CẢNH GIỚI VÀ TẬP KHÍ
Khái niệm về Cảnh giới và Tập khí
Cảnh giới景界 (phenomenal world bao gồm vật cảnh物景material world và tâm cảnh心景spirit world) là thế giới mà chúng ta sống trong đó. Cảnh giới có hai hình thái khác nhau : cảnh giới tinh thần, nội tâm, bao gồm tâm tư, tình cảm, cảm xúc, tư tưởng…; cảnh giới vật chất bên ngoài bao gồm thân thể, nhà cửa, kiến trúc, đồ vật, sinh vật, sông núi, phong cảnh…
Tập khí 習氣 (habit) là thói quen. Chữ tập 習 là học đi học lại, lặp lại nhiều lần như học tập, từ đó mà thành thói quen. Chữ khí 氣 (gas) nghĩa gốc là hơi thở, không khí, chất khí. Trong trung y, khí còn dùng để chỉ một vật hay đối tượng mà mắt thường không nhìn thấy được, nó là một loại kinh lạc 經絡 (meridian) trong cơ thể mà chỉ có người có đặc dị công năng như các vị danh y thời xưa hay Trương Bảo Thắng thời nay mới thấy được, đó là khí trong danh từ khí công 氣功 tiếng Phạn gọi là prana. Tập khí là một thói quen lâu đời và có ảnh hưởng lớn đến mức chúng ta không còn nhận ra rằng chính nó tạo ra cảnh giới.
Ví dụ khi chúng ta đọc một bản văn, chính thói quen văn hóa giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của bản văn đó, từng chữ, từng lời và hiểu khái quát bản văn đó nói gì. Nếu chúng ta chưa tạo được thói quen thì sẽ không hiểu. Ví dụ ta đọc một bản văn bằng ngoại ngữ, tại sao không hiểu ? Vì chưa tạo được thói quen, nghĩa là chưa quen với từ ngữ, câu cú trong đó. Nếu chúng ta đã học ngoại ngữ đó nhiều năm rồi, nghĩa là đã tạo được thói quen rồi thì sẽ hiểu bản văn ngoại ngữ đó. Có những đứa trẻ thần đồng chưa học tiếng nói và chữ viết của một ngôn ngữ nhưng vẫn hiểu được, đó là vì nó đã học tập đã quen thuộc ngôn ngữ đó từ tiền kiếp.
Như vậy văn bản có thể tạo ra tưởng tượng từ thói quen ngôn ngữ. Nếu một quyển tiểu thuyết được dựng thành phim thì tưởng tượng càng rõ ràng hơn, thấy hình ảnh và nghe được tiếng nói. Nếu cuốn phim được phóng hiện ra không gian ba chiều thì sẽ thành cuộc sống đời thường nơi các nhân vật trong đó có thể tương tác với đầy đủ các giác quan mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân thể tiếp xúc, bộ não ghi nhớ, tưởng tượng, tái hiện.
Vấn đề sâu xa nhất mà chúng ta muốn đề cập là cảnh giới vật chất. Tại sao chúng ta nhận ra con trâu, con ngựa, con người ? Bởi vì chúng ta đã từng gặp, từng quen biết với những đối tượng đó rồi. Nếu chúng ta gặp một con vật hoàn toàn xa lạ thì sẽ không biết đó là con gì. Khi các nhà khoa học lần đầu tiên tiếp xúc với những hạt cơ bản của vật chất, họ không biết đó là hạt gì. Sau nhiều lần quan sát, đo đạc, đặt tên, họ mới có khái niệm về các loại hạt đó, như photon, electron, quark, higgs.
Các nhà văn dùng ngôn ngữ để diễn tả một câu chuyện, chẳng hạn Tây Du Ký, câu chuyện về 5 nhân vật gồm có Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng và Bạch Mã (con ngựa trắng) từ Trung Quốc đi về phía tây qua Thiên Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh. Qua diễn đạt của ngôn ngữ, chúng ta tưởng tượng được câu chuyện diễn ra như thế nào, bao nhiêu lần gặp yêu quái đều vượt qua được, cuối cùng đến được chùa Linh Sơn ở núi Linh Thứu (Gṛdhrakūṭa) thỉnh được kinh và đem về Trường An. Chúng ta từ thói quen về ngôn ngữ, có thể tưởng tượng ra câu chuyện ấy.
