Phần 3
Đầu tháng sáu, thổ tặc nổi lên ở khắp nơi. Bọn chúng đều kéo lên núi Hoa Sơn. Có bọn thì trú tại tĩnh thất Long Oa, có bọn thì trú tại tĩnh thất Hoàng Hoa Động, có bọn thì trú tại tĩnh thất Luyện Tính Nham, còn lại có bọn trú tại tĩnh thất ngay phía sau nhà trù. Sáu chỗ này đều thuộc về phạm vi đại giới của thường trụ. Bọn chúng, có người thì dùng lễ nghi, viết giấy xin mượn vật dụng của thường trụ, có kẻ thì ỷ sức mạnh mà đến lấy đi một cách ngang nhiên.
Những trường hợp như vậy, tôi đều khéo léo từ chối.
Bọn chúng, mỗi khi nghe quan quân kéo đến thì đều tản mác ẩn trốn. Sau khi quan quân đi rồi, thì họ tụ tập trở lại. Tôi nghĩ điều này sẽ có hại lớn, bèn điều động đại chúng phá hủy tất cả những tĩnh thất, không còn lưu lại một nơi nào.
Đến ngày rằm tháng bảy, mọi người làm lễ tự tứ ở phòng Phương trượng. Khi ấy, thầy Nguyện Vân, giữ chức Tây đường, có làm một bài thơ như sau:
An cư tuế sự dĩ trầm mai, Ngã Phật nghiêm quy phụ lãnh hôi, Bạch thủ tăng lưu vô nhất lạp, Bảo Hoa Luật Xã hỷ trùng khai, Thọ trù kháp ứng Nam tham số, Tọa thảo do tồn Tây quốc tài, Tự tứ dĩ viên, giai thoại tại, Ba Ly tuyệt học, hẩu như lôi.
Tạm dịch:
Pháp sự an cư bị lãng quên, Nghiêm quy của Phật lạnh tro tàn, Xuất gia đầu bạc không một lạp, Nay mừng Luật xã tại Hoa San, Thọ trù an cư, người đã ít, Tọa thảo tự tứ, càng hiếm khan, Tự tứ đã xong, còn nhớ mãi, Ba Ly trì luật, tiếng rền vang.
Đến đầu tháng tám, tình hình tạm yên ổn, tôi đem công việc của thường trụ ủy thác cho thầy Giám viện Đốn Ngộ quản lý, còn tôi thì ở tại lầu Phương trượng dụng công lạy Phật.
Đến ngày mười hai, mở cửa sổ nhìn ra ngoài, thì thấy một người trạc tuổi trung niên, mặc áo màu xanh cũ, phía dưới lộ ra màu đỏ, đang đi ở phía dưới hành lang dò xét. Tôi liền xuống lầu nói với thầy Đốn Ngộ: “Gã ấy là binh lính mặc đồ dân, đến chùa dọ thám. Không nên cho gã ở lại.”
Về sự việc này, Đốn Ngộ đã nói riêng với thầy Tuần chiếu (phụ trách an ninh trong chùa) rằng gã đó là dân tỵ nạn, đến chùa xin ở tạm đến qua Trung thu, tại sao lại không mở lòng từ bi cho gã tạm trú. Khi tôi biết được sự việc này, liền gọi thầy Tuần chiếu đến quở trách. Lúc ấy, gã thám tử cũng đang đứng dưới lầu phương trượng nhìn lên.
Khoảng một lúc sau, có khoảng hơn một trăm tên thổ tặc, mỗi tên đều cầm gậy gộc làm vũ khí, đến đứng dưới các mái hiên. Thầy Đốn Ngộ vừa nhìn thấy đã cảm thấy hoảng sợ. Nhân vì lúc thầy ấy còn làm thái giám, đã nổi tiếng là giàu có, cho nên lo sợ bọn thổ tặc đến làm tiền. Thầy ấy bèn giả vờ thân thiện, nấu cơm mời bọn chúng ở lại dùng trai, hy vọng mua chuộc cảm tình. Tôi biết chuyện này, bèn xuống lầu, thấy bọn thổ tặc đã ngồi vào bàn ăn, chén bát đã dọn sẵn, khó bề có thể can ngăn được nữa, tôi bèn nói với thầy Đốn Ngộ: “Tánh mạng của hơn một trăm đại chúng ở đây, cùng sự tồn tại của chùa này, đều do một bữa cơm này mà bị hủy hoại. Sau này có việc gì, đều là do thầy, không liên can gì đến tôi.”
Gã thám tử mặc áo xanh khi nảy, thấy thế bèn mỉm cười bỏ đi. Sau khi nghe tin Tướng quân họ Ba, họ Ngao, cùng với quan huyện họ Trần của phủ Trấn Giang dẫn quân ra khỏi thành tảo trừ bọn thổ tặc, đóng trại trên đỉnh núi Đông Tạ, lúc đó chúng tôi mới biết gã mặc áo xanh đó chính là binh lính đến chùa thám thính.
Vào nửa đêm ngày mười ba tháng tám, khoảng hơn một trăm kỵ binh của quân Thanh kéo lên núi vây chùa. Đại chúng hoảng hốt, không đường tẩu thoát. Trời vừa bình minh, tôi nói với thầy Đốn Ngộ: “Tôi là phương trượng, thầy là Giám viện. Hiện nay có chuyện, phải cùng nhau gánh vác. Nếu như quan binh tiến vào, họ sẽ phá hủy chùa chiền, lại còn liên lụy đến đại chúng.”
Nói xong, hai chúng tôi bèn mở cửa chùa, đi đến Đồng Điện Đài. Vị quan cầm đầu hỏi chúng tôi: “Hai thầy là ai?” Tôi trả lời: “Tôi là phương trượng, còn vị này là giám viện.”
Vị quan thấy chúng tôi tự động đến ra mắt, tỏ vẻ hoan hỷ, bèn cùng chúng tôi đến trước cổng chùa ngồi xuống. Vị quan hỏi trong chùa có bao nhiêu tăng nhân. Tôi nói: “Tăng chúng, già trẻ cả thảy là chín mươi bốn người.”
Vị quan bảo phải gọi ra hết. Ai mà không đến, tức là có liên hệ với bọn thổ tặc. Trong chùa cũng có một số dân chúng đến làm công tác, phụ trách công việc gạch, ngói, cùng tô tượng, v.v… Thầy Đốn Ngộ cũng đều gọi bọn họ ra ngoài trình diện.
