HÀNH LỤC
- PHẦN IV - HÀNH LỤC
- 47. Ba Lần Bị Đánh
- 48. Trồng Tùng
- 49. Đức Sơn
- 50. Chôn Sống
- 51. Thiền Sư Thanh Niên
- 52. Ngủ
- 53. Phổ Thỉnh
- 54. Phương Bắc Có Chỗ Trú
- 55. Không Đi Hà Nam Thì Đi Hà Bắc
- 56. Tháp Đạt Ma
- 57. Phỏng Vấn Long Quang
- 58. Phỏng Vấn Tam Phong
- 59. Phỏng Vấn Đại Từ
- 60. Phỏng Vấn Hoa Nghiêm
- 61. Phỏng Vấn Thúy Phong
- 62. Phỏng Vấn Tượng Điền
- 63. Phỏng Vấn Minh Hóa
- 64. Đến Phụng Lâm
- 65. Đối Thoại Với Phụng Lâm
- 66. Phỏng Vấn Kim Ngưu
- 67. Chánh Pháp Nhãn Tạng
- 68. Bạt.
47. Ba Lần Bị Đánh
Sư họ Hình tên Nghĩa Huyền, người Nam Hoa, Tào Châu. Từ nhỏ thông minh hơn người. Khi cắt tóc thọ giới cụ túc rất ham mộ Thiền tông. Theo học Hoàng Bá ba năm, công phu cực thuần khiết. Thủ tọa phê bình: -Tuy là hậu sinh, cùng chúng chẳng đồng. Lại hỏi: -Ông ở đây bao lâu rồi? -Ba năm rồi! -Đã tham vấn chưa? -Chưa, cũng chả biết hỏi gì! -Sao ông không hỏi hòa thượng: đại ý của Phật pháp là gì? Sư bèn đi hỏi, hỏi chưa dứt câu đã bị Hoàng Bá đánh. Khi trở lại, Thủ tọa hỏi: -Tham vấn thế nào? -Hỏi chưa dứt lời hòa thượng đã đánh, đệ tử không hiểu ý thế nào. -Ông đi hỏi nữa đi. Sư lại đi hỏi, Hoàng Bá lại đánh. Như thế ba lần hỏi, ba lần bị đánh. Sư đến thưa với Thủ tọa: -Nhờ lòng từ bi của thượng tọa đệ tử ba lần đi hỏi, ba lần đều bị đánh, tự hận chướng duyên, không lãnh hội được ý sâu của hòa thượng. Nay đến từ biệt để đi. -Trước khi ông đi, hãy đến giã từ hòa thượng. Sư lạy rồi lui ra. Thủ tọa đến chỗ hòa thượng bạch: -Ông sư trẻ đến thỉnh giáo hòa thượng là một vị rất có căn cơ, khi y đến từ biệt, xin sư phụ chỉ dạy, sau này y sẽ là một cây lớn cấp bóng mát cho nhiều người. Sư đến từ biệt. Hoàng Bá bảo: -Ông chẳng cần đi đến nơi nào khác, chỉ cần tới Cao An, chỗ ở của Đại Ngu, hắn sẽ giảng cho ông. Sư đến Đại Ngu. Đại Ngu hỏi: -Từ đâu đến? -Từ Hoàng Bá. -Hoàng Bá có câu gì chỉ dạy?
-Đệ tử ba lần hỏi đại ý của Phật pháp là gì, cả ba lần đều bị đánh, không biết có lỗi gì? -Hoàng Bá thật là lão bà tâm thiết, mệt sức huấn luyện cho ông, mà ông còn đến đây hỏi có lỗi hay không? Nghe lời nói đó sư bỗng nhiên đại ngộ: -Nguyên lai, thiền pháp của Hoàng Bá chỉ đơn giản như vậy. Đại Ngu nắm lấy sư hỏi: -Tên tiểu quỷ đái dầm này, lúc đầu còn hỏi có lỗi, không lỗi. Nay lại nói Thiền pháp của Hoàng Bá chỉ đơn giản như vậy. Ông thấy được đạo lý gì nói mau! nói mau! Sư đấm vào sườn Đại Ngu ba đấm. Đại Ngu đẩy sư ra: -Thầy ông là Hoàng Bá, không can dự gì đến tôi. Sư từ biệt Đại Ngu, trở lại Hoàng Bá. Hoàng Bá thấy sư đến, hỏi: -Cái gã này đến đến, đi đi bao giờ mới xong? -Chỉ vì thầy là lão bà tâm thiết. Chào hỏi xong bèn đứng hầu một bên. Hoàng Bá bảo: -Ông đi đâu? -Theo lời khuyên từ bi của thầy, con đến tham Đại Ngu. -Đại Ngu nói sao? Sư kể lại. Hoàng Bá bảo: -Tôi mà gập thì sẽ cho hắn một trận. -Việc gì phải đợi, cho ngay bây giờ. Sư đánh Hoàng Bá một chưởng. -Gã điên khùng này, dám đến đây mà vuốt râu cọp. Sư hét lên. Hoàng Bá gọi: -Thị giả! Mau dẫn gã điên khùng này vào tham đường! Về sau Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: -Lâm Tế được Đại Ngu dạy hay Hoàng Bá dạy? -Lâm Tế không những cưỡi đầu cọp, lại còn nắm đuôi cọp nữa.