Rồi khi câu chuyện ấy được dựng thành phim, chẳng hạn bộ phim Tây Du Ký 1986 của đạo diễn Dương Khiết, mà phần lớn chúng ta đều rất quen thuộc, tưởng tượng của chúng ta về câu chuyện ấy càng rõ ràng cụ thể hơn.
Tập khí tạo ra cảnh giới vật chất
Kinh điển Phật giáo còn đi xa tới tận cùng khi nói rằng chẳng những tập khí tạo ra thói quen về tâm lý, văn hóa, tinh thần, mà hơn nữa, chính tập khí tạo ra cảnh giới vật chất. Cảnh thế gian đời thường mà chúng ta đang sống chính là một loại tưởng tượng của tập khí mà thuật ngữ Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng.
Đây là điều mà con người chúng ta khó có thể hình dung nổi. Làm thế nào một thói quen lâu đời có thể tạo ra một cảnh giới, ví dụ một ngọn núi, một con sông ?
Các nhà khoa học thật sự vô cùng ngạc nhiên khi họ khám phá ra điều kỳ lạ của thí nghiệm hai khe hở. Nếu không có người quan sát thì từng hạt electron bắn qua tấm chắn có hai khe hở, làm xuất hiện ở màn hứng phía sau nhiều vạch, chứng tỏ rằng electron không phải là hạt mà là sóng, chính sóng giao thoa tạo ra hiệu ứng nhiều vạch. Nhưng nếu có người quan sát thì từng hạt electron bắn qua tấm chắn có hai khe hở làm xuất hiện ở màn hứng phía sau chỉ có hai vạch thôi tương ứng với hai khe hở, điều đó chứng tỏ electron là hạt. Vậy cái gì đã biến sóng thành hạt ? Chính là tâm niệm, thói quen tưởng tượng của con người.
Như vậy rõ ràng là chính người quan sát đã tạo ra hạt electron, chính tâm niệm, thói quen, nhất niệm vô minh của người đó tạo ra hạt electron. Đồng thời người đó cũng tạo ra hạt proton, neutron, nguyên tử, phân tử, cố thể vật chất và cuối cùng là chất sống, cơ thể của sinh vật, thân thể người ta. Đó chính là ý nghĩa của câu Nhất thiết duy tâm tạo trong kinh điển Phật giáo. Khoa học cũng đã nghiên cứu vấn đề này.
Các nhà khoa học nói về Tâm tạo ra vật chất
Tiến sĩ vật lí lượng tử Amit Goswami, Giáo sư vật lý tại Đại học Oregon và là thành viên của Viện Khoa học lý thuyết, ông là một nhà cách mạng trong một cơ chế ngày càng tăng của các nhà khoa học cách mạng, những người gần đây đã tiến vào vào lĩnh vực tâm linh trong một nỗ lực để giải thích những phát hiện dường như không thể giải thích của các thí nghiệm khoa học … và để xác nhận trực giác của họ về sự tồn tại của một chiều kích tinh thần của cuộc sống.
Ông là tác giả của quyển sách The Self-Aware Universe: How Consciousness Creates the Material World (Vũ trụ tự giác : Làm thế nào Tâm tạo ra thế giới Vật chất) trong đó ông đề ra những ý kiến rất mới về khoa học. Đoạn văn của ông rất trừu tượng và khó hiểu, do đó trước khi dịch, tôi xin trích nguyên văn để độc giả rộng đường tham khảo.
Advancing the work of Fritjof Capra in The Tao of Physics, the physicist Amit Goswami proposes that the paradoxes of quantum mechanics—nonlocality, action-at-a- distance, quantum uncertainty, and so on—can only be resolved through the hypothesis that consciousness, not matter, is the fundamental reality of the universe. Instead of a dualistic split between mind and matter, or subject and object, Goswami puts forth a philosophy that he calls “monistic idealism.” According to this position, “the consciousness of the subject in a subject-object experience is the same consciousness that is the ground of all being. Therefore, consciousness is unitive. There is only one subject-consciousness, and we are that consciousness,” he writes in his 1993 book, The Self-Aware Universe: How Consciousness Creates the Material World. Goswami posits a “brain-mind” system in which the physical brain functions as a measuring and recording device, following the rules of classical physics, while a “quantum component of the brain-mind…is the vehicle for conscious choice and for creativity.”
