Chương 19

BẤT NHỊ PHÁP MÔN

Luận về bất nhị pháp môn

Bất nhị pháp môn là một thuật ngữ chuyên môn của Phật giáo, nó có nghĩa là nguyên lý không hai. Không hai cũng không có nghĩa là Một nên dùng từ bất nhị để đỡ hiểu nhầm hơn. Bất nhị hiểu rốt ráo nghĩa là không có số lượng, số lượng không có thật. Một có thể biểu hiện thành hai và thành số nhiều tới vô cực.

Ý nghĩa rõ ràng cụ thể nhất của bất nhị là nền tảng của pháp giới, của vũ trụ vạn vật là đồng nhất, không có hai thứ hoàn toàn toàn khác nhau, chẳng hạn không có vật chất và tinh thần là hai thứ hoàn toàn khác nhau, hai thứ đó cũng đồng một bản chất mà thôi.

Hiện nay hình như chưa có nhà khoa học nào dám tuyên bố: vật chất và tinh thần là đồng một bản chất, chỉ là một mà thôi. Chỉ có Phật giáo là dám nói thôi (Nhất thiết duy tâm tạo). PG nói vật chất, năng lượng cũng là tâm, không thể trái với Bất nhị pháp môn. Tri kiến của nhà khoa học số thế giới Albert Einstein không thể nào bằng Đức Phật. Nên PG giáo hoàn toàn có khả năng hướng dẫn cho khoa học.

Rõ ràng là như vậy. Tôi dẫn chứng một thí dụ để mọi người thấy rõ. PG nói: Nhất thiết pháp vô tự tính, cụ thể là hạt cơ bản của vật chất như photon, electron, không có sẵn đặc trưng, đặc điểm. Einstein thì lại tin rằng hạt cơ bản luôn luôn có sẵn đặc trưng đặc điểm, đó chính là quan điểm duy vật khách quan. Nhưng kết quả thì sao? Einstein đã thua Niels Bhor trong cuộc tranh luận khoa học lớn nhất thế kỷ 20.

Thí nghiệm quantum entanglement do Alain Aspect tiến hành năm 1982 tại Paris đã chứng tỏ: Đặc trưng đặc điểm của hạt electron chỉ xuất hiện khi có người quan sát chứ chúng không có sẵn. Cái khách quan của Einstein chỉ là chủ quan tập thể mà thôi.

Vậy nền tảng bất nhị của vũ trụ vạn vật là gì? PG nói Vạn pháp duy thức, thức hay danh từ chuyên môn của PG là A-lại-da thức (Alaya) chính là nền tảng của pháp giới (Tam giới: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) bao gồm Vũ trụ vạn vật mà con người đang nhìn thấy. A-lại-da thức chứa vô lượng vô biên thông tin. Thông tin đó có thể biến hiện thành tam giới.

Trong thế giới quen thuộc của con người thì thông tin có thể biến thành năng lượng và vật chất, biến thành vũ trụ vạn vật với vô số thiên hà, hệ mặt trời, hành tinh. Con số nhiều vô lượng vô biên không thể tính xuể. Vật chất ở đâu mà nhiều dữ vậy? Tạo ra vô số thiên hà to lớn? PG nói số lượng là không có thật, tất cả những gì chúng ta thấy chỉ là ảo mà thôi, vật ảo thì muốn bao nhiêu mà chẳng có.

Hiện nay có một số nhà khoa học nghi ngờ rằng Vũ trụ có thể là giả lập. Vũ trụ chỉ là thông tin thôi. Thông tin có thể giả lập ra vũ trụ.

Hiện giờ (2019) một đội ngũ các nhà nghiên cứu tại Đại học Bonn ở Đức, dẫn đầu là nhà khoa học Silas Beane, nói rằng họ đang có bằng chứng cho việc vũ trụ giả lập là có thực.

Lý thuyết vũ trụ mô phỏng được gợi ý từ vũ trụ của chúng ta, với tất cả mọi thiên hà của mình, các hành tinh và các hình thức sống, đều là một mô phỏng máy tính được lập trình tỉ mỉ. Theo kịch bản này, các lực vật lý vận hành thực tại của chúng ta đều là các thuật toán. Các trải nghiệm mà chúng ta có đều được tạo ra từ các quá trình xử lý tính toán của một hệ điều hành vô cùng tiên tiến.

Trong một nghiên cứu mới, xuất bản trên tạp chí AIP Advances, lý thuyết thông tin đã được vận dụng để đề xuất một lực vật lý mới, infodynamics thứ hai (thông tin động lực học). Và quan trọng là, nó hỗ trợ cho lý thuyết vũ trụ mô phỏng.