Chú Thích:
-Nam Hoa: Đan huyện -Tào Châu: phủ Duyện Châu, tỉnh Sơn Đông. -Thủ tọa: vị sư coi các thiền tăng.
-Cao An: phủ Thuy An, tỉnh Giang tây, ở bờ phía Bắc của Cẩm Giang. -Đại Ngu: học trò Quy Tông, tiểu sử không rõ. -Thuần khiết: làm việc không lo lắng, không ham muốn, không bị dồn nén, không do dự.
Lúc học với Hoàng Bá, Lâm Tế công phu rất thuần khiết, nghĩa là giữ giới luật rất nghiêm về thân, khẩu, ý. Do đó tâm đã không còn vướng mắc vào 18 giới, sẵn sàng để giác ngộ. Hoàng Bá ba lần đánh Lâm Tế để thúc đẩy sự giác ngộ đó nhưng thất bại. -Lâm Tế đã ở trạng thái chín mùi: gậy trúc trăm trượng chỉ cần bước thêm bước nữa. Hoàng Bá đánh Lâm Tế ngụ ý tự tánh vốn ở Lâm Tế chứ không thể tìm ở phòng phương trượng.
*Lâm Tế Nghĩa Huyền là một nhân vật trọng yếu trong Thiền tông Trung Quốc. Ông là sáng tổ dòng thiền Lâm Tế, có ảnh hưởng rất sâu xa. Nhưng khi chưa khai ngộ ông cũng đã trải qua tình cảnh tường đồng vách sắt, tham tới tham lui vẫn chưa tìm được lối ra. Lâm Tế hỏi và bị Hoàng Bá đánh. Thứ nhất là để cắt đứt tư duy của Lâm Tế khiến Lâm Tế phá được trở ngại về tư duy. Thứ hai là chỉ cho Lâm Tế Phật tánh ở khắp mọi cơ, cảnh. Hoàng Bá đã từ bi chỉ cho Lâm Tế đáp án, tiếc thay lý tánh của Lâm Tế quá mạnh, bị đánh ba lần mà vẫn không lay động được. Thật nghĩa của Phật pháp vốn không dùng lời để tả ra được, do đó Hoàng Bá đánh để chỉ thị ông. Lâm Tế cố nắm giữ sự suy luận không chịu bỏ xuống thì không có cách nào vào được bể tự tánh. Ba lần đánh của Hoàng Bá đủ để tạo nên nghi tình cho Lâm Tế. Ông ôm theo mối nghi tình đó mà tìm đến Đại Ngu. Khi Đại Ngu bảo ông: -Hoàng Bá đã cho ông câu trả lời rồi còn gì! Lời của Đại Ngu giống như dùng kim chọc vào một quả bóng đã căng phồng. Lâm Tế đã hiểu lý do tại sao Hoàng Bá đánh mình nên khi Đại Ngu hỏi đã ngộ gì, liền dùng thủ pháp của Hoàng Bá mà thoi cho Đại Ngu ba đấm.
(Liệu Duyệt Bằng)
🌲🌲🌲
48. Trồng Tùng
Có lần Lâm Tế trồng nhiều tùng. Hoàng Bá hỏi: -Ông trồng nhiều tùng ở chốn núi sâu này để làm gì? -Thứ nhất là làm đẹp sơn môn, thứ nhì là làm mẫu mực cho người sau. Nói rồi dùng cuốc, cuốc ba nhát. Hoàng Bá bảo: -Dù vậy ông vẫn bị đánh 30 gậy. Sư lại cuốc ba nhát, vừa cuốc vừa rên hừ hừ. Hoàng Bá nói: -Tông phái ta đến ông sẽ hưng thịnh. Về sau Quy Sơn đem chuyện trên ra hỏi Ngưỡng Sơn: -Hoàng Bá chỉ trao pháp cho Lâm Tế hay còn trao cho kẻ nào nữa? -Có, nhưng vì lâu quá rồi, không muốn kể cho hòa thượng. -Dầu vậy, ta vẫn muốn biết, ông nói nghe thử! -Thiên tử ra lệnh, Ngô Việt thi hành. Gập gió lớn thì ngừng.
Chú Thích:
-Ngô Việt: chỉ nơi sanh của Phong Huyệt (898-973) -Gập gió lớn thì ngừng: tiên đoán Phong Huyệt sẽ vào núi Phong Huyệt ở Nhữ Châu mà ẩn cư (Ở phía Tây tỉnh Hồ Nam ngày nay). Có tài liệu lại cho là để chỉ Đại Huệ (1089-1163), nhưng đa số đều nhận là Phong Huyệt.