Đội lính đem một gã tù đang bị trói ra để nhận diện đồng bọn. Gã tù đó, sau một đêm bị giam, hồn tiêu phách tán, nói không ra tiếng, chỉ biết đưa tay chỉ loạn cả lên. Do đó, khi một người trong nhóm dân làm công vừa bị điểm mặt, thì cả mười sáu người trong nhóm đều bị vu oan là thổ tặc, lại còn sáu người khác cũng bị cột cổ dẫn đến doanh trại.
Thấy sự tình như vậy, sợ có gian tế ẩn núp trong chùa, hai vị quan bèn dẫn theo bốn người lính. Một người lính mở cửa. Bọn họ kêu tôi và thầy Đốn Ngộ cùng đi vào chùa. H thấy liêu phòng nào khóa cửa, họ liền lấy ngón tay chọc thủng màn cửa sổ để nhòm vào. Tôi muốn cho họ hết nghi ngờ, bèn lấy chìa khóa trong túi mở cửa phòng cho họ khám xét. Trên bàn chỉ có kinh sách, ngoài ra chỉ có giường ghế phủ vải (che bụi vì không có ai ở). Liên tiếp ba bốn phòng đều như thế, vị quan tin là không có sự man trá, bèn ra lệnh không cần phải mở những cửa phòng còn lại. Vị quan dẫn binh lính ra khỏi chùa, ngồi xuống rồi nói với tôi: “Có người báo quan là trong chùa có chứa chấp thổ tặc. Quan lớn ra lệnh cho chúng tôi áp giải tất cả mọi người trong chùa về bản doanh, không chừa người nào.”
Tức thời ra lệnh cho một kỵ binh áp giải một vị tăng đi sau, còn vị quan ấy thì áp giải tôi đi trước. Tôi nghĩ nếu như trong chùa không có người, bọn lính cũng không có chủ, nếu như bọn chúng tiến vào trong chùa, ắt là thường trụ sẽ bị cướp sạch. Tôi bèn nói với vị quan: “Khi tiến binh thì đi phía trước để thống lãnh, khi rút lui thì đi phía sau để trấn định. Tôi là tăng thủ, còn ông là lãnh binh. Nên để lính dẫn các vị tăng đi phía trước, còn tôi và ông đi phía sau, như thế tăng chúng sẽ không thiếu một ai, mà binh lính cũng sẽ không làm loạn.”
Vị quan cười nói: “Cứ y theo lời thầy nói.” Chúng tôi đi khoảng hai mươi dặm thì đến đỉnh núi Đông Tạ. Đi vào đại doanh, thấy rất nhiều thổ tặc ở trần đang bị trói, khoảng hơn một ngàn người dân quê đang gào khóc rên la, kêu trời như bộng.
Một tên lính cầm cờ dẫn chúng tôi đến ngồi ở một nơi, rồi đem mười sáu người bị vu oan dẫn đi, một lúc sau lại dẫn họ trở lại phía sau lưng chúng tôi. Tên lính nói: “Các vị phải nên nói thực, nếu không cũng sẽ bị giết một lượt, giống như mười sáu tên này.”
Nói xong, chỉ nghe vài âm thanh vang lên, mười sáu người kia đã bị giết sạch. Sáu người bị trói còn lại thì được tha mạng. Máu của những người bị giết văng tung tóe, vấy vào các tăng bào.
Tôi nói với đại chúng: “Các thầy chớ nên sợ hãi. Mỗi người nên nhất tâm niệm Phật. Nếu như đã là định nghiệp của nhiều đời, thì hôm nay nhất định phải trả báo. Còn nếu không phải như vậy, tự nhiên sẽ được giải thoát. Sự tu tập hằng ngày, chính vào giờ phút này được thử thách.” Mọi người nghe xong, đều chuyên tâm niệm Phật.
Quan huyện họ Trần đi xuống, chỉ kêu một mình thầy Đốn Ngộ lên trên, tra tấn hạch hỏi. Thầy ấy khai tôi là phương trượng, ông Huyện bèn sai lính xuống gọi tôi lên. Tôi suy ngẫm sự sống chết giống như bọt nước sanh diệt, dù lâm nạn cũng không nên làm mất uy nghi của một vị tăng, bèn đi lên một cách khoan thai. Quân lính đứng hai bên tuốt gươm ra khỏi vỏ, đều hô lớn tiếng bảo tôi quỳ xuống. Tôi nghiêm mặt nói: “Thân mặc áo cà sa của đức Như Lai. Đức Phật đã chế định không được lễ bái người thế tục, lẽ nào lại quỳ xuống để xin tha mạng. Như vậy là vi phạm giới luật.”
Nói xong, tôi bèn chắp tay đứng qua một bên. Vị tướng quân họ Ba dơ tay chỉ vào tôi mà cười, kế đó lại lấy tay tự sờ vào đầu, rồi lại đưa ngón tay cái lên (tỏ vẻ khen ngợi), sau đó quay lại nói tiếng Mãn châu với tướng quân họ Ngao và quan huyện Thao Giang họ Trần. Người thông ngôn dịch cho tôi nghe: “Tướng quân họ Ba nói đầu ông và đầu của tướng quân giống nhau (trọc), ông là Hòa thượng tốt, không cần phải quỳ.”
Quan huyện họ Trần nói: “Thổ tặc trú tại núi Hoa Sơn đã lâu, tại sao không lập tức cho người đến báo quan, mà lại tự chuyên chấp chứa?” Tôi nói: “Núi Hoa Sơn tuy cao, nhưng trên đỉnh có đường lớn băng ngang. Nếu như thổ tặc từ phía trước đi đến phía sau núi, thì những người ở phía trước núi nói là họ trú tại Hoa Sơn, còn nếu như thổ tặc từ phía sau đi đến phía trước núi, thì những người ở phía sau lại nói là họ trú tại Hoa Sơn. Nếu chúng tôi đi báo quan, mà lúc quan quân đến không thấy thổ tặc, thì chúng tôi lại mắc tội. Đây không phải là chúng tôi chấp chứa bọn họ mà không đi báo. Nay Hoa Sơn ở phía trước mặt, thỉnh quan lớn hãy nhìn xem cho rõ.”
Quan huyện bèn quay đầu nhìn lên, quả nhiên trên đỉnh núi có đường lớn băng qua, bèn nói với tôi: “Trường hợp này bỏ qua không tra xét.”
