QUÁN TÍNH TÂM LÝ VÀ ẢNH HƯỞNG TRONG CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG
Quán tính tâm lý là gì ?
Quán tính tâm lý là thói quen đã được bộ não con người ghi nhận và lưu trữ từ đó có sự phân biệt nhị nguyên. Nhị nguyên là những cặp phạm trù mâu thuẫn như : âm dương, sáng tối, tốt xấu, thiện ác, đen trắng, xa gần, lâu mau…
Ví dụ có người thích ăn sầu riêng thì cảm nhận mùi của nó thơm, vị của nó ngon. Còn người không thích sầu riêng thì cảm thấy nó hôi khó chịu, không thể ăn được.
Cuộc sống đời thường của con người hoàn toàn toàn dựa vào quán tính tâm lý để ứng xử và họ cho rằng đó là thực tế khách quan mà không ngờ rằng đó chỉ là tâm lý, thói quen cho là như thế chứ không có chi là thực tế khách quan cả. Kể cả những cái tưởng chừng rất là hiện thực khách quan như không gian, thời gian, số lượng, vật chất, vật thể như : thân ngũ uẩn, nhà cửa, xe cộ, đường sá, bến cảng, núi non, trăng sao, mặt trời, mặt trăng…cũng đều là quán tính tâm lý. Không phải chỉ có người bình thường kém hiểu biết về khoa học mới cho rằng như thế mà ngay cả nhà khoa học số một thế giới của thế kỷ 20 là Albert Einstein cũng nghĩ như thế. Ông nói rằng Mặt trăng là một thực thể khách quan :
Ông nói : “Tôi thích nghĩ rằng Mặt trăng vẫn ở đó ngay cả khi tôi không phải đang nhìn nó”
Đó là một tuyên bố chắc nịch đầy thuyết phục, tuyệt đại đa số mọi người đều đồng tình với Einstein chỉ trừ một vài người “dị hợm” như Niels Bohr hay Phật, Bồ Tát.
Trước hết là Đức Phật, ngài nói Mặt trăng chỉ là quán tính tâm lý mà thuật ngữ Phật giáo gọi là Thế lưu bố tưởng 世流布想 là tưởng tượng bình thường được lưu truyền rộng rãi qua nhiều đời của thế nhân chứ không phải là thực thể khách quan, bản chất của nó chỉ là tánh không 空 mà thôi. Bát Nhã Tâm Kinh nói Sắc tức thị Không Không tức thị Sắc 色是空空即是色 . Sắc là vật chất hữu hình, Không là tánh không vô hình, hai thứ này về bản chất là không khác nhau nhưng trong quán tính tâm lý của con người thì hai thứ đó hoàn toàn khác nhau, Sắc là Có hiện hữu, Không là No hiện hữu. Như vậy Mặt trăng chỉ là tưởng tượng theo thói quen của con người chứ không phải có thật. Trái đất cũng vậy. Người ngoài hành tinh đến đây họ không hề thấy Trái đất bởi vì thói quen tâm lý của họ là không có Trái đất nên họ không thấy. Còn người trên Trái đất cũng không bao giờ thấy được người ngoài hành tinh bởi vì trong thói quen tâm lý chứa trong bộ não của họ không có dữ liệu về người ngoài hành tinh. Gần đây rộ lên tin có hóa thạch 1000 năm tuổi của người ngoài hành tinh tại Mexico :
Hóa thạch 1000 năm tuổi của người ngoài hành tinh tại Mexico
Theo ông José Zalce Benitez, Giám đốc Viện nghiên cứu khoa học sức khỏe thuộc thư ký văn phòng hải quân Mexico, gần 1/3 ADN của những “người ngoài hành tinh” này là không thể xác định được, đồng thời khẳng định rằng những sinh vật này không phải là một phần nằm trong “sự tiến hóa trên trái đất của chúng ta”. Nhưng cũng chưa có bằng chứng gì chứng tỏ là sinh vật này đến từ vũ trụ.
Phật pháp nói rằng Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 các pháp chỉ là tánh không, là sóng vô hình mà thôi. Khoa học mô tả rằng khi có người quan sát thì sóng sụp đổ thành hạt. Hiện tượng này khoa học gọi là sự sụp đổ của chức năng sóng (wave function collapse). Chính sự sụp đổ này tạo ra thế giới vật chất và tạo ra ngũ uẩn vì thế kinh điển nói là Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造 và Ngũ uẩn giai không 五蘊皆空.
