Chương 25

PHẬT TRI KIẾN

Phật tri kiến là cái thấy biết của Phật. Phật tri kiến có khác với cái thấy biết của chúng sinh không ? Tất nhiên là có, những gì chúng sinh có thể thấy biết thì Phật đều biết, còn những gì Phật thấy biết thì phần lớn chúng sinh không thể thấy biết cũng không thể hiểu được. Do đâu mà con người biết được Phật tri kiến có những điểm vô cùng vi diệu mà chúng sinh không thể thấy biết và hiểu ? Do những lời chỉ dạy của Phật được ghi chép trong các kinh điển Phật giáo mà các đệ tử xuất sắc của Phật đã ghi nhớ truyền khẩu và viết lại trong lần kết tập kinh điển thứ 4 diễn ra khoảng hơn 500 năm sau khi Phật nhập diệt.

Chúng ta nên biết rằng trong 3 lần kết tập kinh điển trước đây, các tu sĩ cũng chỉ ôn lại bằng cách dùng ký ức ghi nhớ chứ chưa viết ra.

Sau khi Phật nhập diệt 3 tháng thì các tu sĩ tổ chức cuộc Kết tập Kinh điển lần thứ nhất với khoảng 500 tu sĩ tại ngoại thành Vương Xá (Rajagaha) do Đại Ca Diếp chủ trì, A Nan đọc lại bài giảng, Ưu Bà Ly đọc các giới luật. Thời Đức Phật, tại Ấn Độ, mặc dù đã có văn tự Vedic của giới quý tộc, và có lần hai Đại Đức Yamelu và Tekula xin phép Phật cho ghi chép bài giảng bằng văn tự nói trên nhưng Phật không đồng ý, vì kinh điển chỉ là phương tiện, e rằng người tu cứ bám chặt vào phương tiện mà quên mất cứu cánh, nên các bài giảng của Phật chỉ được các tu sĩ ghi nhớ thuộc lòng và truyền khẩu cho nhau mà thôi.

Phật dùng tiếng Magadhi (Ma Kiệt Đà) là thứ tiếng thông dụng của vương quốc Ma Kiệt Đà để giảng, các đệ tử thấu hiểu và giảng lại cho tín đồ bằng nhiều ngôn ngữ địa phương của họ. Kết tập tức là gom lại, cùng nhau tụng đọc, rà soát lại cho thống nhất. Sau lần kết tập này, Kinh Tạng và Luật Tạng được đúc kết. Kinh Tạng có bốn bộ: Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ và Tăng Chi Bộ.

Một trăm năm sau, cuộc Kết tập Kinh điển lần thứ hai được tổ chức với khoảng 700 tu sĩ tại thành Vesali (Tỳ Xá Ly) và Vajji (Bạt Kỳ). Lần này Kinh Tạng có thêm Tiểu Bộ. Luật Tạng được giữ nguyên với 10 giới luật căn bản. Trong lần kết tập này có sự bất đồng giữa hai khuynh hướng, một là bảo thủ, giữ nguyên giới luật như nguyên thủy, đó là khuynh hướng của Trưởng Lão Thuyết Bộ (Sthaviravada), khuynh hướng thứ hai là cải cách về giới luật của Đại Chúng Bộ (Mahasanghika).

130 năm sau nữa, dưới thời vua A Dục (Asoka 268-232 trước CN), Đại hội Kết tập kinh điển lần thứ 3 được triệu tập với khoảng 1000 tu sĩ do ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu (Moggaliputta Tissa) chủ trì. Kinh Tạng vẫn là 5 Bộ kinh như lần kết tập trước, nhưng có tách riêng một số bài giảng của Phật về tâm lý, thể tính và sự tướng của vạn pháp, hình thành Thắng Pháp Tạng còn gọi Vi Diệu Pháp hay Luận Tạng. Luật Tạng được phái Trưởng Lão Thuyết chấn chỉnh chút ít, cơ bản là giữ nguyên. Cả hai khuynh hướng Trưởng Lão Thuyết và Đại Chúng đều phân hoá thành nhiều tông phái. Vua A Dục rất sùng tín Phật giáo, đã gởi nhiều phái đoàn đi các nơi truyền giáo trong số đó có Đại Đức Mahinda là hoàng tử của vua, cùng với 4 tu sĩ khác, sang đảo Tích Lan (nay là Sri Lanka) hoằng pháp. Mahinda được vua nước Tích Lan giúp đỡ xây dựng chùa Đại Tự Viện (Mahavihara), từ đây phát triển thành phái Đại Tự Viện.