Kế đó lại hỏi: “Tôn thái giám là nội quan của triều Minh, lén lút chứa chấp thổ tặc, trong lòng ôm ấp sự phản nghịch, thầy ắt biết rõ điều đó?”
Tôi nói: “Tôn thái giám lên núi xuất gia vào năm Sùng Trinh thứ mười bảy. Hiện nay làm Giám viện chưa đến nửa năm. Tôi chỉ biết rằng ông ta từ quan xuất gia tu hành, còn tâm ông ta xấu tốt, đó là một sự bí mật, tôi làm sao biết được.” Quan huyện Thao Giang nói: “Quả nhiên đó là sự việc bí mật. Hãy bỏ qua việc này. Thầy hãy đi xuống.”
Tôi vẫn giữ uy nghi từ từ trở về chỗ cũ. Phía trên lại tiếp tục tra khảo thầy Đốn Ngộ về việc đãi cơm cho bọn thổ tặc. Thầy ấy lại khai thầy Khắc Tu có liên hệ. Hai người đổ thừa qua lại, không ai chịu nhận. Bọn lính bèn trói thầy Khắc Tu lại đánh. Thầy Khắc Tu bị đánh đau quá chịu không nổi, lại khai tôi là phương trượng, cai quản cả chùa. Bọn họ lại cho người xuống gọi tôi lên hỏi. Tôi quay lại nói với đại chúng: “Lần này đi lên sợ không được trở về. Mỗi người nên chánh niệm, không nên vì tôi mà hoảng sợ.”
Nói xong, tôi lại đi lên một cách khoan thai, chắp tay đứng qua một bên. Quan huyện họ Trần lại nói: “Chùa của thầy vào ngày mười hai đã có đãi cơm cho bọn thổ tặc. Tôi đã có người ở trong chùa thám thính. Tại sao lại dấu diếm.”
Tôi thấy thầy Khắc Tu bị côn kẹp vào đùi, còn thầy Đốn Ngộ thì bị trói quỳ một bên. Tôi liền lên tiếng quở trách hai người: “Rõ ràng vào ngày mười hai thực sự có hơn một trăm người đến chùa dùng cơm, tại sao lại không chịu nhận. Làm phiền ba vị quan lớn đây hạch hỏi tới lui ba lần bảy lượt, mà tự mình lại còn phải chịu sự khổ sở.”
Quan Huyện họ Trần nói: “Thầy đúng là người tốt. Nói sự thực cho tôi biết.”
Tôi nói: “Quan Huyện muốn hỏi việc đãi cơm cả năm nay, hay chỉ hỏi việc đãi cơm ngày mười hai vừa qua?”
Quan Huyện hỏi: “Cái gì là đãi cơm cả năm?”
Tôi nói: “Các làng xóm trong vòng hơn một trăm dặm quanh núi đều gọi là Hoa Sơn. Trong chùa, vì tăng chúng nhiều, cho nên mỗi năm vào mùa gặt hái chúng tôi đều đi đến các làng để hóa duyên thực phẩm, do đó mỗi làng đều là thí chủ của chùa. H có người đến chùa, bất luận nhiều ít, chúng tôi đều đem cơm nước ra khoản đãi. Nếu như không giữ họ lại dùng cơm, e rằng sang năm sẽ không có thực phẩm cúng dường. Từ lúc xây Đồng Điện đến nay, mỗi năm đều như vậy. Đâu chỉ có một bữa cơm vào ngày mười hai tháng tám năm nay. Bọn họ đến lại không có đem theo cung tên binh khí, làm sao chúng tôi biết ai là thổ tặc, ai không phải là thổ tặc.”
Quan huyện họ Trần bèn nói tiếng Mãn Châu với hai vị quan họ Ba và họ Ngao, người thông ngôn dịch cho tôi nghe: “Ba vị quan lớn nói thầy là người thành thực, không nói dối trá. Không xét việc đãi cơm nữa. Mời thầy đi xuống.”
Phía trên, bọn họ lại hỏi Đốn Ngộ về tài sản của thường trụ. Thầy ấy sợ bị hình phạt, bèn đem tất cả ruộng vườn tài sản của chùa khai nộp hết cho quan, lại khai rằng phòng kim ngân (giữ tiền bạc) là do thầy Phật Huy quản lý. Bọn họ bèn gọi thầy Phật Huy lên để thẩm vấn, thầy ấy bèn khai rằng số ngân khoản chỉ có ba mươi sáu lượng bạc và khoảng bảy tám ngàn quan tiền (kẻm). Vị quan thẩm vấn không tin, bèn nọc thầy Phật Huy ra đánh. Thầy ấy không biết trả lời thế nào, bèn khai là thầy Phương trượng biết rõ điều này. Quan huyện lại cho gọi tôi lên. Hai vị quan họ Ba và họ Ngao thấy tôi lên xuống mấy lần, lần nào cũng dáng dấp khoan thai, sắc mặt điềm tĩnh, bèn nói mấy câu với người thông ngôn, người ấy nói với tôi: “Quan lớn kêu thầy ngồi xuống nói chuyện. Đừng sợ.”
Quan huyện họ Trần nói: “Chùa Hoa Sơn rộng lớn, tăng chúng lại nhiều, chi tiêu mỗi ngày cũng không ít. Tại sao lại khai dối là tồn khoản chỉ có ba mươi sáu lạng bạc?” Tôi nói: “Thầy chủ kho hoảng sợ cho nên nói không rõ ràng.”
Quan huyện hỏi tôi: “Vậy thực sự có bao nhiêu?”
Tôi nói: “Thầy bổn sư của tôi là Hòa thượng Tam Muội phước duyên rất lớn. Các bậc vương hầu quan chức quy y rất nhiều. Ngân lượng cũng rất nhiều. Ngài là bậc giải thoát tự tại, cho nên đã không giữ lại đồng nào. Nơi nơi đều xây chùa đúc tượng. Vào cuối đời ngài, lại phải tu sửa chùa Hoa Sơn, cho nên đã dùng hết tiền nong. Ngài vừa từ trần vào năm ngoái. Bọn đệ tử chúng tôi bạc phước vô duyên, tiền bạc lương thực rất ít. Số tăng trong chùa lại nhiều, thành thử tiêu xài thiếu thốn. Chùa có một con ngựa xanh (Hán: thanh mã) bán cho chủ xưởng dệt họ Xa ở Nam Kinh được năm mươi tám lượng bạc. Tám, chín ngày vừa qua đã chi tiêu hết hai mươi hai lượng, hiện nay chỉ còn ba mươi sáu lượng. Nếu như quan lớn không tin, xin cho người đi hỏi ông chủ hãng dệt họ Xa, thì sẽ biết rõ hư thực.”