Nhưng PG thì không nói vũ trụ mà chúng ta đang sống là một vũ trụ giả lập do một loài người đã văn minh tới mức có khả năng tạo ra một vũ trụ ảo giả lập, giả lập ra vạn vật và loài người chúng ta. PG nói vũ trụ là vọng tưởng của một bản tâm vô sinh pháp nhẫn (nó bất biến không do cái gì sinh ra, không sinh diệt).

Nó tự phân lập, tự tạo ra chủ thể và đối tượng. Đó thuần túy chỉ là tượng tượng thôi gọi là Thế lưu bố tưởng 世流布想 (một thói quen tưởng tượng đã hình thành qua nhiều đời nhiều kiếp và đã trở nên phổ biến). Chủ thể là ngã 我, đối tượng là pháp 法 Ngã và pháp bao gồm trong 5 tập hợp gọi là ngũ uẩn 五蘊 (skandha) hay còn gọi là ngũ ấm 五陰 Và PG nói rằng Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空

Ngũ uẩn bao gồm: Sắc (vật chất, matter, material); Thọ (cảm giác, perception); Tưởng (tưởng tượng, suy nghĩ imagination, thinking); Hành (chuyển động, motion); Thức (nhận thức, phân biệt, consciousness, alaya, discrimination).

Chữ uẩn mang hàm ý tích hợp, là tập hợp của nhiều phần tử để tạo ra một hiện tượng ảo hóa. Bởi vì hiện tượng ảo hóa đó kéo dài và con người không có cách nào để phát hiện tính cách giả tạo của hiện tượng nên lầm tưởng là thật, và từ lầm tưởng đó mà sướng khổ một cách vô căn cứ. Tất cả mọi sướng khổ đều là vô căn cứ bởi vì nó dựa trên tưởng tượng. Tưởng tượng này kinh điển Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng như nói trên.

Nhưng về phương diện chính thức, các nhà khoa học có uy tín thì chưa ai dám khẳng định thông tin cũng là năng lượng và vật chất. Bởi vì người ta chưa có một công thức toán học kiểu như E=mc2 (năng lượng = khối lượng nhân với bình phương tốc độ ánh sáng. Trong đó:

Năng lượng E có thể tính bằng Kwh cho quen thuộc với mọi người để dễ hình dung. 1 kWh = 3,6 x 106 Joule = 3.600.000 Joule

Khối lượng m tính bằng kg

Tốc độ ánh sáng C tính bằng m/s (mét/giây). C= 300.000 km/s = 300 triệu m/giây. C2 = 300.000.0002 Đó là một con số cực lớn. Thế nên năng lượng hạt nhân là rất khổng lồ.

Chính vì chưa có công thức toán học chuyển đổi thông tin thành năng lượng và cũng chưa có công nghệ để chuyển đổi thông tin thành năng lượng nên chưa có một nhà khoa học nào dám tuyên bố thông tin cũng chính là năng lượng.

Chưa có không có nghĩa là không bao giờ có. Còn chiếu theo bất nhị pháp môn của PG thì đó là điều có thể. PG nói không gian, thời gian, số lượng, đều không phải là điều tuyệt đối có thật, nghĩa là vũ trụ cũng chỉ là ảo hóa do tâm tạo (Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造).

PG nói A-lại-da thức chứa vô lượng chủng tử cũng tức là chứa vô lượng thông tin. Và vô lượng thông tin đó có thể biến hiện thành Tam giới trong đó có Vũ trụ vạn vật mà chúng ta đang sống. Kinh điển đã nói một cách rất rõ ràng.

Khoa học hiện nay chưa làm được vì trình độ chưa đủ cao chứ không phải việc đó là không thể và bất nhị pháp môn không phải là sai.

Hiện nay không ai còn nghi ngờ việc đưa một tấm ảnh lên mạng internet, nếu đó là một tấm ảnh thuộc loại “nóng” thì chỉ trong vài giờ nó đã biến thành hàng tỉ tấm ảnh. Còn việc hiện nay người ta chưa có khả năng biến một cái bánh bằng bột đường trứng sữa, thành hàng tỉ cái bánh giống như vậy bằng phương pháp tin học, đó là việc chưa làm được chứ không phải là không bao giờ làm được. Hiện nay người ta chỉ mới làm được bằng phương pháp công nghiệp thôi có hạn chế thôi.

Kinh điển của các tôn giáo nói về tâm có thể tạo ra vật chất vô số lượng

Số lượng vật chất là không có thật nên người ta có thể nhân nó lên thành vô số lượng không có gì hạn chế. Kinh điển Thiên Chúa giáo có đề cập chuyện Giêsu chia bánh và cá. Trong một buổi giảng đạo bên hồ Galilee (phía bắc Israel hiện nay).