*Phàm làm việc gì ta cũng nên làm với lòng tự tin. Hoàng Bá biết Lâm Tế đã ngộ và đang trồng Thiền Lâm Tế ở tự viện, nhưng ông vẫn khảo nghiệm. Ngay cả khi bị Hoàng Bá chỉ trích Lâm Tế vẫn không lay động. Cuối cùng, Hoàng Bá bầy tỏ sự hoan hỷ. Khi một người giác ngộ, sự biểu hiện có thể khác, nhưng bản chất thì đồng. (Gyomay M. Kubose)
49. Đức Sơn
Sư đứng thị hầu Đức Sơn. Đức Sơn nói: -Hôm nay tôi mệt lắm!
-Lão hán này nói mớ trong mộng chăng? Đức Sơn đánh sư một chưởng. Sư nắm lấy ghế Đức Sơn đang ngồi, lật ngược. Đức Sơn bèn thôi.
50. Chôn Sống
Một lần sư cùng mọi người làm ruộng, thấy Hoàng Bá đến bèn dựng cuốc mà đứng. Hoàng Bá bảo: -Gã này mệt dữ! -Cuốc còn chưa sờ đến, mệt cái gì? Hoàng Bá đánh sư, sư nắm lấy gậy đẩy một cái, Hoàng Bá liền ngã. Hoàng Bá gọi: -Duy na, Duy na! mau đỡ tôi dậy. Duy na chạy lại đỡ Hoàng Bá lên: -Hòa thượng sao lại dung túng cho gã sư điên vô lễ này? Hoàng Bá đánh Duy na. Lúc đó sư cuốc đất nói: -Ở các nơi đều hỏa táng, còn ở đây thì bị chôn sống! Về sau Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: -Hoàng Bá đánh Duy Na là ý gì? -Tên trộm chạy rồi, kẻ đuổi theo lại bị đánh.
Chú Thích:
-Duy na: dịch từ Karmadarna, chỉ vị sư phụ trách quản lý các thiền sinh.
*Ở các nơi . . . chôn sống: ở các nơi phải chờ đến khi chết mới được lên Nát Bàn, còn ở đây và ngay bây giờ tôi đã ở Nát Bàn vì đã cắt đứt mọi liên hệ với thế giới hiện tượng. (Lu K’oan yu)
*Công án này cho ta biết điều gì? Tâm Lâm tế đã tự do, tự tại, độc lập hy vọng được Hoàn Bá chấp nhận. Nếu Hoàng Bá không chấp nhận thì là công phu chưa đủ, cần phải cố gắng thêm. Do đó Lâm tế thừa cơ hội thỉnh giáo Hoàng Bá. Chỉ là ông dùng động tác để biểu lộ tâm cảnh. Sư phụ đánh ông, ông dám nắm lấy gậy, đẩy ngã
sư phụ. Nếu là người khác thì có dám làm như thế không / Ý ông là: đánh con không phải là biện pháp, cũng chẳng có tác dụng gì, không cần phải đánh con. Do đó đẩy ngã sư phụ, trực tiếp dùng động tác để biểu lộ tâm cảnh. Nếu động tác này là giả thì đối với người có minh nhãn như Hoàng Bá sẽ nhận ra ngay sơ hở và sẽ đánh cho ông một trận, nhưng Hoàng Bá lại đánh duy na. Duy na không biết giữa 2 người đó đã xẩy ra chuyện gì nên mới đưa ra lời bình luận. Hoàng Bá nhận rằng ông này phải bị đánh thì mới hiểu chuyện. Lâm tế lại tiến thêm 1 bước nữa biểu thị tâm cảnh không ỷ lại, vô ngại, tự tại nên nói: -Nhiều người chết rồi thì đem thiêu, lão hòa thượng chưa chết, con muốn đem người chôn sống. Ý ông là: con không còn là con nít, không cần lão sư chăm sóc giúp đỡ gì nữa. Lúc đó, đối với ông lão sư Hoàng Bá coi như đã chết rồi. không phải là ông muốn Hoàng Bá chết mà là biểu thị ông đã đầu đội trời, chân đạp đất, tự do, tự tại. (Thánh Nghiêm)
51. Thiền Sư Thanh Niên
Một hôm sư thiền tọa ở trước tăng đường, thấy Hoàng Bá tới bèn nhắm mắt lại. Hoàng Bá làm bộ sợ hãi trở về phòng phương trượng. Sư theo vào. Hoàng Bá bảo Thủ tọa đứng hầu: -Tiểu hòa thượng này tuy nhỏ tuổi, nhưng đối với sự này rất tương đắc. -Sư phụ không ra khỏi cửa một bước, làm sao hiểu được gã tiểu hòa thượng này? Hoàng Bá nghe lời nói đó bèn tự vả vào miệng. Thủ tọa bảo: -Sư phụ biết vậy là được rồi!
Chú Thích:
-Đối với sự này rất tâm đắc: ý nói nếu nội tâm hỗn loạn thì ngồi thiền cũng vô dụng.