Sau cuộc kết tập kinh điển lần thứ 2, phái Đại Chúng bắt đầu phát triển, đến cuộc kết tập lần thứ 3, tức hơn 200 năm sau khi Phật nhập diệt, thì phái này đã lan rộng tại nhiều vùng của Ấn Độ và phân hóa ra nhiều tông phái. Thời kỳ đầu, các tông phái đều sử dụng kinh điển A Hàm (Agama) bằng ngôn ngữ Sanskrit ( Bắc Phạn) gồm 4 bộ kinh là: Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm, Tạp A Hàm. 4 bộ A Hàm này tương ứng với 4 Bộ Kinh của Nam Tông là Trường Bộ, Trung Bộ, Tăng Chi Bộ và Tương Ưng Bộ, (không có bộ kinh tương ứng với Tiểu Bộ của Nam Tông), nội dung có một số sửa đổi để hàm chứa tư tưởng Đại Thừa (Mahayana). Vào khoảng hai thập niên cuối cùng (năm -20) trước khi bước vào Công nguyên, khoảng 500 tu sĩ của phái Đại Tự Viện họp lại, do vua Vattagamani triệu tập, tổ chức cuộc Kết tập kinh điển lần thứ 4, tại Tích Lan. Một điểm hết sức đặc biệt là trong lần kết tập này, kinh điển sau 500 năm truyền khẩu, lần đầu tiên được viết thành văn bản trên lá bối (bối diệp 貝葉).

Trong lần kết tập kinh điển thứ 4, lần đầu tiên Kinh Phật được viết ra trên lá bối.

Đó là bước đầu hình thành Tam Tạng Kinh, gồm có Kinh Tạng với 5 Bộ Kinh lớn như nói trên, riêng Tiểu Bộ có 15 quyển. Luật Tạng gồm 5 quyển: Căn bản giới, Tiểu giới, Đại phẩm Tiểu phẩm Yết ma và Truyền pháp giới. Tạng thứ ba là Thắng Pháp Tạng hay Luận Tạng (Adbidamma Pitaka_A Tỳ Đàm hay A Tỳ Đạt Ma) còn gọi là Vi Diệu Pháp gồm 7 bộ căn bản. Ngôn ngữ được dùng để ghi chép là tiếng Pali, vốn là ngôn ngữ Paishachi ở phía Tây Ấn Độ, phát triển thành tiếng Pali sử dụng phổ biến trên cao nguyên Decan và Nam Ấn , cũng là ngôn ngữ của Mahinda đến Tích Lan từ mấy trăm năm trước. Đây là kinh điển Phật giáo nguyên thủy (Theravada) thuộc truyền thống Nam Tông, được truyền bá ở các nước phía nam nên còn gọi là Nam Truyền, như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Kampuchia, phía nam Việt Nam.

Đến thế kỷ thứ nhất Công nguyên, kinh điển Đại Thừa do các đại sư danh tiếng luận giải đã xuất hiện nhiều và có hệ thống, kéo dài 4 thế kỷ, như các ngài Mã Minh, Long Thọ, Long Trí, Đề Bà, Vô Trước, Thế Thân…, nhưng những bộ kinh thời kỳ đầu như Kinh Duy Ma Cật, Liễu Ba La Mật, Bồ Tát Tạng, Tam Pháp Kinh… bằng tiếng Sanskrit đã thất truyền chỉ còn bản dịch Hán ngữ (trong Hán Tạng). Cùng thời gian đó, Phật giáo Đại Thừa đã truyền sang Trung Quốc, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho Phật giáo. Nhiều nhà sư Ấn Độ đã sang Trung Quốc truyền giáo, họ thông thạo chữ Hán và đã dịch nhiều bộ kinh như: Phật Đà Da Xá (Buddhayasas) và Trúc Phật Niệm (Jikubutsunen)dịch Trường A Hàm; Cồ Đàm Tăng Già Đề Bà ( Gotama Sanghadeva) và Trúc Đạo Tổ (竺道祖347-419CN) dịch Trung A Hàm và Tăng Nhất A Hàm; Cầu Na Bạt Đà La (Gunabhadra) dịch Tạp A Hàm; Cưu Ma La Thập (Kumarajiva) cùng với Tăng Triệu dịch Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh và rất nhiều kinh khác…