Ngoài Đức Phật, một nhà khoa học hàng đầu của nhân loại là Niels Bohr cũng nói rằng :
“Mọi thứ chúng ta gọi là thật được tạo ra bởi những cái không thể xem là thật. Nếu cơ học lượng tử chưa gây sốc cho bạn một cách một cách sâu xa, là bạn đã chưa hiểu được nó”
Những cái mà Bohr nói không thể xem là thật, chính xác là những hạt cơ bản của vật chất (fundamental particles of matter) như : quark, electron, photon, neutrino …Những hạt cơ bản này chỉ xuất hiện khi có người quan sát, nghĩa là chúng chỉ xuất hiện trong quán tính tâm lý của chúng sinh, nếu không có thói quen tâm lý đó thì hạt chỉ là sóng vô hình không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, không có đặc trưng đặc điểm gì cả.
Electron là một loại hạt cơ bản rất quen thuộc với con người rõ ràng là có những tính chất như vậy.
Tình trạng đó Kinh Kim Cang gọi là vô sở trụ (non locality) còn kinh Hoa Nghiêm nói là Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性
Tóm lại Phật giáo nói rằng Phật hay bản tâm là vô sở trụ, vô tự tính. Chính quán tính tâm lý (thói quen của ý thức) làm cho Sắc xuất hiện dưới hình thái vật chất mà tiêu biểu nhất là thân ngũ uẩn 五蘊của con người, từ đó cũng xuất hiện vô lượng tâm sở mà Vi Diệu Pháp mô tả 51 thứ tâm sở cơ bản. Kinh điển phân tích Tâm có 51 Tâm Sở còn gọi là 51 Hành (sa. saṃskāra) tức là trạng thái hoạt động, biểu hiện của Tâm. 51 hành bao gồm : 5 Biến hành tâm sở (遍行, sarvatraga), 5 Biệt cảnh tâm sở (別境, viniyata), 11 Thiện tâm sở (善, kuśala), 6 Căn bản phiền não tâm sở (根本煩惱, mūlakleśa), 20 Tuỳ phiền não tâm sở (隨煩惱, upakleśa) 4 Bất định tâm sở (不定aniyata). Nói chung các Tâm Sở là dạng hoạt động của Tâm về hai phương diện Thọ (cảm nhận, perception, sa. vedanā), và Tưởng (suy tư, tưởng tượng, meditation, imagination, sa. saṃjñā). Tất cả Tâm Sở cũng nằm trong Alaya.
Vì vật chất và tâm lý bản chất là không có thật, chỉ là tưởng tượng nên Bát Nhã Tâm Kinh nói Ngũ Uẩn Giai Không 五蘊皆空
Ảnh hưởng của quán tính tâm lý trong đời thường
Vì con người tin sái cổ vào nhà khoa học hàng đầu thế giới là Albert Einstein mà không nghĩ rằng ông có những sai lầm hết sức cơ bản, đó chính là quan điểm duy vật khách quan. Quán tính tâm lý khiến con người không biết hoặc biết thì cũng phủ nhận sự hoài nghi rằng vật chất không tuyệt đối có thật. Tuyệt đại đa số nhân loại tin sái cổ rằng vật chất là có thật kể cả các nhà khoa học, họ không chút mảy may nghi ngờ rằng vật chất không phải tuyệt đối có thật.
Con người đã xây dựng các bộ môn khoa học như Toán học, Vật lý học, Hóa học, Sinh vật học, Thiên văn học, Địa lý học, Khảo cổ học, Lịch sử, Triết học, Văn học, Kinh tế học, các môn khoa học xã hội khác . Họ coi đó như khuôn vàng thước ngọc và muốn rằng mọi người nhất là học sinh đều phải học phải biết những cái thuộc về nền văn minh của nhân loại. Thời đại ngày nay con người còn có những ngành học cao cấp hơn nữa như Nghiên cứu không gian vũ trụ, chế tạo máy tính điện tử, máy tính lượng tử, chế tạo chip điện tử, chip lượng tử…
Sự tiến bộ về khoa học đem lại sự cải thiện rất lớn về đời sống vật chất, tiện nghi nhà ở, phương tiện đi lại, phương tiện thông tin liên lạc. Nó đã nâng cấp cuộc sống của con người lên cao tưởng chừng như đã tạo được thiên đường hạ giới. Tuy nhiên do sự thiếu hiểu biết về quán tính tâm lý nên con người cũng đã tạo ra vô số phiền não mà lẽ ra không nên vướng mắc. Tôi xin đề cập một số vướng mắc nặng nề nhất.
