THỊ CHÚNG
- PHẦN II - THỊ CHÚNG
- 10. Bốn Loại Tình Huống
- 11. Ba Loại Thân Phật
- 12. Vô Sự Là Quý Nhân
- 13. Người Xuất Gia Chân Chính
- 14. Thế Nào Là Phật, Là Ma
- 15. Chánh Kiến
- 16. Bốn Loại Cảnh Vô Tướng
- 17. Phải Có Lòng Tự Tin
- 18. Thế Nào Là Đất Nước Ba Mắt
- 19. Tỉnh Ngộ
- 20. Hồi Quang Phản Chiếu
- 21. Phật Đại Thông Trí Thắng
- 22. Năm Tội Đọa Địa Ngục
10. Bốn Loại Tình Huống
Trong một buổi giảng chiều, sư nói: -Có lúc đoạt người không đoạt cảnh, có lúc đoạt cảnh không đoạt người, có lúc người và cảnh đều đoạt, có lúc người và cảnh đều không đoạt.
Có ông tăng hỏi: -Thế nào là đoạt người không đoạt cảnh? -Ngày ấm, đất bầy gấm Con trẻ tóc rũ trắng như tơ. -Thế nào là đoạt cảnh không đoạt người? -Lệnh vua vừa ban khắp thiên hạ Tướng ngoài quan ải không chiến tranh. -Thế nào là người cảnh đều đoạt? -Tịnh châu và Phần châu không tiến cống Độc lập một phương -Thế nào là người, cảnh đều không đoạt? -Vua lên điện báu Ông lão quê ca ngợi thanh bình.
Chú Thích:
-Đoạn này được gọi là Tứ liệu giản của Lâm Tế, trình bầy tiến trình của sự giác ngộ.
- Con trẻ tượng trưng cho ngã, mà mọi người trân quý, tóc bạc phơ như cụ già gần chết là chỉ ảo vọng. Khi tu tập đến giai đoạn ngã không thì đứa trẻ xinh xắn hay cụ già tóc bạc đều là hư vọng.
- Chiến tranh là đối tượng. Khi chiến tranh chấm dứt thì đất nước được thanh bình. Đây là giai đoạn pháp không.
- Khi đã được ngã không, pháp không người tu đã hoàn toàn cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài. Tịnh châu và Phần châu là những vùng biên cương ở phía Bắc Trung Hoa gần như vùng tự trị. Triều đình dụ cho Người; Tịnh, Phần dụ cho cảnh.
- Lúc đó người tu hoàn toàn giải thoát, tự do, tự tại. (Bồ Đề Học Xã).
🌲🌲🌲
11. Ba Loại Thân Phật
Lâm Tế nói với đại chúng rằng:
Ngày nay người học Phật cần có chánh kiến. Nếu có chánh kiến thì sống chết chẳng nhiễm, đi ở tự do, chẳng cầu công đức mà công đức tự đến. Đạo lưu, từ xưa các vị tiên đức đều trỏ đường cho mọi người. Cũng vậy, sư núi này chỉ cho các ông đường lối không bị người ta mê hoặc, muốn dùng là dùng không nghi ngại, như nay người học làm chẳng được, bệnh ở đâu ra? Chính là ở chỗ không tự tin. Vì lòng tin không đủ nên cảnh chuyển thì bị lôi cuốn theo, không còn tự do nữa. Nếu các ông dứt được tâm tìm cầu thì so với tổ sư chẳng khác. Các ông muốn biết Phật, Tổ ư? Giản dị lắm, họ chính là các ông, đang đứng trước mặt tôi, nghe tôi thuyết pháp. Người học lòng tin chẳng đủ nên tìm kiếm bên ngoài dù có tìm được thì cũng chỉ là ngôn ngữ và danh xưng. Cuối cùng cũng không đạt được ý của Tổ. Xin đừng lầm lẫn! Chư thiền đức, ngày nay chẳng gập, vạn kiếp ngàn đời luân hồi trong ba giới, chạy theo những hoàn cảnh vui thú rồi sẽ bị chuyển sinh trong bụng lừa trâu. Các đạo lưu, như kiến giải của sư núi này thì chúng ta so với Thích Ca cũng không khác, mỗi ngày, mỗi thứ dụng đều đủ có thiếu sót gì đâu. Mắt, tai, mũi, miệng, thân, tâm. Sáu đạo thần quang chưa từng đình chỉ. Nếu các ông có quan niệm này thì các ông là người cả đời vô sự. Các đại đức, ba cõi chẳng an, như trong nhà lửa, đó chẳng phải là nơi các ông ở lâu. Ngay trong một sát na, quỷ vô thường sát hại không phân biệt quý tiện, già trẻ. Nếu muốn cùng Phật, Tổ chẳng khác thì đừng tìm kiếm bên ngoài. Các ông, một niệm thanh tịnh là Pháp Thân, không phân biệt là Báo Thân, không sai biệt là Hóa Thân trong nhà của các ông. Ba loại thân này của các ông đang ở trước mặt tôi nghe pháp, vì không tìm kiếm bên ngoài nên có công dụng này. Theo các nhà biện giải Kinh Luận, thì ba loại thân này là nguyên lý tột cùng. Cứ chỗ thấy của sư núi này thì chẳng phải vậy. Ba loại thân này chẳng qua là danh xưng, là ba loại áo. Người xưa có nói thân Phật là căn cứ danh nghĩa mà lập, đất Phật là căn cứ bản thổ mà lập. Pháp tánh thân, pháp tánh thổ, tất cả đều là ảo ảnh. Các ông hãy nhận thức người đùa với quang ảnh ấy vì đó là gốc của Chư Phật, là chỗ về của các ông. Sắc thân tứ đại không thể nói Pháp, nghe Pháp, hư không cũng không thể nói Pháp, nghe Pháp. Vậy cái gì mới biết nói Pháp, nghe Pháp? Đó chính là cái sáng sủa không hình dáng của các ông đang đứng trước mặt tôi, biết nói Pháp, nghe Pháp. Nếu thấy như vậy thì các ông chẳng khác Phật và Tổ. Nhưng đừng bao giờ để nó gián đoạn. Mắt đặt tới đâu, là nó ở đó. Khi tình thức Sanh thì trí huệ bị trở ngại, tư tưởng biến đổi thì thực tại ra đi. Vì vậy các ông bị luân hồi trong ba cõi, chịu mọi thứ khổ sở. Theo chỗ thấy của sư núi này thì ai cũng hiểu được, cũng có khả năng giải thoát. Đạo lưu, tâm pháp vô hình xâu suốt mười phương, ở mắt gọi là thấy, ở tai gọi là nghe, ở mũi gọi là ngửi, ở miệng gọi là nói, ở tay gọi là nắm, ở chân gọi là chạy. Vốn là một tinh minh nhưng phân làm sáu hòa hợp. Một tâm đã không thì mọi chốn đều giải thoát. Tại sao tôi nói thế? Vì các ông không ngưng được tâm tìm kiếm bên ngoài nên mới mắc bẫy của cổ nhân. Theo tôi thấy thì nên cắt đầu Báo Thân Phật, Hóa Thân Phật, Chư Bồ Tát Thập Địa chỉ là những kẻ làm mướn ngoài đồng; Đẳng Giác, Diệu Giác là những kẻ tù bị mang gông cùm; La Hán, Bích Chi Phật là những đồ dơ bẩn ở nhà cầu. Bồ Đề, Niết Bàn chỉ là cọc để buộc lừa. Tại sao thế? Vì các ông không hiểu tánh Không của ba A Tăng Kỳ Kiếp nên mới có chướng ngại này. Nếu là người học đạo chân chính thì không bao giờ vậy, chỉ theo Duyên mà tiêu nghiệp cũ mặc tình mặc áo, muốn đi thì đi, muốn ngồi thì ngồi, tâm không mong cầu Phật Quả. Tại sao vậy? Cổ nhân có nói: “Nếu muốn tạo nghiệp thành Phật thì Phật sẽ trở thành Đại Triệu của sanh tử “.
Đạo lưu! Thời gian quý báu chớ theo bọn bàng môn học thiền, học đạo, chấp vào chữ, vào câu, tìm Phật, tìm Tổ, tìm Thiện tri thức, hoạch định, dự tính. Đừng lầm lẫn.
Đạo lưu, các ông đã có cha mẹ rồi, còn tìm gì nữa? Phải ngưng lại và tự quán sát. Cổ nhân nói: “Diễn Nhã Đạt Đa nghĩ mình mất đầu và đi tìm đầu, nhưng khi ngừng tâm tìm kiếm thì thấy là vô sự.”
Đạo lưu! Hãy hành sự một cách bình thường, đừng làm bộ làm tịch. Có một đám trọc đầu không phân tốt, xấu, nói thần, nói quỷ, chỉ Đông, chỉ tây, cầu tạnh, cầu mưa. Chúng sẽ phải trả lời khi đứng trước mặt Diêm Vương và nuốt hòn sắt nóng. Các ông đã bị chúng lừa dối. Lũ mù ngu si, một ngày kia chúng sẽ phải trả nợ cơm cháo.
