Chương 22

HAI THỨ CHIÊM BAO TRONG ĐỜI SỐNG

Trong cuộc sống con người có hai thứ chiêm bao nhưng tuyệt đại đa số mọi người chỉ biết có một thứ chiêm bao thôi, còn một thứ thì tuyệt đại đa số không mấy ai biết là chiêm bao cả, tưởng là hoàn toàn có thật 100%. Trước khi đi sâu vào phân tích, hãy nghe thầy Duy Lực nói về hai thứ chiêm bao này.

245a Nhắm mắt chiêm bao và Mở mắt chiêm bao

Ban đêm chúng ta ngủ nằm mơ, đó là Nhắm mắt chiêm bao. Khi chiêm bao thấy mình trúng số giàu có mua xe hơi nhà lầu. Chợt giật mình thức dậy thì biết tất cả chỉ là ảo mộng không có thật. Ban ngày chúng ta mở mắt sống và làm việc, chúng ta đều cho rằng cuộc đời này là có thật 100%. Hơn nữa vật chất là vững bền, có những công trình đã xây dựng hàng ngàn năm như Vạn Lý Trường Thánh vẫn còn sừng sững đó. Hay những tượng binh mã (Binh mã dũng 兵馬俑)do Tần Thủy Hoàng chôn giấu trong lăng mộ hơn 2000 năm không ai hay biết. Mãi tới ngày 29-03-1974 khi một người nông dân đào giếng ở phía Đông Ly Sơn cách lăng mộ Tần Thủy Hoàng 1,6 km về phía đông mới phát hiện những tượng binh mã bằng đất nung này. Thế nên tất cả chúng ta đều tin chắc 100% rằng thế giới trên Địa cầu này là có thật. Chỉ có Phật Thích Ca mới nói rằng thế giới mà chúng ta đang sống cũng chỉ là chiêm bao, đó là mở mắt chiêm bao nhưng tất cả chúng ta đều không thể tin nổi. Chỉ có ai đó giác ngộ, thức tỉnh mới biết đó cũng chỉ là chiêm bao.

Bài viết này sẽ giải thích tại sao cuộc đời cũng chỉ là vọng tưởng, là chiêm bao thôi. Chúng ta phải dựa vào những thí nghiệm khoa học do những nhà Vật Lý đã được trao giải Nobel Vật Lý. Điều đó chứng nhận rằng giới khoa học công nhận những điều các nhà vật lý đã trình bày là có cơ sở khoa học. Mặt khác chúng ta phải kết hợp với lời Phật thuyết được ghi trong kinh điển Phật giáo hàng nghìn năm nay. Kết hợp Khoa học và Phật pháp mới lý giải được phần nào tại sao Cuộc sống đời thường của chúng ta cũng chỉ là chiêm bao.

Thí nghiệm rối lượng tử (quantum entanglement) ngay từ thời của Einstein người ta đã biết nhưng Einstein không tin rằng sự liên kết lượng tử là có xảy ra thật. Thí nghiệm đó tạo ra 2 photon (hạt ánh sáng) xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau là A và B. Nếu tác động vào A, thí dụ xoay photon A nửa vòng theo chiều kim đồng hồ thì tức khắc photon B sẽ xoay nửa vòng ngược chiều kim đồng hồ, không mất chút thời gian nào, bất chấp khoảng cách là bao xa. Vì người ta không hiểu tại sao tác động đó xảy ra và không mất thời gian, không lý giải được, nên Einstein gọi đó là “tác động ma quái từ xa” (spooky action at a distance).

Ông đưa ra giả thuyết rằng giống như trường hợp của một đôi găng tay :

Đôi găng tay gồm 2 bao tay, một chiếc cho bàn tay phải và một chiếc cho bàn tay trái

Bây giờ nếu người ta bí mật bỏ một bao tay vào một va li và để ở New York, còn chiếc kia cũng bỏ vào va li và đem tới Nam Cực. Sau đó người ta mở chiếc vali ở New York thấy có chiếc bao tay trái thì tức khắc người ta biết chiếc bao tay ở Nam Cực phải là bao tay phải bất chấp khoảng cách là bao xa.

Một nhà vật lý trẻ người Mỹ tên là John Clauser vốn ủng hộ Einstein cũng không tin là hiện tượng rối lượng tử có xảy ra thật. Ông ta cố gắng chế tạo chiếc máy thật tinh vi và làm lại thí nghiệm với mục đích giúp chứng minh là Einstein đúng. Trước đó vào năm 1964 một nhà khoa học người Bắc Ireland là John Stewart Bell đã đưa ra một bất đẳng thức nhằm xác định chính xác hiện tượng rối lượng tử có thực sự xảy ra hay không. John Bell là người đã giúp biến lý luận toán học thành thực nghiệm vật lý học.

John Clauser đã chế tạo cái máy tinh vi để làm thí nghiệm về rối lượng tử năm 1967.

Chế tạo cái máy xong John Clauser tiến hành thí nghiệm và áp dụng bất đẳng thức của John Bell để xác định kết quả chính xác. Nhưng oái oăm thay tất cả thí nghiệm đều chứng tỏ là Einstein sai, hiện tượng rối lượng tử là có xảy ra thật.