Hồ này Kinh Thánh Tân Ước gọi là Galilee còn có tên là Tiberias, còn Kinh Cựu Ước gọi là Kineret. Đây là hồ nước ngọt lớn nhất Israel, dài 21km, rộng 13km, tổng diện tích 166km2 nơi sâu nhất 43m. Nguồn cung cấp nước chính là sông Jordan và các suối ngầm trong lòng đất.

Hồ Galilee (Kineret)

Khi Giêsu vào bờ thì thấy cả một đám đông lớn đang chờ sẵn, ngài chạnh lòng thương họ và chữa lành bệnh cho họ. Trời sắp tối, các môn đệ đến nói với ngài rằng: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn”.

Ngài trả lời: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn”. Các môn đệ đáp: “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm ổ bánh mì và hai con cá!” (do một đứa trẻ mang tới). Ngài bảo: “Đem lại đây cho Thầy!”

Sau đó, ngài truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ rồi ngài cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.

Một câu chuyện khác trích từ Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, chương 10, Phẩm Hương Tích Phật.

Cư sĩ Duy Ma Cật đang thuyết pháp, Bấy giờ, Xá Lợi Phất nghĩ rằng:

– Sắp đến giờ ăn. Các Bồ Tát sẽ thọ thực ở đâu? Duy Ma Cật biết ý, nên nói rằng:

– Các nhơn giả! Vị nào có thể đến thỉnh cơm của Ðức Phật ở cõi nước Chúng Hương?

Nhưng mọi người đều ngần ngại vì chẳng ai có đủ thần lực để làm. Khi đó, Duy Ma Cật chẳng rời chỗ ngồi. Trước mặt đại chúng ngài hóa ra một vị Bồ Tát tướng tốt rực rỡ, oai đức thù thắng hơn tất cả chúng trong hội. Khi ấy, đại chúng trong hội đều thấy hóa thân Bồ Tát bay lên phương trên, đến cõi Chúng Hương đảnh lễ dưới chân Phật Hương Tích và xin một bát cơm.

Trở về cõi Ta Bà, Hóa thân Bồ Tát đưa bát cơm hương cho Duy Ma Cật. Mùi hương của cơm tỏa khắp thành Tỳ Xá Ly- Vaishali (còn phiên âm là Tỳ Da Ly). Tỳ Xá Ly ngày nay thuộc quận Patna, thành phố Patna cũng là thủ phủ bang Bihar, Ấn Độ. Tỳ Xá Ly là nơi diễn ra cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai khoảng 100 năm sau ngày Phật nhập Niết bàn.

Bấy giờ, Duy Ma Cật bảo Xá Lợi Phất và các vị đại Thanh Văn rằng:

– Các nhơn giả cứ tùy ý dùng cơm cam lồ của Như Lai

Các vị Thanh Văn lại nghĩ rằng:

– Cơm này ít thế chỉ có một bát làm sao đủ cho đại chúng ăn?

Hóa thân Bồ Tát nói rằng:

-Nước bốn biển có thể hết, chứ cơm này thì vô tận. Dẫu cho tất cả mọi người đều ăn thật no cũng chẳng thể hết.

Vì thế, một bát cơm cho tất cả chúng trong hội ăn đều no đủ, mà cơm vẫn còn dư.

Kết luận

Bất nhị pháp môn là nguyên lý không hai. Ý nghĩa của nó là: nền tảng của vũ trụ vạn vật chỉ có một bản thể mà thôi, bản thể đó là tâm, là thức, là thông tin. Từ bản thể bất nhị, nó có thể biến hóa thành những thứ rất khác nhau, khác nhau hoàn toàn như vật chất và tinh thần, thông tin và năng lượng, một và nhiều.

Toán học là một khoa học chính xác của nhân loại. Toán học là xác định số lượng. Nhưng nếu số lượng không tuyệt đối có thật thì toán học sụp đổ. Đó chính là điều đã xảy ra với toán học.

(Trích từ bài viết của tiến sĩ Phạm Việt Hưng)

Đã qua rồi cái thời khoa học được coi như những chân lý xác định, chắc chắn, rõ ràng của Tự Nhiên. Tuyên ngôn nổi tiếng của Einstein, “Chúa không chơi trò súc sắc với vũ trụ ” (God does not play dice with the universe).

đã được hậu thế công khai nói ngược lại: “Chúa không chỉ chơi trò súc sắc trong Cơ học Lượng tử mà còn cả trong nền tảng của toán học”. Người cả gan nói điều ngược lại này là Gregory Chaitin, chuyên gia nổi tiếng của đại tổ hợp IBM, tác giả của những công trình lớn nhất về lý thuyết thông tin thuật toán hiện nay.

Sau khi khám phá ra một con số kỳ lạ, được gọi là số Omega hoặc số Chaitin, một số thực (real number) nhưng không thể xác định được, không thể tính được, không tồn tại bất kỳ một chương trình thuật toán nào để đọc các chữ số của nó – Chaitin đã phát hiện ra cái mà Heisenberg đã phát hiện ra trong Cơ học Lượng tử: yếu tố bất định trong toán học.