Chú Thích:
-Ba cõi: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới. dẫn từ Kinh Pháp Hoa ở Phẩm Thí Dụ. -Quỷ Vô Thường: chỉ tử thần. -Vốn là tinh minh nhưng phân làm sáu hòa hợp: dẫn từ Kinh Thủ Lăng Nghiêm. -Sanh tử chẳng nhiễm: thoát khỏi luân hồi. -Không cầu công đức mà công đức tự đến: công đức là kết quả, không phải là mục đích. -Đạo lưu: người vào dòng Đạo. -Vô sự: một chữ căn bản trong ngữ vựng của Lâm Tế, có nghĩa là chẳng làm gì cả, tương tự như Vô vi của Đạo giáo. -Đi, ở tự do: xuất thế và nhập thế, cũng chỉ sanh, tử. -Chuyển sanh trong bụng lừa, trâu: bị giáng xuống loài súc sanh.
🌲🌲🌲
12. Vô Sự Là Quý Nhân
Sư lại nói:
Đạo lưu! Các ông phải có chánh kiến thì mới có thể ngẩng đầu, ưỡn ngực trong thiên hạ, đừng để lũ chồn tinh dẫn lầm đường. Vô sự là quý nhân. Nhưng đừng làm dáng làm điệu, chỉ bình thường. Các ông đi theo bàng môn mà tìm kiếm bên ngoài, cố nắm bắt một cái gì thì thật là sai lầm. Như các ông cố tìm Phật, nhưng Phật chỉ là danh cú. Các ông có biết mọi người cố tìm gì? Phật và Tổ ba đời: quá khứ, hiện tại, tương lai trong mười phương xuất hiện ở thế giới này chỉ để tìm pháp. Nếu các ông tìm được thì là xong chuyện, nếu chưa thì còn phải tái sanh trong năm đạo. Thế nào là pháp? Pháp đây là tâm pháp. Tâm pháp vô hình, thấu khắp mười phương, hiệu dụng ngay trước mắt, nhưng vì các ông thiếu lòng tin nên chấp danh, chấp cú, hướng vào chữ nghĩa mà tìm Phật pháp còn xa đích như đất xa trời.
Đạo lưu! Tôi giảng pháp là giảng pháp gì? Tôi giảng tâm pháp khiến các ôngcó thể vào phàm vào thánh, vào sạch vào bẩn, vào chân vào tục. Nhưng các ông đừng đem cái phàm, thánh của các ông mà đặt tên.
Đạo lưu, nếu nắm được hãy dùng ngay vào đời sống hàng ngày, đó là huyền chỉ. Tôi giảng pháp khác người thiên hạ. Ngay cả khi Văn Thù, Phổ Hiền xuất hiện trước mắt tôi, khi họ nói: “Chúng tôi muốn hỏi thiền sư” thì tôi đã nhìn thấu họ rồi. Tôi ở ẩn, nhưng khi đạo lưu tới, tôi nhìn thấu họ. Sao tôi làm thế được? Vì cách tôi nhìn họ khác: bên ngoài không chấp phàm, thánh, bên trong không chấp gốc rễ, tôi nhìn suốt họ và không bao giờ lầm.
🌲🌲🌲
13. Người Xuất Gia Chân Chính
Sư lại nói:
Đạo lưu, Phật pháp chẳng nhọc dụng công, chỉ bình thường vô sự: tiêu tiểu, mặc áo, ăn cơm mệt nghỉ. Kẻ ngu cười tôi, bậc trí biết tôi. Cổ nhân nói: “Hướng ngoại công phu, chỉ là đồ si ngốc.” Ở các nơi, các ông đều làm chủ thì đó là chân cảnh, dù bất cứ cảnh nào cũng không làm trở ngại các ông. Dù các ông bị ràng buộc bởi tập khí, ngũ vô gián nghiệp, những thứ này đều tự biến thành biển lớn giải thoát. Kẻ học ngày nay không biết pháp, giống như lũ dê chúi mũi vào đâu, gập bất cứ vật gì cũng cho vào mồm, chủ tớ chẳng biết, chủ khách không phân. Những kẻ tà tâm nhập đạo, thấy chỗ náo nhiệt liền vào, chẳng đáng gọi là người xuất gia mà là kẻ tục gia. Người xuất gia phải có chánh kiến, phân biệt Phật, Ma, thực giả, phàm thánh. Nếu Phật và Ma không phân biệt được thì là xuất gia này nhập gia khác vậy, chỉ là loại chúng sanh tạo nghiệp, chẳng phải là kẻ xuất gia chân chính. Như nay Phật và Ma hỗn hợp thành một thể như sữa hòa nước. Con đại nga chỉ uống sữa, người sáng mắt Phật, Ma đều bỏ. Nếu các ông còn yêu thánh ghét phàm thì còn chìm nổi trong bể sanh tử.
Chú Thích:
-Ngũ vô gián nghiệp: năm tội đọa địa ngục vô gián là tầng ngục thấp nhất. Ở đây tội nhân bị khổ, không lúc nào ngưng.
-Lũ dê chúi mũi: thị lực của dê rất kém, toàn nhờ vào khứu giác, nên ngửi thấy gì thì ăn nấy. -Chỗ náo nhiệt: chỉ chỗ đông đảo vui vẻ, ở đây là chỉ các chùa chiền nổi tiếng. -Đại nga chỉ uống sữa: dẫn từ Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ. -Mệt nghỉ: dẫn từ Lạc Đạo Ca của Nam Nhạc, Minh Toản kế thừa Phổ Tịch. -Xuất gia: đi tu.
🌲🌲🌲
14. Thế Nào Là Phật, Là Ma
Một ông tăng hỏi: -Thế nào là Phật, là Ma? -Một niệm tâm ngại là Ma. Nếu ông biết rằng mọi pháp chẳng sinh, tâm như ảo hóa, một hạt bụi, một pháp cũng chẳng có, mọi chốn thanh tịnh thì là Phật. Vậy Phật, Ma chỉ là hai cảnh nhiễm tịnh. Như chỗ thấy của sư núi này thì chẳng có Phật, chẳng có chúng sanh, chẳng xưa chẳng nay, được liền được chẳng trải qua thời tiết, chẳng tu chẳng chứng, chẳng được chẳng mất. Trong mọi lúc chẳng có một pháp nào khác. Dù có một pháp nào vượt pháp này tôi nói đó là mộng là huyễn. Những lời sư núi này nói đều là thật. Đạo lưu, nay các ông ở trước mặt tôi nghe pháp, mọi chốn chẳng kẹt, thấu suốt mười phương, ba giới tự tại, vào mọi cảnh sai biệt không thể bị kéo lại. Trong một sát na vào khắp pháp giới, gập Phật nói với Phật, gập Tổ nói với Tổ, gập La Hán nói với La Hán, gập ngạ quỷ nói với ngạ quỷ; đi khắp nơi giáo hóa mà chưa hề dời một niệm. Nơi các đạo lưu tới đều thanh tịnh, sáng thấu mười phương, vạn pháp là một.
Đạo lưu, ngày nay bậc đại trượng phu mới biết sự gì cũng không có, chỉ vì các ông chưa đủ lòng tin, niệm niệm tìm cầu, bỏ đầu tìm đầu không thể tự ngừng. Cũng như các vị Bồ tát viên đốn hiện thân trong pháp giới khi vào tịnh độ còn ghét phàm, thích thánh. Những người như vậy, thủ xả chưa quên, tâm nhiễm tịnh vẫn còn. Theo kiến giải của Thiền tông thì chẳng phải vậy, chỉ kể hiện tại, không màng thời tiết.
Những lời sư núi này là trong một lúc bịnh thuốc trị lẫn nhau, ngoài ra không có một cái gì khác gọi là có thật. Nếu hiểu được như vậy thì là người tu chân chính, một ngày tiêu một, hai vạn lạng vàng cũng được.
Đạo lưu, chớ chấp trước, nếu không sẽ bị các vị lão sư tát đóng ấn vào mặt, rồi nói tôi hiểu thiền, hiểu đạo, nói như nước chảy đều là tạo nghiệp địa ngục. Nếu là người học đạo chân chính, chẳng tìm lỗi người thế gian, mau tìm chánh kiến, sáng suốt trọn vẹn mới là hoàn tất vậy.
Chú Thích:
-Thời tiết: chỉ thời gian dài ngắn, cũng hàm ý chỉ không thời gian. -Một ngày tiêu một, hai vạn lạng: người xuất gia mỗi ngày đều hóa duyên để duy trì cuộc sống, không được quyền sở hữu kim tiền. Có lần đức Phật nói: “Nếu các ông chuyên tâm tu hành thì bộ cà sa các ông mặc đáng vạn lạng. Tôi chấp nhận điều đó. Nhưng nếu các ông mất lòng tin thì ăn một miếng cơm cũng là phá giới.” Ý nói là xứng đáng được hưởng của bố thí.