Năm 1982 tại Paris, Alain Aspect đã dùng chiếc máy của John Clauser, áp dụng bất đẳng thức của John Bell, tiến hành lại thí nghiệm rối lượng tử một cách chính thức, đã chứng tỏ một cách dứt khoát là hiện tượng rối lượng tử thực sự có xảy ra.

Thí nghiệm rối lượng tử của Alain Aspect năm 1982

Năm 2012, Anton Zeilinger, giáo sư tại Vienna, nước Áo đã làm lại thí nghiệm với khoảng cách A-B là 89 miles (143km), kết quả cũng tương tự.

Anton Zeilinger làm thí nghiệm rối lượng tử 2012

Năm 2022, ba nhà Vật lý John Clauser, Alain Aspect và Anton Zeilinger đã được trao giải Nobel Vật lý, chứng tỏ rằng những công trình nghiên cứu của họ là có giá trị khoa học, được giới khoa học xác nhận.

Secretary General of the Royal Swedish Academy of Sciences Hans Ellegren, Eva Olsson and Thors Hans Hansson, members of the Nobel Committee for Physics announce the winners of the 2022 Nobel Prize in Physics Alain Aspect, John F. Clauser and Anton Zeilinger, during a news conference at The Royal Swedish Academy of Sciences in Stockholm, Sweden, October 4, 2022. TT News Agency/ Jonas Ekstromervia REUTERS ATTENTION EDITORS – THIS IMAGE WAS PROVIDED BY A THIRD PARTY. SWEDEN OUT. NO COMMERCIAL OR EDITORIAL SALES IN SWEDEN.

Các cuộc thí nghiệm này chứng tỏ 3 điều:

1/Vật (cụ thể là hạt cơ bản như photon, electron…) không có thật (non realism) từ đó suy ra nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất, vũ trụ vạn vật đều là do tâm tưởng tượng ra chứ không có thực thể.

2/Không gian và thời gian là vô sở trụ (non locality) cũng tức là không có thật. Không gian và thời gian cũng chỉ là tâm niệm chứ không có thực thể. Chính vì không gian không có thật nên hiện tượng liên kết lượng tử mới xảy ra được. Bởi vì giữa hai photon thật ra không hề có khoảng cách nào nên tín hiệu cũng không cần truyền đi, không có sự di chuyển. Từ thời cổ đại cho tới thời hiện đại cũng không có khoảng cách nào về thời gian cả. Thời gian cũng chỉ là tâm niệm.

3/Số lượng là không có thật (non quantity). Một photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau giống như là hai photon, thật ra chỉ là một. Thậm chí năm 2012 Maria Chekhova tại đại học Mat-xcơ-va còn tạo được một liên kết với 100.000 hạt photon. Vậy 100.000 hạt photon cũng chỉ là một hạt. Vậy số lượng là không có thật. Số lượng 100.000 photon mà con người đếm được chỉ là ảo, không phải thật.

Tóm lại tất cả nhận thức của con người, tất cả những lời nói ra đều là chủ quan tùy tiện chứ không phải hoàn toàn khách quan kể cả những tri thức về khoa học. Trong số các khoa học thì toán học được coi là lý luận chặt chẽ nhất nhưng vẫn là chủ quan tùy tiện. Thí nghiệm quantum entanglement chứng tỏ rằng những điều thầy Duy Lực nói trong file mp3 ở trên rằng không gian, thời gian, số lượng vật chất đều chỉ là tâm niệm, là khái niệm của bộ não con người chứ không phải là có thật.

Kết luận

Phật pháp nói rằng thế giới mà chúng ta đang sống chỉ là chiêm bao giữa ban ngày hay mở mắt chiêm bao chứ không phải hoàn toàn có thật. Chỉ khi nào chúng ta thức tỉnh tức là từ mở mắt chiêm bao mà tỉnh dậy thì mới biết đó là chiêm bao.

Bây giờ chúng ta cố gắng học hành tu tập để trở thành người tài giỏi thông tuệ hoặc trở thành tỷ phú giàu có hoặc trở thành nhà lãnh đạo chính trị đầy quyền lực như tổng thống Mỹ, tổng thống Nga hay chủ tịch TQ, hoặc trở thành một youtuber về tôn giáo thuyết pháp hấp dẫn có hàng triệu tín đồ say mê theo học…Nhưng tất cả cũng chỉ là trong chiêm bao mà thôi. Tất cả đều đang biến đổi không ngừng, tất cả rồi sẽ qua không có gì tồn tại mãi mãi.

Chỉ có bản tâm vô sinh pháp nhẫn mới thật sự vĩnh cửu. Thức tỉnh giác ngộ thì thấy ngay cái tâm đó, cái tâm chung bất nhị cho vô lượng vô biên chúng sinh. Người xưa nói trực há thừa đương 直下承當 (nhìn xuống là thấy ngay) chứ cái tâm đó không phải ở đâu xa. Đó là tánh không, không có không gian thời gian, không có số lượng, không có nhân quả, không có gì cả, nhưng lại có khả năng tạo ra đủ mọi thứ ảo hóa của cuộc đời mà chúng ta đang sống trong cõi mộng mơ chiêm bao ban ngày trên thế gian đó vậy.

Truyền Bình


NGUỒN

🔗 duylucthien.wordpress.com

⬆️
⬇️