Khai triển sâu hơn công trình của Fritjof Capra trong The Tao of Physics (Đạo của Vật Lý), nhà vật lý Amit Goswami đề xuất rằng những nghịch lý của cơ học lượng tử – phi vật chất, tác động ở khoảng cách xa, sự bất định lượng tử, v.v… – chỉ có thể được giải quyết thông qua giả thuyết rằng ý thức, chứ không phải vật chất, là thực tại cơ bản của vũ trụ. Thay vì phân biệt nhị nguyên giữa tâm trí và vật chất, hoặc chủ thể và đối tượng, Goswami đặt ra một triết lý mà ông gọi là “tâm bất nhị”. Theo nhận thức này, “Ý thức của chủ thể trong kinh nghiệm thực chứng bất nhị về chủ thể và đối tượng là cùng một ý thức (nghĩa là ý thức và vật chất đều là tâm), đó là nền tảng của mọi hiện hữu. Do đó, ý thức là duy nhất. Chỉ có một ý thức của chủ thể tự thức, và chúng ta là ý thức (tức là tâm) đó,” ông viết trong cuốn sách năm 1993 của ông, “Vũ trụ tự nhận thức: Ý thức tạo ra thế giới vật chất như thế nào”. Goswami mô tả một hệ thống “trí não” trong đó bộ não vật chất hoạt động như một thiết bị đo lường và ghi nhận, tuân theo các quy tắc của vật lý cổ điển, trong khi “thành phần lượng tử của trí não… là phương tiện cho sự lựa chọn có ý thức và sáng tạo. ”
It is the activity of consciousness, determining the “quantum collapse” of a wave-form into a particle, that brings the world into being. “Consciousness is the agency that collapses the wave of a quantum object, which exists in potential, making it an immanent particle in the world of manifestation,” Goswami writes. Our subjective awareness arises as a result of a “tangled hierarchy” in the brain, a closed loop of self-reference similar to the famous “liar’s paradox” (the man from Crete who insists, “All Cretans are liars”). Since quantum collapse can only occur through a physical brain, the ego is “an assumed identity that the free-willing consciousness done in the interest of having a reference point.” Esoteric disciplines and techniques of meditation teach us to observe our subjectivity, our ego-hood, with its continuous babble of thoughts and worries, from an outside perspective, a “witness consciousness.” By doing this, we jump out of our individually conditioned viewpoint, the self-referential circuit, and take the transcendent perspective.
Chính là sự hoạt động của ý thức, xác định “sự sụp đổ lượng tử” của dạng sóng thành một hạt, làm cho thế giới thành hiện hữu. “Ý thức là cơ chế làm sụp đổ sóng của đối tượng lượng tử, tồn tại ở dạng tiềm năng, biến nó trở thành một hạt hữu hình trong thế giới biểu hiện,” Goswami viết. Nhận thức chủ quan của chúng ta phát sinh từ kết quả của “cơ chế rối” trong não, một vòng khép kín tự qui chiếu tương tự như “nghịch lý của anh chàng nói dối” nổi tiếng (người đàn ông từ Crete, người khẳng định, “Tất cả người Crete đều là kẻ nói dối”, điều đó đúng nhưng lại sai vì anh ta lại là người Crete nói thật). Vì sự sụp đổ lượng tử chỉ có thể xảy ra thông qua một bộ não vật chất, bản ngã là “một nhận thức giả định rằng ý chí tự do hình thành vì lợi ích của việc có một điểm tham chiếu (một chỗ dựa) .” Các môn học bí truyền và kỹ thuật thiền quán dạy chúng ta quan sát tính chủ quan, tình trạng cái tôi của mình với sự lải nhải liên tục tâm niệm và lo âu từ một viễn cảnh ở bên ngoài. Khi làm điều này, chúng ta nhảy ra khỏi quan điểm được qui định của cá nhân chúng ta, dòng chảy tự tham chiếu, và nắm lấy viễn cảnh xa rộng.
Tâm tạo ra vật chất hoặc điều khiển vật chất của các nhà thực nghiệm
Amit Goswami có nhắc tới Các môn học bí truyền và kỹ thuật thiền quán (Esoteric disciplines and techniques of meditation). Các môn học bí truyền của các nhà Yoga ở Ấn Độ hay Khí công hoặc Đặc dị công năng ở TQ cung cấp những chứng cứ thực nghiệm cho việc Tâm tạo ra vật chất hoặc dùng tâm điều khiển vật chất. Ví dụ trong sách Hành Trình về Phương Đông, đạo sư Visudha đã tạo ra mùi hương chỉ từ ánh sáng mặt trời cho giáo sư Mortimer và đoàn của ông xem.