52. Ngủ
Sư ngủ ở tăng đường. Hoàng Bá tới nơi thấy vậy, lấy gậy gõ xuống phản một cái. Sư ngẩng đầu lên thấy Hoàng Bá lại ngủ tiếp. Hoàng Bá lại gõ xuống phản một cái nữa. Sau đó Hoàng Bá tới gian trên, thấy Thủ tọa đang ngồi thiền, bèn nói: -Phía dưới tiểu hòa thượng đang ngồi thiền, sao ông lại ngồi đây mà nghĩ vẩn vơ? -Ông già này định làm gì? Hoàng Bá gõ xuống phản một cái rồi đi ra. Về say Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: -Hoàng Bá vào tăng đường làm gì? -Hai thái bằng điểm một tái (bên tám lạng, bên nửa cân)
Chú Thích:
-Tăng đường: chỗ các sư ngồi thiền.
- Không phải chỉ có ngồi mới là thiền. Thiền là cả trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi. Buồn ngủ là một trở ngại rất lớn cho thiền sinh. Uống trà giúp cho tỉnh ngủ là một tục lệ rất phổ thông ở đời Đường. Lâm Tế ngủ không dụng tâm, không chấp tướng tu hành. Thủ tọa chấp tướng ngồi nhưng nội tâm vẫn chưa dứt được vọng tưởng giống như Hoài Nhượng nói mài gạch để thành gương. Do đó không được Hoàng Bá chấp nhận. (Bồ Đề Học xã).
*Lâm Tế ngủ thì Hoàng Bá lại nói là đang thiền, thủ tọa thiền thì Hoàng Bá lại nói là đang vọng tưởng, thế có phải là điên đảo không? Câu trả lời là không. Thường thì người ta cho ngủ là trạng thái vô tri, vô giác có thể tạo mộng. Còn thiền là tâm từ phù trầm tới tỉnh thức nhất tâm, nhất cảnh cho tới định vô tâm, vô niệm. Lâm Tế là người đã đại ngộ, tỉnh và mộng là một. Tỉnh thì dĩ nhiên là tốt, nhưng hôn trầm cũng không sao. Người đại ngộ không thích tỉnh, nhưng cũng không ghét hôn trầm, dù tỉnh hay mộng người đó đều có một loại thần chí thanh tỉnh gọi là Đạo cộng định xuyên
suốt tỉnh mộng, khiến lúc nào cũng làm chủ được mình. Do đó khi Lâm Tế bị Hoàng Bá gọi tỉnh, lại nhắm mắt ngủ lại. Còn Thủ tọa ở đây có lẽ là Mục Châu Trần Tôn Túc, một cao đồ của Hoàng Bá. Hoàng Bá nói Lâm Tế đang tọa thiền sao ngươi lại ở đây vọng tưởng? là lừa dối Trần Tôn Túc. Cứ cho là Trần Tôn Túc ngồi thiền để trừ vọng tưởng đi. Vọng tưởng, niệm đầu cũng là Phật tánh phù trầm du hý, không có gì là không tốt. Câu nói của Hoàng Bá là một ngữ bệnh, do đó Trần Tôn Túc nói thẳng: -Ông già này nói bậy gì đó? Hoàng Bá không chiếm được tiện nghi chỉ còn cách gõ vào giường tỏ ý chấp nhận, rồi ra. (Liệu Duyệt Bằng)
53. Phổ Thỉnh
Một hôm phổ thỉnh, sư đi sau Hoàng Bá. Hoàng Bá ngoảnh lại thấy sư tay không bèn hỏi: -Cuốc của ông đâu? -Không biết bị ai lấy đi rồi! -Lại đây tôi có chuyện muốn nói với ông. Sư lại gần, Hoàng Bá giơ cuốc lên: -Chỉ là cái này mà không ai đụng đến được. Sư cướp lấy cái cuốc trong tay Hoàng Bá, giơ lên: -Thầy vừa nói không ai đụng đến được, sao bây giờ lại ở trong tay con? -Hôm nay có người phổ thỉnh cho chúng ta. Hoàng Bá nói rồi bèn trở về thiền viện. Về sau Quy Sơn đem chuyện này hỏi Ngưỡng Sơn: -Cái cuốc ở trong tay Hoàng Bá, sao lại bị Lâm Tế cướp mất? -Kẻ cướp tuy là tiểu nhân nhưng trí quá quân tử.
Chú Thích: -Cuốc chỉ tự tánh, ai cũng có, không ai cướp được của ai.