Ba vị quan lớn bàn với nhau một hồi, sau đó gật gật đầu. Người thông ngôn nói với tôi: “Ba vị quan lớn nói rằng thầy không nói dối, thành thử không cần đi hỏi.”
Bọn họ bèn cởi trói cho thầy Phật Huy. Sau đó lại kêu hai thầy Huyền Văn và Kế Huyền lên. Quan huyện họ Trần nói với tôi: “Việc này không liên quan đến thầy, mời xuống.”
Tôi bèn đi thẳng về chỗ ngồi không dám quay đầu nhìn lại. Đến khoảng giờ ngọ, ánh nắng chói chang, không có bóng cây che nắng. Mọi người ngồi lâu, vừa đói vừa mệt, mồ hôi đổ ra như tắm, lại càng cảm thấy khổ sở. Lúc ấy, đột nhiên có một vừng mây đen xuất hiện, vần vũ phía trên chúng tôi, giống như trương lọng che mát, còn bốn phía chung quanh, ánh nắng vẫn chói chang như cũ. Đến lúc xế chiều, có một tên lính cầm cờ đến, hô lớn: “Các vị đi theo tôi.”
Mọi người cho rằng phải đi thọ hình, tất cả đều thất sắc. Trong nhóm binh lính cũng có người tốt, chắp tay vui vẻ nói lớn: “Các thầy được tha rồi. Nếu người lính dẫn đường cầm cờ đen là bị tử hình. Hiện nay đang cầm cờ xanh (lục), không cần hoảng sợ.”
Chúng tôi nhìn lên, quả nhiên là cờ xanh lục. Khi ấy mọi người mới cảm thấy an tâm. Đi đến một dốc núi, đại chúng ngồi xuống nghỉ mệt. Độ hơn mười người lính đến đứng vây quanh nhìn, nói với mọi người: “Hôm nay nếu không có vị đại phương trượng này lên xuống biện bạch phân minh, lại có duyên lành với ba vị quan lớn, thì có lẽ mấy thầy đã không còn sống sót.”
Một người lính đến gần nói với tôi: “Thầy đã lao nhọc cả ngày, hãy nằm nghỉ ngơi chốc lát.”
Nói xong, bèn cởi bao đựng tên đưa cho tôi làm gối. Tôi nói: “Đây là dụng cụ giết người, người trì giới không thể xử dụng.”
Lại có một người lính khác nói: “Thầy đã đói rồi.”
Bèn đem một cái bánh khô trong người ra đưa cho tôi ăn, tôi bèn bẻ bánh vụn ra đem phân phát cho mọi người. Người lính nói: “Thầy cứ ăn một mình, khỏi phải phân phát.”
Tôi nói: “Những người tu hành ở chung với nhau, chịu thì cùng chịu, hưởng thì cùng hưởng, huống chi hiện nay đang gặp hoạn nạn mà không chia xẻ hay sao?”
Mấy người lính đều khen nức nở, họ đề nghị với nhau: “Chúng ta hãy vào xóm trước nấu cơm, sáng mai đem lại cho mấy thầy ăn.” Đến nửa đêm, mọi người cảm thấy rất khát nước, nhìn xuống chân đồi thấy có một ao nhỏ. Mọi người hân hoan chạy xuống vốc nước uống, cảm thấy mùi vị vừa ngọt lại vừa mát. Đến khi trời sáng, nhìn lại thì ra là một vũng nước của trâu tắm.
Sáng hôm sau, binh lính đến gọi chúng tôi đến đại doanh. Quan huyện họ Trần nói với tôi: “Thầy là người tu hành, có thể trụ trì tại Hoa Sơn. Hãy dẫn mọi người trở về chùa.”
Tôi nói: “Hiện nay tôi không trụ trì Hoa Sơn nữa.”
Quan họ Trần nói với mọi người: “Thầy ấy đã không trụ trì Hoa Sơn nữa, vậy các vị hãy đề cử một người có đức hạnh ra làm phương trượng.”
Đại chúng đồng thanh: “Chỉ có vị phương trượng này mới xứng đáng, ngoài ra không còn ai nữa.”
Quan họ Trần cười nói: “Tôi bảo thầy làm trụ trì, đại chúng cũng đề cử thầy. Trước đây thầy đã làm trụ trì, sao nay lại không làm?”
Tôi nói: “Trước đây nhân vì Hòa thượng vừa mất, tháp chưa xây xong. Nếu nhân vì thổ tặc loạn lạc mà bỏ đi, thì mọi người sẽ trách là bất hiếu, cho nên không đi. Hiện nay Hoa Sơn đã trở thành vùng binh lửa (Hán: nạn địa). Nếu như thổ tặc tới lui như cũ, rồi lại có người báo cáo trong chùa chứa chấp, chúng tăng chẳng lẽ cứ ngồi đó mà đợi chết hay sao. Bởi vậy tôi không làm trụ trì nữa. Giả như tháp chưa xây xong, cũng không mang tội bất hiếu.”
Quan họ Trần nói: “Thầy đừng nên lo lắng việc sau này. Hai vị quan họ Ba, họ Ngao cùng với tôi đều làm hộ pháp cho chùa. Chùa Hoa Sơn sẽ là chùa hương hỏa của triều đình. Từ nay về sau quan quân sẽ không đến nữa. Nếu như có binh lính hoặc kẻ nào đến xâm hại, thầy cứ viết thư báo cho tôi, tôi sẽ bắt họ chém đầu. Hôm nay tôi viết cho thầy một tờ cáo thị đem về chùa treo lên.”
Tôi nói: “Hôm nay xin phụng mệnh làm trụ trì. Còn việc Tôn thái giám đem ruộng đất của chùa khai báo nộp quan, đó không phải là tài sản riêng của ông ấy, xin hãy hoàn lại cho chùa.”
Quan họ Trần vui vẻ hoàn lại tất cả. Tôi cùng đại chúng đồng cảm tạ rồi trở về chùa.