– Bây giờ các ông hãy chọn một mùi hoa gì đặc biệt của xứ các ông mà không hề có tại xứ Ấn độ.
– Được lắm, tôi muốn mùi hoa uất kim hương (tulip).
Visudha mỉm cười dơ chiếc kính lúp lên ánh sáng mặt trời cho nó chiếu vào chiếc khăn và lần này mùi hoa uất kim hương lại thơm nồng khắp phòng. Phái đoàn vội vã yêu cầu những mùi hương lạ lùng và lần nào ông cũng làm họ hài lòng. Thậm chí đến cả những mùi thuốc hoá học, những mùi a-xít trong phòng thí nghiệm, ông cũng có thể làm được. Mọi người quan sát kỹ xem ông ta có dấu gì dưới lớp áo choàng không. Vishudha mỉm cười vén cao tay áo để chứng tó ông không hề làm trò ảo thuật hay cất dấu hương liệu gì đặc biệt trong người.
… …
Vishudha đứng dậy bước đến bên một chậu hoa gần đó. Mặc dầu chậu nở đầy hoa, nhưng trong đó cũng có một số hoa đã tàn. Vishudha dơ chiếc kính lúp chiếu lên các hoa này. Trước cặp mắt kinh ngạc của mọi người, những hoa khô héo bỗng trở nên tươi tốt, thơm tho Mọi người nín thở, không ai nói nên lời. Vishudha dơ chiếc kính lên chiếu vào lòng bàn tay ông. Một chùm nho tươi tốt bỗng xuất hiện. Nên biết Ấn độ là xứ nhiệt đới, không trồng được nho, hơn nữa lúc đó đang vào mùa đông, các cây nho bên Âu châu đều khô héo. Có được chùm nho tươi tốt là một việc vô lý, lạ lùng. Vishudha đưa chùm nho cho giáo sư Allen xem và thản nhiên tuyên bố :
– Đây là giống nho Pajouti chỉ mọc ở miền nam nước Ý, không hề được xuất cảng. Mùi của nó thơm nhưng vị hơi chát.
Mọi người xúm lại xem chùm nho. Có người ngắt vài quả bỏ vào miệng ăn như sợ rằng đó chỉ là một ảo tưởng.
Nếu chúng ta cho rằng câu chuyện kể trong sách Hành Trình Về Phương Đông đã khá xa xưa, có thể chỉ là chuyện hoang đường, thì hãy xem những nhà đặc dị công năng thời hiện đại. Trương Bảo Thắng (sinh năm 1958, hiện vẫn còn đang sống) đã biểu diễn dùng tâm điều khiển vật chất tại Đại Lễ Đường Nhân Dân Bắc Kinh vào năm 1982.
Biểu diễn bắt đầu. Trong một thùng sắt, bỏ vào hai trái táo (apple), đậy nắp, dùng que hàn điện hàn kín. Người chủ trì để cho Trương Bảo Thắng dùng ý niệm lấy trái táo ra. Chỉ thấy anh im lặng, không gây tiếng động, trấn định tự tâm. Mọi con mắt nhìn chăm chăm vào người anh, quan sát nhất cử nhất động của anh. Một phút, hai phút, năm phút rồi mười phút trôi qua, đến khi bức màn trong não của anh xuất hiện một quả táo, anh mới dùng ý niệm mang trái táo đặt ở một góc của vũ đài. Lúc đó trên bức màn nhỏ trong não của anh không còn trái táo. Theo kinh nghiệm của anh, anh tin rằng một trái táo trong thùng sắt đã đi ra ngoài, trái kia vẫn còn trong thùng. Anh nói với mọi người : “một trái táo đã ra ngoài”. Nhiều người không tin, bởi vì họ thấy Trương Bảo Thắng trước sau vẫn đứng cách thùng sắt hơn một mét, anh hoàn toàn không chạm vào thùng sắt, trái táo làm sao ra ngoài được chứ ? Người chủ trì ra lệnh cho người mở nắp thùng sắt, mọi người đều phát hiện thiếu mất một quả táo. Bảo Thắng nói với mọi người, trái táo lấy ra đang nằm ở một góc vũ đài, người ta theo chỉ dẫn của anh, quả thật tìm thấy quả táo.