Nhà toán học về số học GottlobFrege (1848-1925) đã xây dựng nên hàng trăm định lý của số học dưới dạng hình thức tuyệt đối. Toàn bộ lý thuyết của ông đã được công bố trong bộ sách đồ sộ mang tên Cơ Sở Số Học (Grundlagen der Arithmetik), một bộ sách đã làm rung chuyển thế giới toán học.

Thật vậy, các nhà toán học theo Chủ Nghĩa Hình Thức đã thật sự bị choáng ngợp trước “vẻ đẹp siêu thoát tinh tuyển hình thức” trong lý thuyết của Frege. Họ phấn chấn đến mức tưởng rằng sắp tìm thấy “Chiếc Chén Thánh”, và tưởng rằng “thiên đường của chủ nghĩa hình thức” đã lấp ló đâu đó ở phía chân trời!

Đó là lúc cuộc đời Frege đạt tới tột đỉnh vinh quang. Tên tuổi của ông nổi lên như sóng cồn. Người ta gọi ông là “ngọn đèn pha của Chủ Nghĩa Hình Thức”. Cuốn Cơ Sở Số Học của ông được tôn vinh như một kiệt tác toán học, sánh vai với những tác phẩm toán học vĩ đại khác, như bộ Cơ Sở Hình Học của Euclid chẳng hạn.

Nhưng rồi Bertrand Russell (1872-1970) khám phá ra một mâu thuẫn luôn luôn tồn tại trong bất cứ hệ logic nào kể cả trong toàn học.

Đó chính là Nghịch lý Russell, để cho dễ hình dung, Russell đã sáng tác câu chuyện ông thợ cạo như sau: Ngày xưa, có 1 ông thợ cạo, được nhiều người cho rằng sống ở làng Seville. Tại làng đó, tất cả đàn ông đều tự cạo râu hoặc nhờ thợ cạo. Và ông thợ này đã tuyên bố: “Tôi chỉ cạo râu cho những người đàn ông nào của làng Seville mà không tự cạo râu”.

Như vậy nam nhi của làng Seville chia làm hai nhóm: nhóm 1 tự cạo râu, nhóm 2 không tự cạo râu. Rắc rối là không biết xếp ông thợ cạo vào nhóm nào, vì: nếu xếp ông vào nhóm 1 thì ông không được tự cạo râu cho ông, mà không tự cạo râu thì phải xếp ông vào nhóm 2, mà nếu vậy thì sẽ được cạo râu, mà đã được cạo râu thì phải xếp vào nhóm 1. Xếp cách nào cũng mâu thuẫn với tiên đề, nên mới gọi là nghịch lý.

Ngày 16-06-1902, Bertrand Russell gửi tới Frege một lá thư, trong đó có đoạn viết: “Trong công trình của ngài, tôi tìm thấy những lý thuyết đẹp đẽ nhất trong thời đại của chúng ta mà tôi biết, và do đó tôi tự cho phép mình bầy tỏ một sự kính trọng sâu xa đối với ngài”

Rồi Russell thông báo cho Frege biết nghịch lý của mình với một thái độ rất tao nhã, khiêm tốn: “Tôi tán thành với ngài về mọi điểm, nhưng chỉ có một điểm tôi gặp phải khó khăn …”.

Nhưng trong khi Russell khiêm tốn như thế thì chính Frege lại nhanh chóng nhận thấy nguy cơ sụp đổ toàn bộ công trình của đời mình.

Với bản chất trung thực, thẳng thắn hiếm có, ông lập tức viết thư trả lời Russell, và viết ngay một phụ lục bổ sung vào Tập 2 của bộ Cơ Sở Số Học, đúng vào lúc nó chuẩn bị được đem in, như một sự công khai thừa nhận thất bại của mình: “Không còn gì tồi tệ hơn có thể xẩy đến với một nhà khoa học khi phải chứng kiến nền tảng lý thuyết của mình sụp đổ đúng vào lúc công trình được hoàn thành.

Tôi đã bị đặt vào tình thế này do vừa nhận được một lá thư từ ngài Bertrand Russell”.

Toán học sụp đổ chỉ cho chúng ta biết rằng tất cả các khoa học mà con người đã xây dựng suốt mấy ngàn năm nay chỉ có giá trị tương đối, chỉ đúng trong giấc chiêm bao giữa ban ngày mà thôi chứ không phải là chân lý.

Do đó Bất nhị pháp môn của Phật giáo chính là ngón tay chỉ Mặt trăng, nó chỉ đường cho nhân loại tiến đến giác ngộ.

Truyền Bình


NGUỒN

🔗 duylucthien.wordpress.com

⬆️
⬇️