54. Phương Bắc Có Chỗ Trú
Lâm Tế mang thư của Hoàng Bá đến Quy Sơn. Ngưỡng Sơn là tri khách nhận thư rồi bèn hỏi: -Cái này là của Hoàng Bá, còn cái của hòa thượng đâu? Lâm Tế giơ tay đánh, Ngưỡng Sơn ngăn lại: -Lão huynh biết vậy là được rồi! Hai người cùng đi gập Quy Sơn. Quy Sơn hỏi: -Sư huynh Hoàng Bá có bao nhiêu tăng chúng? -700. -Ai là Thủ tọa? -Người vừa đưa thư xong. Ở đây có bao nhiêu đồ chúng? -1.500. -Nhiều dữ! -Hoàng Bá sư huynh cũng không thiếu. Sư từ biệt Quy Sơn. Ngưỡng Sơn đưa ra cửa: -Sư huynh nên đi về Bắc sẽ có chỗ trú. -Lại có chuyện đó sao? -Sư huynh cứ đi đi, ở đó sẽ có người giúp đỡ, người này có đầu, không đuôi, có khởi đầu mà chẳng có kết cục. Lâm Tế đến Trấn Châu, Phổ Hóa đã ở đó, giúp đỡ sư trong việc lập tăng đường. Khi việc giáo hóa của sư đã trở nên thịnh hành, Phổ Hóa tự nhiên đi mất.
Chú Thích:
-Tri khách tăng: là một trong ba vị sư quản sự trong thiền viện, lo việc tiếp khách. -Có đầu, không đuôi: ám chỉ Phổ Hóa. Từ Hoàng Bá ở Giang Tây đến núi Quy Sơn ở Hồ Nam là 700 lý (230 miles).
55. Không Đi Hà Nam Thì Đi Hà Bắc
Lâm Tế đến từ biệt Hoàng Bá, Hoàng Bá hỏi: -Ông định đi đâu? -Không đi Hà Nam thì đi Hà Bắc.
Hoàng Bá đánh, sư giữ tay Hoàng Bá. Hoàng Bá cười ha hả ; -Thị giả mang thiền bản và kỷ án Bách Trượng ra đâycho tôi! -Tiểu hòa thượng mau mang lửa tới. -Tuy tôi nói vậy, nhưng đi thì cứ đi, sau này ông sẽ chiết phục được thiên hạ. Về sau Quy Sơn đem chuyện này ra hỏi Ngưỡng Sơn: -Lâm Tế có phụ Hoàng Bá không? -Không. -Ông nghĩ sao? -Chỉ người mang ơn mới biết báo ơn. -Từ cổ có việc đó chăng? -Có, nhưng chuyện lâu rồi không muốn nói với hòa thượng. -Dầu vậy tôi vẫn muốn biết, ông cứ nói nghe coi. -Như trong pháp hội Lăng Nghiêm, A Nan tán Phật: “Con nguyện đem tâm này cung hiến hằng sa quốc thổ để báo Phật ân.” Đó chẳng là tiền lệ sao? -Như vậy! Như vậy! Kiến thức bằng thầy diệt nửa đức của thầy. Kiến thức hơn thầy thì mới truyền thọ được di giáo của thầy.
Chú Thích: -Hà Nam: chỉ kinh đô Lạc Dương, ở phía Nam sông Hoàng Hà. -Hà Bắc: chỉ cố hương của Lâm Tế, ở phía Bắc sông Hoàng Hà. -Thiền bản, Kỷ án: những dụng cụ trợ giúp khi ngồi thiền. -Lăng Nghiêm: gọi tắt của Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh. Do trung Thiên Trúc Bàn Thích Mật dịch. Câu của Lâm Tế có nghĩa là tự tánh ở khắp mọi nơi.
*Câu nói của Lâm Tế: Không đi Hà Nam thì đi Hà bắc: biểu thị thân tâm tự do, tự tại, không bị bó buộc. Hoàng Bá đánh ông để xem ông có phải là do tục niệm muốn đi Hà Nam hay Hà Bắc không. Nếu phải thì đánh là đúng rồi. Nhưng câu nói của Lâm Tế là một loại “liễu ý”, do đó Hoàng Bá muốn đánh thì lại là không hiểu. Do đó Lâm Tế đánh lại. Tâm của Hoàng Bá và Lâm Tế tương thông, do đó lập tức cấp ấn khả.
(Minh Cảnh)
56. Tháp Đạt Ma
Sư đến viếng tháp Đạt Ma. Tháp chủ hỏi: -Trưởng lão lễ Phật trước hay lễ Tổ trước. -Tôi chẳng lễ Phật, cũng chẳng lễ Tổ. -Xin hỏi Phật và Tổ có oán thù gì với trưởng lão? Sư phất tay áo bỏ đi.
Chú Thích: -Tháp: phiên âm từ chữ Phạn Stupa có nghĩa là phần mộ. -Tháp Đạt Ma: ở núi Hùng Lĩnh (Hồ Nam), phía Tây Nam Lạc Dương. Câu hỏi 1 của tháp chủ chứng tỏ ông hãy còn chấp phàm thánh. Câu trả lời của Lâm Tế là để phá chấp cho ông. Câu hỏi 2 của tháp chủ chứng tỏ ông chẳng hiểu gì cả. Lâm Tế chỉ còn cách bỏ đi.
*Trong tự tánh không có phân biệt. (Chiêm Anh Vũ)
57. Phỏng Vấn Long Quang
Sư hành cước đến Long Quang. Quang thượng đường, sư hỏi: -Không dùng mũi nhọn, làm sao đắc thắng? Quang cứ ngồi yên. Sư nói: -Đại thiện tri thức không có phương tiện sao? Quang trợn mắt A! lên một tiếng. Sư chỉ tay nói: -Lão hán này, hôm nay bị thua rồi.