Chính lúc mọi người bàn luận sôi nổi, có người khen ngợi, có người hoài nghi, muốn tìm một khuyết điểm nào đó, một vị lãnh đạo thuộc Ban bí thư, nói : “Tôi được lãnh đạo ủy thác đến tham gia trắc nghiệm, cuộc biểu diễn vừa rồi tôi xem không rõ lắm, tôi hi vọng có thể làm một thí nghiệm ngay trên người mình”, tiếp đó ông dùng tay chỉ chiếc huy chương trên ngực mình, nói : “mời Trương Bảo Thắng dùng ý niệm mang nó đi, được không ?” Người chủ trì biết đây là người muốn vạch khuyết điểm, nên hướng về Bảo Thắng nói : “Anh thấy được không ?”. Bảo Thắng gật đầu. Chỉ thấy anh nhìn một chút chiếc huy chương trên ngực ông bí thư, mà không thấy anh đi lại gần ông ta, cự ly giữa hai người khoảng vài mét. Khán giả tại hiện trường có người nhìn ông bí thư, có người nhìn Trương Bảo Thắng, mọi người chờ đợi anh lên tiếng trả lời. Ông bí thư cũng đắc ý chờ đợi Bảo Thắng lên tiếng trả lời “được” hoặc “không được”. Không ngờ Trương Bảo Thắng không trả lời câu hỏi, chỉ nói : “di chuyển rồi”. Ông bí thư như đang mơ chợt tỉnh, vội dùng tay sờ vào trước ngực, nhưng cái huy chương đã biến đâu mất từ lúc nào, ông hoảng hốt tìm kiếm, trên dưới đều không thấy. Trương Bảo Thắng chỉ nói một câu : “huy chương đã ở trên thân người khác rồi” Không ít người lật đật mò tìm túi trên túi dưới của mình. Trong đám đông có người kêu lên : “trên người tôi có một chiếc huy chương, nó làm sao mà đeo vào được ?” Khi chiếc huy chương được chuyền đến tay ông bí thư, ông nhận ra nó ngay, đó chính là chiếc huy chương ông vừa mới đeo trên ngực. Ông bí thư bị á khẩu không nói nên lời. Người tại hiện trường còn chưa hết ý, đều hứng thú vây quanh Trương Bảo Thắng, nhiệt tình hỏi anh về cảm giác và công năng.
Còn về kinh nghiệm thiền quán thì Bát Nhã Tâm Kinh đã tóm tắt cái thấy của hành giả mà trong kinh nói là Quán Tự Tại Bồ Tát, cũng tức là Quán Thế Âm Bồ Tát.
Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh 般若波羅蜜多心經 (phiên latinh từ Phạn ngữ : Prajñā Pāramitā Hridaya Sūtra nghĩa là Quyển Kinh về Tâm Giác Ngộ đến bờ bên kia. Bờ bên kia nghĩa là gì ? Ngày nay khoa học đã giúp chúng ta khám phá rất cụ thể, bờ bên kia tức là Miền tần số (Frequency Domain), nơi chưa có sự phân biệt nhị nguyên giữa các cặp phạm trù mâu thuẫn như đúng sai, sáng tối, sóng hạt, âm dương v.v…hoặc một tên gọi khác là Trường Thống Nhất (Unified Field) Trong Duy Thức Học thì bờ bên kia là A-lại-da thức (Alaya). Còn bờ bên này là Mạt-na-thức (Manas).
Bờ bên kia hay Alaya chỉ là thông tin đơn thuần, chưa có bất cứ đặc điểm, đặc trưng gì, không có tính chất gì cả, thông tin đó có dạng sóng vô hình, phi vật chất, vì vậy khoa học gọi là miền tần số. Còn bờ bên này là thông tin đã được gán ghép các tính chất, đặc điểm để phân biệt, để hiển thị theo một chiều hướng quen thuộc nào đó của tập quán.
iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā śūnyataiva rūpaṃ, rūpān na pṛthak śūnyatā śūnyātāyā na pṛthag rūpaṃ yad rūpaṃ sā śūnyatā yā śūnyatā tad rūpaṃ. evameva vedanā-saṃjñā-saṃskāravijñānāni.
舍利子,色不異空、空不異色、色即是空、空即是色, 受想行識,亦復如是
XÁ LỢI TỬ ! SẮC BẤT DỊ KHÔNG, KHÔNG BẤT DỊ SẮC, SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, DIỆC PHỤC NHƯ THỊ :
Vật chất không khác cái không, cái không không khác vật chất, vật chất tức là không, không tức là vật chất. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng tương tự như vậy.