🌲🌲🌲
15. Chánh Kiến
Có ông tăng hỏi: -Thế nào là chánh kiến? -Như các ông vào thế giới phàm thánh, sạch bẩn, Phật quốc, cung điện Di Lặc, pháp giới Tỳ Lô Giá Na nơi nơi đều hiện quốc thổ, chẳng lâu đều qua các giai đoạn thành trụ hoại không. Phật xuất hiện ở thế giới này chuyển đại pháp luân rồi nhập Niết Bàn. Nếu các ông không thấy có tướng đến đi, sanh tử, được mất liền vào vô sinh pháp giới. Vân du các xứ vào hoa tạng thế giới thấy mọi pháp không tướng, không là thật pháp, chỉ nghe pháp vô y là mẹ của chư Phật. Do đó Phật từ Vô y sanh. Nếu ngộ vô y thì chẳng có Phật, cũng chẳng có gì đắc. Nếu thấy như vậy thì đó là chánh kiến. Người học đạo vì chấp danh cú, bị phàm thánh trở ngại do đó đạo nhãn bị ngăn trở không thấy rõ. Phật nói mười hai loại kinh điển đều là bề ngoài. Người học chẳng hiểu lấy danh cú bề ngoài mà giải thích, đều là giả, còn bị rơi vào nhân quả chưa thoát được sanh tử trong ba giới. Nếu các ông muốn thoát vòng sanh tử để được tự do thì đi, ở hay mặc áo, cởi áo. Các ông phải hiểu người đang nghe pháp này không hình, không tiếng, không gốc, không rễ, không trú xứ hoạt bát sanh tồn, ứng thì muôn hành động, dụng thì không có chỗ. Vì vậy càng nắm bắt, càng xa lìa, càng hô hoán càng sai lầm. Đó là điều bí mật. Các ông không thấy thế giới này là mộng ảo sao ? Sớm muộn gì rồi cũng quay về vô thường. Các ông tìm gì ở thế giới này để được giải thoát? Ăn uống hoan lạc qua ngày chẳng tìm cầu thiện tri thức mà học hỏi. Thời gian qua mau, khắc khắc vô thường. Thô thì bị bốn loại yếu tố: đất, nước, gió, lửa kiềm chế, Tế thì bị sanh tử hoại diệt áp bức. Các ông mau thoát ra khỏi bốn cảnh vô tướng thì mới khỏi bị hủy diệt.
Chú Thích:
-Di Lặc: vị Phật tương lai, kế tiếp Đức Phật Thích ca. -Tỳ Lô Giá Na : Đức Phật được mô tả trong Kinh AVATAMSAKA. -Vô sanh pháp giới: là thế giới không còn những cặp đối đãi như sanh, tử. -Hoa tạng thế giới: Thế giới được tạo nên do nguyện lực của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na, nhân và quả cùng hiện diện như hoa và hạt sen. -Vô y: không nương tựa vào đâu, không còn chấp trước. -Tướng của tứ đại: Đất: cứng. Nước: ướt. Gió: chuyển động. Lửa: nóng.
🌲🌲🌲
16. Bốn Loại Cảnh Vô Tướng
Có ông tăng hỏi: -Thế nào là bốn loại cảnh vô tướng? -Nếu ông một niệm tâm nghi bị đất trở ngại, tâm ái bị nước nhận chìm, tâm giận bị lửa thiêu đốt, tâm vui bị gió thổi bay. Nếu hiểu được như vậy, không bị cảnh chuyển, tùy tâm mình muốn mà vận dụng hoàn cảnh. Đông vọt lên thì Tây chìm xuống, Nam vọt lên thì Bắc chìm xuống, trong vọt lên thì ngoài chìm xuống. Vào nước như đi trên đất, vào đất như bơi trong nước. Sao vậy? Vì biết được bốn đại như mộng như ảo. Các đạo lưu, hôm nay nghe pháp chưa rõ bốn đại, nếu đã rõ bốn đại và sử dụng được chúng thì có thể tùy tâm ra vào thế giới này. Như sư núi này thấy nếu các ông ghét phàm, thích thánh là tự mình buộc vào cảnh giới phàm thánh. Có người học tới Ngũ Đài Sơn để cầu Văn Thù, đó là sai lầm từ căn bản vì Ngũ Đài Sơn không có Văn Thù. Các ông muốn gặp Văn Thù ư? Rất giản dị, ngay trước mắt thôi. Nếu các ông, đầu cuối không khác, mọi chốn không ngại đó chính là Văn Thù sống. Nếu các ông một niệm không sai biệt thì mọi chốn đều là Phổ Hiền, một niệm tâm có thể cởi trói tùy chốn giải thoát thì đó là Quán Thế Âm. Ba pháp thay nhau làm chủ khách. Nếu xuất hiện, đồng thời xuất hiện. Một tức ba, ba tức một. Nếu hiểu rõ đạo lý này thì mới thích hợp đọc kinh Phật.
Chú Thích:
-Đông vọt lên...: mô tả những thần thông mà người có kiến giải chân chính có. -Văn Thù: tượng trưng cho trí huệ. -Phổ Hiền: tượng trưng cho hạnh nguyện. -Quán Thế Âm: tượng trưng cho từ bi, nguyện lực cứu độ của ngài được mô tả đầy đủ trong phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa.
🌲🌲🌲
17. Phải Có Lòng Tự Tin
Ngày nay người học đạo phải có lòng tự tin, đừng đi tìm kiếm bên ngoài, nếu không sẽ bị trần cảnh làm cho không phân biệt được đường cong lẽ phải. Đến như Phật, Tổ cũng chỉ là dấu tích trong kinh điển. Có người đề ra một câu nói ẩn ý, các ông liền bị mê hoặc, chạy đi hỏi khắp nơi mà cũng không hiểu được. Đại trượng phu, đừng luận chủ khách, thị phi, tài sắc, đừng nói chuyện tào lao qua ngày ở nơi sư núi này chẳng phân tăng tục. Khi một người đến, tôi nhận biết được y, dù y từ đâu tới, nếu có nói ra thanh danh, văn cú đều chỉ là mộng ảo. Nếu gập được người làm chủ được cảnh thì tôi biết rằng đó là huyền chỉ của chư Phật. Phật cảnh không thể nói tôi là Phật cảnh, Vô Y đạo nhân mới là chủ của cảnh. Nếu có người tới hỏi tôi cầu Phật tôi liền chỉ cảnh giới thanh tịnh, có người hỏi tôi Bồ tát, tôi liền chỉ cho cảnh giới từ bi, có người hỏi tôi Bồ Đề, tôi liền chỉ cảnh giới Tịnh Diệu, có người hỏi tôi Niết Bàn, tôi bèn chỉ cảnh giới Tịch Tĩnh. Cảnh giới thì có muôn sai vạn biệt, người thì không, ứng vật hiện hình như trăng trong nước.
Đạo lưu, nếu muốn hòa hợp với pháp phải là bậc Đại trượng phu. Nếu qua quýt thì không thể được, như một bình rạn nứt không thể giữ được đề hồ. Nếu là bậc đại khí thì không để người mê hoặc, ở mọi nơi đều làm chủ, thì chỗ đứng là chân thật. Nếu có ai đến đều không thọ nhận. Nếu có một niệm Nghi, ma liền nhập tâm, ngay đến bậc Bồ tát mà nghi thì ma sanh tử liền nhập. Nếu niệm ngưng, chẳng tìm kiếm bên ngoài, vật đến liền chiếu, chỉ tin cái dụng hiện giờ, còn việc gì cũng không. Một niệm sanh ba giới, tùy duyên bị cảnh phân làm sáu trần. Như nay chỗ ứng dụng của các ông có thiếu gì đâu? Trong một sát na, vào sạch, vào bẩn, vào lâu các Di Lặc, vào đất nước ba mắt, du lịch khắp chốn chỉ thấy vô danh.
Chú Thích:
-Ứng vật hiện hình như trăng trong nước: dẫn từ “Kim Quang Minh Kinh” -Đề hồ: lấy sữa bò, sữa dê chế làm đồ ăn gọi là lạc, trên lạc có một tầng sữa đông lại gọi là Tô. Trên phần Tô có chất như dầu gọi là Đề hồ (Thiều Chửu).
🌲🌲🌲
18. Thế Nào Là Đất Nước Ba Mắt
Có ông tăng hỏi: -Thế nào là đất nước ba mắt? -Tôi cùng các ông vào đất nước Tịnh Diệu, mặc áo Thanh Tịnh, giảng Pháp Thân Phật, lại vào đất nước Vô Sai Biệt mặc áo Vô Sai Biệt giảng Báo Thân Phật, lại vào đất nước giải thoát mặc áo quang minh giảng Hóa Thân Phật. Đất nước ba mắt này chỉ là sự thay áo. Các nhà kinh luận lấy Pháp Thân làm Thể, Báo Thân và Hóa Thân làm Dụng. Theo như chỗ thấy của sư núi này thì Pháp Thân không thể thuyết pháp. Vì vậy cổ nhân có nói:
-Thân y nghĩa lập, Thổ cứ Thể mà luận. Chẳng kể pháp tánh thân, pháp tánh thổ đều chỉ là một loại tồn tại giả định, giống như một tay không, một tay có lá vàng để lừa con nít, tìm tủy trong xương khô. Ngoài tâm, trong tâm không có pháp thì cầu cái gì? Các ông thấy các nơi nói có tu, có chứng chớ lầm. Nói có tu đều là tạo nghiệp sanh tử. Các ông nói tu lục độ vạn hạnh, tôi thấy đều là tạo nghiệp. Cầu Phật, cầu pháp là tạo nghiệp Địa Ngục. Cầu Bồ Tát cũng là tạo nghiệp. Xem kinh, xem giáo cũng là tạo nghiệp. Phật và Tổ là người vô sự. Vì vậy hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi đều là tạo tịnh nghiệp. Có một lũ trọc mù, ăn no, ngồi thiền quán hạnh chộp bắt niệm lậu không cho sanh khởi, tránh ồn cầu tĩnh. Đấy là pháp ngoại đạo. Thần Hội nói rằng: -Nếu ông chấp tâm khán tịnh trong lặng ngoài chiếu, ngưng tâm nhập định, những người như vậy đều là tạo tác. Các ông đứng trước mặt tôi đây làm sao để tu, để chứng, để trang nghiêm? Y không phải là vật để tu để trang nghiêm. Nếu bảo trang nghiêm y được thì mọi vật đều trang nghiêm được. Đừng lầm! Các ông nếu căn cứ vào lời của đám lão sư cho đó là Đạo Thực, là thiện tri thức không thể nghĩ bàn, còn mình là tâm phàm không dám đo lường các vị tôn túc đó. Đồ mù! Cả đời các ông chỉ kiến giải như thế thì đã phụ bạc chính đôi mắt của các ông rồi. Giống như con lừa lập cập đi trên băng trơn tuột, nói rằng không dám tỷ bình thiện tri thức sợ khẩu nghiệp.
