BẢN CHẤT CỦA KHÔNG-THỜI GIAN VÀ VẬT CHẤT
Khái niệm về giáo lý cốt yếu của Đạo Phật
Đây là vấn đề quan trọng cốt lõi nhất của Phật giáo chứ không phải vấn đề tu tập, giữ gìn giới luật hay hoạt động của tăng đoàn, xây dựng chùa chiền, tịnh xá. Những hoạt động đó chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Tại sao ?
Bởi vì Đức Phật thấy rằng tất cả chúng sinh đều đang mở mắt chiêm bao, nghĩa là cuộc sống thế gian chỉ là một giấc mơ dài, một cuộc đại mộng. Mọi người dù có làm gì đi nữa, cố gắng tới đâu đi nữa, tu tập đạt tới thành tựu gì đi nữa, thì vẫn là nằm mơ giữa ban ngày, chỉ xoa dịu phần nào những cái đau khổ của sinh lão bệnh tử chứ không thể chấm dứt được tất cả khổ. Muốn chấm dứt được tất cả khổ thì phải thức tỉnh, từ chiêm bao thức dậy thì thấy tất cả chỉ là vọng tưởng, không có gì là thật cả. Điều đó Bát Nhã Tâm Kinh đã nói từ lâu :
QUÁN TỰ TẠI BỔ TÁT, HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHẤT THIẾT KHỒ ÁCH
Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu phép quán Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức dùng trí bát nhã soi thấu bản thể của thế giới, thì thấy Ngũ Uẩn đều là không, nên giải thoát được tất cả mọi khổ nạn.
Không-thời gian, vật chất, số lượng, tất cả vũ trụ, tất cả chúng sinh, tất cả khổ nạn, đều chỉ là vọng tưởng không có thật. Cho nên chỉ cần từ chiêm bao thức tỉnh thì giải thoát được tất cả mọi khổ nạn. Vì tất cả đều là không có thật, chỉ tự mình chứng ngộ điều đó thôi thì ngay tức khắc thoát khỏi chiêm bao, thoát khỏi sinh tử luân hồi, thoát khỏi tam giới.
Mục đích của Tổ Sư Thiền chỉ là giúp hành giả từ chiêm bao thức tỉnh mà thôi. Không quan trọng hành giả là tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia, tu tập theo pháp môn nào. Quan trọng là thức tỉnh tự chứng ngộ tánh không của vũ trụ vạn vật, nhận ra bản tâm vô sinh pháp nhẫn của mình và của tất cả mọi người, mọi chúng sinh đều là một.
Vì tất cả chúng sinh đều có cùng một bản tâm đó nên Kinh nói Pháp giới bình đẳng, Tất cả chúng sinh đều là Phật đã thành vì bản tâm vô sinh pháp nhẫn đó đều như nhau không tăng không giảm ở tất cả mọi chúng sinh, khắp không gian, khắp thời gian đều đồng nhất như vậy cả. Cái đó mới thật là mình. Còn cái ngũ ẩn ngã chỉ là vọng tưởng, chỉ là tâm niệm hữu hạn. Dù ta chăm chút tu tập bảo dưỡng cái ta tới đâu đi nữa thì cũng chỉ là chiêm bao mà thôi. Chính vì vậy mà hành giả Thích Minh Tuệ đã buông bỏ tất cả để đi du phương, làm một tấm gương cho mọi người nhìn vào để thấy tu hành theo Phật pháp thực tế là thế nào. Không nhất thiết phải xây dựng chùa chiền cho to lớn trang nghiêm, tráng lệ là tu hành đúng chánh pháp đâu.
Trên đây là nói sơ một vài khái niệm về cốt lõi giáo lý của Đức Phật, những giáo lý này thuộc về Thiền Môn, không phải Giáo Môn. Thiền Môn là Vi Diệu Pháp còn Giáo Môn là phương tiện tiệm tu bất liễu nghĩa.
Giải thích bản chất của Không-Thời gian và Vật chất.