1. Dân tộc và quốc tịch
Dân tộc chỉ là quán tính tâm lý cũng giống như mọi thứ nhận thức khác đều chỉ là thói quen tâm lý chứ không có thực thể, không có gì là thật cả.
Ví dụ tổ tiên của tôi là người Triều Châu từ tỉnh Quảng Đông tới VN định cư từ đầu thế kỷ 20. Cha tôi sinh tại VN, lúc nhỏ có về TQ học tiểu học, đến 15 tuổi trở lại VN ở hẳn. Ông có quán tính tâm lý coi mình là người Việt gốc Hoa, nói và viết rành tiếng Hoa, nói tiếng Việt cũng khá rành do ở lâu, đọc tiếng Việt cũng khá rành nhưng viết thì không rành lắm. Đến thế hệ của các con ông thì đã bị Việt hóa hoàn toàn, trở thành người VN, không biết tiếng Hoa, không còn chút liên hệ nào với TQ cả. Quán tính tâm lý của họ coi mình là người VN. Trong số 5 chị em 2 gái 3 trai, chỉ có tôi còn tự học tiếng Hoa như một ngoại ngữ, còn chút am hiểu về lịch sử văn hóa TQ, còn nghe nhạc Hoa. Nhưng quán tính tâm lý của chúng tôi đều coi mình là người VN hoàn toàn, ngoài cái họ trên giấy tờ ra, không ai có thể nhận ra chúng tôi là người gốc Hoa cả. Rồi chị và hai đứa em trai của tôi qua Mỹ định cư nên họ trở thành công dân Mỹ, mang quốc tịch Mỹ. Những đứa trẻ con của họ sinh và lớn lên tại VN thì còn biết tiếng Việt, còn đứa nào sinh ở Mỹ thì trở thành người Mỹ hoàn toàn, không rành tiếng Việt luôn. Hai đứa con của tôi, sinh ra ở VN thì quán tính tâm lý coi mình là người VN. Một đứa sang Anh làm việc rồi định cư luôn ở đó, lấy chồng Anh, mang quốc tịch Anh. Đứa kia thì sang Anh du học, tốt nghiệp đại học rồi cũng định cư luôn ở Anh. Hai đứa con của con gái lớn của tôi trở thành người Anh hoàn toàn không biết tiếng Việt. Quán tính tâm lý của chúng là coi mình là người Anh.
Tóm lại quán tính tâm lý của các cháu ngoại tôi chỉ còn một chút rất ít liên hệ với VN do mẹ chúng còn cố gắng dạy chúng vài câu tiếng Việt chứ chúng hoàn toàn là người Anh, không có mấy liên hệ gì với VN càng không dính líu chút gì tới ông cố ngoại người Hoa cả. Như vậy chúng ta thấy rõ ràng, dân tộc, quốc tịch chỉ là một thói quen tâm lý do hoàn cảnh sống tạo ra chứ không có sẵn tự tính nào cả.
Ở bình diện cá nhân thì quán tính tâm lý chưa có tác hại. Nhưng ở bình diện tập thể thì quán tính tâm lý có tác hại trầm trọng. Chẳng hạn người Palestine và người Israel có cùng tổ tiên. Truyền thuyết kể rằng khi Abraham 85 tuổi, vì vợ ông là bà Sarah đã già và không có con, bà đã cưới người hầu gái Hagar cho Abraham làm vợ lẽ. Hagar sinh con trai đầu lòng tên là Ishmael. Khi Abraham 100 tuổi và Sarah 90 tuổi, bà sinh Ysaac. Ishmael là tổ tiên của người Israel hiện nay, họ theo Do Thái giáo. Còn Ysaac là tổ tiên của người Ả rập ngày nay trong đó có người Palestine theo Hồi giáo.
Mặc dù xét sâu xa về nguồn gốc họ có cùng tổ tiên nhưng quán tính tâm lý của người Israel và người Palestine, họ coi nhau là thù địch không thể sống hòa hợp với nhau được.
Họ tranh giành nhau một vùng lãnh thổ mà xưa kia cả hai dân tộc cùng định cư nhưng rồi sau đó người Israel bị đánh đuổi, họ đi tha phương tản lạc tứ xứ.