Đến thế kỷ thứ 6 Công nguyên, Tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Quốc truyền đạo, mở đầu cho Thiền Trung Hoa trong đó nổi bật là Lục tổ Huệ Năng. Người Trung Hoa vốn rất tự hào về tư tưởng triết học của mình với Bách gia Chư tử, tuy nhiên từ lâu họ đã thừa nhận triết học Trung Hoa không thể sánh bằng Phật học xuất phát từ Ấn Độ. Nhiều nhà sư Trung Quốc như Huyền Trang, Nghĩa Tịnh, Pháp Hiển… sang Ấn Độ thỉnh kinh, đem về phiên dịch sang Hán ngữ. Huyền Trang đã tổ chức một đạo tràng dịch kinh rất qui mô và chặt chẽ gồm 12 vị cao tăng thạc học để chứng nghĩa, ghi chép, kiểm tra, hiệu đính. Ngày nay kho tàng kinh điển Phật học Trung Hoa gọi chung là Hán Tạng có thể nói là hoàn bị và phong phú bậc nhất trên thế giới. Hán Tạng không phải chỉ được ấn hành ở Trung Quốc và Đài Loan, mà cả ở Nhật Bản (như bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh in tại Tolyo từ 1924-1934). Hán Tạng đầy đủ hơn Tam Tạng Kinh Pali vì chứa đựng thêm rất nhiều kinh điển Đại Thừa, Luật Tạng Hán cũng có nhiều bộ kinh khác ngoài 5 quyển căn bản của Luật Tạng Pali. Hán Tạng cũng đầy đủ hơn Sanskrit Tạng, vì khi Phật giáo Ấn Độ suy vi, một số kinh bằng ngôn ngữ Sanskrit bị thất truyền nhưng bản dịch vẫn còn trong Hán Tạng, kể cả Tiểu Bộ của Nam Tông không có trong Sanskrit Tạng nhưng vẫn có trong Hán Tạng. Ngoài ra nhiều bộ kinh mới của các Đại sư Trung Hoa như Pháp Bảo Đàn Kinh do đệ tử của Huệ Năng soạn, Triệu Luận của Tăng Triệu, Đại Huệ Ngữ Lục, Thần Hội Ngữ Lục, Tham Thiền Cảnh Ngữ, Truyền Đăng Lục, Truyền Tâm Pháp Yếu, Lai Quả Thiền Sư Thiền Thất Khai Thị Lục, Bích Nham Lục…chỉ có trong Hán Tạng.

Cái chúng ta gọi là Phật tri kiến chủ yếu nằm trong Vi Diệu Pháp, đó mới chính là cốt lõi của Phật pháp. Thắng Pháp hay Vi Diệu Pháp đề cập tới nhiều lĩnh vực khoa học siêu việt không gian, thời gian. Chẳng hạn Phật giáo nhận thức rằng thế giới chỉ là ảo hóa chứ không phải thật. Cuộc sống hiện thực của chúng ta chỉ là “mở mắt chiêm bao”, thường chúng ta chỉ tin rằng đêm ngủ nằm mơ mới là chiêm bao, còn ban ngày là thật, kể cả các khoa học gia lừng lẫy như Einstein đều tin thế giới là có thật, chỉ có bậc thánh trí như Đức Phật hay các vị Tổ Sư mới hiểu thế giới cũng chỉ là ảo hóa do tâm tạo ra. Tuy nhiên các ngài không chấp, bởi vì thế giới không phải thật, cũng không phải là không thật, không thể chấp vào chỗ nào được, vì vậy trong kinh mới nói: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” không có chỗ trụ mới ngộ được cái tâm bản lai vốn sẵn có trước khi cha mẹ sinh ra.