Như vậy kinh nghiệm thiền quán của Bồ Tát Quán Thế Âm được mô tả trong Bát Nhã Tâm Kinh là : Tâm chỉ là Tánh Không, không có đặc điểm, không có nghĩa lý gì cả, nhưng Tâm có khả năng tạo ra vô lượng vô biên cảnh giới vật chất (Sắc) và tinh thần (Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Tất cả mọi cảnh giới đều chỉ là ảo tưởng không có thật.
Tập khí và luân hồi tái sinh
Tập khí của mỗi chúng sinh trải qua vô lượng kiếp có những biến thiên rất lớn. Nếu bản thân chúng sinh không làm chủ được thì nghiệp sẽ dẫn dắt thần thức đầu thai chuyển kiếp theo dòng nhân quả luân hồi rất là vô thường và không ngừng nghỉ.
Tập khí có thể tạo ra cảnh giới vật chất, do đó nó có thể tạo ra luân hồi tái sinh. Theo những gì mà nhân loại biết được, luân hồi tái sinh là sự tương tục của thần thức, dòng thông tin của mạt-na thức tức ý thức chấp ngã mà người bình dân hiểu một cách đại khái là linh hồn. Bởi vì mạt-na thức chấp ngã, giống như một ổ đĩa cứng, nó khu biệt với những ổ đĩa cứng khác và khu biệt với internet. Đó là do nó tự khu biệt, phân biệt để mà tương tác với nhau một cách chính xác và thuận tiên. Một ổ cứng có thể chứa thông tin khác với những ổ cứng khác, chẳng hạn những softwares, bản nhạc, video clips…nhưng về cơ bản, về bản chất của thông tin, nó không hề khác với những ổ cứng khác, cũng cấu tạo bằng những bit thông tin 0 và 1. Thế nhưng khả năng làm việc và biểu hiện của nó lại rất khác, là do softwares, chương trình của nó khác, những files văn bản, âm nhạc, video clips của nó khác.
Vì vậy mạt-na không có bản sắc cố định, tùy nghiệp hay tập quán của nó chứa chấp mà kiếp lai sinh của nó có thể thay đổi rất lớn. Nó không có bản sắc, từ người nữ có thể biến thành người nam. Chẳng hạn trường hợp của Huỳnh Đình Kiên. Kiếp trước ông là một người nữ không có chồng, có một bà mẹ, đến năm 26 tuổi thì qua đời và tái sinh thành Huỳnh Đình Kiên là người nam. Câu chuyện có thật xảy ra vào đời Tống ở TQ.
Một trường hợp tái sinh khác cũng xảy ra ở TQ thời hiện đại. Một người đàn ông ở thôn Mã Gia Than 马家滩 thuộc tỉnh Hà Bắc tên là Trương Phúc Đại 张福大 có vợ và sinh được 2 con, 1 trai, một gái, con trai cả tên là Trương Cát Lâm 张吉林 là công nhân mỏ than tại núi Thạch Thiên. Ngày 29-11-1977 ông Đại qua đời vào lúc 57 tuổi và tái sinh thành bé gái Chiết Quốc Nga折国娥 ra đời tháng 3-1978 tại huyện Mỗ某县thôn Đông Tháp东塔. Cô Nga kể lại : kiếp trước ông Đại chết, thấy người ta liệm thi thể mình, sau đó không thể đi đâu được, chỉ quanh quẩn trong thôn. Bốn tháng sau vào một buổi tối, ông thấy mình ngồi lên một chiếc xe quá giang đến thôn Đông Tháp, bất giác không tự chủ đi vào nhà họ Chiết, đúng vào lúc bà Chiết sinh con, thế là ông chuyển kiếp thành con gái là Chiết Quốc Nga. Năm 1989, Chiết Quốc Nga 11 tuổi, vào ngày sinh nhật con của Trương Cát Lâm, Nga bận đi học không thể đến dự được, bèn làm một cái vòng bằng chỉ hồng để chúc lành và nói : “Ông cho con chiếc vòng, chúc cháu nội của ta sức khỏe bình an” và nhờ người cậu chuyển quà tặng.