Người Israel sau hàng ngàn năm đi lang bạt khắp nơi, thì lãnh thổ mà hồi xưa hai dân tộc cùng sống nay do người Palestine cư trú và người Israel muốn trở về đây đòi lại đất cũ của mình. Người Israel dần dà trở về đất tổ của họ chung quanh thành phố Jerusalem. Ban đầu họ mua đất của người Palestine. Số lượng người Israel ngày càng đông. Hai bên đã có xung khắc. Vào ngày 29 tháng 11 năm 1947, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết 181 thực hiện kế hoạch phân chia vùng đất Palestine thành một nhà nước của người Ả Rập và một nhà nước của người Do Thái, trong khi thành phố thánh Jerusalem được đặt dưới sự quản lý quốc tế. Người Israel được 56% lãnh thổ còn người Palestine được 44%.
Qua năm sau người Israel bèn tuyên bố thành lập quốc gia lấy tên là Israel vào năm 1948. Còn người Palestine thì chưa được công nhận là một quốc gia. Nhưng người Israel có xâm lấn thêm một phần của khu Bờ Tây. Người Palestine có hai phần đất tách rời nhau là khu Bờ Tây và khu dải Gaza.
Người Israel tiếp tục xây dựng các khu định cư ở Bờ Tây lấn đất của người Palestine. Các quốc gia Ả rập bất mãn họ muốn bênh vực người Palestine nên mở cuộc chiến 6 ngày năm 1967 nhưng phe Ả rập thua vì Israel có Mỹ ủng hộ.
Người Palestine và người Israel đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh nhưng phần thắng luôn thuộc về Israel còn người Palestine chịu nhiều thua thiệt và đất đai của họ bị xâm chiếm dần. Cho đến nay thì người Palestine chỉ còn giữ 15% đất ở Bờ Tây cộng với dải Gaza thì tỷ lệ đất người Palestine nắm giữ là 22% còn người Israel nắm 78%. Như vậy so với nghị quyết 181 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1947, ngày nay người Palestine chỉ còn phân nửa đất đai. Dải Gaza, một vùng đất rộng 365km2 nằm dọc bờ biển phía đông Địa Trung Hải. Hamas, một trong hai đảng chính trị lớn ở Palestine, họ lên nắm quyền ở Gaza sau khi giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2006 và nắm quyền cho tới nay. Họ chủ trương đấu tranh bằng bạo lực với người Israel.
Đó là bối cảnh của cuộc tấn công của nhóm Hamas vào lãnh thổ Israel ngày 07-10-2023 khiến cho 1400 người chết và bắt cóc 230 người làm con tin đem về Gaza. Người Israel trả đũa bằng cách ném bom vào dải Gaza và đưa bộ binh tấn công vào phía bắc dải Gaza và chiếm thành phố Gaza khiến cho hơn 10.000 người Palestine chết trong đó hơn phân nửa là trẻ em và phụ nữ, và hàng chục ngàn người khác bị thương. Người Palestine tại dải Gaza sống trong cảnh địa ngục, thiếu nước, thiếu thực phẩm, không điện, không nhiên liệu, không có chỗ trú an toàn.
Tóm lại do quán tính tâm lý coi nhau như kẻ thù mà người Israel và Palestine mặc dù có chung tổ tiên đã đánh giết tàn sát nhau thậm tệ. Quán tính tâm lý này Phật giáo gọi là Oán tắng hội khổ 怨憎會苦 nghĩa là ghét nhau mà lại ở gần bên nhau phải thường gặp nhau nên khổ.
2. An ninh quốc phòng
Các quốc gia rất coi trọng vấn đề an ninh quốc phòng. Cuộc chiến tranh Nga- Ukraina xảy ra cũng vì vấn đề này. Đa số mọi người đều không hiểu rằng an ninh quốc phòng cũng chỉ là quán tính tâm lý. Chính quyền Ukraine do tổng thống Zelensky đứng đầu do sợ và ghét Nga nên muốn gia nhập khối Nato (North Atlantic Treaty Organization= Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại tây dương) để nhờ khối này bảo vệ chống lại Nga. Nhưng chính việc Ukraine gia nhập Nato có thể khiến cho tên lửa và binh lực của Nato tiến sát biên giới Nga gây ra mối đe đọa cho an ninh quốc phòng của Nga. Một nước nhỏ yếu khi gặp vấn đề này thì sẽ chỉ lo củng cố phòng thủ. Còn một cường quốc như Nga, một quốc gia có dân số 145 triệu người, lãnh thổ rộng nhất thế giới 17 triệu km2, quân lực mạnh hàng đầu thế giới thì sẽ đánh phủ đầu khi cảm thấy không được an toàn. Đó là lý do của cuộc chiến tranh mà người Nga gọi là chiến dịch quân sự đặc biệt để ngăn không cho Ukraine gia nhập Nato, xảy ra ngày 24-02-2022. Mặt khác nó cũng nhằm bảo vệ những người gốc Nga đang sống tại vùng Donbass của Ukraine bao gồm các tỉnh Donetskvà Louhansk. Vì các tỉnh này muốn ly khai khỏi Ukraine nên thường xuyên bị quân đội Ukraine tấn công từ 2014 đến nay khiến cho 14.000 người tử vong.
