập thứ hai của Kinh Lăng Nghiêm, A Nan không biết rằng “đối tượng của tánh thấy thì sinh diệt, nhưng tánh thấy không lay động” đã nhận thức sai về duyên trần (điều kiện và đối tượng) tùy theo đối tượng mà phân biệt. Như Lai bèn dùng hai pháp “tâm” và “cảnh” để phân biệt chân vọng. Nếu nói thấy do ‘tâm’ thì ‘bây giờ ta sẽ cho ngươi thấy không có chỗ để quay về’; nếu nói thấy do ‘cảnh’, thì ‘bây giờ ta trở về chỗ ban đầu’, Phật dùng ví dụ này để chỉ rằng ‘cảnh’ mà ta thấy có thể quay trở lại. Đó là nguyên lý tánh thấy không lay động không thể quay trở lại, kinh giải thích bằng tám tình huống cảnh có thể trở lại gọi là bát hoàn bao gồm: 1/Minh hoàn nhật luân: Ánh sáng trở về khi mặt trời mọc. 2/Ám hoàn hắc nguyệt:Bóng tối trở về khi không có trăng. 3/Thông hoàn hộ dũ: Khai thông trở lại khi cửa mở ra. 4/Ủng hoàn tường vũ: Che lấp trở lại do tường ngăn hay mái nhà che. 5/Duyên hoàn phân biệt: Các duyên trần như sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, trở lại tạo ra phân biệt. 6/Ngoan hư hoàn không: ngoan không hư không trở lại tánh không. 7/Thổ bột hoàn trần: đất có thể trở về bụi. 8/Thanh minh hoàn tễ: sự trong sáng trở lại khi trời tạnh ráo.

  2. Thất đại: Triết học xưa liệt kê bảy yếu tố cấu thành vật chất, tâm lý và vạn vật gồm: địa, thủy, hỏa, phong, không gian, tánh thấy và ý thức.

  3. Thập giới: 10 cõi giới được xếp hạng từ thấp nhất đến cao nhất: 1/ địa ngục, 2/ ngạ quỷ, 3/súc sinh, 4/ a tu la (thần), 5/ con người, 6/ chư thiên, 7/ Thanh văn, 8/ Duyên giác, 9/ Bồ tát, 10/ Phật.

  4. Nhất đa hỗ ứng, tiểu đại tương dung: Một và nhiều ứng biến với nhau, nhỏ và lớn đều dung chứa nhau. Không gian, thời gian, số lượng là không phải tuyệt đối có thật. Điều này đã được khoa học chứng minh. Năm 2008 Nicolas Gisin của đại học Geneva Thụy Sĩ đã tiến hành một thí nghiệm gọi là rối lượng tử hay liên kết lượng tử (quantum entanglement). Người ta có thể làm cho một hạt photon xuất hiện đồng thời ở 2 vị trí khác nhau trong không gian. Trong thí nghiệm này 2 hạt photon cách xa nhau 16km. Tác động vào hạt A thì hạt B bị tác động theo tức thời không mất chút thời gian nào. Sau này đến năm 2017 khi Trung Quốc đã phóng vệ tinh lượng tử đầu tiên của thế giới lên không gian, vệ tinh mang tên là Mặc Tử, họ làm lại thí nghiệm này, 2 hạt photon cách xa nhau đến 1200km, khi tác động vào hạt A thì hạt B cũng bị tác động theo tức thời không mất thời gian. Như vậy khoa học đã có thể kết luận rằng không gian, thời gian, số lượng là không tuyệt đối có thật. Bởi vì nếu không gian có thật thì để vượt qua 1200km chắc chắn phải mất thời gian dù là tốc độ nhanh như ánh sáng đi nữa. Số lượng không có thật vì một photon xuất hiện đồng thời ở hai vị trí giống như 2 photon. Hồi năm 2012 Maria Chekhova của đại học Moscow có thể làm cho 1 photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau. Như vậy chứng tỏ số lượng không có thật. Một biến thành nhiều để tạo ra vạn vật là do tác dụng của một tâm thôi. Vì vậy kinh nói Nhất thiết duy tâm tạo. Đây cũng chính là ý nghĩa xác thực của Nhất đa hỗ ứng. Vì không gian không có thật nên không thật sự có lớn nhỏ. Không có vật gì là nhỏ cũng không có vật gì là lớn. Lớn hay nhỏ chỉ là vọng tưởng của tâm thôi. Đó là ý nghĩa của Tiểu đại tương dung. Một hạt cải chứa được tam thiên đại thiên thế giới.

  5. Nhị thập ngũ thánh sở: 25 thánh sở. Đó là sáu căn, sáu trần, sáu thức và bảy đại. Sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, não. Sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu thức là: thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, biết tổng hợp (ý thức phân biệt của bộ não). Thất đại là “đất, nước, lửa, gió và không gian”, cộng với “tánh thấy và ý ​​thức”

  6. Tứ trọng luật nghi: (của hàng thanh văn) là: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm và không nói dối.

  7. Đính quang thần chú: ánh sáng từ đỉnh đầu của Phật phát ra khi Phật đọc các câu Chú Lăng Nghiêm còn có tên là Đại phương Quảng diệu Liên hoa vương Thập phương Phật mẫu Đà la ni chú.

  8. Tam tăng tiến: 1/Tu tập tất cả thiện nghiệp. 2/Chân tu chính tính, bồi dưỡng thiện căn như trì giới, thiền định. 3/Tăng tiến thiện nghiệp nhiếp tâm không tham lục trần, tiết chế sinh lý lục căn.

  9. 55 điểm đến trên con đường tới Chân Bồ Đề. Bao gồm: thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, và đẳng giác, tái gia thượng noãn (tâm linh), đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất (Thế tôn).

⬆️
⬇️