Chú Thích:
-Long Quang: lai lịch không rõ.
*Quang cứ ngồi yên: Sự im lặng cố ý của Long Quang là để diễn tả sự yên lặng sấm sét. (Paul Demiéville).
58. Phỏng Vấn Tam Phong
Sư tới Tam Phong, Bình hòa thượng hỏi: -Từ đâu tới? -Từ Hoàng Bá. -Hoàng Bá nói gì? (1) -Hôm qua cho trâu vàng vào lò, nấu chẩy không còn dấu vết. -Gió vàng thổi tiêu ngọc, ai là kẻ tri âm? (2) -Qua vạn cửa không ngừng ở thanh không. -Câu vấn thoại của ngươi thật cao thâm. (3) -Rồng sanh phụng hoàng vàng, xung phá sóng nước xanh. -Mời dùng trà! Gần đây ngươi đi đâu? -Long Quang. -Gần đây Long Quang thế nào? Sư không đáp, đi ra.
Chú Thích: Đoạn vấn đáp (1): -Hoàng Bá nói gì? -Hoàng Bá dạy tôi chân lý tột cùng, nhị nguyên đối đãi biến mất không còn dấu vết. Đoạn vấn Đáp (2): -Dĩ nhiên giáo lý của Hoàng Bá cao siêu, nhưng ông có thực sự hiểu không? -Không những tôi hiểu mà còn vượt lên trên nữa kìa! Đoạn vấn đáp (3): -Ông đã rời khỏi tầm tay! -Con rồng Hoàng Bá sanh con phượng Lâm Tế, đã đạt đến cảnh giới cao nhất. Bình hòa thượng ngưng tranh luận. (Akisuki, dẫn theo Watson)
59. Phỏng Vấn Đại Từ
Sư đến Đại Từ, Từ đang ngồi thiền. Lâm Tế hỏi: -Sư phụ ngồi thiền, không biết tâm cảnh thế nào? -Cây tùng lạnh, ngàn năm cũng chỉ một mầu không khác. Ông lão quê giơ cành hoa lên, xuân đời đời. -Từ xưa đến nay cái thể của Đại viên cảnh trí là vĩnh hằng, ba núi phong tỏa vạn trùng quan. Từ hét lên, sư cũng hét. Từ hỏi: -Làm gì vậy? Sư phất tay áo, đi ra.
Chú Thích: -Đại Từ: thiền sư trụ trì ở Đại Từ Sơn, Hàng Châu. -Cây tùng lạnh: chỉ Thể. -Ông lão quê: chỉ Dụng. -Ba núi: chỉ 3 ngọn núi ở Đông Hải. Theo truyền thuyết Bồng Lai Tam Đảo là chỗ ở của các vị tiên. Có người nói đó là 3 ngọn núi trên sông Dương Tử ở phía Tây Nam của Nam Kinh.
60. Phỏng Vấn Hoa Nghiêm
Sư tới Hoa Nghiêm, Nghiêm đương tựa vào tích trượng mà ngủ. Lâm Tế hỏi: -Hòa thượng sao lại ngủ? -Kẻ tu đạo, tác phong dĩ nhiên phải khác người. -Thị giả mau mang trà lại cho hòa thượng. Nghiêm bèn kêu Duy na: -Hãy mời vị hòa thượng này vào đệ tam tịch.
Chú Thích:
-Hoa Nghiêm viện: ở huyện Tương Châu, tỉnh Hồ Bắc. Trong chuyện này không rõ vị trụ trì là ai. -Đệ tam tịch: chỗ ngồi của vị trưởng lão chỉ dạy các thiền sinh.
61. Phỏng Vấn Thúy Phong
Sư đến Thúy Phong. Phong hỏi: -Từ đâu đến? -Từ Hoàng Bá. -Hoàng Bá có câu gì dạy ngươi không? -Hoàng Bá không có câu nào cả . -Tại sao vậy? -Không dùng lời để diễn tả. -Ông thử nói xem. -Một mũi tên bay quá Tây phương.
Chú Thích: -Thúy Phong: lai lịch không rõ.
62. Phỏng Vấn Tượng Điền
Sư đến Tượng Điền, hỏi: -Không phàm, không thánh thỉnh sư nói mau! -Lão tăng chỉ thế đó. Sư hét lên: -Có nhiều tú hòa thượng chỉ ở đây mà tìm bát.
Chú Thích:
-Tượng Điền: lai lịch không rõ.
*Câu nói của Lâm Tế không phải là một lời mắng mà là một lời khen vì Tượng Điền đã tránh không bị mắc bẫy vào cập đối đãi phàm thánh. (Paul Demiéville)
63. Phỏng Vấn Minh Hóa
Sư đến Minh Hóa. Hóa hỏi: -Đến đến, đi đi để làm gì? -Để mòn dép cỏ.