Đạo lưu! Thiện tri thức là người dám hủy Phật, báng Tổ, thị phi thiên hạ, vứt bỏ ba tạng giáo điển, mắng chửi lũ con nít, trong thuận nghịch cảnh mà tìm người. Do đó 12 năm qua, tôi tìm nghiệp tánh nhỏ như một hạt cải cũng chẳng thấy. Các thiền sư e lệ như cô dâu mới sợ bị đuổi khỏi thiền viện, hoặc lo không có cơm ăn lòng chẳng an vui từ xưa, các bậc tiền bối tới các nơi chẳng ai tin và bị đuổi đi năm lần bẩy lượt thì mọi người mới biết họ là cao quý. Nếu đến mọi nơi đều được người ta tin thì có ích gì? Có câu: -Sư tử rống một tiếng, óc não của lũ chồn hoang bị banh ra!
Đạo lưu, các nơi đều có câu: Có đạo để tu, có pháp để chứng.
Các ông có thể nói cho tôi biết đó là đạo nào? pháp nào? Nay các ông có thiếu gì? Phải bổ túc cái gì? Lũ tiểu sư phụ chẳng hiểu, tin tưởng vào lũ chồn hoang bị ý tưởng chúng trói buộc bảo rằng: -Lý hành tương ứng, gìn giữ ba nghiệp mới thành Phật được. Những kẻ nói như thế nhiều như mưa bụi mùa Xuân.
Vì vậy cổ nhân có câu: -Trên đường gập người đạt đạo, đừng nói gì về đạo.
Lại nói: Nếu người tu đạo, đạo chẳng hành Vạn cảnh tà, tranh nhau mà sanh Kiếm trí xuất hiện, không một vật Minh đầu chưa hiện, ám đầu minh. Lại nói tâm bình thường là đạo. Đại đức còn tìm kiếm vật gì? Nay Vô Y đạo nhân trước mắt tôi đang nghe pháp, rõ ràng phân minh chẳng thiếu gì. Nếu các ông muốn cùng Phật, Tổ chẳng khác thì thấy như vậy, không nghi ngại. Tâm, tâm chẳng khác gọi là Tổ sống. Nếu tâm có khác thì tánh tướng liền khác, tâm chẳng khác thì tánh, tướng chẳng khác.
Chú Thích:
-Ba mắt: pháp nhãn, trí nhãn, huệ nhãn; dẫn từ kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập pháp giới. -Tay không... lá vàng:dẫn từ kinh Nát Bàn, chỉ trò lừa dối con nít, như câu hát của trẻ em Việt Nam: Tập tầm vông, tay nào có, tay nào không. -Phật, Tổ là người vô sự: dẫn lời của Đức Sơn có ghi trong Viên Ngộ Tâm Yếu. -Nhiều như mưa xuân: dẫn từ Tăng Nhất A Hàm. -Tánh, tướng: Tánh chỉ bản thể, tướng chỉ hiện tượng. -Tam tạng giáo điển: kinh, luật, luận -12 năm qua: các nhà chú giải không hiểu tại sao Lâm Tế lại nói 12 năm, có lẽ là để chỉ một thời gian lâu dài. -Trên đường gập...: lời của Tư Không Bản Tịch (667-761) học trò của Lục Tổ Huệ Năng có chép trong Tổ Đường Tập. -Tâm bình thường là đạo: lời Mã Tổ Đạo Nhất (709-788)
-Lý hành tương ứng, hộ tích tam nghiệp: nói và làm tương ứng với nhau thì không tạo ba nghiệp thân, khẩu, ý.
🌲🌲🌲
19. Tỉnh Ngộ
Có ông tăng hỏi: -Thế nào là từ niệm này sang niệm kế, tâm chẳng khác?
-Khi ông hỏi thì đã khác rồi, tánh tướng liền phân.
Đừng lầm pháp thế gian và xuất thế gian đều không có tự tánh, cũng không có sanh tánh mà có vô danh, ngay danh từ để mô tả nó cũng không nốt.
Các ông cứ nhận cái nhàn danh này là thật thì đó là điều sai lầm lớn. Nếu có một cái gì thì đó chỉ là cảnh y biến: áo Bồ đề, áo Nát bàn, áo giải thoát, áo ba thân, áo cảnh trí, áo Bồ tát, áo Phật. Các ông cứ hướng vào nước y biến để tìm gì? Cho đến ba thừa, mười hai phần giáo cũng chỉ là giấy vệ sinh. Phật là thân ảo hóa, Tổ là lão tỳ khưu. Các ông còn là những kẻ có cha mẹ sanh chăng? Nếu các ông cầu Phật thì bị Phật nhiếp, cầu Tổ thì bị Tổ buộc. Nếu có cầu là có khổ, chẳng bằng vô sự.
Có bọn người trọc bảo người học: Phật là cứu cánh, phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp tu học mới thành đạo.
Đạo lưu, nếu các ông nói Phật là cứu cánh thì sao sau 80 năm ở rừng Sa La nằm chết giữa hai cây? Phật nay ở đâu? Thế mới biết là Phật và chúng ta sanh tử chả khác. Nếu các ông nói 30 tướng tốt, 80 vẻ đẹp là Phật thì Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Như Lai. Như vậy chúng ta biết đó là ảo. Người xưa nói: Như Lai bầy thân tướng Chiều theo thế gian tình Sợ người sanh đoạn kiến Nên mới lập hư danh. Vờ nói 32 tướng 80 cũng vô thanh.
Có thân, phi giác thể Vô tướng lại chân hình. Nếu các ông nói Phật có lục thông không thể nghĩ bàn thì chư thiên, thần tiên, A tu la, đại lực quỷ cũng có thần thông đều là Phật chăng?
Chớ có sai lầm. Khi A tu la và trời Đế Thích đánh nhau, bị thua dẫn 8 vạn 4 ngàn quyến thuộc ẩn trong lỗ cọng sen, đó là thánh chăng? Những điều sư núi này vừa kể là Nghiệp Thông, Y Thông chẳng giống lục thông của Phật; vào sắc giới không bị mê sắc, vào thanh giới không bị thanh mê, vào hương giới không bị hương mê, vào vị giới không bị vị mê, vào xúc giới không bị xúc mê, vào pháp giới không bị pháp mê vì biết sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều là tướng không nên không trói buộc được người học, là Vô Y đạo nhân, dù thân ngũ uẩn cũng có địa hành thần thông.
Phật thật không hình, pháp thật không tướng. Các ông chỉ ảo tưởng làm hình này, dạng nọ. Nếu có tìm được cái gì thì đó cũng chỉ là đồ chồn hoang chẳng phải Phật thật. Đó là kiến giải của hàng ngoại đạo. Người học Phật chân chính không chấp Phật, chấp Bồ Tát, chấp La Hán, chấp công đức của ba giới hoàn toàn siêu việt ngoại vật, không bị sự vật câu thúc. Trời đất đảo lộn cũng không nghi, chư Phật mười phương hiện trước mặt cũng không vui, ba đồ địa ngục xuất hiện cũng không một niệm sợ hãi. Tại sao vậy? Vì tôi thấy chư pháp không tướng, biến tức có, không biến tức không. Ba giới duy tâm, vạn pháp duy thức, do đó có mộng huyễn không hoa, cần gì phí công nắm bắt.
Chỉ có các ông hiện đang trước mặt tôi nghe pháp, vào lửa không bị cháy, vào nước không bị chìm, vào ba đồ địa ngục như đi dạo vườn hoa, vào ngạ quỷ súc sanh mà không bị thọ báo. Vì sao thế?
Chỉ vì không bị mê hoặc mà ra. Bị chìm nổi trong bể sanh tử Do lòng còn yêu thánh, ghét phàm Phiền não là do tâm mà có Trụ vào đâu khi đã không tâm?
Chẳng nhọc phân biệt chấp tướng, đạo tự nhiên thành thôi! Giả như các ông hướng bàng môn mà cầu học, cho tới ba a tăng kỳ kiếp cuối cùng cũng phải quay về vòng sanh tử, chẳng bằng hướng vào đầu giường Tùng Lâm khoanh chân mà ngồi.
Đạo lưu, khi các ông từ khắp nơi tới đây chào hỏi, phân chủ khách xong xuôi, trò sẽ thử thầy.