Nhà khoa học vĩ đại nhất của nhân loại trong thế kỷ 20 là Albert Einstein trong khi tranh luận với một nhà khoa học cũng thuộc hàng đầu thế giới khác là Niels Bohr , Einstein nói :
Ông nói : “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn ở đó ngay cả khi tôi không phải đang nhìn nó”
Quan điểm của Einstein cho rằng Mặt trăng là có thật, là khách quan, dù ông có nhìn nó hay không nhìn thì mặt trăng vẫn ở đó. Mặt trăng là vật chất, vậy vật chất là có thật. Khoảng cách từ Trái đất tới Mặt trăng là 384.000 km, đó là khoảng cách không gian có thật. Và gần đây phi thuyền Thường Nga 6 嫦娥六号 của TQ được phóng lên từ bãi phóng Văn Xương đảo Hải Nam ngày 3-5-2024 đã đi vào quỹ đạo Mặt trăng, bay nhiều vòng trên quỹ đạo và đáp xuống vùng khuất phía xa của Mặt trăng vào ngày 2-6-2024 (vùng này nhìn từ Địa cầu không bao giờ thấy được vì Mặt trăng luôn luôn có một mặt cố định hướng về Địa cầu còn phía bên kia thì luôn luôn bị chính Mặt trăng che khuất. Muốn thấy được vùng khuất đó, TQ phải phóng trước đó vệ tinh Thước Kiều 2 鵲橋二號 Queqiao-2 relay satellitevào điểm Lagrange 2 – L2, vệ tinh này đóng vai trò như tấm gương phản chiếu).
Vậy thời gian của Thường Nga 6 từ lúc phóng lên ở Địa cầu tới lúc đáp xuống Mặt trăng cũng là có thật. Nhưng Thiền có một cái nhìn khác.
Thiền nói thế nào về Không-Thời gian và số lượng vật chất. Chúng ta hãy nghe thầy Duy Lực thuyết.
Tại sao Thiền cụ thể là thiền sư Duy Lực nói Không-Thời gian và số lượng vật chất chỉ là khái niệm do tâm tạo chứ không phải tuyệt đối có thật ? Điều đó rất mâu thuẫn với nhận thức bình thường của con người. Gần như tất cả mọi người đều cảm nhận rằng không gian, thời gian, số lượng vật chất, đều tuyệt đối có thật giống như quan điểm duy vật khách quan của Einstein.
Để lý giải điều này chúng ta phải dựa vào thí nghiệm khoa học. Vi Diệu Pháp của Phật giáo nhận ra một sự thật mà con người không thể tưởng tượng nổi. Chẳng hạn khoảng cách không gian từ New York tới Paris 5.837 km là không có thật, khoảng cách đó chỉ là tâm niệm mà thôi. Và một bậc giác ngộ như Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ cần một niệm là có thể đi từ New York tới Paris.
Chúng ta nói như vậy nghe có vẻ mê tín vì chưa ai thật sự chứng kiến Bồ Tát Quán Thế Âm làm điều đó. Nhưng dựa vào thí nghiệm liên kết lượng tử thì điều đó hoàn toàn có cơ sở khoa học.
Trong kinh Bát Nhã, Phật nói : Ngũ Uẩn giai không. Cái tôi của ta là dựa trên ngũ uẩn bao gồm Sắc (vật chất), Thọ (cảm giác), Tưởng (suy nghĩ, tưởng tượng), Hành (chuyển động), Thức (nhận thức, phân biệt). Cả 5 uẩn (tập hợp) này đều là không tức không có thực chất, không có thật. Như vậy tất cả chỉ là tánh không. Cái tôi của chúng sinh từ thể xác cho tới tinh thần, tư tưởng đều không phải tuyệt đối có thật, chỉ là vọng tưởng, tâm niệm mà thôi. Khổ chỉ là tâm niệm, Nhân duyên, vật chất cũng chỉ là tâm niệm, không phải tuyệt đối có thật.
Từ đó suy ra sâu xa hơn nữa, toàn bộ vũ trụ vạn vật đều là không, không phải tuyệt đối chân thật, chỉ là tâm niệm.
Một câu hỏi cần được nêu ra là kinh Bát Nhã có phản ánh đúng sự thật hay không, Phật tri kiến có cơ sở khoa học hay không ?