Về đến chùa, vào Chánh điện lạy Phật, bất giác nghẹn ngào, nước mắt tuôn rơi không dứt. Có duyên gì mà vẫn còn được chiêm ngưỡng Kim Nhan như vầy!
Xóm Nghiêm Hạng dưới chân núi có một người họ Trần là đệ tử quy y của chùa. Tối ngày mười ba, nghe có quân Thanh vây chùa, áp giải toàn thể tăng chúng đến doanh trại, cảm thấy rất lo lắng. Đến ngày mười lăm muốn lên chùa nghe ngóng sự tình, mấy người con cháu đều khuyên rằng lúc này binh lính còn ở núi Đông Tạ, vả lại trên núi Hoa Sơn xác chết ngổn ngang, trên đường không một bóng người qua lại, không nên lên núi. Họ Trần nói với họ: “Đệ tử nghe thầy có nạn, lẽ nào nhẫn tâm ngồi nhìn.”
Vào khoảng giữa trưa tìm lên chùa, thấy đại chúng đều được thả về. Sau khi hỏi han đầu đuôi câu chuyện, họ Trần ra về cảm thấy rất là vui vẻ.
Thầy A xà lê Hương Tuyết khởi kỳ truyền giới tại chùa Thượng Phương, phủ Trấn Giang. Hai sư huynh đệ thầy Thuần Chi, nhân dịp đi mua nhang đèn ghé đến chùa Thượng Phương xin nghỉ đêm. Thầy Hương Tuyết nói: “Chùa Hoa Sơn hữu sự, đừng liên lụy đến giới kỳ của tôi, xin hãy đi nơi khác tá túc.”
Hai sư huynh đệ thầy Thuần Chi nghe xong đành phải gạt lệ đi ra. Đến ngày mười tám, hai người trở về chùa thuật lại, đại chúng nghe xong ai cũng thở dài chán ngán. Tôi nói: “Hoa Sơn là nơi thờ toàn thân xá lợi của Hòa thượng. Không những nghe chùa có nạn, không lo không hỏi, mà đối với người sống cũng không cho tá túc. Thầy Hương Tuyết nỡ nào có lòng dạ bạc bẽo như vậy! Còn như vị cư sĩ họ Trần kia sao lại có tình nghĩa như vậy!”
Nửa tháng sau, có một gã thanh niên mặc quân phục đến chùa. Đại chúng giống như con chim đã bị trúng tên, vừa thấy đã cảm thấy lo sợ. Tôi bèn ra tiếp, hỏi han một cách nhỏ nhẹ. Hắn nói: “Dinh của quan huyện họ Trần cần ngựa.”
Tôi nói: “Trong chùa quả thật có một con ngựa tốt. Tôi sẽ giao cho anh.”
Gã thanh niên nghe nói lộ vẻ vui mừng. Tôi bèn hỏi tiếp: “Bây giờ giao ngựa cho anh, nhưng anh có đem chứng cứ gì không?”
Hắn bèn rút một tờ thiếp từ bên hông ra đưa cho tôi xem. Tôi thấy dấu ấn không phải là chu sa mà là đất đỏ. Tôi bèn cầm tờ thiếp trong tay, quát to: “Anh là thổ tặc đảng nào, mà dám đến chùa lừa gạt lấy ngựa đem đi. Anh chưa nghe ba quan lớn họ Ba, họ Ngao và họ Trần đã làm hộ pháp cho chùa này hay sao? Hãy bắt trói hắn lại, giải đến quan huyện!”
Gã thanh niên nghe xong bèn quỳ xuống, giập đầu xin tha mạng, nói rằng hắn không muốn đi, nhưng tên đầu đảng là Trương Côn sai hắn đến. Nói xong bèn lớn tiếng khóc òa không dứt. Lúc đó, đột nhiên trời đổ mưa thật lớn, tôi cảm thấy thương hại bèn nói: “Nay tôi tha cho anh, nếu còn trở lại, chắc chắn sẽ không được tha thứ. Cho anh một đôi giày cỏ, một cây dù. Hãy đi cho lẹ!”
Hắn cởi đôi giày da, mang giày cỏ, chạy mất dạng vào trong cơn mưa tầm tã. Từ đó về sau, vùng Hoa Sơn thái bình, thổ tặc tuyệt tích.
Tháng hai năm Thuận Trị thứ sáu, có một hai đệ tử của thầy Đạt Chiếu, tôi là Giáo thọ truyền giới cho bọn họ, cố ý vi phạm tăng quy. Thầy Đạt Chiếu làm ngơ không chịu quở trách. Tôi bèn rời chùa xuống núi, qua sông định đi lên núi Bắc Ngũ Đài. Đến Quan Sơn ở Trừ Châu, thì gặp thầy Giám viện Trạm Nhất giữ lại, cầu được thọ giới. Thầy Nguyện Vân là đệ tử xuất gia của Hòa thượng, tôi cũng là giáo thọ của thầy ấy, đang học tập giới luật trên núi Hoa Sơn, tụ họp các vị đồng học ở Cảnh Đường, trách cứ khuyên nhắc bọn họ. Thầy ấy nói với thầy Đạt Chiếu: “Hòa thượng Kiến Nguyệt là người mà cố Hòa thượng Tam Muội chọn làm người kế vị chức vị Phương trượng, lại là người đã bảo tồn đạo trường trong lúc Hoa Sơn gặp ách nạn. Đáng lý phải nên tôn trọng quy luật, nghe lời chỉ dạy, y chỉ tu hành. Tại sao lại dám kháng cự làm ngài sầu não, hơn nữa, lại tự phá hoại môn đình. H ai đắc tội với Phương trượng, tức là đắc tội với cố Hòa thượng.” Nói xong bèn viết giấy thông báo trục xuất những người không tuân thủ giới luật.
Sau đó, hai thầy Đạt Chiếu và Ly Ngôn đến Quan Sơn ở Trừ Châu để đón tôi trở về chùa. Từ đó mọi người đều tuân thủ luật quy một cách nghiêm chỉnh. Tôi bèn kiến lập Mộc giới đàn để truyền thọ cụ túc giới. Số đại chúng trong chùa không bao giờ dưới ba trăm người, lương thực tồn trữ trong kho tuy chỉ đủ ăn vài ngày, thế nhưng ngày nào cũng đủ ăn.