Nếu người Ukraine không theo đuổi chủ nghĩa dân tộc cực đoan, không thù hận chống Nga, không quyết chí gia nhập Nato thì cuộc chiến đã không xảy ra. Cơ sở hạ tầng kinh tế của Ukraine nay đã tan hoang, nợ nần ngập đầu, dân số chỉ còn một nửa, tương lai vô cùng đen tối. Số thương vong binh lính và thường dân chết và bị thương của hai bên đến nay có thể lên đến gần một triệu người.
Một quán tính tâm lý khác là người Mỹ và phương tây không hiểu đúng thực tế, họ đánh giá thấp Nga. Họ cho rằng Nga với GDP danh nghĩa chỉ là 1779 tỷ USD thua cả Hàn Quốc là 1811 tỷ USD. Như vậy nền kinh tế của Nga là bé nhỏ, chắc là Nga yếu. Mỹ và EU bèn ban hành lệnh cấm vận Nga với 17 ngàn lệnh cấm, nhất là loại Nga ra khỏi tổ chức SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunications= Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn cầu) Họ nghĩ rằng Nga chết chắc, kinh tế Nga sẽ sụp đổ hoàn toàn. Họ bác bỏ thỏa thuận do Thổ Nhĩ Kỳ tổ chức cuộc đàm phán hòa bình giữa phái đoàn Nga và Ukraine vào tháng 3/2022 tại Istanbul, khoảng một tháng sau khi cuộc xung đột giữa hai nước láng giềng nổ ra. Họ tuyên bố công khai muốn làm cho Nga suy yếu ở tầm chiến lược.
Nhưng họ không ngờ Nga có nguồn năng lượng dồi dào về dầu mỏ và khí đốt, sản xuất nguyên liệu uranium cho các nhà máy điện hạt nhân đứng đầu thế giới, có sản lượng lúa mì cũng đứng đầu thế giới. Nga có quan hệ tốt với các quốc gia khổng lồ TQ và Ấn Độ. EU nhất là Đức không mua dầu mỏ khí đốt giá rẻ của Nga thì Nga chuyển sang bán cho TQ và Ấn Độ. EU và Mỹ không bán hàng cho Nga thì Nga mua của TQ và qua trung gian của các nước khác.
Nga có quan hệ khắng khít với khối Brics, có chỗ dựa vững chắc, bị loại khỏi Swift thì Nga không dùng đồng USD mà dùng đồng nội tệ của mình và đồng nhân dân tệ của TQ để trao đổi thương mại quốc tế. Tóm lại kinh tế Nga không sụp đổ. Năm 2022 kinh tế Nga chỉ giảm 2,1% và năm 2023 ước tăng từ 3 % GDP của Nga năm 2022 là 5,51 nghìn tỷ USD tính theo PPP (tương đương sức mua) đứng thứ năm thế giới vượt qua mức 5 nghìn tỷ USD của Đức. EC (Ủy Ban Châu Âu) dự báo rằng tăng trưởng kinh tế của EU chỉ là 0,8% vào năm 2023, riêng kinh tế Đức, quốc gia hùng mạnh nhất Châu Âu thì suy thoái, GDP sẽ giảm 0,4%.
Tóm lại do quán tính tâm lý lệch lạc Mỹ và EU đã lao vào một cuộc chiến tranh ủy nhiệm cho Ukraine đánh nhau với Nga với ý đồ làm cho nước Nga suy yếu nhưng đã thất bại khiến cho kinh tế của cả Châu Âu và Mỹ đều khó khăn do lạm phát tăng cao, giá năng lượng đắt đỏ. GDP của Mỹ năm 2023 ước tăng 2,2% nhưng qua năm 2024 chỉ còn tăng 0,8%.