Trò có thể đưa ra một lời đố mẹo ném vào mặt thầy ngụ ý: -Xem thử thầy có hiểu cái này không?
Nếu các ông ở địa vị thầy và hiểu rằng đó chỉ là cảnh, các ông bèn nắm và ném tọt vào hố. Trò sẽ trở lại bình thường và xin thầy chỉ dạy. Thầy sẽ giật lấy và ném xuống hố. Trò sẽ nói: -Khôn ngoan thay, thực là bậc thầy! Thầy sẽ nói: -Ông thật không biết phân phải quấy!
Lại giả sử thầy đưa ra một cảnh lủng lẳng trước mặt trò. Trò nhìn thấu cảnh và không bị mê hoặc bởi cảnh. Thầy liền lộ bán thân, trò hét lên. Thầy liền vào chỗ phân biệt quần thảo trò bằng những danh từ. Trò nói: -Gã trọc này không biết phân phải quấy! Thầy bèn thốt lên: -Thật là một kẻ học đạo chân chính!
Có một vài ông thầy không biết phân biệt đường cong lối thẳng khi trò đến hỏi về Bồ Đề, ba thân Phật, cảnh, trí, những ông thầy mù này liền giảng giải. Khi trò chửi thề, họ giơ gậy lên đánh và nói: Sao vô lễ vậy?
Nếu các ông có một ông thầy như thế, thì hắn là người không mắt, không có duyên cớ gì để nổi giận cả. Có một lũ đầu trọc không phân biệt tốt xấu chỉ Đông chỉ Tây, cầu mưa cầu tạnh, đèn này, cột nọ. Hãy nhìn xem họ còn bao nhiêu lông mày? Nếu người học không hiểu điều này họ sẽ bị sai lầm. Sư phụ như thế chỉ là một lũ chồn hoang. Nếu là học trò giỏi thì sẽ nói: -Lũ đầu trọc, chỉ lừa dối mọi người!
Đạo lưu! Người xuất gia phải học đạo. Như tôi đã phí mười năm tâm huyết học giới luật và nghiên cứu kinh luận. Do đó, tôi mới biết kinh, luật, luận chỉ là quyền nghi để cứu độ khổ não nhất thời, nói cách khác chỉ là thuốc trị bệnh bên ngoài, vì vậy sau cùng tôi đã ném bỏ sang một bên và học thiền. Gập được bạn tốt, lúc đó tâm nhãn mở rộng, sắc bén tôi có thể phân biệt được thầy thật, thầy giả. Sự hiểu biết này không phải là sanh ra đã có, mà do tôi khổ công mài dũa, thể nghiệm.
Đạo Lưu! Nếu các ông muốn có sự hiểu biết hợp với pháp đừng bao giờ để người khác dẫn dắt sai lầm. Dù các ông hướng nội hay hướng ngoại bất cứ gập gì cũng giết. Gập Phật giết Phật, gập Tổ giết Tổ, gập La Hán giết La Hán, gập bố mẹ giết bố mẹ, gập họ hàng giết họ hàng. Chỉ như vậy các ông mới được hoàn toàn giải thoát. Đừng bị ngoại vật trói buộc. Muốn làm gì thì cứ việc làm tự do, tự tại. Tôi thấy người học trong thiên hạ không người nào đến với tôi mà không ỷ lại vào một cái gì. Tôi đánh ngay từ đầu. Họ ỷ vào tay tôi đánh tay, họ ỷ vào miệng tôi đánh miệng, họ ỷ vào mắt tôi đập mắt.
Chưa có một người nào đến với tôi mà tự do, toàn là bị lừa dối bởi những trò không đâu của cổ nhân. Sư núi này không có một pháp nào cho người, chỉ là trị bịnh bằng cách cởi trói. Các đạo lưu hãy tự mình, đừng ỷ lại. Năm, mười năm nay không có một người nào chỉ toàn là một bọn tinh linh cây cỏ, dã hồ ăn phẩn. Đồ mù! chỉ uổng của tín thí mười phương, nói rằng “Tôi là kẻ xuất gia” mà kiến giải như vậy. Tôi nói cho các ông biết không có Phật, không có pháp, không có tu, không có chứng. Các ông tìm gì ở bọn bàng môn? Đồ mù, rõ là trên đầu lại ghép thêm một đầu; các ông có thiếu thốn gì chứ?
Đạo lưu, sự thọ dụng của các ông có khác gì Phật, Tổ? Chỉ vì các ông không tin nên mới tìm kiếm bên ngoài. Đừng lầm! Hướng ngoài, hướng trong đều không được gì. Như nghe lời sư núi này thì chẳng bằng chả làm gì hết. Nếu đã làm thì đừng tiếp tục, nếu chưa làm thì đừng làm. Điều này còn tốt hơn là các ông đi hành cước mười năm. Cứ như chỗ thấy của sư núi này thì chẳng có gì đặc biệt chỉ sử sự bình thường mặc áo, ăn cơm, vô sự qua ngày. Các ông từ các nơi tới đều có lòng cầu Phật, cầu pháp, cầu giải thoát, cầu thoát ly ba giới. Đồ ngu! Ra khỏi ba giới rồi các ông đi đâu? Phật, Tổ chỉ là những lời, những câu tán dương. Các ông muốn biết rõ ba giới ư? Chúng không rời khỏi tâm địa của các ông đang đứng nghe pháp. Khi tâm các ông có một niệm tham thì đó là Dục Giới, một niệm sân thì đó là Sắc Giới, một niệm si thì đó là Vô Sắc Giới. Đó chính là đồ đạc trong nhà các ông. Ba giới không thể tự nói: “Tôi là ba giới” Chính là các ông đang đứng trước mặt tôi, giơ đuốc soi sáng vạn vật và đặt tên cho chúng.
Đại đức! Sắc thân tứ đại vô thường. Tỳ vị gan mật, lông tóc, móng răng đều không tướng. Khi các ông ngừng tâm tìm kiếm thì đó là cây Bồ Đề, nếu không ngừng thì là cây Vô Minh. Vô Minh không có trú xứ, không có chỗ bắt đầu, cũng chẳng có chỗ tận cùng. Nếu tâm niệm các ông chẳng ngưng thì các ông đang leo cây Vô Minh, vào lục đạo, bốn sinh mặc da, đội sừng. Nếu các ông ngưng được thì các ông ở cảnh giới thân thanh tịnh, một niệm chẳng sanh các ông leo lên cây Bồ Đề, thần thông biến hóa trong ba giới. Muốn hóa thân hình dạng nào cũng được, hưởng thú thiền duyệt, thân tự chiếu sáng. Nghĩ tới mặc liền có ngàn lớp lụa là, nghĩ tới ăn liền có trăm món đầy đủ và cũng không còn bị khổ về bệnh tật. Bồ đề không có trú xứ, vì vậy không thể nắm bắt.
Đạo lưu, còn nghi gì nữa? người hoạt dụng trước mắt tôi là ai? Nếu được liền dùng đừng có gọi tên, đó là huyền chỉ.
Cổ nhân nói: Tâm theo muôn cảnh chuyển Chỗ chuyển thật kín sâu Theo dòng nhận được tánh Không mừng cũng không lo.
(Thích Thanh Từ dịch)
Đạo lưu, như kiến giải của Thiền tông, sanh tử tuần tự người học phải chú ý vào đó. Khi chủ khách gập nhau phải có lời qua lại. Hoặc ứng vật hiện hình, hoặc toàn thể tác dụng hoặc cơ quyền hỷ nộ, hoặc hiện bán thân, hoặc cưỡi sư tử, hoặc cưỡi voi lớn. Nếu có người học chân chính đến hét lên một tiếng rồi đưa ra một chậu keo. Thiện tri thức chẳng biết đó là cảnh, bèn bị dính vào cảnh, làm bộ làm tịch, người học bèn hét. Thiện tri thức chẳng chịu buông. Đây là bệnh bất trị. Đó gọi là Khách Nhìn Chủ. Hoặc Thiện tri thức chẳng đưa ra một vật gì, tùy người học hỏi đâu liền đoạt lấy, người học bị đoạt dù chết chẳng buông. Đó là Chủ Nhìn Khách. Hoặc có người học bày ra một cảnh thanh tịnh trước mặt Thiện tri thức. Thiện tri thức biết đó là cảnh liền ném ngay vào hố.
Người học nói: -Tốt lắm! Thiện tri thức! Thiện tri thức đáp: -Thật không phân phải quấy!
Người học bèn lạy. Đó gọi là Chủ nhìn chủ. Lại có người học mang gông tới trước mặt Thiện tri thức. Thiện tri thức lại choàng thêm một gông nữa. người học vui mừng, cả hai đều chẳng biết. Đó gọi là Khách Nhìn Khách. Đại đức, những điều sư núi này nêu lên là để phân biệt ma quái, để biết Chánh Tà.