-Chính ra ông làm gì? -Ông già, cả thoại đầu ông cũng chẳng hiểu! Chú Thích: -Minh Hóa: lai lịch không rõ.
*Câu của Lâm Tế có ý nghĩa: Tôi đã đi tham học với các vị tôn túc đến mòn cả dép mà chỉ gập những câu hỏi vớ vẩn như của Minh Hóa. (Paul Demiéville)
64. Đến Phụng Lâm
Trên đường sư gập một bà lão, bà lão hỏi: -Đi đâu? -Đến Phụng Lâm. -Phụng Lâm không có nhà. -Đi đâu vậy? Bà lão bước đi không trả lời. Lâm Tế gọi: -Bà lão! Bà lão ngoảnh đầu lại, sư bỏ đi.
Chú Thích: -Phụng Lâm: lai lịch không rõ.
*Lâm Tế lập lại câu hỏi của bà lão, nêu lên vấn đề đến, đi. Tự tánh là như như bất động, làm gì có đến đi. Bà lão này không hiểu gì nhiều về thiền. Khi bà lão bước đi không trả lời Lâm Tế là đúng. Nhưng khi Lâm Tế gọi bà để trắc nghiệm thì bà ngoảnh đầu lại chứng tỏ bà không hiểu gì cả. Do đó Lâm Tế bỏ đi. (Lu K’uan Yu).
65. Đối Thoại Với Phụng Lâm
Sư đến Phụng Lâm. Lâm hỏi: -Tôi có một vấn đề, muốn thỉnh giáo có được không?
-Tôi không thể tự móc thịt để làm sẹo. Lâm: Trăng trên biển không cho bóng. Cá rong chơi tự lạc đường. Sư: -Trăng trên biển không cho bóng, sao cá lại lạc đường? Lâm: Nhìn gió thấy sóng dậy Dỡn nước cánh buồm lay. Sư: Trăng chiếu cô đơn, núi sông yên tĩnh Một tiếng cười dài, trời đất kinh.
Lâm: Đem ba tấc lưỡi huyền hoặc thiên hạ Thử nói một câu về đạo coi.
Sư: Trên đường gập kiếm khách thì tặng kiếm Nếu chẳng phải là thi nhân thì đừng tặng thi. Phụng Lâm bèn thôi. Sư làm bài kệ: Đại Đạo hẳn đồng Mặc hướng Tây Đông Đá lửa chẳng kịp Lằn chớp không thông.
(Thích Thanh Từ dịch)
Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: -Tia đá lửa chẳng kịp, tia điện chớp cũng không tới, vậy các bậc thánh từ xưa lấy gì để độ người? -Ý thầy thế nào? -Nếu có lời thật chẳng thật nghĩa. -Chẳng phải vậy. -Vậy ý ông thế nào?
-Mũi kim nhỏ cũng không qua lọt cửa quan, nhưng nếu tư thông thì ngay xe ngựa cũng qua được.
Chú Thích: Trước tiên Phụng Lâm hỏi Lâm Tế ông có thể đặt câu hỏi không là để trắc nghiệm trình độ của Lâm Tế. Lâm Tế dẫn câu nói trong kinh Duy Ma Cật “Tôi không tự móc thịt để làm sẹo” ý là tự tánh vốn thanh tịnh sao ông lại dùng thức phân biệt để làm ô uế? Trong câu của Phụng Lâm: Trăng chỉ sự giác ngộ, biển chỉ tự tánh, cá chỉ chúng sanh, bơi chỉ sự hoạt động của tư tưởng. Cả câu nghĩa là tự tánh vốn thanh tịnh, do khởi tâm phân biệt nên mới lầm đường. Lâm Tế: Nếu là vậy, sao cá lại lầm đường? Phụng Lâm: Như gió tạo sóng, nước làm lay động thuyền, niệm khởi làm tâm động. Trong câu của Lâm Tế: Trăng chiếu cô đơn chỉ Thể của tự tánh không phụ thuộc và dính mắc vào một cái gì. Một tiếng cười dài chỉ Dụng làm ngưng mọi suy luận của người học. Phụng Lâm: Biện luận giỏi có ích gì, hãy nói một câu cho người học. Lâm Tế: Với người có khả năng chỉ nói một câu là đủ, còn không thì nói nhiều cũng vô ích. Bài kệ của Lâm Tế: Ông có đi tìm đạo ở khắp nơi cũng không thấy một vật tương tự, khi ông định nắm lấy nó, thì nó đã lìa xa ông nhanh như tia lửa sẹt
66. Phỏng Vấn Kim Ngưu
Sư đến Kim Ngưu, Ngưu thấy sư đến cầm ngang trượng ngồi ngay cửa, Sư dùng tay gõ gậy ba lần rồi vào ngồi ở đệ nhất tọa của thiền đường. Kim Ngưu thấy vậy bèn đứng dậy lại hỏi: -Phàm chủ khách gập nhau đều thi lễ, thượng tọa từ đâu tới mà vô lễ quá vậy? -Lão hòa thượng nói gì? Ngưu định mở miệng, sư bèn đánh. Ngưu giả bộ té, sư lại đánh. Ngưu nói:
-Hôm nay bất lợi! Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn: -Hai vị tôn túc đó có thắng bại không? -Thắng thì cùng thắng, bại thì cùng bại.