3. Công nghệ và vũ khí hạt nhân
Quán tính tâm lý mang tính chất thù địch giữa phương đông và phương tây khiến hai bên kình chống nhau. Phương tây do Mỹ đứng đầu với sự hậu thuẫn của EU, Úc, Nhật, Hàn Quốc. Phương đông do TQ đứng đầu với sự hậu thuẫn của Nga, Iran, Triều Tiên. Những nước khác thì trung lập, đôi khi ngã nghiêng về bên này hay bên kia.
Mỹ cấm vận về công nghệ sản xuất chip đối với khối phương đông chủ yếu là đối với TQ nhằm làm chậm sự phát triển công nghệ của nước này. Sự cấm vận này tưởng chừng là hiệu quả, nhất là đối với công ty công nghệ hàng đầu của TQ là Huawei, bằng chứng là sản phẩm smartphone của Huawei đã bị chặn đứng trong mấy năm nay. Nhưng đến ngày 29-08-2023 Huawei đã cho ra mắt smartphone Mate 60 Pro hỗ trợ 5G và những tính năng rất tiên tiến như hỗ trợ gọi điện và nhắn tin qua vệ tinh cho phép người dùng liên lạc được cả ở những nơi không có wifi, không có sóng di động. Con chip của chiếc điện thoại này dùng công nghệ 7nm do TQ tự sản xuất mà không dùng công nghệ của Mỹ.
Theo công ty nghiên cứu TechInsights ngày 26/10/2023, chip nhớ 3D NAND của Yangtze Memory Technologies Corp (YMTC) được tìm thấy trong một ổ SSD ra mắt lặng lẽ từ tháng 7-2023. TechInsights chỉ phát hiện điều này khi tiến hành phân tích bộ xử lý Kirin 9000S 5G trong điện thoại Mate 60 Pro của Huawei. Chip nhớ này thuộc loại tiên tiến nhất thế giới.
Các nhà phân tích của công ty môi giới cho biết, từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2023, 62% chip sử dụng tại TQ đã được các nhà cung cấp TQ cung ứng so với chỉ 36,3% từ tháng 3 đến tháng 4-2023.
Huawei đã tự chủ được chip 5G và đến nay TQ đã xây dựng được 3,2 triệu trạm gốc 5G trong khi Mỹ chỉ mới có 100 ngàn trạm gốc 5G.
Các số liệu chỉ ra rằng do Mỹ tăng cường cấm vận, các công ty nội địa TQ đã tăng cường khả năng sản xuất chip cả về số lượng và chất lượng để cung cấp cho trong nước và cả nước ngoài. Giá trị nhập khẩu chip của TQ trong 9 tháng 2023 đã giảm 15% so với cùng kỳ năm 2022, nhập cả năm từ mức 416,7 tỷ usd năm ngoái, năm nay ước chỉ còn 355,9 tỷ usd.
Chỉ một tuần sau khi lên kệ, tới ngày 06-09-2023 Mate 60 Pro đã bán được 17 triệu chiếc, còn Mate 60 bán được 20 triệu chiếc tại thị trường TQ. Cho tới lúc ra mắt, SMIC (Semiconductor Manufacturing International Corporation= Công ty Chế tạo bán dẫn quốc tế) của TQ đã sản xuất được 70 triệu con chip 7nm cho Huawei.
Rõ ràng sự cấm vận của Mỹ đã thúc đẩy TQ cố gắng tự chủ hơn, từ chỗ lạc hậu khoảng 20 năm (năm 2019) so với các công ty sản xuất chip tiên tiến nhất thế giới, đến nay TQ chỉ còn lạc hậu 2 thế hệ chip (5nm và 3nm) tương ứng với khoảng 3-5 năm mà thôi.
Về vũ khí hạt nhân, trước đây TQ chỉ có khoảng 350 đầu đạn hạt nhân, nhưng theo một báo cáo gần đây của Bộ Quốc phòng Mỹ ngày 20/10/2023 TQ hiện nay ước tính đã có 500 đầu đạn hạt nhân và sẽ còn tiếp tục tăng nhanh lên con số 1000 đầu đạn vào năm 2030 và 1500 vào năm 2035.