Đạo lưu, Phật pháp u huyền rất khó giải thích. Tôi để cả ngày để giảng giải nhưng các ông không chú ý. Các ông cả trăm ngàn lần đạp vào nó mà vẫn chìm trong bóng tối. Nó không hình, không dạng nhưng tự chiếu sáng. Người học chẳng tự tin, chỉ hướng danh cú mà giải thích. Tuổi bán trăm, chỉ theo bàng môn vác tử thi đi khắp nơi, sẽ có ngày phải bồi thường tiền dép cỏ. Đại đức, sư núi này nói hướng ngoài tìm pháp không được, người học không hiểu bèn hướng vào trong, bích quán, lưỡi đè lên hàm trên yên tĩnh, bất động tưởng rằng đó là Phật pháp của chư Tổ. Thật là sai lầm. Nếu các ông cho rằng cảnh thanh tịnh, bất động này là chánh thì các ông đã nhận vô minh làm chủ. Cổ nhân nói: -Hố tối, sâu không đáy thật đáng sợ!
Nếu các ông nhận động là chánh thì cỏ cây đều có thể đưa qua lắc lại. Đó là đạo chăng? Do đó động là phong đại, không động là địa đại. Động và bất động đều không có tự tánh. Nếu các ông tìm nó trong động thì nó ở trong bất động. Nếu các ông tìm nó ở trong bất động thí nó lại ở trong động. Giống như cá ẩn trong suối theo sóng mà nhẩy lên. Động và bất động là hai loại cảnh. Chính là Vô Y đạo nhân tạo ra động và bất động. Khi người học từ các nơi tới, tôi chia họ làm ba loại theo căn khí của họ. Khi trung hạ căn khí tới tôi đoạt cảnh, nhưng không đoạt pháp. Trung thượng căn khí tới cảnh và pháp tôi đều đoạt. Thượng căn khí tới cảnh và pháp tôi đều không đoạt. Nếu có người nào vượt cả ba loại này, sư núi này sẽ ứng phó toàn thân không kể căn khí của hắn.
Đạo lưu, lúc đó người học dùng hết sức mình không để chỗ cho một hơi thở có thể qua và nhanh như tia sáng sẹt ra từ đá lửa. Người học mắt không định cũng không động. Tâm nghĩ tức sai, động niệm tức lỗi. Những người hiểu điều này đang đứng trước mặt tôi nghe tôi thuyết pháp. Đại đức, các ông mang bình bát và túi phẩn là thân các ông chạy theo bàng môn tìm Phật, tìm pháp. Như bây giờ các ông có biết là các ông tìm ai hay không? Hắn sinh động hoạt bát nhưng không gốc rễ.
Các ông không thể ôm hắn vào hay đuổi hắn đi. Càng tìm kiếm thì hắn lại càng xa. Không tìm thì hắn lại ở ngay trước mắt. Linh âm ở ngay tai các ông. Nếu các ông không tin thì các ông sẽ uổng phí cả công lao một đời.
Đạo lưu, trong một sát na vào thế giới Hoa Tạng, vào đất nước Tỳ Lô Giá Na, vào đất nước giải thoát, vào đất nước Thần Thông, vào đất nước Thanh Tịnh vào Pháp Giới, vào sạch vào bẩn, vào phàm vào thánh, vào ngạ quỷ, súc sanh. Bất cứ đến nơi nào để tìm, các ông đều không thấy sanh tử. Tất cả chỉ là không danh.
Không hoa ảo hóa Chớ nhọc bắt chi Thị phi được mất Hãy ném hết đi.
Đạo lưu, Phật pháp của tôi truyền thừa từ Ma Cốc, Đơn Hà, Đạo Nhất, Lư Sơn, Thạch Củng một đường lưu truyền khắp thiên hạ, không có ai tin chỉ toàn phỉ báng. Như Đạo Nhất sử sự thuần nhất vô tạp, đồ đệ từ 3 trăm đến 5 trăm người không có ai hiểu ý. Như Lư Sơn tự tại chân chính, sử sự thuận nghịch đồ đệ không đo lường được, kinh ngạc không thốt ra lời. Đơn Hà đùa với hạt châu, lúc bầy, lúc dấu; người học tìm đến đều bị mắng chửi. Còn Ma Cốc sử sự đắng ngắt như tim sen không ai dám thân cận. Như Thạch Củng hướng mũi tên vào người ta, ai nấy đều sợ hãi. Như sử sự của sư núi này chân chính, thành, hoại dỡn lộng thần thông vào tất cả mọi cảnh vô sự, cảnh không thể chuyển. Có ai đến cầu tôi, tôi sẽ ra xem hắn nhưng hắn không biết tôi. Tôi sẽ mặc một số áo. Hắn sẽ bị lôi cuốn vào lời tôi nói.
Thật hết hy vọng. Gã trọc này không có mắt, gã nhìn áo tôi mặc nhận ra các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Nếu tôi cởi áo vào cảnh thanh tịnh, gã nhìn thấy bèn đem lòng hoan hỉ ước muốn. Tôi lại cởi áo đó ra. Gã đâm cuồng, chạy khắp nơi nói tôi không áo. Tôi liền bảo gã: Ông có nhận ra người mặc áo của tôi không?
Bỗng nhiên hắn quay đầu lại và nhận ra tôi. Đại đức, đừng nhận áo, áo không thể động. Chính các ông là người có thể mặc áo. Có áo Thanh Tịnh, áo Vô Sanh, áo Bồ Đề, áo Niết Bàn, áo Tổ, áo Phật. Đại đức, nếu có thanh danh, văn cú đều là thay áo. Từ Tề Luân Khí Hải chuyển động, răng nghiến thành cú nghĩa vì vậy tôi biết đó là ảo. Đại đức nghiệp của âm thanh, lời nói là biểu lộ ra ngoài, của tâm là ở trong. Có suy có nghiệm đều là thay áo. Nếu các ông nhận bộ áo của người mặc là thật thì trải vô lượng kiếp chỉ là trải qua áo còn bị sanh tử luân hồi, tuần hoàn trong ba giới chẳng bằng vô sự: Gập mặt nhưng không biết Cùng nói chẳng biết tên. Ngày nay, người học chỉ giải thích danh tự. Họ chép lời nói của các lão chết tiệt vào sách lớn rồi bọc bằng vải từ ba lớp đến năm lớp, không để cho ai xem, gọi đó là huyền chỉ và gìn giữ như báu vật. Thật sai lầm! Đồ ngu mù! Các ông tìm nước tuỷ gì trong cục xương khô? Có một bọn người không phân tốt xấu tìm kiếm trong kinh điển một câu nào đó, gán cho nó một ý nghĩa giống như miệng ngậm một cục phân rồi phun sang người khác, hoang phí một đời, nói rằng: “Tôi là người xuất gia “, nhưng khi có người hỏi về Phật pháp thì chẳng thốt ra lời, mắt như ống bễ. Những người như vậy khi Phật Di Lặc xuống trần họ còn ở các thế giới khác chịu khổ địa ngục. Đại đức các ông đi khắp nơi tìm cái gì mà đi đến mòn cả gót? Không có Phật để cầu, không có Đạo để thành, không có Pháp để được.
Ngoài cầu Phật tướng Chẳng giống các ngươi Bản tâm muốn biết Chẳng hợp chẳng rời.
Đạo lưu! Phật thật không hình, Đạo thật không thể, Pháp thật không tướng. Ba hòa thành một. Vì không nhận biết như thế nên là chúng sanh, do thọ nghiệp thức.
Chú Thích:
-Mà có không danh: dẫn từ phẩm Vấn Tật trong kinh Duy Ma Cật. -Nếu có cầu là có khổ: dẫn từ Nhị thập tứ hạnh luận của Đạt Ma. -Chuyển Luân Thánh Vương: một vị thánh trong truyền thuyết cổ Ấn Độ. -Đại lực quỷ: thần bảo hộ Phật giáo. -Ba đồ địa ngục: chỉ ba đường ác ; địa ngục, ngã quỷ, súc sanh. -Ba giới duy tâm, vạn pháp duy thức: dẫn từ Thành duy thức luận. -Mộng ảo không hoa: dẫn từ Tín Tâm Minh. -Vào ba đồ địa ngục như dạo chơi vườn hoa: dẫn từ kinh Pháp Hoa. -Còn bao nhiêu lông mày: giảng kinh sai bị rụng lông mày. -Trên đầu lại ghép thêm đầu: dẫn tích Diễn Nhã Đạt Đa. -Vô minh không trú xứ: dẫn từ kinh Viên Giác. -Bồ Đề không trú xứ: dẫn từ kinh Duy Ma Cật. -Đơn Hà: chỉ Đơn Hà Thiên Nhiên (738-823) -Đạo Nhất: chỉ Mã Tổ Đạo Nhất (709-788) -Lư Sơn: chỉ Quy Tông Trí Thường. -Thạch Củng: chỉ Thạch Củng Huệ Tạng, nguyên là một người thợ săn, gập Mã Tổ nghe lời chỉ giáo mà xuất gia. -Thuần nhất vô tạp: dẫn từ kinh Pháp Hoa. -Đùa với hạt châu: Đơn Hà có viết một khúc ngâm Lông Châu Ngâm. -Gập Phật giết Phật: cắt đứt mọi ràng buộc, chấp trước. -Bốn sanh: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh. -Di Lặc: Đức Phật Tương Lai hạ sanh sau Phật Thích Ca 5 tỳ 670 triệu năm.
-Lục thông: sáu thần thông (gồm có: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mệnh thông, thần túc thông và lậu tận thông.) -Cùng gập mà chẳng biết: thành ngữ đương thời chỉ sự bình an. -Sa La: chỗ Phật diệt ở Đông Bắc Ấn Độ gần biên giới Napal.