Chú Thích: -Kim Ngưu: học trò Mã Tổ. -Đệ nhất tọa: chỗ ngồi của vị Thủ tọa. -Hôm nay bất lợi: ngạn ngữ đương thời.
67. Chánh Pháp Nhãn Tạng
Lâm Tế lúc lâm chung, ngồi ngay ngắn bảo đại chúng: -Tôi mất rồi, chánh pháp nhãn tạng của tôi cũng không thể diệt được. Đồ đệ ưu tú là Tam Thánh bước ra thưa: -Đệ tử làm sao để diệt Chánh pháp nhãn tạng của sư phụ? -Giả sử ngày sau có người hỏi ông như vậy thì ông trả lời làm sao ? Tam Thánh hét lên một tiếng. Lâm Tế bảo: -Không ngờ chánh pháp nhãn tạng của tôi do con lừa mù này mà bị tiêu diệt. Nói rồi ngồi yên mà mất. Đó là ngày 10 tháng 4 năm thứ 7 Hàm Thông, vua ban hiệu là Huệ Chiếu Đại Sư, tháp hiệu là Trừng Linh.
Chú Thích:
*Chánh pháp nhãn tạng còn được gọi là thanh tịnh pháp nhãn. Chánh là trung chánh, không nghiêng về một bên. Pháp là tâm thể trung chánh hiển hiện. Nhãn là có thể chiếu soi mọi vật. Tạng là tâm chứa mọi thiện pháp. Chúng ta tập quán dùng mắt thịt mà coi vạn tượng thế gian, rồi dùng thường thức mà phán đoán. Do nhiều nguyên nhân cá biệt, mỗi người đều có cái nhìn khác nhau. Nếu dùng chánh pháp nhãn tạng thì phải có tâm nhãn thanh tịnh, vô
nhiễm, lấy tâm vô phân biệt mà quán sát sự vật. Chúng ta phải đóng con mắt thường, mở con mắt huệ, đứng trên quan điểm duyên khởi, tánh không mà quan sát sự vật thì mới xem thấy được thực tướng của vạn vật.
*Trí tuệ chân chánh không thể mô phỏng được.
68. B ạ t.
(Lâm Tân Cương) (Chiêm Anh vũ)
Sư có tên húy là Nghĩa Huyền, người Nam Hoa, Tào Châu, họ Hình. Lúc nhỏ đã khác thường, lúc lớn lên nổi tiếng là có hiếu. Khi xuống tóc rồi thọ cụ túc giới được cư ngụ ở Giảng Tứ, nghiên cứu tinh thâm tỳ ni, xem rộng về kinh luận. Sư than: -Những thứ này là thuốc cứu đời nhưng không phải là ý chỉ ngoài giáo truyền riêng. Sư bèn đi du phương, mới đầu tham học với Hoàng Bá, sau lại đến gập Đại Ngu. Những cơ duyên và ngữ cú này đều có chép ở phần Hành Lục. Sau khi được Hoàng Bá ấn khả, sư lên Hà Bắc ngụ ở vùng Đông Nam Trấn Châu bên bờ sông Hồ Đà, trụ trì một tự viện nhỏ. Lâm Tế là do tên đất mà có. Lúc ấy, Phổ Hóa đã ở đấy trước rồi, khùng điên trong dân chúng, là thánh hay phàm chẳng ai biết. Sư tới đó được Phổ Hóa giúp đỡ. Khi sự giáo hóa hưng thịnh thì Phổ Hóa toàn thân thoát khứ phù hợp với huyền ký của Tiểu Thích Ca ngưỡng Sơn. Gập lúc tao loạn sư bỏ đó mà đi. Thái Úy Mạc Quân Hòa biến ngôi nhà trong thành của mình thành chùa Lâm Tế và mời sư đến ở đấy. Sau, sư phất áo về Nam tới Hà Phủ, phủ chủ Vương Thường Thị dùng sư lễ mà tiếp đãi. Không lâu, sư về chùa Hưng Hóa, ngụ ở Đông Đường. Không có bệnh tật gì, một hôm sư sửa lại áo, ngồi yên, nói chuyện với Tam Thánh xong, yên lặng lìa đời. Đó là ngày mùng 10, tháng Giêng, năm Đinh Hợi, niên hiệu Hàm Thông thứ 8 đời Đường. Môn nhân đem toàn thân nhập tháp ở Tây Bắc phủ Đại Danh. Sắc ban tên thụy là Huệ Chiếu, tháp hiệu là Trừng Linh. Tôi chắp tay, cúi đầu kính cẩn lược ghi về sư. Diên Chiểu thuộc dòng Bảo Thọ ở Trấn Châu.