Như vậy quán tính tâm lý về sự thù địch giữa hai cường quốc Mỹ-Trung đã dẫn tới sự tăng cường nhanh chóng về kho vũ khí hạt nhân của TQ. Đi cùng với đầu đạn hạt nhân là tên lửa bội siêu thanh có thể nhắm tới bất cứ nơi nào trên thế giới.
Quán tính tâm lý thù địch giữa Mỹ và Triều Tiên cũng khiến Triều Tiên ưu tiên đầu tư cho quốc phòng để sản xuất vũ khí hạt nhân và tên lửa cũng như chi tiêu quốc phòng rất lớn bất chấp dân chúng còn rất nghèo đói.
Quân đội Mỹ tháng 7/2020 cho biết Triều Tiên có khoảng 20-60 quả bom hạt nhân và có thể sản xuất thêm 6 quả bom mỗi năm. Vào tháng 5/2021, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Mark Milley nói Bình Nhưỡng sở hữu năng lực hạt nhân “đủ sức gây ra mối đe dọa thực sự cho lục địa Mỹ cũng như đồng minh và đối tác của chúng tôi trên khắp Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”.
Triều Tiên đã tiến hành 6 vụ thử hạt nhân, trong đó quả bom gần nhất được kích nổ vào tháng 9/2017 có sức công phá khoảng 100 kiloton, gấp khoảng 5 lần so với quả bom nguyên tử mà Mỹ thả xuống Nagasaki của Nhật Bản năm 1945.
Các chuyên gia ước tính Triều Tiên có tên lửa liên lục địa Hwasong-15 có tầm bắn hơn 13.000 km, có thể chạm tới đất Mỹ trong chưa đầy 30 phút sau khi phóng. Bình Nhưỡng nằm cách Bờ Tây nước Mỹ hơn 8.000 km. Tháng 1/2021, Chủ tịch Kim Jong-un vạch mục tiêu tăng tầm bắn của tên lửa lên xấp xỉ 15.000 km. Quân đội Hàn Quốc nhận định ICBM (intercontinental ballistic missile= tên lửa liên lục địa) của Triều Tiên phóng thử hồi tháng 3-2023 có thể đạt tầm bắn này.
Những hành xử phi pháp tiêu chuẩn kép của Mỹ như tấn công Iraq năm 2003 tiêu diệt Saddam Hussein, tấn công Libya tiêu diệt Muammar Gaddafi, tấn công Syria nhằm lật đổ tổng thống dân cử Bashar al-Assad từ 2011-2020 nhưng thất bại do Nga can thiệp từ 2015 để bảo vệ Assad. Đó là những tấm gương điển hình để Triều Tiên quyết chí phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa để đối phó Mỹ. Sẽ không bao giờ có chuyện Triều Tiên giải giáp vũ khí hạt nhân bất kể Mỹ-Hàn thương lượng và đe dọa cỡ nào, bởi vì đó là sự tồn vong của chế độ.
Tóm lại chính quán tính tâm lý thù địch giữa phương tây và phương đông, giữa phương tây và Hồi giáo là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến những xáo trộn, bất ổn và chiến tranh không lúc nào ngơi trên thế giới.
Trong tương lai gần có thể còn xảy ra xung đột tại eo biển Đài Loan, một mình TQ sẽ phải chống lại Mỹ, Nato, Nhật, Úc, nếu họ muốn thống nhất với Đài Loan bằng vũ lực bởi vì không thể thống nhất hòa bình khi đảng Dân Tiến với ứng cử viên Lại Thanh Đức theo thăm dò tháng 9-2023 sẽ một lần nữa đắc cử tổng thống vào năm 2024.
Truyền thông phương tây đa số nghĩ rằng TQ sẽ không đủ sức chống lại một lực lượng phương tây hùng hậu như vậy. Nhưng đó cũng chỉ là một quán tính tâm lý không phải thực tế. Vậy thực tế như thế nào ? Thực tế như chúng ta thấy trong cuộc chiến ủy nhiệm hiện nay với Mỹ, Nato, EU ủng hộ rất lớn cho Ukraine để chống lại Nga.