Mùa đông năm Thuận Trị thứ sáu, có hội trưởng hội Trường Xuân ở phủ Ninh Quốc đến thỉnh tôi đến đó làm phương trượng, tôi hứa sẽ cứu xét lại. Qua năm Thuận Trị thứ bảy, tôi được năm mươi tuổi, đàn việt bốn phương tấp nập cúng dường, các vị trưởng lão của các tùng lâm cũng đến quang lâm chúc thọ.
Có thầy Mịch Tâm là đệ tử của cố Hòa thượng, cũng là tôn chứng sư của tôi, muốn giành chức Phương trượng. Sáng sớm ngày mười lăm tháng tư, tôi cho người đánh bảng triệu tập đại chúng nơi phương trượng, mời thầy Mịch Tâm đến. Tôi bạch với đại chúng: “Từ xưa đến nay, chức vị phương trượng là do cung thỉnh người có đức hạnh đảm nhận. Tôi là người đức mỏng, không kham nổi trọng trách này. Hôm nay nhờ đại chúng tính toán sổ sách tiền bạc lương thực cho rõ ràng để xin giao lại. Số gạo trong kho là ba trăm thạch, số tiền là hơn hai trăm lượng bạc và chín vạn quan tiền. Nay xin lấy năm vạn hai ngàn quan tiền chia đều ra cúng dường đại chúng. Số lượng dầu muối đồ khô trong nhà kho đủ để dùng trong một năm.”
Sau khi đảnh lễ thầy Mịch Tâm, tôi bèn đi đến Đông Lầu, không hề ngoảnh mặt lại. Hôm sau, ngày mười sáu, cùng đại chúng làm lễ tiền an cư. Qua ngày mười bảy, làm lễ từ tạ tháp của Hòa thượng. Trong giới luật cho phép trong trường hợp có nạn duyên, có thể đến nơi khác an cư, tôi bèn nói với đại chúng: “Ngày mai tôi sẽ đến hội Trường Sinh ở phủ Ninh Quốc để an cư.”
Đại chúng đều bẩm bạch là tất cả muốn cùng đi với tôi xuống núi. Tôi nói với họ: “Hoa Sơn là nơi cố Hòa thượng đã đổi phương hướng để trung hưng giới luật. Hơn nữa, ngài đã viên tịch và xây tháp tại đây. Đây là tổ đình của chúng ta. Tôi đã từng nguyện thường được ở đây để làm thị giả, quét tước chăm sóc bảo tháp của ngài. Hiện nay do nhân duyên nào mà phải như vầy! Bây giờ tôi đề nghị với đại chúng. Ai muốn ở lại thay tôi chăm sóc tổ đình, xin đứng qua bên trái. Sau này vẫn có cơ hội sớm gặp lại nhau. Còn những ai nhất định đi theo, xin đứng qua bên phải.”
Đại chúng y theo lời, phân làm hai nhóm. Những người đi theo tôi nhiều hơn phân nửa, khoảng hơn một trăm hai mươi người.
Sáng ngày mười tám, thầy phó trụ trì Lý Trung đưa cho tôi ba mươi lượng bạc làm lộ phí. Tôi cười không nhận. Thầy ấy nói: “Đây là tiền hương nghi của ngài, chứ không phải là tiền của đại chúng.”
Tôi nói: “Giao thì giao hết, sao lại còn phân biệt.”
Sau khi ăn sáng xong, chúng tôi bèn xuống núi. Đến cầu Lão Bồng thì gặp vị Đạo nhân họ Trương mời chúng tôi dùng cơm trưa, sau đó ông ấy lại chuẩn bị thuyền để ti n đưa. Đến tối, chúng tôi tạm trú tại Nhị Trung Từ ở Hạ Quan. Thầy Giám viện cũng là đệ tử thọ giới của tôi, giữ chúng tôi ở lại ba ngày. Các thiện nam tín nữ tìm đến xin quy y, cúng gạo hơn bốn mươi thạch, tiền hương nghi được một trăm lượng bạc. Chúng tôi bèn mua thuyền, đi ngược về mạn thượng lưu, đến cuối tháng tư thì đến Ninh Quốc. Chủ nhân tiếp đãi chúng tôi rất là chu đáo.
Đầu tháng năm, có hai ba đệ tử từ Hoa Sơn đến trễ, kể lại rằng sau khi tôi xuống núi, quan huyện Cú Dung nghe tin thầy Mịch Tâm giành chức Phương trượng, và tôi đã nhường chức xuống núi, bèn gọi thầy Mịch Tâm đến Hạ viện ở Long Đàm để quở trách. Ra kỳ hạn trong vòng nửa tháng phải thỉnh tôi trở về chùa. Kế đó có một vị hộ pháp của chùa là cư sĩ Trần Mẫn Chiêu lên chùa lễ Phật, lớn tiếng khóc lóc, nói với đại chúng: “Hòa thượng trụ trì vừa xuống núi, tùng lâm đã lập tức bại hoại. Gốc họa này không phải chỉ do một mình thầy Mịch Tâm, mà là do đồ đảng của thầy ấy bày mưu lập kế. Đáng lý phải trình lên nhà chức trách, nhưng hiện tại xin hãy tạm khoan thứ cho họ. Con là hộ pháp cho chùa, việc đầu tiên là phải hộ trì tăng đoàn. Con sẽ chọn ngày tự mình đi Tuyên Thành cung thỉnh Hòa thượng (Kiến Nguyệt) trở về.”
Ngày hai mươi mốt tháng bảy, họ Trần đến Tuyên Thành gặp tôi, trình bày sự việc trên Hoa Sơn và nhân duyên đến tiếp rước tôi trở về chùa, nghe xong tôi cảm thấy ngượng ngùng, xúc động trước sự hộ pháp ân cần của tín chúng.
Ngày hai mươi bốn, tôi ra lệnh cho đại chúng đi thuyền trở về trước, còn tôi và họ Trần thì đi đường bộ. Ngày hai mươi chín, chúng tôi đến Giang Ninh. Ngày hôm sau, Hòa thượng Giác Lãng và các cư sĩ hộ pháp cùng nhau đưa tôi về chùa. Đến nông trường nhà họ Phạm dưới chân núi thì trời đã nhá nhem tối. Những người dân trong làng nghe tin tôi trở về chùa, mọi người đều tranh nhau ra xem, những người khác thì cầm đuốc đưa đường. Ánh sáng chói rực như ban ngày. Hòa thượng Giác Lãng cười lớn tán thán, nói với các vị hộ pháp: “Ngài Kiến Nguyệt làm trụ trì cảm hóa mọi người như vậy, đây chính là điềm lành Đạo pháp đại hưng.”