Cuối thế kỷ 20 khi con người phát minh ra máy tính (computer) là một chứng minh rất cụ thể cho nhận thức trên của Phật giáo, rõ ràng chỉ với 2 trạng thái khác nhau của dòng điện (ngắt hay đóng), tương ứng với 2 con số rất đơn giản là 0 và 1, người ta tạo ra vô số hiện tượng như âm thanh, hình ảnh, màu sắc, sáng tối…trên máy vi tính, các tín hiệu truyền đi xa dễ dàng qua mạng internet khiến chúng ta có thể nhìn thấy và nói chuyện được dễ dàng và rẻ tiền với những người quen hay bà con ở những nơi xa xôi trên trái đất. Bản chất của hiện tượng là không thật nhưng hiện tượng lại rất thật, bởi vậy không thể chấp bên nào được. Thế giới không gian thời gian bên ngoài cũng tương tự như máy vi tính vậy, nhưng ở một cấp độ phức tạp, cao siêu hơn, khoa học đang dần dần khám phá.

Trong “Bát nhã ba la mật đa tâm kinh” có câu:

Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc

Đó là diễn tả rõ ràng bản chất vốn là một, của các cặp phạm trù mâu thuẫn trong vũ trụ vạn vật, mà trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại chưa hiểu rõ lắm, tuy nhiên khi khoa học đã biến đổi được vất chất thành năng lượng (ví dụ các nhà máy điện nguyên tử) và ngược lại biến năng lượng thành vật chất ( qua thí nghiệm) thì đã hiểu được phần nào ý nghĩa của câu trên, nhưng chưa đạt tới cùng tột.

Về vũ trụ quan, khoa học chỉ mới biết tới vũ trụ hữu hình mức độ thường nghiệm ( tương ứng với Dục giới trong Phật giáo) và vũ trụ hữu hình mức độ vi tế như sóng vô tuyến điện, sóng siêu âm, các tia ánh sáng mà mắt thường không thể nhìn thấy, tai không thể nghe được nhưng vẫn hiện hữu ( tương ứng với Sắc giới) nhưng đối với vũ trụ vô hình là thế giới tinh thần ( tương ứng với Vô Sắc giới, chúng sinh không có thân thể chỉ có tinh thần) thì khoa học đành chịu, không cách nào tiếp xúc được. Trong khi đó Vi Diệu Pháp của Phật đã đề cập tới Tam giới gồm 3 cảnh giới kể trên.

Tại sao các nhà khoa học với nhiều công cụ hiện đại mà vẫn chưa hiểu mấy về vũ tru, trong khi Đức Phật sống cách nay hơn 2500 năm, không có công cụ gì trong tay, lại hiểu thấu ? Đó là vì Phật là bậc thánh trí giác ngộ, đã chứng được toàn bộ bí mật của vũ trụ, không nằm ngoài cái Tâm bản nhiên của vũ trụ pháp giới. Phật giáo nói rõ “Vạn pháp duy Tâm”. Chữ Tâm này không phải đối lập với Vật mà bao hàm cả Vật bởi vì nếu đối lập thì còn vướng trong tương đối, mà Tâm thật ra là bao trùm tất kể cả cái Tâm của con người (chủ thể nhận thức) và Vật (đối tượng của nhận thức) thống nhất trong một thực thể duy nhất, bất biến, vĩnh cửu, đó là Tâm, là Phật, là Bản lai diện mục, là Thượng Đế, cũng chính là Vũ trụ, Pháp giới. Đó là điều chỉ có thể chứng ngộ mà không thể lý giải, bởi vì khi lý giải thì đã phân biệt chủ thể và đối tượng của lý giải, tức đã rơi vào tương đối, lệch lạc một bên thì không thể thấy trọn vẹn được. Các vị sư giác ngộ đã thân chứng cái Tâm ấy, đạt tới cảnh giới sinh tử tự do, diệu dụng được thần thông, nhưng không thể nói cho người khác biết được, cố diễn tả cũng chỉ gây ra hiểu lầm mà thôi, cho nên các ngài chỉ dùng ngôn ngữ thiền phi lô gích để thăm dò mức độ kiến tánh của các vị tăng mà người chưa ngộ thì chẳng thể hiểu được. Nhưng để người đời có chỗ đặt lòng tin, đôi khi các ngài lưu lại nhục thân bất hoại của chính mình để làm tin. Chẳng hạn nhục thân của Lục Tổ Huệ Năng sống vào đời Đường, nhục thân của các ngài Hám Sơn và Đơn Điền thuộc đời Minh hiện vẫn còn lưu giữ tại chùa Nam Hoa ở thành phố Thiều Quan 韶关 tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Nhục thân của Huệ Năng 1300 năm đã trôi qua mà vẫn không hư hoại, không cần bất cứ biện pháp nào để bảo quản.