Chiếu theo cơ sở khoa học của thế kỷ 21 nhất là dựa trên những khám phá mới của cơ học lượng tử thì Phật tri kiến hoàn toàn có cơ sở khoa học.
Trước hết tánh không mà kinh Bát Nhã nói là gì ? Tánh không không phải là hư vô, mặc dù là vô hình vô tướng nhưng chúng ta có thể hình dung đó là một loại sóng tiềm năng. Nói rõ ràng hơn thì tánh không là một loại trường thống nhất (unified field) mà Phật giáo diễn tả bằng các tên gọi như Tâm, Phật tánh, Tánh giác ngộ. Các tôn giáo khác thì gọi là Thượng Đế, Trời… Ở hình thái này thì tánh không có những tính chất mà người bình thường không tưởng tượng nổi như : không phải là vật chất, không có thực thể (non realism), vô sở trụ, không có không gian và thời gian (non locality), không có số lượng (non quantity). Tất cả những điều này đều là những kết luận rút ra từ thí nghiệm liên kết lượng tử (quantum entanglement) mà nhà vật lý người Pháp Alain Aspect đã tiến hành tại Paris năm 1982. Người chế tạo chiếc máy để có thể tiến hành thí nghiệm này là nhà vật lý người Mỹ John Clauser. Với cái máy do John Clauser sáng chế, Alain Aspect đã có thể làm cho một photon (hạt ánh sáng) xuất hiện đồng thời ở 2 vị trí khác nhau tạm gọi là A và B. Khi tác động vào A thì B lập tức bị tác động theo tức thời không mất chút thời gian nào. Hiện tượng này gọi là rối hay liên kết lượng tử. Năm 2012, Anton Zeilinger, giáo sư tại Vienna, làm lại thí nghiệm với khoảng cách A-B là 89 miles (143km), kết quả cũng tương tự. Cả ba nhà khoa học Alain Aspect, John Clauser và Anton Zeilinger đều được trao giải Nobel Vật Lý năm 2022. Năm 2017, một năm sau khi TQ đã phóng vệ tinh lượng tử đầu tiên của thế giới lên không gian mang tên Mặc Tử (Micius), họ đã làm lại thí nghiệm này với khoảng cách A-B là 1200km, kết quả cũng vẫn như vậy. 1200km là một khoảng cách rất lớn nên không thể nói là tác động tức thời chỉ là sai số của phép đo.
Thí nghiệm liên kết lượng tử đã chứng tỏ một cách rõ ràng đầy thuyết phục rằng vật chất (cụ thể là hạt photon hay hạt electron) có bản chất là sóng tiềm năng vô hình. Và ở trạng thái đó vật là vô sở trụ (non locality) không có không gian và thời gian, và không có thật (non realism). Số lượng cũng không có thật (non quantity). Năm 2012 Maria Chekhova của đại học Moscow có thể làm cho 1 photon xuất hiện đồng thời ở 100.000 vị trí khác nhau. Như vậy chứng tỏ số lượng là không có thật. Một có thể biến thành nhiều để tạo ra vạn vật là do tác dụng của Tâm thôi.
Thí nghiệm hai khe hở (Double Slit Experiment) là một thí nghiệm nổi tiếng, nó chứng tỏ ý thức của con người có tham dự vào việc tạo ra vật chất, cụ thể là tâm niệm của con người làm cho sóng tiềm năng sụp đổ thành hạt electron (vật chất) qua 2 thí nghiệm sau :
Khi không có tâm niệm tức không có người quan sát, sóng khi đi qua 2 khe hở vẫn là sóng, các sóng giao thoa với nhau tạo ra nhiều vệt đậm và nhạt trên màn hứng. Vệt sáng là nơi sóng cộng hưởng, vệt tối là nơi sóng triệt tiêu nhau.
Khi có tâm niệm tức có người quan sát, sóng khi đi qua 2 khe hở thì sụp đổ thành hạt vật chất tức là hạt electron nên trên màn hứng chỉ xuất hiện 2 vệt đậm tương ứng với 2 khe hở chứng tỏ sóng đã biến thành hạt và hạt không có sự giao thoa với nhau.