- Gặp gì cũng giết: Lâm Tế khai thị cho đại chúng phải bỏ hết tâm chấp trước, phan duyên. Tất cả những gì miệng nói ra đều phải phủ nhận. Nếu tâm ông khởi lên một niệm liền dùng gậy đánh ngay. Những chủ kiến, kinh nghiệm, phương pháp đều là phiền não, không phải là trí tuệ. Chánh kiến là không bị người mê hoặc. Chẳng kể là hướng nội, hướng ngoại, tâm lý, sinh lý, xã hội, hiện tượng tự nhiên... hễ có sai biệt đều phải dùng kiếm trí tuệ mà chặt đứt hết gốc rễ thì mới được tự do, tự tại. Trong cuộc sống, con người thường cảm thấy không được an toàn nền thường lấy lập trường, kinh nghiệm, học thức, danh vị... làm tấm chắn. Tấm chắn này càng vững chắc thì sự sợ mất nó càng tăng, phiền não càng tăng chi bằng vung dao chặt đứt cả thì đó mới là triệt để tự do, tự tại. (Thánh Nghiệm)
*Không có một pháp nào cho người, chỉ trị bệnh bằng cách cởi trói: Có người chỉ sợ lời nói của mình bị người coi nhẹ, không có sức nặng gì, trái lại các Thiền sư lại sợ lời nói của mình sẽ trói buộc người nghe. Đạo lý này rõ ràng như vậy mà vẫn có người còn chưa hiểu. Đã qua sông rồi, sao không mau lên bờ? (học Thành cư sĩ)
🌲🌲🌲
20. Hồi Quang Phản Chiếu
Có ông tăng hỏi: -Thế nào là ý Tổ từ Tây sang? -Nếu có ý thì tự cứu chẳng xong. -Nếu không có ý sao Nhị Tổ được pháp? -Được là chẳng được.
-Nếu chẳng được thì chẳng được là ý gì? -Vì đi khắp nơi để tìm kiếm nên tâm chẳng thôi, do đó Tổ sư nói:” Ngu thay! Trượng phu lấy đầu tìm đầu”. Các ông ngay lời này tự hồi quang phản chiếu, chẳng tìm kiếm, biết thân tâm cùng Phật, Tổ chẳng khác; ngay đó vô sự thế mới gọi là được pháp. Đại đức, sư núi này hôm nay bất đắc dĩ nói ra những lời vụng về. Các ông chớ lầm! Theo chỗ thấy của tôi thì thực không có nhiều đạo lý như thế. Muốn dùng thì dùng, chẳng dùng thì nghỉ. Lại như các nơi nói lục độ vạn hạnh là Phật pháp. Tôi nói đó chỉ là cửa trang nghiêm, cửa Phật sự không phải là Phật pháp. Cho đến thọ trai, giữ giới, bưng dầu chẳng nghiêng đổ, nếu đạo nhãn chưa sáng tỏ, có ngày sẽ phải trả nợ tiền cơm cháo. Tại sao vậy? Vào đạo mà chẳng thông lý thì đem thân mà trả nợ thí chủ, trưởng giả 81 tuổi, cây ấy chẳng sinh mộc nhĩ. Cho dù ở trên núi ngày ăn một bữa, ngồi thiền chẳng nằm, sáu thời hành đạo, đều là tạo nghiệp. Lại đem đầu, mắt, tủy, não, đất nước, vợ con, voi ngựa, bảy báu thí xả hết đều làm khổ thân tâm, nên sẽ gặt quả khổ chẳng như vô sự, thuần nhất không tạp. Đến như thập địa Bồ Tát đều muốn tìm tông tích vị đạo lưu này đều không thể được. Do đó, chư thiên vui vẻ, thần đất nâng chân, mười phương chư Phật đến xưng tán là vì duyên cớ gì? Vì Đạo nhân hiện nghe pháp chỗ dùng không dấu vết.
Chú Thích:
-Bưng dầu chẳng nghiêng đổ: đây là một pháp tu tập trong tư tưởng, hành giả để đĩa dầu trên đầu và ngồi thiền, hoặc đội đĩa dầu và đi một khoảng đường nào đó không để dầu đổ ra ngoài. Pháp tu này có chép trong Trí Độ Luận, Nát Bàn Kinh, Tu Hành Đạo Địa Kinh. -Hành giả 81 tuổi: dẫn tích Gia Na Đề Bà tôn giả đi du hóa ở Trung Ấn Độ gập một ông lão 79 tuổi và đứa con trai. Trong vườn của hai cha con có một cây cổ thụ, có một loại mộc nhĩ (nấm mèo) rất thơm ngon, chỉ hai cha con ông có thể nhìn thấy mà hái, ngoài ra không ai nhìn thấy được. Gia Na Đề Bà tôn giả làm một bài kệ để giải thích: trong tiền kiếp ông già và đứa con cúng dường một vị tỳ kheo, nhưng vị này không lý giải Phật pháp chân chính, chỉ tu hành theo bề ngoài nên kiếp này biến thành mộc nhĩ để hoàn trả ơn cung dưỡng của hai bố con. Khi ông lão 81 tuổi thì nợ đã trả xong, nên cây không còn mộc nhĩ nữa. Đứa con sau trở thành Tổ thứ 16 của Thiền tông Ấn Độ.
Ý Tổ sư từ Tây sang?: Đối với câu hỏi này có nhiều câu đáp khác nhau. Có câu chẳng ăn nhập gì đến câu hỏi cả, khiến ta bị mê hoặc. sự thực thì Thiền môn lấy câu “Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật” là tông chỉ cho nên không chấp vào văn tự, ngôn ngữ, kinh điển, tranh tượng. Nếu không thì là bỏ gốc mà tìm ngọn. Trang Tử nói “Được cá quên nơm, được thỏ bỏ bẫy”. Lão Tử “Đạo có thể nói thì không phải là Đạo thường, tên có thể gọi thì không phải là tên thường” tất cả đều cùng một ý “được ý quên lời”. Kinh Kim Cương nói: “Chánh pháp còn nên xả huống hồ là phi pháp”. Lời nói chỉ là một phương tiện thôi, dù nói dọc, nói ngang, phải, trái, thiên biến vạn hóa cũng là dao sắc chặt đứt những dây leo mê chấp mà lãnh ngộ tự tánh. (Hùng Uyển)
Đây là một câu hỏi rất phổ biến trong khoảng 300 năm đời Đường.
Cùng một câu hỏi sao có nhiều câu đáp không giống nhau?
Đó là vì căn bản của Thiền là siêu việt tất cả vô sinh pháp, lìa bỏ mọi hình thức, khái niệm cho nên tự tại vô ngại. Có thể nói toàn vũ trụ đều vì ý tổ sư mà hiện tiền, vì vũ trụ vạn hữu đều tồn tại trong ý tổ sư. Do đấy lấy một vật nào cũng là ý tổ sư , không có một khái niệm cố định nào. Bởi vậy các vị cao tăng, thiền đức tùy hoàn cảnh, cơ hội mà tự tại đưa ra câu đáp.
(Thiền tông đại ý)
🌲🌲🌲
21. Phật Đại Thông Trí Thắng
Có ông tăng hỏi: -Phật Đại Thông Trí Thắng, mười kiếp tọa đạo tràng, Phật pháp chẳng hiện tiền, cũng chẳng thành Phật đạo, chưa hiểu ý thế nào, xin thầy chỉ dạy.
-Đại thông là chỉ tự mình ở mọi nơi đều thấy vạn pháp không tánh, không tướng. Trí thắng là chỉ ở mọi nơi, mọi thời không nghi ngại, không có một pháp nào để được. Phật là thanh tịnh, chiếu sáng suốt pháp giới. Mười kiếp tọa đạo tràng chỉ 10 phép tu Ba La Mật. Phật vốn không sanh, pháp vốn không diệt nói gì đến hiện tiền? Phật chẳng cần phải làm gì để thành Phật. Cổ nhân có nói: -Phật thường ở thế gian, nhưng không nhiễm pháp thế gian.
Đạo lưu! Nếu muốn thành Phật đừng chạy theo vạn vật. Tâm sanh thì muôn pháp sanh, tâm diệt thì muôn pháp diệt. Một tâm chẳng sanh vạn pháp chẳng lỗi. Thế và xuất thế, chẳng có Phật, có pháp cũng chẳng hiện tiền, cũng chẳng có gì mất mát cả. Nếu có một vật thì chỉ là danh ngôn, chướng cú để dụ con nít uống thuốc trị bệnh, chỉ là bề ngoài. Nhưng những danh cú này không tự mình kêu là danh cú. Chính là các ông, trước mắt tôi, phân biệt, ghi nhớ, thấy, nghe, lý giải, đốt sáng đuốc tuệ điều khiển mọi danh cú.
Đạo lưu chỉ tạo năm tội vô gián nghiệp mới được giải thoát.
Chú Thích:
-Phật Đại Thông Trí Thắng: được đề cập đến ở Chương VII của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. -10 pháp Ba La Mật: Lục Ba La Mật cộng với phương tiện thiện xảo, nguyện, lực và trí. -Một tâm chẳng sanh, vạn pháp chẳng lỗi: dẫn từ Tín Tâm Minh của Tam Tổ Tăng Xán. -Tâm sanh thì muôn pháp sanh: dẫn từ kinh Lăng Già. -Cổ nhân có nói: ở đây Cổ Nhân là chỉ Bồ Tát Văn Thù.