Kinh điển Phật giáo chia ra hai loại:

  1. Kinh điển phương tiện còn gọi là bất liễu nghĩa tức là loại kinh chỉ nói phân nửa sự thật chứ chưa nói hết toàn bộ sự thật. Phân nửa sự thật cũng không phải là sự thật. Ví dụ Tứ Diệu Đế là kinh bất liễu nghĩa. Khổ, Tập, Diệt, Đạo không phải là toàn bộ sự thật. Phật chỉ căn cứ vào vọng tưởng của chúng sinh mà thuyết phân nửa sự thật theo cảm nhận thường nghiệm của chúng sinh. Thập Nhị Nhân Duyên cũng là loại kinh bất liễu nghĩa. Chứ nếu xét về mặt Chân Đế, Khổ có thật hay không ? Nhân Duyên có thật hay không ? Chúng ta sẽ xem xét.

Trước khi giải đáp vấn đề này chúng ta đề cập đến loại kinh thứ hai:

  1. Kinh liễu nghĩa là loại kinh nói hết toàn bộ sự thật. Sự thật luôn luôn có hai mặt đối nghịch nhau mà triết học gọi là cặp phạm trù mâu thuẫn như: Thiện và Ác, Tốt và Xấu, Đúng và Sai, Sáng và Tối v.v… Đại biểu cho kinh liễu nghĩa là Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh gọi tắt là kinh Bát Nhã.

Trong kinh Bát Nhã, Phật nói: Ngũ Uẩn giai không. Cái tôi của ta là dựa trên ngũ uẩn bao gồm Sắc (vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (suy nghĩ, tưởng tượng), Hành (chuyển động), Thức (nhận thức, phân biệt). Cả 5 uẩn (tập hợp) này đều là không tức không có thực chất, không có thật. Như vậy tất cả chỉ là tánh không.

Cái tôi của chúng sinh từ thể xác cho tới tinh thần, tư tưởng đều không phải tuyệt đối có thật, chỉ là vọng tưởng, tâm niệm mà thôi. Khổ chỉ là tâm niệm, Nhân duyên, vật chất cũng chỉ là tâm niệm, không phải tuyệt đối có thật.

Từ đó suy ra sâu xa hơn nữa, toàn bộ vũ trụ vạn vật đều là không, không phải tuyệt đối chân thật, chỉ là tâm niệm.

Một câu hỏi cần được nêu ra là kinh Bát Nhã có phản ánh đúng sự thật hay không, Phật tri kiến có cơ sở khoa học hay không ?

Chiếu theo cơ sở khoa học của thế kỷ 21 nhất là dựa trên những khám phá mới của cơ học lượng tử thì Phật tri kiến hoàn toàn có cơ sở khoa học.