Sáng hôm sau, tôi kêu các vị chấp sự cũ trong chùa, đề nghị thiết trai cảm tạ các vị hộ pháp. Tôi hỏi họ vật dụng của thường trụ còn lại bao nhiêu, thầy Giám viện Nhược Kiến trả lời: “Tiền bạc đã hết nhẵn, gạo chỉ còn vài thạch, nhà kho thì trống không.”
Tôi thở dài nói: “Tôi xuống núi chưa đến năm tháng, tại sao thường trụ lại đến nông nỗi này!”
Thầy Nhược Kiến trả lời: “Sau khi Hòa thượng đi rồi, trong chùa không còn nghiêm trì giới luật. Đại chúng chỉ muốn phân tán. Thầy Mịch Tâm ngày nào cũng ăn uống hoang phí, vả lại không có ai đến cúng dường, thành thử mới hao hụt như vậy. Giống như uống nước ao cạn mà thiếu trời mưa (Hán: do ẩm tử thủy nhi phạp hoạt tuyền), cho nên mới đến nông nỗi này. Con cũng không thể quản lý gì được.”
Các cư sĩ hộ pháp nghe nói, tất cả đều nhíu mày buồn bực. Tôi nói: “Lần trở về núi kỳ này, khác xa với lần từ doanh trại của quân binh trở về. Chúng ta hãy tùy duyên mà sinh hoạt, chớ nên lo âu!”
Những người từ xa tìm đến học giới càng lúc càng đông. Tôi cáo bạch với đại chúng: “Cuộc sống trong chùa đạm bạc. Nếu như thêm người, chỉ có thể thêm nước uống, chứ không thể thêm gạo. Nếu ai không kham nổi sự đạm bạc, xin hãy đi tìm nơi khác.”
Tất cả mọi người nghe xong đều nguyện ở lại, không một ai chịu bỏ đi.
Bắt đầu từ năm Thuận Trị thứ tám, vào mỗi mùa đông hoặc mùa hạ, tụ tập mọi người tại một nơi niệm Phật mười ngày liên tiếp. Buổi trưa chỉ dùng cháo lót lòng, không tăng không giảm. Vào ngày rằm tháng bảy thì tổ chức hội Vu Lan Bồn. Phòng Phương trượng nếu có tiền bạc hay vật dụng gì, đều đem ra phân phát hết cho đại chúng, dùng nhân duyên này để báo đáp ân sâu của cha mẹ. Từ đó, những sự việc này trở thành những quy luật cố định của thường trụ.
Năm Thuận Trị thứ chín, vùng Giang Nam bị hạn hán và nạn châu chấu hoành hành, cây cỏ đều trơ trụi, không gặt hái gì được. Những người dân trong các làng mạc dưới chân núi, già trẻ gái trai, đều lên chùa xin ăn. Trong số đó, không chỉ là những người nghèo khổ, mà còn có cả những kẻ có ruộng vườn. Thường thường là một trăm cho đến hai trăm người. Tôi cáo bạch đại chúng giảm thiểu phần ăn để làm việc cứu tế. Một hôm, vào lúc giờ ngọ, số người đến xin nhiều hơn lúc thường gấp bội, đứng đầy chật cả trong chùa. Tôi bèn dùng phương tiện khai thị cho bọn họ: “Các vị ngày hôm nay bất đắc dĩ phải lên núi. Mọi người nên quán xét nhân duyên quá khứ của mình, là vì đời trước không tin Tam bảo, bỏn sẻn không chịu bố thí người nghèo khổ, cho nên mới chiêu cảm quả báo như hiện nay. Bây giờ chúng tăng bố thí cho quý vị mỗi người ba xu, tôi sẽ đi đến trước mặt quý vị, mỗi người hãy cúng dường cho tôi một xu. Tất cả mọi người hãy niệm Phật, hai tay dâng lên cúng dường. Tôi sẽ đem tiền này cúng dường cho chúng tăng, để trồng phước điền thanh tịnh cho quý vị. Trong tương lai sẽ không còn bị bần cùng khổ sở.”
Lúc tôi đi chung quanh hóa duyên, tiếng niệm Phật vang rền như sấm. Tôi bèn cho người đem hết gạo trong kho ra nấu cơm bố thí cho bọn họ. Mọi người đều được ăn uống no đủ, sau đó tất cả đều niệm Phật ra về. Thường trụ không còn gạo, sáng hôm sau đại chúng trong chùa phải uống nước nóng cầm hơi. Mãi đến chiều thì có cư sĩ Hoàng Quân Phụ ở Giang Ninh đem mười thạch gạo lên cúng dường.
Trong tháng hai năm Khang Hy thứ mười, có bà ni Tâm Văn ở Hán Dương tỉnh Hồ Bắc, tuổi khoảng năm mươi, có chí muốn học giới, cùng chín người đệ tử, không ngại đường xa, ngồi thuyền tìm đến Hoa Sơn. Bọn họ mười người lên núi, cầu xin được an cư ba tháng, lại xin cúng dường cho chùa mười thạch gạo và hai mươi lạng bạc. Tôi thấy bọn họ có vẻ thiết tha thành khẩn bèn thương xót chấp nhận. Đến ngày thiết trai cúng chúng (trai tăng), bọn họ không chịu vào trai đường đảnh lễ chúng tăng. Sau khi thọ trai, tôi bèn triệu tập đại chúng, gọi bọn họ vào nói: “Các vị phát tâm từ xa đến đây học giới, tại sao lại không chịu vào Trai đường đảnh lễ chúng tăng. Giới luật chế định tỳ kheo ni dù một trăm tuổi hạ cũng phải đảnh lễ tỳ kheo một tuổi hạ. Nay lại dám tự đại, coi thường chúng tăng, đây không phải tư cách của người học giới.”
Bà ni nói: “Chúng tôi ở Hồ Bắc, nếu nơi nào có bậc thiện tri thức, đều đến thiết trai cúng dường. Các vị trụ trì đều khoản đãi chúng tôi như thượng khách.”