Trong trường hợp có đặt một thiết bị cảm ứng (sensor) sau 2 khe hở thì sensor cũng có tác động giống như tâm niệm là biến sóng thành hạt và màn hứng cũng chỉ xuất hiện 2 vệt tương ứng với 2 khe hở.
Trong khoa học vũ trụ hiện đại thì khoảng cách không gian cũng không thể xác định. Trong nghiên cứu mới vừa được công bố trên Astronomical Journal, năm 2023, nhóm tác giả dẫn đầu bởi TS Emili Pass từ Trung tâm Vật lý thiên văn Harvard & Smithsonian (Mỹ) đã phát hiện ra hành tinh LTT 1445 Ac kích cõ được xác định ban đầu bởi kính viễn vọng săn ngoại hành tinh TESS của NASA. Nó cách xa Trái đất 22 năm ánh sáng, quay quanh một ngôi sao lùn đỏ là LTT 1445 A. Dựa vào các quan sát bổ sung bằng kính viễn vọng không gian Hubble, các nhà khoa học Mỹ tính ra được hành tinh này có khối lượng gấp 1,37 lần và bán kính gấp 1,07 lần Trái Đất.
Tuy nhiên con số khoảng cách 22 năm ánh sáng chỉ là ảo tưởng mà thôi bởi vì vũ trụ không ngừng giãn nở. Hình ảnh hành tinh mà con người thấy là của 22 năm trước. Hiện tại thực tế nó đã xa hơn rất nhiều rồi. Chính vì không thể xác định nên Kinh Kim Cang nói : Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Không-thời gian, vật chất, số lượng chỉ là vọng tưởng của con người mà thôi. Con người chỉ có thể xác định không-thời gian và số lượng ở một mức độ trung bình biểu kiến nào đó thôi khi giác quan nhận thức được. Ở những mức độ cực nhỏ và cực lớn, giác quan không thể nhận thức phân biệt được thì con người chỉ có thể hí luận mà thôi. Chẳng hạn con số khoảng cách 22 năm ánh sáng hoàn toàn là ảo tưởng, bởi vì ánh sáng mất 22 năm để đến được Trái đất và trong khoảng thời gian đó vũ trụ giãn nở với gia tốc càng lúc càng nhanh. Có thể ban đầu nó chỉ cách Trái đất vài năm ánh sáng thôi, khi con người thấy được và cho là 22 năm nhưng thực tế hiện nay thì không thể xác định là bao xa, bởi vì chỉ một giây sau thì khoảng cách đã nới rộng hàng triệu km.
Quang cảnh trên hành tinh LTT 1445 Ac với ba “mặt trời đỏ”, một cái ở gần và hai cái ở xa, là ba ngôi sao của hệ sao LTT 1445 – Đồ họa: NASA
Kết luận
Không-thời gian, vật chất, số lượng, chỉ là tâm niệm, là ảo tưởng không phải tuyệt đối chân thật. Thế giới đời thường mà con người vẫn sinh hoạt hàng ngày chỉ là thế giới tưởng tượng. Con người đã sáng tạo ra nền văn minh, sáng tạo ra các bộ môn khoa học, sáng tạo ra đủ thứ vật dụng để phục vụ cho cuộc sống của mình. Điều đó tốt, tuy nhiên con người cũng tạo ra bao nhiêu điều tệ hại gây thảm họa cho cuộc sống như chấp thật, chấp ngã, chấp pháp, hận thù, chiến tranh, vũ khí, bom nguyên tử. Tất cả đều xuất phát từ những niềm tin mù quáng, chiêm bao giữa ban ngày, kể cả những nhà khoa học cũng không tránh khỏi mù quáng. Đức Phật là người giác ngộ, ngài nhận ra là con người đang sống trong chiêm bao. Ngài hướng dẫn mọi người phá chấp thật để từ chiêm bao thức dậy. Chỉ cần thức tỉnh thôi thì giải quyết được tất cả mọi vấn đề, không có tùy thuộc vào ai cả.
Truyền Bình