Trước hết tánh không mà kinh Bát Nhã nói là gì ? Tánh không không phải là hư vô, mặc dù là vô hình vô tướng nhưng chúng ta có thể hình dung đó là một loại sóng tiềm năng. Nói rõ ràng hơn thì tánh không là một loại trường thống nhất (unified field) mà Phật giáo diễn tả bằng các tên gọi như Tâm, Phật tánh, Tánh giác ngộ. Các tôn giáo khác thì gọi là Thượng Đế, Trời… Ở hình thái này thì tánh không có những tính chất mà người bình thường không tưởng tượng nổi như: không phải là vật chất, không có thực thể (non realism), vô sở trụ, không có không gian và thời gian (non locality), không có số lượng (non quantity). Tất cả những điều này đều là những kết luận rút ra từ thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) mà nhà vật lý người Pháp Alain Aspect đã tiến hành tại Paris năm 1982. Người chế tạo chiếc máy để có thể tiến hành thí nghiệm này là nhà vật lý người Mỹ John Clauser. Với cái máy do John Clauser sáng chế, Alain Aspect đã có thể làm cho một photon (hạt ánh sáng) xuất hiện đồng thời ở 2 vị trí khác nhau tạm gọi là A và B. Khi tác động vào A thì B lập tức bị tác động theo tức thời không mất chút thời gian nào. Hiện tượng này gọi là rối hay liên kết lượng tử. Năm 2012, Anton Zeilinger, giáo sư tại Vienna, làm lại thí nghiệm với khoảng cách A-B là 89 miles (143km), kết quả cũng tương tự. Cả ba nhà khoa học Alain Aspect, John Clauser và Anton Zeilinger đều được trao giải Nobel Vật Lý năm 2022. Năm 2017, một năm sau khi TQ đã phóng vệ tinh lượng tử đầu tiên của thế giới lên không gian mang tên Mặc Tử (Micius), họ đã làm lại thí nghiệm này với khoảng cách A-B là 1200km, kết quả cũng vẫn như vậy. 1200km là một khoảng cách rất lớn nên không thể nói là tác động tức thời chỉ là sai số của phép đo.

Thí nghiệm liên kết lượng tử đã chứng tỏ một cách rõ ràng đầy thuyết phục rằng vật chất (cụ thể là hạt photon hay hạt electron) có bản chất là sóng tiềm năng vô hình. Và ở trạng thái đó vật là vô sở trụ (non locality) không có không gian và thời gian, và không có thật (non realism). Số lượng cũng không có thật (non quantity). Năm 2012 Maria Chekhova của đại học Moscow có thể làm cho 1 photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau. Như vậy chứng tỏ số lượng là không có thật. Một có thể biến thành nhiều để tạo ra vạn vật là do tác dụng của Tâm thôi.

Phật tri kiến là Vi Diệu Pháp vì nó nhận ra một sự thật mà con người không thể tưởng tượng nổi. Chẳng hạn khoảng cách không gian từ New York tới Paris 5.837 km là không có thật, khoảng cách đó chỉ là tâm niệm mà thôi. Và một bậc giác ngộ như Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ cần một niệm là có thể đi từ New York tới Paris. Chúng ta nói như vậy nghe có vẻ mê tín vì chưa ai thật sự chứng kiến Bồ Tát Quán Thế Âm làm điều đó. Nhưng dựa vào thí nghiệm liên kết lượng tử thì điều đó hoàn toàn có cơ sở khoa học.

Và nhiều nhà khoa học chẳng hạn Brian Greene tin rằng tới một ngày nào đó trong tương lai khoa học có thể làm được. Chuyển một khối lượng vật chất đi xa không mất chút thời gian nào (trong tích-tắc) được gọi là viễn tải lượng tử (quantum teleportation). Người ta hình dung viễn tải lượng tử bằng clip sau đây:

Viễn tải lượng tử không mất thời gian (quantum teleportation)

Kết luận

Kinh điển của Phật pháp là rất nhiều, một người khó có thể đọc hết mà cũng không cần thiết phải đọc hết. Kinh điển gồm hai loại: bất liễu nghĩa và liễu nghĩa. Phần bất liễu nghĩa là thuyết pháp dựa trên tri kiến thông thường của thế gian. Phần liễu nghĩa mới đích thực là Phật tri kiến, mới đúng là điều Phật muốn truyền dạy để hành giả có thể đốn ngộ, kiến tánh thành Phật.

Truyền Bình


NGUỒN

🔗 duylucthien.wordpress.com

⬆️
⬇️