Con người cũng có thể biến thành con vật. Trong lịch sử có ghi chép. Bạch Khởi (白起; ? – 257 TCN) là danh tướng vô địch của nước Tần trong thời Chiến Quốc, lập nhiều công lao, góp phần lớn chiến tích trong việc thống nhất Trung Quốc của nước Tần, được phong tước Vũ An quân (武安君), giữ chức Đại lương tạo, chức quan coi hết việc quân lương của nước Tần.
Ông được đánh giá là vị tướng lĩnh tài năng nhất trong bốn vị đại tướng thời Chiến Quốc, 3 người còn lại là Vương Tiễn, Liêm Pha và Lý Mục. Vì khi sống Bạch Khởi giết nhiều người nên người đương thời gọi ông là Nhân đồ (人屠 đồ tể giết người). Năm 279 TCN, sau khi hai nước Tần, Triệu ký kết hòa ước không xâm phạm lẫn nhau, vua Tần dốc hết quân đi đánh nước Sở, cho Bạch Khởi làm chủ tướng dẫn quân xuống phía Nam, đánh bại quân Sở, chiếm đất Yên (nay là Yên Lăng, tỉnh Hà Nam), đất Lăng (nay thuộc vùng Tây Bắc Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc). Trong trận này ông sai người dẫn nước từ phía tây Yên Thủy chảy vào Yên thành, phá hủy hết công sự, dìm chết hơn mấy mươi vạn quân dân nước Sở. Nước cuốn xác chết người và vật trôi từ tây sang đông, nhân trời đang lúc hè, thời tiết nóng bức, xác chết trương sình lên rồi bốc mùi, người thời đó gọi là “ao nước thối”. Trong trận Trường Bình, trước sau quân Tần hoặc chém hoặc bắt sống tổng cộng 45 vạn quân Triệu, kể cả những quân Triệu đầu hàng Vương Hạt trước, đều bị giết sạch cả, chỉ còn 240 người ít tuổi được thả về Hàm Đan để tuyên dương cái oai của nước Tần. Vụ chôn sống quân Triệu là một trong những vụ thảm sát lớn nhất thời cổ đại của lịch sử Trung Quốc.
Vì giết quá nhiều người nên Bạch Khởi kiếp sau đầu thai làm con trâu. Con trâu cũng chẳng được yên, bị sét trời đánh chết, trên bụng con trâu hiện ra chữ Bạch Khởi.
Tướng nước Tần, Bạch Khởi đầu thai thành con trâu bị sét đánh chết
Kết luận
Cảnh giới vật chất và tinh thần là một thể thống nhất, tuy chúng ta cảm nhận đó là hai hình thái rất khác nhau nhưng theo Phật pháp, vật chất và tinh thần là cùng một bản chất mà Phật giáo gọi là tâm bất nhị. Tâm này là tánh giác ngộ tức trí tuệ bát nhã không thể nghĩ bàn mà kinh sách PG gọi là Phật, hay Chánh biến tri, Thiên Chúa giáo gọi là Thượng Đế (God), Nho Giáo gọi là Trời (Thiên 天). Tâm bất nhị có khả năng tạo ra vô số cảnh giới bằng cách phân cực thành những cặp phạm trù đối lập mà tiêu biểu nhất, cơ bản nhất là cặp chủ thể (subject) và đối tượng (object). Chủ thể biểu hiện thành mạt-na thức hay cái tôi (ngã). Đối tượng biểu hiện thành cảnh giới vật chất (matter) hay tinh thần (moral, intellectual). Cảnh giới thế gian chính là thế giới của các chủ thể (chúng sinh) và đối tượng (vật cảnh và tâm cảnh) của chúng. Thế giới đó là chủ quan do tâm tạo nhưng vì nhiều người cùng thấy tương tự như nhau nên cho rằng khách quan. Thế giới đó do tập khí hình thành. Tập khí là tâm niệm lặp đi lặp lại và có khả năng tạo ra cảnh giới vật chất, cũng là động lực của luân hồi tái sinh mà thuật ngữ PG gọi là thế lưu bố tưởng (Imagination spreads through generations). TQ có câu tục ngữ Tâm tưởng sự thành 心想事成 (Mind has wishes which will come true)cũng là nói về việc này. Tóm lại Nhất thiết pháp vô tự tính (All things are free of self natures) và Nhất thiết duy tâm tạo (Everything is built by mind) là thông điệp cơ bản của Phật giáo hướng dẫn nhân loại biết cách giải thoát đau khổ.
Truyền Bình 1
NGUỒN
GHI CHÚ
Footnotes
-
📝 Truyền Bình ↩