Tôi nói: “Bọn họ tham lam lợi dưỡng, bại hoại pháp môn. Mỗi khi thấy bà ni nào đến cúng dường, thì đon đả cung kính như mẹ đẻ, hầu mong được thêm cúng dường hậu hỷ. Đó là dòi trùng trên thân sư tử, không phải là thiện tri thức chân thực. Chùa Hoa Sơn chúng tôi tuy sống đạm bạc, chẳng thà hết gạo chịu đói, nhất quyết không vi phạm giới luật để mong cầu lợi dưỡng. Bữa trai tăng hôm nay coi như đã cúng dường thường trụ, bây giờ hoàn lại số bạc cho bà. Gạo thì ở dưới Hạ viện, bà hãy đem nó mà đi nơi khác.”
Bà ni tỏ vẻ ương ngạnh, lấy tiền xong bèn dẫn đồ đệ xuống núi. Có một đệ tử của tôi là Cổ Đàm vào phòng Phương trượng bạch rằng: “Bà ni đó từ xa đến, thường trụ hiện nay lại thiếu thốn. Hòa thượng hãy dùng phương tiện nhiếp thọ. Thứ nhất là không làm cho họ thoái thất đạo tâm, thứ hai là đại chúng có được thực phẩm nửa tháng.”
Tôi bèn nghiêm mặt nói: “Chỉ cần chân thực tu hành, mọi người đều sẽ không bị đói. Chấn chỉnh pháp môn, chính là vào lúc đạm bạc mà hành động. Luật sư hành trì giới luật, chẳng lẽ h cứ thấy lợi dưỡng là vi phạm sự chế định của đức Phật hay sao?”
Cổ Đàm nghe xong, tỏ vẻ ngượng ngùng bèn cáo lui.
Ba ngày sau, bà ni Tâm Văn lại dẫn mấy đệ tử trở lên núi, cùng quỳ trước cửa phòng Phương trượng khóc lóc, nói: “Chúng con ở Hồ Bắc đã mông muội ngu ám như vậy, chứ thực sự không phải tự đại xem thường chúng tăng. Thành khẩn cầu nguyện Hòa thượng từ bi tha thứ cho chúng con được sám hối. Chúng con nguyện tuân hành tất cả những lời răn dạy.”
Các vị chấp sự trong chùa cũng quỳ xuống cầu xin giùm cho bọn họ. Do đó, tôi đã ra lệnh xếp đặt một sơn trang dưới chân núi cho bọn họ kết giới an cư. Lại sai các vị A xà lê cứ mỗi nửa tháng đến đó dạy giới luật cho họ. Cũng do nhân duyên này, tôi đã soạn một quyển Tỳ Kheo Ni Chánh Phạm, và cho lưu hành khắp mọi nơi.
Tuần đầu tháng tám, có thầy Hội Nhất, phụ trách Hậu đường, là người tu thiền lâu năm, lên núi xin được y chỉ học tập giới luật. Gặp lúc trong chùa đang phơi Đại Tạng Kinh, thầy Hội Nhất lật nhằm quyển Bát Chu Tam Muội Kinh, ngày hôm sau đến bạch với tôi rằng: “Trong Đại Tạng có quyển Bát Chu Tam Muội Kinh, đây là quyển kinh tông yếu của Tịnh Độ Tông, thuộc về loại rất khó hành trì.” Tôi nói: “Lúc tôi còn ở Bắc Ngũ Đài, cũng đã từng được nghe thiện tri thức khai thị. Trong chín mươi ngày, không ngồi không nằm, chỉ có đứng và đi. Sau khi đến núi này, đọc qua Hành Tập của Nam Sơn Luật tổ Đạo Tuyên, biết rằng đây là pháp môn mà ngài thường tu tập (theo sách vở ghi chép, ngài Đạo Tuyên đã tu Bát chu tam muội hai mươi lần). Sau này ít có người tu tập. Nếu như có thể xả bỏ thân này, thì tự nhiên sẽ tu được mà thôi.”
Nói xong, tôi bèn chọn ngày hai mươi tháng tám, từ tạ mọi sự, nhập thất tại phòng Phương trượng, tu tập Bát Chu Tam Muội trong chín mươi ngày, nguyện theo vết chân của luật tổ Đạo Tuyên. Đến ngày hai mươi mốt tháng mười một thì ra thất. Sang mùa thu năm Thuận Trị thứ mười, tôi lại tu Bát Chu Tam Muội lần thứ hai chín mươi ngày. Tự cảm thấy rất vui mừng hãnh diện là đã có cơ hội hai lần trồng nhân duyên Tịnh nghiệp, nhưng đồng thời cũng cảm thấy hổ thẹn là vì do nghiệp chướng sâu dầy cho nên không thu hoạch được nhiều sự lợi ích.
Đến như những việc y vào giới luật chế định để canh cải những quy lệ lỗi thời, nghiêm trì giới luật, soạn tập Tỳ Ni, cải chánh những tệ đoan, tất cả nhân duyên của sự giáo hóa, lãnh đạo, cùng những việc thiết lập giới đàn để làm mô phạm cho hậu học, mua ruộng đất để cúng dường chúng tăng, tất cả những sự việc tu tạo lớn nhỏ này, đều là vì muốn hoàn thành ý nguyện mà cố Hòa thượng Tam Muội đã kỳ vọng khi ngài cải đổi phương hướng của chùa Hoa Sơn, dùng đây để báo đáp ơn đức pháp nhũ thọ giới mà ngài đã ban bố cho tôi.
Mấy mươi năm qua lao tâm khổ nhọc, phấn đấu chi trì, chưởng quản Phật pháp, không nề lao khổ. Nay tôi đem kể hết cho tất cả đại chúng nghe. Các vị A xà lê Ly Ngôn, cùng các đại đệ tử theo tôi đã lâu ắt đều đã nghe đã thấy. Thế nhưng, tất cả pháp có hình tướng đều như mộng huy n, cho nên đặt tựa đề của quyển sách này là Nhất Mộng Mạn Ngôn, và xin được làm bài kệ như sau:
Nhất mộng nam du số thập thu, Gian nguy lịch tận sự phương hưu, Nễ kim vấn ngã nam du thuật, Nhưng bả mộng trung cảnh giới thù.
Tạm dịch:
Giấc mộng về Nam mấy chục năm,
Trải bao gian khổ, sự long đong,
Hôm nay bạn bảo tôi kể lại,
Chỉ đem mộng cảnh thuật lòng dòng./.