Nhưng một mình Nga cũng đủ sức đương đầu với Nato, khiến Nato do Mỹ dẫn đầu không dám đối đầu trực tiếp với Nga dù chỉ bằng vũ khí thông thường. Hệ thống sản xuất vũ khí của Nga đã khôi phục được sức mạnh của thời chiến. Còn các kho vũ khí của Mỹ và EU gần cạn kiệt. Toàn bộ khối Nato đã tích cực hỗ trợ tiền bạc và vũ khí cho Ukraine. Tính đến tháng 9/2023 riêng Mỹ đã tài trợ cho Ukraina 113 tỷ USD trong đó 62 tỷ là viện trợ quân sự. Còn EU đã viện trợ cho Ukraine 72 tỷ Euro tương đương khoảng 76 tỷ USD. Tổng cộng Mỹ và EU đã viện trợ cho Ukraina 189 tỷ USD mà vẫn không thắng được Nga, chẳng những không khiến Nga suy yếu mà còn giúp Nga tự cường. Trong khi đó nền kinh tế của Mỹ và EU đứng trước nguy cơ suy thoái vì lạm phát và thiếu năng lượng giá rẻ từ Nga. Nước Đức trước khi xảy ra cuộc chiến, là nước có kinh tế hùng cường nhất Châu Âu, nay không còn nguồn khí đốt giá rẻ của Nga đã rơi vào suy thoái. Theo World Bank, GDP của Đức năm 2022 chỉ tăng 1,5% so với năm trước. Theo Reuters có 5 viện kinh tế của Đức dự báo GDP cả năm 2023 của Đức sẽ giảm 0,6% so với năm trước.
TQ chắc chắn là theo dõi rất kỹ cuộc chiến Nga-Ukraine. Sức mạnh quân sự của TQ tuy chưa được chứng tỏ nhưng rõ ràng nó có tiềm lực lớn hơn Nga rất nhiều với quy mô dân số gấp 10 lần Nga (1,4 tỷ so với 145 triệu), còn GDP tính theo sức mua tương đương thì Nga năm 2022 là 5100 tỷ usd, còn TQ là 31560 tỷ usd, gấp 6 lần Nga. Mỹ và Nato đã không dám đối đầu trực tiếp với Nga thì liệu họ có dám đối đầu trực tiếp với TQ không ? Mỹ có nhiều vũ khí hạt nhân hơn TQ, nhưng TQ đang gia tăng nhanh chóng số lượng đầu đạn có thể đạt tới con số 1000 vào năm 2030. Ngoài ra giữa Nga-Trung tuy không có liên minh quân sự nhưng vẫn có sự hỗ trợ lẫn nhau. Do đó nhiều khả năng là Mỹ, Nato, Nhật, Úc cũng chỉ bán và viện trợ vũ khí, cung cấp tin tình báo cho Đài Loan tự vệ chứ không dám trực tiếp tham chiến bởi vì rủi ro là quá lớn trước các loại vũ khí “sát thủ tàu sân bay” của TQ như DF-21D, DF-26, DF-27, tên lửa siêu thanh, rất khó đánh chặn.
Tóm lại quán tính tâm lý nhiều lúc xa rời thực tế và đem lại nhiều điều tồi tệ cho bản thân mình, người thân và cả xã hội chung quanh mình. Người điển hình nhất hiện nay có lẽ là Volodymyr Zelensky hiện là tổng thống của nước Ukraine. Do chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chống Nga cực đoạn, ông ta đã đẩy đất nước và dân tộc của mình vào cảnh sụp đổ tan hoang. Một số người khác cũng có quán tính tâm lý xa rời thực tế là tổng thống Mỹ, lãnh đạo của Anh và của phần lớn các nước EU. Chính vì xa rời thực tế nên họ đánh giá sai về nước Nga của Putin, họ đã tiến hành những chính sách sai lầm, trừng phạt kinh tế không hiệu quả nên đã không làm sụp đổ được nước Nga mà trái lại còn tự chuốc lấy sự hao tài tốn của, đất nước xã hội của họ trở nên bất ổn suy yếu.
Và trong tương lai quán tính tâm lý xa rời thực tế của họ có thể còn đẩy họ vào một cuộc chiến tranh lớn với TQ, đó sẽ là thế chiến thứ ba giữa hai phe, một bên là Đài Loan, Mỹ, Nato, Nhật, Úc, Hàn Quốc. Phe kia là TQ, Nga, Iran, Triều Tiên. Trong cuộc chiến tranh này, ai là người hiểu thực tế hơn, ít bị ảnh hưởng bởi quán tính tâm lý hơn sẽ thắng. Hy vọng rằng các nhà lãnh đạo thế giới sẽ không điên rồ tới mức lao vào một cuộc chiến tranh hạt nhân mà nó sẽ hủy diệt toàn bộ nhân loại.
Truyền Bình