*Phật Đại Thông Trí Thắng là người giác ngộ, có thể khế hợp với tất cả nhưng không nắm giữ gì cả.
(Trịnh Thạch Nham)
*Kinh Hoa Nghiêm nói: “Mọi chúng sanh đều có Phật tánh.” Do đó, mọi vật đều đã là Phật. Nếu một người muốn trở thành Phật thì đã sai lầm lớn rồi! Hãy cẩn thận.
(Sùng Sơn)
- Thiền định không làm một người trở thành một vị Phật, một người giải thoát. Con người đã được giải thoát ngay từ đầu. Trong thiền định, thiền sinh tìm ra ông vẫn luôn luôn là một vị Phật.
- Phật không trở thành Phật. ông đã là Phật rồi. Cây, đá, hoa, cỏ, mặt trời, mặt trăng đều là Phật, tại sao nhân loại lại không phải?
(Kubose)
🌲🌲🌲
22. Năm Tội Đọa Địa Ngục
Có ông tăng hỏi:
-Thế nào là năm tội đọa địa ngục? -Giết cha, hại mẹ, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng, đốt cháy kinh, tượng là năm tội đọa địa ngục. -Thế nào là cha? -Vô minh là cha. Nếu ông trong một niệm không tìm cầu sanh diệt, như tiếng vang trong không, ở khắp nơi vô sự, đó gọi là giết cha. -Thế nào là mẹ? -Tham ái là mẹ. Nếu ông trong một niệm vào dục giới cầu ái dục, biết rằng mọi tồn tại đều không có thực thể, ở mọi nơi không chấp cảnh, đó gọi là hại mẹ. -Thế nào là làm thân Phật chảy máu? -Nếu ông trong pháp giới thanh tịnh, không khởi một niệm phân biệt, đó là làm thân Phật chảy máu. -Thế nào là phá hòa hợp tăng? -Nếu trong một niệm ông thấy rằng các phiền não đều là hư không, không có chỗ nương dựa đó là phá hòa hợp tăng. -Thế nào là đốt kinh tượng? -Nếu ông thấy nhân duyên không, tâm không, pháp không, không một niệm, không làm một điều gì đó là đốt kinh tượng. Nếu ông hiểu được như thế thì không bị những danh từ phàm, thánh làm trở ngại. Trong tâm ông hãy suy nghĩ nắm tay không, ngón tay trỏ cái gì là thật? Ông chỉ quanh quẩn một cách vô ích trong thế giới cảm giác hay tự coi nhẹ mình: -Tôi chỉ là một gã phàm phu, còn người là thánh nhân.
Đồ trọc đầu ngu ngốc! Tại sao gấp tìm chết vậy? Đã mặc áo sư tử mà lại kêu như một con chồn hoang. Đại trượng phu không có khí phách trượng phu. Trong nhà có một báu vật chẳng tin, chỉ đi tìm kiếm bên ngoài, bị những lời của cổ nhân ngu lộng, suy toán âm dương, không có tinh thần độc lập. Gập cảnh liền duyên, gập trần liền chấp, tiếp xúc liền bị hỗn loạn, tự mình không có một nguyên tắc nào cả.
Đạo lưu! đừng nắm giữ những lời sư núi này nói. Tại sao vậy? Vì những lời tôi nói không có bằng chứng, chỉ là nhất thời đồ họa trong không, như họa sĩ xử dụng các mầu sắc. Đạo lưu! Đừng lấy Phật làm cứu cánh, theo như tôi thấy chỉ là lỗ cầu tiêu. Bồ Tát, La Hán chỉ là vòng xích trói người. Văn Thù Sư Lợi cầm kiếm sẵn sàng giết Thích Ca.
Đạo lưu! Chẳng có Phật để đắc, ba thừa, năm tánh, viên đốn chỉ là tạm thời thuốc bệnh trị lẫn nhau, không phải là thật pháp. Nếu có thì cũng chỉ là chiêu bài bên ngoài. Tạm thời chỉ nói thế thôi. Đạo lưu! Có một lũ đầu trọc cố gắng hướng nội tìm pháp xuất thế. Thật là sai lầm. Tìm Phật là mất Phật, cầu Đạo là mất Đạo, cầu Tổ là mất Tổ.
Đạo lưu! đừng hiểu lầm tôi! Tôi không cầu các ông hiểu kinh luận, chẳng cần các ông làm quốc vương, đại thần; biện luận lưu loát như nước chẩy, cũng chẳng cần các ông thông minh tuyệt đỉnh, chỉ cần các ông có chánh kiến.
Đạo lưu, thuyết giảng được cả trăm bộ kinh luận, chẳng bằng một vị sư vô sự. Khi ông giảng được kinh sẽ khinh thị tha nhân, tranh thắng bại như A Tu La, nhân ngã vô minh, chỉ làm tăng trưởng nghiệp sa địa ngục, như Thiện Tình tỳ khưu hiểu 12 phần giáo, thân đọa địa ngục, đại địa chẳng dung chẳng bằng vô sự, đói thì ăn cơm, buồn ngủ thì nhắm mắt. Kẻ ngu cười tôi, người trí hiểu tôi. Đạo lưu! đừng tìm gì trong văn tự. Đừng làm mệt tâm, hít khí lạnh vô ích. Chẳng bằng một niệm duyên khởi vô sanh, vượt khỏi ba thừa quyền học của cảnh giới Bồ tát.
Đạo lưu! Đừng lãng phí ngày tháng, trong quá khứ khi tôi chưa hiểu rõ thì quanh tôi chỉ là một khối đen tối. Nhưng tôi biết không nên phung phí thời gian vì vậy cả ngày bận rộn đi khắp nơi bái phỏng thiền lâm; do đó sau cùng tôi được giúp đỡ mà ngày nay mới có thể cùng các ông giảng kinh luận đạo.
Đạo lưu! Điều tôi yêu cầu các ông là đừng làm những gì các ông đang làm chỉ vì miếng cơm manh áo. Như các ông đã biết được việc đời là vô thường, bạn tốt khó gập; hoa Ưu Đàm dễ gì thấy được một lần? Các ông ở các nơi nghe nói có lão Lâm Tế lại tìm tôi hỏi khó. Nhưng khi gập tôi mắt họ mở to nhưng không thốt ra lời. Không có ý kiến gì để trả lời tôi, tôi bảo: Bị voi dầy, lừa không thể kham.
Các ông đi khắp nơi vỗ ngực tự xưng mình hiểu thiền, hiểu đạo nhưng 2, 3 người đến đây vô lực. Đáng hổ thẹn thay. Với tâm thân như vậy đi khắp mọi nơi khoa môi múa mép lừa dối thị dân nhất định sẽ có ngày bị ăn gậy sắt của Hỏa ngục. Các ông không phải là kẻ xuất gia mà thuộc giới A Tu La. Phàm đạo lý cao siêu không phải dùng nghị luận để hoằng dương, cũng không phải hò hét để triệt hạ ngoại đạo, từ Phật tổ truyền tiếp cũng không có ý khác. Nếu có dùng lời, đó chỉ là để giảng dạy ba thừa, năm tánh dẫn đến quả sanh làm trời, người. Nhưng viên đốn thì không như vậy. Thiện Tài đồng tử chẳng đi đâu để tìm kiếm. Đại đức, đừng dùng tâm sai lầm, như biển lớn chẳng giữ thây chết. Trong khi các ông vác tử thi đi khắp nơi, các ông chỉ làm trở ngại tâm. Khi không còn mây che, mặt trời sẽ chiếu rọi mọi chỗ, mắt không có bụi không còn nhìn thấy hoa đốm trong không.
Đạo lưu! Nếu các ông muốn thích ứng với Pháp tuyệt đối, không khởi nghi tâm.
Khi triển khai thì tràn đầy khắp pháp giới, lúc thu lại thì nhỏ hơn một sợi tóc, tự sáng ngời ngời, chưa hề thiếu gì. Mắt nhìn chẳng thấy, tai nghe chẳng được, gọi nó là gì?
Cổ nhân nói: Nói giống một vật là không đúng.
Các ông phải tự mình xem có cách khác không? Nói thì vô tận, các ông hãy tự cố gắng. Trân trọng.
Chú Thích:
-Vô minh là cha: Dẫn từ kinh Lăng Già. -Nắm tay không, ngón tay trỏ: dẫn từ Chứng Đạo Ca. -Mặc da sư tử: dẫn từ kinh Trường A Hàm. -Mắt nhìn chẳng thấy, tai nghe chẳng được: dẫn từ Truyền Đăng Lục. -Cổ nhân nói: Nói giống một vật là không đúng: đây là lời nói của Nam Nhạc Hoài Nhượng. -Suy toán âm dương: chỉ một kẻ ba phải, chỉ dựa trên suy đoán của người khác. -Đồ họa trong không: dẫn từ kinh Lăng Già. -Năm tánh: giáo lý của Pháp Tướng Tông phân biệt năm loại người do bẩm sinh. -Thiện Tình tỳ khưu: dẫn từ kinh Nát Bàn. -Văn Thù cầm kiếm: dẫn từ kinh Bảo Tích. -Thiện Tài đồng tử: dẫn từ kinh Hoa Nghiêm.